Đề Xuất 12/2022 # Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị / 2023 # Top 16 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

          1.1. Đặt vấn đề:

Ngày 22/02/2012 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 226/QĐ-TTg). Trong đó đã nêu mục tiêu của chương trình dinh dưỡng học đường là “Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trong hệ thống trường học”. Và trong đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (Quyết định số 239/QĐ-TTg) cũng có tiêu chuẩn về tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng phải dưới 10%.

Như chúng ta đã biết, trẻ suy dinh dưỡng không hẳn là do thiếu thốn về vật chất mà có thể do sự thiếu hiểu biết của cha mẹ về cách chăm sóc dinh dưỡng. Đây là hiện tượng khá phổ biến không chỉ xảy ra ở vùng nông thôn mà ngay cả ở những thành phố lớn. Do đó việc phục hồi dinh dưỡng cho trẻ suy dinh dưỡng là rất quan trọng và cần thiết. Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em là sự hạn chế về chiều cao, suy giảm về thể lực; dẫn đến sức học tập kém, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống sau này và lại tiếp tục sinh ra những thế hệ thấp bé.

Thật vậy, trên thực tế hiện nay tình hình suy dinh dưỡng của trẻ trong trường mầm non là rất nhiều, đầu năm học khi nhận trẻ vào trường, phần lớn các cháu trong tình trạng gầy còm, thấp bé, kém ăn, khả năng học tập rất thấp. Trong khi đó nhiệm vụ của trường mầm non ngoài việc giảng dạy còn có nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ, các cháu được chăm sóc tốt, cơ thể khỏe mạnh, phát triển tốt thì các cháu mới có thể tiếp thu kiến thức tốt.

Chính vì thế, là người cán bộ quản lý trường mầm non thì cần phải đặt hai nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục ở tầm quan trọng ngang bằng nhau. Và qua thời gian làm công tác quản lý trường mầm non, tôi càng nhận thấy công tác quản lý hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ tại trường tôi “Trường Mầm Non Vĩnh Trị, xã Vĩnh Trị, huyện Vĩnh Hưng,  tỉnh Long An” là hết sức cấp bách. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong nhà trường nên tôi đã mạnh dạn tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng tại trường Mầm Non Vĩnh Trị” để nhìn lại và có phương hướng tốt hơn cho công tác quản lý hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ tại trường mình.

1.2- Mục đích đề tài:

Nhằm phát hiện và phục hồi sức khỏe cho trẻ bị suy dinh dưỡng nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Dựa theo tình hình thực tế của trường, tôi đã cố gắng tìm ra những biện pháp thích hợp để phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Trang bị cho trẻ thể chất khỏe mạnh giúp trẻ phát triển toàn diện. Trẻ có một tâm thế vững vàng tự tin để bước tiếp các bậc học sau này.

          1.3- Lịch sử đề tài:

Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong đó, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong nhà trường là một yêu cầu hết sức cần thiết. Từ những năm qua, tôi đã nghiên cứu, tự học, tự rèn, cùng với việc đúc kết các kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để áp dụng sao cho đạt kết quả tốt nhất. Từ năm học 2014-2015, tôi đã chính thức nghiên cứu và áp dụng “Một số biện pháp phòng chống trẻ suy dinh dưỡng tại trường Mầm Non Vĩnh Trị”. Tuy nhiên, qua một năm áp dụng, tôi nhận thấy cần bổ sung và sửa đổi một số biện pháp để nâng cao hiệu quả hơn nữa. Vì vậy, trong năm học 2015-2016 này tôi đã tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh và áp dụng đề tài này.

          1.4- Phạm vi đề tài:

Đề tài nghiên cứu về “Một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng tại trường Mầm Non Vĩnh Trị”

    NỘI DUNG CÔNG VIỆC:

               2.1- Thực trạng:

               2.1.1-Thuận lợi:

    Trường Mầm Non Vĩnh Trị nằm cụm dân cư xã Vĩnh Trị, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Trường có 02 điểm trường, 1 điểm chính, 1 điểm phụ. Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I vào năm 2014.

    Trường hiện tại có 6 lớp (01 nhóm trẻ, 01 lớp mầm, 01 lớp chồi và 3 lớp lá). Với tổng số học sinh: 126 trẻ. Trong đó, nhà trẻ: 12 trẻ; mẫu giáo: 114 trẻ. Diện tích khuôn viên nhà trường là 3.255 m2 với 6 phòng học bán kiên cố, 1 bếp ăn tập thể đạt chuẩn và 02 sân chơi có đầy đủ đồ chơi, thiết bị ngoài trời cho trẻ vui chơi. Các lớp có  80% đồ dùng đồ chơi theo qui định.

    Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên trong nhà trường có 19 người (Trong đó CBQL: 02, giáo viên: 13, nhân viên: 04). Đa số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường rất nhiệt tình trong công tác, luôn đoàn kết giúp đỡ nhau.

    Nhờ có đội ngũ công chức, viên chức nhiệt tình và tận tụy nên trường luôn giữ vững được thành tích tập thể lao động tiên tiến nhiều năm liền và đạt được những chỉ tiêu như: tỉ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo luôn đạt 100%, chất lượng giảng dạy năm sau cao hơn năm trước từ 2-3%, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm…

    Cơ sở vật chất của nhà trường đầy đủ, công trình vệ sinh nguồn nước đã được đảm bảo cho trẻ sử dụng, đồ dùng học tập cũng như phục vụ bán trú cho trẻ được trang bị đầy đủ. Nhà bếp được xây dựng theo quy trình một chiều.

    Đặc biệt nhà trường có 1 phòng y tế riêng, 1 nhân viên kế toán theo dõi thu, chi tiền ăn của trẻ theo nguyên tắc tài chánh hiện hành.

    Trường cũng được Phòng Giáo dục và Đào tạo quan tâm rất nhiều, tạo mọi điều kiện cho nhà trường hoạt động như: hỗ trợ đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học cũng như thường xuyên quan tâm, thăm hỏi động viên tinh thần cho đội ngũ công chức, viên chức trong nhà trường an tâm công tác. Bên cạnh sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo thì trường còn được sự quan tâm, giúp đỡ rất tận tình của phụ huynh học sinh, đa số phụ huynh trong nhà trường rất quan tâm đến việc học tập cũng như sức khỏe của con em mình, hưởng ứng tích cực trong việc tổ chức bán trú cho trẻ, nâng cao mức ăn cho trẻ theo yêu cầu (15.000đ/ngày) , nhiệt tình tham gia các phong trào và các hoạt động của nhóm, lớp.

    100% cán bộ, giáo viên trong nhà trường nắm vững kiến thức về nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ, đội ngũ nhà trường luôn tận tâm với nghề, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục.

    Trong quá trình quản lý đã được tập thể cán bộ giáo viên, lãnh đạo địa phương và đặc biệt là các bậc phụ huynh tin tưởng tạo điều kiện đầu tư vào công tác nuôi dưỡng.Vì vậy trong năm học 2015– 2016 chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm xuống đáng kể và không có trường hợp trẻ bị ngộ độc thức ăn xảy ra.

              2.1.2- Khó khăn:

    – Nhân viên cấp dưỡng mặc dù đã được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng trình độ học vấn còn thấp (chỉ học hết cấp 2) và chưa được đào tạo về chuyên môn; một số giáo viên trong nhà trường chưa làm tốt công tác tuyên truyền về các kiến thức nuôi dạy con cho các bậc phụ huynh;

    – Chưa có nhân viên y tế  ( giáo viên vừa kiêm nhiệm y tế vừa dạy lớp)

    – Một số ít phụ huynh phó mặc cho nhà trường về chuyện chăm sóc con cái họ, họ không quan tâm đến việc ăn uống, nghỉ ngơi của con mình;

    – Một số cháu là con cưng hay nũng nịu, kén ăn, không ăn thịt, cá, không ăn rau, quen với việc ba mẹ đút cho ăn, không tự xúc ăn được, ăn không hết suất;

    – Công tác tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng tại trường chưa hiệu quả vì đa số phụ huynh chưa quan tâm và không có thời gian rảnh;

    – Kiến thức nuôi con theo khoa học đối với một số phụ huynh còn hạn chế nên không biết cách chăm sóc sức khỏe cũng như đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho trẻ;

    – Một số cháu con nhà nghèo nên chưa có chế độ ăn phù hợp dẫn đến việc cháu bị suy dinh dưỡng;

    – Công tác tuyên truyền còn mang nặng tính hình thức chưa đi sâu vào nội dung;

    Vào tháng 9 hàng năm trường tôi cũng như bao nhiêu trường khác trong huyện tổ chức ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường” và ngay sau đó chúng tôi thực hiện việc kiểm tra sức khỏe đầu năm cho bé. Sau khi các lớp cân, đo và tổng hợp kết quả thì những con số về tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ đã làm tôi đặc biệt chú ý. Ở độ tuổi này là giai đoạn trẻ phát triển mạnh về trí tuệ và có nhu cầu cao về dinh dưỡng, vì thế tôi rất quan tâm đến số trẻ bị suy dinh dưỡng này. Cụ thể trong năm học 2015-2016 trẻ suy dinh dưỡng là:

    -Tổng số trẻ đến trường: 126/60 nữ

    -Tổng số trẻ học bán trú: 101/32 nữ                     Đạt tỷ lệ: 80.2%

    ĐỘ TUỔI TS Trẻ ra lớp TS trẻ được cân đo Số trẻ SDD Số trẻ thấp còi

    SDDV SDDN ĐỘ 1 ĐỘ 2

    NHÀTRẺ 12 12 1 0 1 3

    MẦM 23 23 0 0 0 0

    CHỒI 31 31 5 0 4 0

    LÁ 60 60 7 1 6 1

    TỔNG CỘNG 126 126 13 1 11 4

    Qua kết quả trên, tôi thấy rằng tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đang còn ở mức cao, tôi không khỏi băn khoăn về công tác quản lý phòng chống suy dinh dưỡng của mình và câu hỏi luôn đặt ra cho tôi là mình phải làm gì để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ, làm thế nào cho trẻ có cơ thể khỏe mạnh và phát triển toàn diện.

    2.2- Nội dung cần giải quyết:

    Nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non tôi đã đề ra một số nội dung cần giải quyết như sau:

    Bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ cán bộ giáo viên, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

    Tổ chức vận dộng cho trẻ được bán trú tại trường.

    Chỉ đạo giáo viên thường xuyên theo dõi sức khỏe của trẻ để phát hiện sớm các bệnh về dinh dưỡng thường gặp.

    Chỉ đạo giáo viên tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng.

    Lên kế hoạch thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng cho toàn trường thực hiện.

    Chỉ đạo giáo viên chú ý tổ chức trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho trẻ.

    Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân cô và trẻ.

    Phối hợp với trạm y tế xã  khám sức khỏe và cân đo theo định kỳ, kiểm tra thường xuyên vệ sinh an toàn thực phẩm.

    Coi trọng công tác tuyên truyền và kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng.

    Xây dựng thực đơn chuẩn (đảm bảo đủ lượng kcal, cân đối các chất, đa dạng, phong phú, sử dụng nhiều thực phẩm khác nhau, thay đổi theo mùa, theo tuần, theo ngày và đảm bảo chế độ tài chánh).

    Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

    2.3- Biện pháp giải quyết:

    Biện pháp 1: Bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ cán bộ giáo viên, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ:

    Hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ và chế độ dinh dưỡng hợp  lý là rất cần thiết. Dinh dưỡng hợp lý đó là khẩu phần ăn hàng ngày phải đủ về số lượng và cân đối về chất lượng. Cân đối giữa chất sinh ra năng lượng, cân đối giữa thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Nhu cầu về dinh dưỡng của trẻ nếu tính theo cân nặng thì cao hơn người lớn. Vì vậy, muốn phòng chống suy dinh dưỡng có hiệu quả cần phải giúp cho trẻ có đầy đủ thức ăn để trẻ sinh trưởng, phát triển và vận động. Nên việc vận động trẻ học bán trú tại trường rất cần thiết với trường ở vùng sâu

    . Nhằm  để thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ thì ngay từ đầu năm học nhà trường luôn đảm bảo chế độ ăn theo quy định, thay đổi chế độ ăn, thực đơn cho phù hợp. Căn cứ vào nhu cầu năng lượng của từng độ tuổi để xây dựng khẩu phần ăn cho phù hợp. Đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc về tinh thần, tạo bầu không khí đầm ấm giúp trẻ có cảm giác như bữa ăn tại gia đình, trẻ ăn ngon miệng hơn. Chỉ đạo giáo viên ở các nhóm lớp quan sát trẻ ăn và động viên khuyến khích trẻ ăn hết suất, không làm rơi vải thức ăn. Thường xuyên xây dựng góc tuyên truyền tại các nhóm lớp như: những điều phụ huynh cần biết, bé thích ăn gì,… để giúp cho cha mẹ trẻ nắm được những thông tin cần thiết và từ đó thực hiện tốt nội quy của nhà trường như: cho trẻ ăn ngủ đúng giờ giấc, không cho trẻ mang quà bánh đến lớp,…

    Phát động cuộc thi sáng tác, sưu tầm thơ, câu chuyện, câu đố, bài viết có nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hướng dẫn cho giáo viên lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ, thể hiện rõ nét nhất là hoạt động “Bé tập làm nội trợ”. Giáo viên dạy trẻ biết sử dụng thành thạo các đồ dung dụng cụ như: dao, thớt, cốc, tô,…

    Tổ chức vườn rau của bé tại trường để trẻ vừa được tiếp xúc với thiên nhiên vừa giúp trẻ trải nghiệm với thực tế và phát triển. Đồng thời cải thiện bữa ăn cho trẻ, trẻ có rau xanh hợp vệ sinh.

    Luôn chú trọng đến khâu lựa chọn thực phẩm, khâu sơ chế, chế biến thức ăn, khâu bảo quản và chia thức ăn một cách khoa học nhất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh lãng phí đặc biệt là đảm bảo giá trị dinh dưỡng. Hàng ngày phải công khai tài chánh cho các bậc phụ huynh được biết và giám sát. Phối hợp với phụ huynh để mua thực phẩm do chính phụ huynh trồng và chăn nuôi để phụ huynh yên tâm về chất lượng.

    Đối với người phụ trách nuôi dưỡng, tôi luôn bồi dưỡng những kiến thức qua cung cấp tài liệu, qua thử nghiệm hàng ngày và qua các hội thi dinh dưỡng để có kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ phù hợp với mọi lứa tuổi. Biết cách chế biến thức ăn và thực hiện đúng quy trình bếp một chiều, thực hiện tốt lưu mẫu thức ăn cả thực phẩm sống. Việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ phải đảm bảo đúng 10 nguyên tắc vàng trong ăn uống.

    Học tập và trao đổi hinh nghiệm lẫn giữa các cơ sở giáo dục trong và ngoài tỉnh.

    Biện pháp 2: Tổ chức vận dộng cho trẻ được bán trú tại trường:

    Trẻ được học bán trú là một trong biện pháp hữu hiệu nhất nhằm phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Để thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ thì ngay từ đầu năm học nhà trường tổ chức vận động cho trẻ được bán trú tại trường bằng nhiều hình thức như:

    – Phối kết hợp ban ngành đoàn thể tuyên truyền ích lợi của việc cho trẻ học bán trú.

    – Tuyên truyền qua loa phát thanh địa phương, cho hội phụ huynh tham gia vào việc tổ chức bán trú của con em mình.

    – Phối hợp với phụ huynh để mua thực phẩm do chính phụ huynh trồng và chăn nuôi, chế biến ra để phụ huynh yên tâm về chất lượng.

    -Tổ chức cho phụ huynh tham quan giờ ăn của trẻ, …..

    Bên cạnh đó, tôi tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân ở những trẻ không vào học bán trú và có biện pháp hữu hiệu hơn trong việc vận động trẻ bán trú. Số trẻ tham gia bán trú tại trường ngày càng cao. Cụ thể năm học 2013 – 2014 là 25 trẻ, năm học 2014- 2015 là 60 trẻ, năm học 2015-2016 là 101 trẻ.

    Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên thường xuyên theo dõi sức khỏe của trẻ để phát hiện sớm các bệnh về dinh dưỡng thường gặp:

    Ngay từ đầu năm, trường đã lên kế hoạch và triển khai đến các nhóm lớp về việc cân đo trẻ hàng tháng và hàng quý tùy theo độ tuổi của trẻ.  Tất cả trẻ đều được theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng qua đó nắm bắt được tình hình sức khỏe của trẻ để cùng kết hợp với phụ huynh học sinh và giáo viên chủ nhiệm lớp chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Sau đó tổng hợp kết quả nộp về BGH.

    Kết quả cân đo lần 1 như sau:

    +Số trẻ SDD: 14 trẻ chiếm tỉ lệ 11.11%

    +Số trẻ thấp còi: 15 trẻ chiếm tỉ lệ  11.90%

    Sau khi nắm tình hình sức khỏe trẻ, tôi tiếp tục cho giáo viên tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng.

    Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng.

    STT Nguyên nhân Số trẻ SDD

    thể nhẹ cân

    Số trẻ SDD

    thể thấp còi

    1 Cung cấp thiếu chất dinh dưỡng do chưa cân đối khẩu phần ăn 6 6

    2 Do trẻ bị sinh non 1 1

    3 Do trẻ biếng ăn 7 8

    Sau khi đã tổng hợp các nhóm nguyên nhân dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng tôi đã chỉ đạo thực hiện cách chăm sóc trẻ theo từng nhóm nguyên nhân đó:

    – Đối với nhóm cung cấp thiếu chất dinh dưỡng do chưa cân đối khẩu phần ăn:

    + Trong các bữa ăn tại trường cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, cân đối, hợp lý trong khẩu phần ăn của trẻ. Đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng, trong đó tỷ lệ:

    Đối với nhà trẻ: Protit (chất đạm) khoảng 12% – 15%; Lipit (chất béo) khoảng 35% – 40%; Gluxit (chất bột) khoảng 45% – 53%.

    Đối với mẫu giáo: Protit (chất đạm) khoảng 12% – 15%; Lipit (chất béo) khoảng 20% – 30%; Gluxit (chất bột) khoảng 55% – 68%.

    + Cần đảm bảo chất đạm trong khẩu phần ăn của trẻ từ nguồn gốc thực vật.

    – Đối với nhóm trẻ suy dinh dưỡng do bị sinh non:

    + Trẻ cần được chăm sóc tỉ mỉ hơn ở trường cũng như ở nhà. Giáo viên và phụ huynh cần phối hợp để đưa ra thống nhất cách chăm sóc trẻ theo một chế độ nhất định. Trẻ cần được chăm sóc trong môi trường sạch sẽ, ấm áp vào mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Thời gian ngủ cho trẻ nhiều hơn, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng và chế biến thức ăn phù hợp với khả năng hấp thu của trẻ, cần chú ý bổ sung hoa quả chín và sữa cho trẻ hàng ngày, kết hợp với chế độ luyện tập thích hợp, nhẹ nhàng.

    + Trong suốt quá trình giáo viên thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, tôi thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để giáo viên thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả hơn.

    – Đối với nhóm trẻ bị suy dinh dưỡng do biếng ăn:

    Trước hết, tôi và các giáo viên tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao trẻ biếng ăn để có hướng chăm sóc hiệu quả. Trẻ biếng ăn có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu tập trung vào 3 nhóm nguyên nhân chính sau đây:

    + Trẻ bị bệnh: Tất cả bệnh nhiễm khuẩn đều gây ra chứng biếng ăn, dù là nhiễm khuẩn nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính, một số bệnh lý toàn thân như còi xương, thiếu máu, thiếu vitamin,…. Đối với trường hợp này, giáo viên cần phối hợp với phụ huynh đưa trẻ đến chuyên khoa để được tư vấn và điều trị kịp thời, giúp trẻ mau hết bệnh và ăn uống bình thường trở lại.

    + Do sai lầm về ăn uống: Do thay đổi chế độ ăn, trẻ chưa quen với món ăn mới, cai sữa đột ngột hoặc quá chậm, cho trẻ ăn quá nhiều khiến trẻ không tiêu hoá hết thức ăn, ăn quá ít, chế độ không cân đối, cách chế biến thức ăn không phù hợp với khẩu vị của trẻ, bắt trẻ ăn một loại thức ăn trong nhiều ngày, cách chế biến không phù hợp với lứa tuổi của trẻ,…. Muốn trẻ ăn uống tốt trở lại thì cần thay đổi cách chế biến thức ăn, khẩu phần ăn đảm bảo về lượng và chất phù hợp với độ tuổi và khẩu vị của trẻ.

    + Do yếu tố tâm lý: Thường gặp ở những gia đình quan tâm lo lắng quá mức đến bữa ăn của trẻ, bắt trẻ ăn quá nhiều hoặc người cho ăn có thái độ không đúng (ép buộc), biến bữa ăn của trẻ thành nỗi sợ hãi ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, mỗi khi nhìn thấy thức ăn là trẻ đã sợ hãi. Trường hợp này, giáo viên và cha mẹ trẻ cần tạo cho trẻ một không khí bữa ăn thật vui vẻ và đầm ấm, không nên la mắng, ép buộc trẻ ăn mà phải có biện pháp động viên, khích lệ trẻ, ngoài việc chế biến món ăn ngon còn phải chú ý đến màu sắc và mùi vị của món ăn,… giúp trẻ thích thú khi được ăn.

    Như vậy, với biện pháp này, chỉ sau 3 tháng chỉ đạo thực hiện, kết quả thu được như sau (Bảng 1):

    Độ tuổi

    Tổng số HS SDD  thể nhẹ cân SDD thể thấp còi

    SDD vừa SDD nặng Còi độ 1 Còi độ 2

    Đầu năm Sau 3 tháng Đầu năm Sau 3 tháng Đầu năm Sau 3 tháng Đầu năm Sau 3 tháng

    Nhà trẻ

    12 1 1 0 0 1

    0 3

    3

    Mầm

    23 0 0 0   0

    0 0

    0

    Chồi

    31 5

    4 0 0 4

    4 0 0

    60 7

    5 1

    1 6

    5 1

    1

    TỔNG CỘNG 126 13 10 1 1 11 9 4 4

    Biện pháp 5: Lên kế hoạch thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng cho toàn trường thực hiện.

    Là một cán bộ quản lý chúng ta không thể xem nhẹ việc thực hiện công việc bằng kế hoạch, bởi vì chỉ có kế hoạch mới giúp cho mình làm việc một cách khoa học được. Ý thức được điều này nên đầu năm học 2015-1016, tôi lên kế hoạch riêng cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trường chứ không làm chung với kế hoạch năm học bởi vì nếu làm chung với kế hoạch năm học thì không thể nào đưa ra hết được những yêu cầu, những biện pháp cụ thể bằng một kế hoạch riêng. Nhờ có kế hoạch riêng mà việc phòng chống suy dinh dưỡng trong nhà trường đạt được hiệu quả cao hơn. Các giáo viên dựa vào kế hoạch đó mà lên kế hoạch cụ thể cho lớp mình. Cuối mỗi tháng đều có nhận xét, xem những việc gì trong kế hoạch đã được thực hiện, những việc chưa thực hiện được từ đó tìm hiểu nguyên nhân chưa làm được để có biện pháp khắc phục liền ở tháng sau.

    Sau khi kiểm tra sức khỏe cho trẻ đầu năm, tôi tiến hành họp phụ huynh của những cháu suy dinh dưỡng để thông báo tình hình suy dinh dưỡng của các cháu, thực hiện công tác tuyên truyền về kiến thức nuôi dạy con, phòng chống suy dinh dưỡng, cần gì để bé lớn lên và khỏe mạnh,,…Từ đó kết hợp với phụ huynh để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ như: hàng ngày ngoài bữa ăn ở trường thì phụ huynh cho trẻ mang thêm sữa dinh dưỡng vào trường để uống thêm. Còn đối với các cháu chưa bị suy dinh dưỡng thì qua cuộc họp phụ huynh định kỳ thực hiện kế hoạch tuyên truyền cho phụ huynh về kiến thức nuôi dạy con, phòng chống suy dinh dưỡng, cần gì để bé lớn lên và khỏe mạnh,… vận động phụ huynh cho trẻ khám sức khỏe định kỳ để kịp thời khắc phục khi trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

    Bên cạnh đó nhà trường cũng luôn quan tâm tới công tác kiểm tra việc thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng của toàn trường vì chỉ có kiểm tra mới có thể đánh giá được việc làm của từng bộ phận. Từ đó có cơ sở rút kinh nghiệm những gì làm được cũng như những gì chưa làm được và có biện pháp đối với những người chậm trễ so với kế hoạch. Do đó tôi luôn phải lên kế hoạch kiểm tra thường xuyên theo từng tháng.

    Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên chú ý tổ chức trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho trẻ:

    Ở trường Mầm non, việc giáo dục để phát triển thể lực cho trẻ thông qua nhiều nội dung như: Chăm sóc nuôi dưỡng, phát triển các vận động tinh – thô cho trẻ… và chúng ta có thể khẳng định rằng một cơ thể khỏe mạnh luôn là tiền đề cho mọi tài năng.

    Trò chơi vận động có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển thể lực của trẻ. Trò chơi vận động thu hút nhiều trẻ tham gia chơi và hoàn thiện kỹ năng vận động cho trẻ ngoài ra trò chơi vận động còn tạo điều kiện để rèn luyện tố chất và phát triển thể lực. Trò chơi vận động làm tăng quá trình tuần hoàn hô hấp làm thay đổi trạng thái cơ thể giữa các hoạt động, giúp trẻ trở về trạng thái cân bằng, tăng cường lực sống đem lại sự vui vẻ, thỏa mái cho trẻ

    Xác định vai trò của trò chơi vận động trong việc phát triển thể lực tôi đã chỉ đạo giáo viên chú ý đến việc tổ chức các trò chơi vận động như: thường xuyên  tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi vận động để phát triển các tố chất thể lực. Giáo viên cần có sự cân nhắc lựa chọn cho trẻ trò chơi và cách chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu. Mỗi độ tuổi lại có mức độ nhận thức và khả năng chú ý có chủ định khác nhau. Chính vì thế, các trò chơi cũng cần phải được lựa chọn cho phù hợp với từng độ tuổi.

    Cùng với việc tổ chức các trò chơi vận động kết hợp với chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đến cuối năm học trẻ ở trường tôi đều có thể lực tốt. Trẻ khỏe mạnh, các bệnh về đường tiêu hóa ít khi xảy ra, trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, tự tin trong mọi hoạt động. Kỹ năng vận động, năng lực phối hợp cảm giác, năng lực định hướng trong vận động tốt.

    Biện pháp 7: Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân cô và trẻ

    – Chăm sóc sức khỏe vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân của cô và trẻ  luôn được nhà trường quan tâm hàng đầu từ giấc ngủ, bữa ăn cho trẻ. Vào đầu năm học nhà trường trang bị đủ đồ dùng phục vụ cho lớp, nhóm như: đồ dùng cá nhân có ký hiệu riêng cho từng cháu, điện nước đầy đủ phục vụ tốt cho ăn ngủ, sinh hoạt,…

    – Phòng học được sắp xếp ngăn nắp, thoáng mát, sạch sẽ tạo sự thoải mái trong học tập, sinh hoạt của các cháu.

    – Giáo viên luôn quan tâm đến giấc ngủ của trẻ, theo dõi trẻ ngủ, không bỏ trẻ ngủ một mình, giúp tất cả các cháu đều được ngủ ngon, ngủ đủ giấc.

    – Giáo viên kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nhà trường trong việc theo dõi sức khỏe của trẻ, nhất là hiện nay dịch bệnh tay –chân –miệng, đau mắt đỏ và sốt xuất huyết đang lan rộng ở các trường học. Giáo viên hướng dẫn trẻ biết rửa tay 6 bước bằng xà phòng sạch sẽ trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. Tập cho trẻ có thói quen ho, ngáp biết che miệng, biết giữ vệ sinh cá nhân. Hướng dẫn trẻ thói quen đánh răng sau khi ăn và sau khi ngủ dậy.

    – Lớp học phải ngăn nắp, sạch, thông thoáng. Không cho trẻ chơi trong tối để ngừa muỗi đốt, dẫn đến trẻ bị sốt xuất huyết.

    – Giáo viên thực hiện tốt các qui định của nhà trường như: cháu biết sử dụng đồ dùng cá nhân của mình bằng ký hiệu. Tổ chức giờ ăn: cần chuẩn bị tốt đồ dùng ,dụng cụ phục vụ cho giờ ăn đầy đủ.

    Nhờ thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân cô và trẻ đến cuối năm học 95% trẻ có thói quen vệ sinh tốt, giữ gìn vệ sinh thân thể gọn gàng, sạch sẽ.

    Biện pháp 8: Phối hợp với trạm y tế xã  khám sức khỏe và cân đo theo định kỳ, kiểm tra thường xuyên vệ sinh an toàn thực phẩm

    Phối hợp với trạm y tế xã khám sức khoẻ và cân đo theo định kỳ, kiểm tra thường xuyên VSATTP Phối hợp tốt với cơ sở y tế trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho trẻ là một trong những biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Chính vì vậy mà nhà trường luôn phối kết hợp tốt với trạm y tế xã trong việc chăm sóc sức khoẻ, quản lý tiêm chủng, phòng dịch bệnh cho trẻ và thường xuyên kiểm tra khâu vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà trường.

    – Hàng năm nhà trường phối hợp với trạm y tế xã khám sức khỏe cho trẻ 2 lần/năm theo dõi, kiểm tra và phân loại sức khỏe của trẻ theo biểu đồ tăng trưởng để có chế độ chăm sóc kịp thời, phù hợp. Kết quả khám sức khỏe và tẩy giun cho trẻ định kỳ lần 1:

    +Trẻ có sức khỏe bình thường  loại A: 95 trẻ chiếm tỉ lệ 75.4%

    + Trẻ có sức khỏe loại B: 30 trẻ chiếm tỉ lệ  23.8%

    + Trẻ có sức khỏe loại C: 1 trẻ chiếm tỉ lệ  0.79%

    – Những trẻ có biểu hiện như: béo phì, suy dinh dưỡng cần kiểm tra, cân đo hàng tháng để điều chỉnh chế độ ăn cho phù hợp. Những trẻ có biểu hiện như béo phì, suy dinh dưỡng cần kiểm tra, cân đo hàng tháng để điều chỉnh chế độ ăn cho phù hợp.

    – Nhà trường tích cực tham mưu kết hợp y tế xã với hội cha mẹ học sinh tổ chức bữa ăn dinh dưỡng, phụ huynh sẽ trực tiếp nghe cán bộ y tế nói chuyện về dinh dưỡng, cách chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng.

    – Kiểm tra sức khỏe cho đội ngũ cấp dưỡng trước khi hợp đồng làm việc theo định kỳ hàng năm.

    – Giáo viên được khám sức khỏe 2 lần/năm.

    – Tổ chức kiểm tra tay nghề hàng năm cho đội ngũ cấp dưỡng về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân.

    – Tổ chức đo đạt chất lượng môi trường.

    Biện pháp 9:  Coi trọng công tác tuyên truyền và kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng.

    Tuyên truyền đối với trẻ:

    Đối với những trẻ học trong trường mầm non, tôi chỉ đạo giáo viên tiến hành tuyên truyền bằng cách lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào các hoạt động như: Làm quen văn học, Khám phá khoa học, Thể dục, Giáo dục âm nhạc,.. một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò ép. Thể hiện rõ nhất vào hoạt động vui chơi của trẻ chính là hoạt động “ bé tập làm nội trợ”, giáo viên dạy trẻ có biết sử dụng thành thạo các đồ dùng dụng cụ như dao, thớt, cốc , chén,…. Qua các hoạt động và trò chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu những kiến thức về dinh dưỡng và sức khoẻ, giúp trẻ có thể vận dụng tốt trong các hoạt động hàng ngày.

    Tuyên truyền đồng thời kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng:

    Công tác tuyên truyền đây là việc nhà trường xác định có tầm quan trọng lớn để đem đến hiệu quả trong việc chăm sóc và phòng ngừa suy dinh dưỡng cho trẻ. Công tác tuyên truyền là chủ yếu với nhiều hình thức khác nhau.

    Lập kế hoạch tuyên truyền hàng tháng cho phụ huynh trong cả năm, các chủ điểm, tuyên truyền được xây dựng sắp xếp vào mỗi tháng xoay quanh các yêu cầu như:

    – Nội dung tuyên truyền căn cứ vào tình hình sức khỏe của học sinh, tình hình bệnh tật có thể phát sinh do thời tiết, khí hậu, môi trường cần được nhắc nhở để đề phòng và xử lý kịp thời.

    – Tình hình hiểu biết về nuôi con của cha mẹ.

    – Thời điểm chọn nội dung tuyên truyền được gắn kết cùng thời điểm với các nội dung truyền thông, trên các phương tiện thông tin đại chúng như: để hưởng ứng tháng hành động về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trường cũng có băng ron tuyên truyền hưởng ứng.  Đồng thời trên các bảng tuyên truyền của nhóm lớp phổ biến các tin  như: lựa chọn thực phẩm an toàn, cách chế biến hợp vệ sinh, cách ăn uống hợp vệ sinh, dạy trẻ rửa tay theo 6 bước bằng xà phòng, cách bảo quản thức ăn, giới thiệu hoạt động hội thi tay nghề cấp dưỡng đang diễn ra trong trường,…

    -Tình hình sức khỏe của trẻ qua biểu đồ tăng trưởng.

    -Tình hình bệnh tật của trẻ có thể phát sinh do thời tiết, khí hậu, môi trường để phụ huynh có thể nắm được và biết cách phòng tránh bệnh tật cho trẻ.

    – Các thông tin cần thiết về cách chăm sóc con,..

    Quan tâm đầu tư các góc tuyên truyền của trường và lớp. Kết hợp với bản tin và hình ảnh được thay đổi nhiều lần trong tháng để thu hút sự quan tâm chú ý của phụ huynh.

    Tăng cường phối hợp với  tổ trưởng, tổ phó hội cha mẹ học sinh của các nhóm lớp để kiểm tra định kỳ đầu tháng hoặc đột xuất trong tháng. Kiểm tra khâu cung ứng đến sơ chế và chế biến thực phẩm đến khẩu phần ăn của trẻ. Quan sát bữa ăn của trẻ, cùng chăm sóc trẻ theo đúng khoa học. Song song đó, nhà trường tích cực tham mưu kết hợp với hội cha mẹ học sinh tổ chức hội thi nấu ăn, vệ sinh an toàn thực phẩm, bữa ăn dinh dưỡng, các hình thức thi trắc nghiệm, hỏi đáp, hoặc thông qua các trò chơi, các tiết mục văn nghệ đã phản ánh được kiến thức khả năng thực hành của cha mẹ và trẻ. Hội thi đã tạo được bầu không khí cùng nhau tích cực tìm hiểu, học tập và qua đó cũng tuyên truyền sâu rộng tới phụ huynh học sinh và cộng đồng về vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe trẻ.

    Biện pháp  10: Xây dựng thực đơn chuẩn.

    Trường Mầm Non Vĩnh Trị là trường tổ chức học bán trú nên việc phục hồi trẻ suy dinh dưỡng lệ thuộc rất lớn vào các bữa ăn của trẻ tại trường. Do đó, tôi lên kế hoạch xây dựng thực đơn bám sát theo chương trình giáo dục Mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo với nhu cầu khuyến nghị về năng lượng tại trường của một trẻ trong một ngày. Đối với trẻ nhà trẻ từ 24 – 36 tháng: 708 – 826 Kcal (chiếm 60%-70% nhu cầu cả ngày); đối với trẻ mẫu giáo: 735 – 882 Kcal (chiếm 50% – 60% nhu cầu cả ngày). Vì thế, trong bữa ăn của trẻ tại trường, tôi luôn xây dựng sao cho đáp ứng đầy đủ 5 yêu cầu sau đây:

    – Đảm bảo đủ lượng kcal.

    – Cân đối các chất P (Protit) – L (Lipit) – G (Gluxit).

    – Thực đơn đa dạng, phong phú, sử dụng nhiều loại thực phẩm đặc biệt thực phẩm tại địa phương.

    – Thực đơn thay đổi theo mùa, tuần, ngày và phù hợp với trẻ.

    – Đảm bảo chế độ tài chánh.

    Muốn xây dựng một thực đơn cân đối ta phải bám sát các yêu cầu trên, yêu cầu đó luôn là tổng thể thống nhất trong mỗi thực đơn:

    Đảm bảo đủ lượng kcal:

    Năng lượng chủ yếu được cung cấp từ bột đường (G) và chất béo (L). G có nhiều trong các loại ngũ cốc và đường. L có nhiều trong mỡ động vật và các loại hạt có tinh dầu. Khi xây dựng thực đơn tôi luôn chú ý kết hợp giữa hai loại thực phẩm nhiều kcal và thực phẩm ít kcal với nhau để đảm bảo lượng kcal cần thiết cho một ngày.

    – Ví dụ: Bữa chính:

    + Món mặn: Chả cá nạo sốt cà chua.

    + Món canh: Canh súp rau củ (khoai tây, su hào, cà rốt,…)

    – Món chả cá nạo sốt cà chua – Vì là cá đồng nên lượng kcal thấp, khi kết hợp với canh súp rau củ – có lượng kcal cao sẽ tạo nên sự cân đối về năng lượng của bữa ăn.

    Cân đối tỷ lệ các chất P (Protit) – L (Lipit) – G (Gluxit):

    – Protit hết sức cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ, là nguyên liệu chủ yếu để xây dựng nên các tố chất trong cơ thể. P có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu, lạc, vừng,…

    – Lipit là nguồn cung cấp năng lượng. Những loại thức ăn giàu L gồm: dầu ăn, mỡ động vật, một số loại hạt có nhiều tinh dầu.

    – Gluxit là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu trong cơ thể. G có nhiều trong gạo, bột mì, miến, đường, đậu,…

    Vì vậy, trong bữa ăn hàng ngày ta cần đảm bảo đầy đủ các loại thực phẩm. Cân đối thực đơn sao cho đảm bảo tỷ lệ P-L-G: : Đối với trẻ nhà trẻ Protit (chất đạm) khoảng 12% – 15%; Lipit (chất béo) khoảng 35% – 40%; Gluxit (chất bột) khoảng 45% – 53%, đối với mẫu giáo: Protit (chất đạm) khoảng 12% – 15%; Lipit (chất béo) khoảng 20% – 30%; Gluxit (chất bột) khoảng 55% – 68%.

    Thực đơn đa dạng, phong phú, sử dụng nhiều loại thực phẩm đặc biệt thực phẩm tại địa phương.

    – Tất cả các chất dinh dưỡng đều rất cần thiết cho cơ thể trẻ ở lứa tuổi mầm non vì thế trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ ta phải kết hợp nhiều loại thực phẩm, có đủ 4 nhóm dưỡng chất: Bột đường, chất béo, vitamin và khoáng chất. Như vậy, thực đơn mới phong phú, đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng.

    – Để có nguồn thực phẩm phong phú và đảm bảo chất lượng, an toàn, vệ sinh nhà trường đã ký hợp đồng với những cơ sở cung cấp thực phẩm đáng tin cậy, tận dụng tối đa nguồn thực phẩm sẵn có của địa phương như: Lươn, tôm, cua, cá, gà đất, rau, củ, quả,…

    Thực đơn thay đổi theo mùa, tuần, ngày và phù hợp với trẻ:

    – Ở lứa tuổi mầm non đòi hỏi nhu cầu về dinh dưỡng và năng lượng vô cùng quan trọng, vì thế khi chế biến món ăn cũng phải đặc biệt quan tâm về khẩu vị và trạng thái thức ăn.

    – Khi xây dựng thực đơn tôi luôn chú ý đến các món ăn của trẻ nhất là khâu chế biến như băm, thái nhỏ, nấu mềm. Các món ăn mặn tôi yêu cầu chế biến thêm nước sốt cho trẻ dễ ăn hơn.

    – Ăn uống còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu từng mùa. Như mùa hè thời tiết nóng nực nhu cầu vê các món ăn có nhiều nước tăng lên, các món canh chua, canh cua,… trẻ thường rất thích. Còn mùa đông thời tiết lạnh tôi sử dụng các món xào, chiên,…trẻ sẽ ăn nhiều hơn. Ngoài việc thay đổi thực đơn theo mùa, tôi còn thường xuyên thay đổi, đa dạng món ăn từng tuần, từng ngày và từng bữa ăn để tăng phần hấp dẫn trẻ.

               Đảm bảo chế độ tài chánh:

    Với mức thu tiền ăn là 15.000/ngày/trẻ, trong thời buổi kinh tế hiện nay, để xây dựng được một thực đơn đầy đủ năng lượng và dinh dưỡng, đạt tỷ lệ các dưỡng chất, phong phú đa dạng các món ăn, đòi hỏi tôi phải biết kết hợp giữa món ăn chế biến từ thực phẩm đắt tiền và món ăn chế biến từ thực phẩm rẻ tiền mà vẫn phải đảm bảo đủ các yêu cầu trên.

    Ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng thực đơn chuẩn, ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành và áp dụng song song các biện pháp với nhau. Kết quả thu được sau 3 tháng như (Bảng 1).

    Biện pháp 11: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

    Phải nói rằng công tác kiểm tra đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ. Kiểm tra vừa là một biện pháp về mặt quản lý vừa là động lực thúc đẩy để các bộ phận làm việc một cách nghiêm túc, có chất lượng và đạt hiệu quả cao hơn. Do vậy, công tác kiểm tra phải thực hiện một cách khoa học, nghiêm túc. Qua kiểm tra giúp giáo viên đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong quá trình giáo dục trẻ, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường Mầm non.

    Công tác kiểm tra được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau: Tự kiểm tra, đánh giá, kiểm tra báo trước, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra chéo,…Đối tượng được kiểm tra trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng trong trường mầm non chủ yếu là các bộ phận trực tiếp thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ: cấp dưỡng, giáo viên,.…

    – Kiểm tra đối với cấp dưỡng: Cấp dưỡng là người trực tiếp chăm lo bữa ăn cho trẻ hàng ngày nên cần kiểm tra về một số nội dung sau:

    + Kiểm tra việc tiếp nhận thực phẩm: Có ghi chép, cân đo đúng số lượng hay không? Có kiểm tra chất lượng thực phẩm không? Có chữ ký người giao và người nhận hay không? Có đúng theo hợp đồng thực phẩm chưa?..

    + Kiểm tra quy trình chế biến có đúng quy định một chiều không? Các dụng cụ chế biến thực hiện như thế nào? Trang phục cấp dưỡng có đúng theo quy định không? Cân đo và chia thức ăn sau khi nấu chín như thế nào? Chế biến món ăn có theo nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm hay không? Các món ăn khi chế biến có đảm bảo đủ 3 ngon : “Ngon mắt, ngon mũi và ngon miệng”, hợp khẩu vị, màu sắc hấp dẫn đối với trẻ không? Nhà bếp có được vệ sinh sạch sẽ không? Có thực hiện lưu mẫu thức ăn theo quy định không?…

    – Kiểm tra đối với giáo viên các lớp:

    + Kiểm tra vệ sinh cô, trẻ (trang phục, móng tay, mặt mũi, đầu tóc) có sạch sẽ, gọn gàng hay không? Kiểm tra đồ dùng cá nhân của trẻ: khăn, ly uống nước, bàn chải đánh răng,…có sạch sẽ hay không?

    + Kiểm tra công tác tổ chức bữa ăn như: Có đủ bàn ghế, sạch sẽ, hợp vệ sinh không? Sắp xếp chỗ ngồi ăn của trẻ có phù hợp không? Có đủ đồ dùng phục vụ bữa ăn cho trẻ không? Có lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ vào các hoạt động vui chơi, học tập cho trẻ hay không?…

    + Ngoài ra, tôi còn kiểm tra việc thực hiện lịch sinh hoạt, tổ chức các hoạt động có vừa sức hay không? Vệ sinh lớp học như thế nào? Kiểm tra hồ sơ theo dõi sức khoẻ (biểu đồ, sổ theo dõi sức khoẻ). Từ đó hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh kịp thời giáo viên.

    + Bên cạnh đó, tôi cũng thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra đối với giáo viên về hành vi: đánh đập, doạ nạt, quát mắng trẻ, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Để có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kịp thời đối với những trường hợp vi phạm vì điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng tinh thần và sức khoẻ của trẻ.

    – Ngoài việc kiểm tra cấp dưỡng, giáo viên thì việc kiểm tra cơ sở vật chất phục vụ bán trú cũng rất quan trọng. Tôi cũng tiến hành kiểm tra thường xuyên để kịp thời sửa chữa, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt nhất cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.

    Song song với những biện pháp trên, trong những năm học qua tôi còn áp dụng nhiều biện pháp khác hạn chế tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng như:

    – Tính khẩu phần ăn của trẻ bằng phần mềm Nutrikids.

    – Tổ chức cho trẻ ăn dặm tại trường: 1 cử sữa/ ngày (100ml/cử).

    – Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trong nhà trường.

    – Bồi dưỡng nâng cao tay nghề năng lực thực hành của đội ngũ nhân viên cấp dưỡng trong nhà trường.

    – Hợp đồng thực phẩm với các cá nhân, cơ sở đáng tin cậy để được cung cấp thực phẩm đảm bảo chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm một cách thường xuyên và được bảo đảm bằng sự cam đoan có tính pháp lý trước pháp luật của bên cung cấp thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định.

    – Nhà vệ sinh sạch sẽ, khai thông cống rãnh xung quanh trường, lớp, xử lý rác thải, tạo môi trường, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, an toàn tạo điều kiện để trẻ phát triển tốt.

    – Tổ chức sưu tầm trò chơi, câu đố, ca dao, thơ, thực đơn,… về dinh dưỡng.

              2.4- Kết quả, chuyển biến:

    Phòng chống suy dinh dưỡng là trách nhiệm chung của toàn xã hội nhằm giúp trẻ luôn có thể lực khỏe mạnh có hứng thú tham gia vào các hoạt động. Trẻ khỏe mạnh ít ốm đau là niềm hạnh phúc của gia đình. Ngược lại nếu không làm tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng thì sẽ làm tổn thương về mặt thể lực cũng như tinh thần của trẻ. Chính vì vậy ngoài việc giáo dục, trang bị những kiến thức cho trẻ thì người lớn phải chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học để trẻ không bị suy dinh dưỡng. Mặt khác công tác chỉ đạo chống suy dinh dưỡng trẻ ở trường Mầm non của người quản lý phải hết sức năng động, sáng tạo và phải thường xuyên liên tục.

    Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em.

    Do đổi mới kịp thời về công tác quản lý chỉ đạo, đổi mới công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công tác nuôi dưỡng. Vì vậy, mà năm học 2015– 2016 số trẻ suy dinh dưỡng đã giảm đi, bước đầu đã gây ấn tượng và niềm tin của các bậc phụ huynh đối với chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng của nhà trường.

    Kết quả khảo sát cuối năm như sau:

    Độ tuổi TS Trẻ ra lớp TS trẻ được cân đo Số trẻ SDD Số trẻ thấp còi

    SDDV SDDN Độ 1 Độ 2

    Nhà trẻ

    12 12 0 0 1

    2

    Mầm

    23 23 0 0 0 0

    Chồi

    31 31 0

    0 0

    0

    60 60 1

    0 4

    0

    TỔNG CỘNG 126 126 1 0 5 2

    +Số trẻ SDD: 1 trẻ chiếm 0.79%  giảm 10.32% so với đầu năm

    +Số trẻ thấp còi: 7 trẻ chiếm 5.55% giảm 6.35% so với đầu năm

    Kết quả khám sức khỏe lần 2 :

    +Trẻ có sức khỏe bình thường  loại A: 101 trẻ chiếm 80.2%

    + Trẻ có sức khỏe loại B: 25 trẻ chiếm 19.8%

    + Trẻ có sức khỏe loại C: 0 trẻ chiếm 0 %

    Từ những kết quả trên cho thấy rằng tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm đi đáng kể so với đầu năm học. Trẻ phát triển cân đối hài hòa, nhanh chóng hoạt bát, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.

      3- KẾT LUẬN:

               3.1- Tóm lược giải pháp:

    Suy dinh dưỡng là một trong những gánh nặng của các nước có nền kinh tế kém phát triển và những nước đang phát triển. Mặc dù, Đảng và nhà nước ta có chương trình Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng đặt ra những mục tiêu cụ thể, tuy nhiên tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở những vùng sâu, vùng xa còn rất cao do kinh tế khó khăn và do các bậc cha mẹ chưa có kiến thức nuôi dưỡng con theo khoa học.

    Qua những năm làm công tác quản lý phụ trách công tác chăm sóc, nuôi dưỡng của nhà trường, tôi thấy rằng: việc nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng nói chung và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường Mầm non nói riêng là vô cùng cần thiết và luôn đồng hành với trẻ, vì vậy:

    Cần bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ cán bộ giáo viên, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

    Muốn phòng chống suy dinh dưỡng có hiệu quả cần phải giúp cho trẻ có đầy đủ thức ăn để sinh trưởng, phát triển và vận động. Để thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ thì ngay từ đầu năm học nhà trường tổ chức vận động cho trẻ được bán trú tại trường, nhà trường luôn đảm bảo chế độ ăn theo quy định, thay đổi chế độ ăn, thực đơn phù hợp.

    Quan tâm đến việc theo dõi sức khỏe của trẻ thường xuyên để có biện pháp kịp thời hạn chế trẻ suy dinh dưỡng trong nhà trường. Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Cân đo, theo dõi sức khoẻ, chấm biểu đồ một cách chính xác.

    Chỉ đạo giáo viên tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị suy dinh dưỡng.

    Lên kế hoạch thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng cho toàn trường, cần được triển khai nghiêm túc, chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đến từng nhóm, lớp.

    Chỉ đạo giáo viên chú ý tổ chức trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho trẻ.

    Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh cá nhân cô và trẻ

    Phối hợp với trạm y tế xã  khám sức khỏe và cân đo theo định kỳ, kiểm tra thường xuyên vệ sinh an toàn thực phẩm .

    Coi trọng công tác tuyên truyền và kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng.

    Xây dựng thực đơn chuẩn (đảm bảo đủ lượng kcal, cân đối các chất, đa dạng, phong phú, sử dụng nhiều thực phẩm khác nhau, thay đổi theo mùa, theo tuần, theo ngày và đảm bảo chế độ tài chánh). Thiết lập hồ sơ quản lý chế độ ăn cho trẻ chặt chẽ, có sự thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị.

    Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học, trong đó chú trọng kiểm tra chế độ dinh dưỡng của trẻ. Trong khi kiểm tra đòi hỏi người cán bộ kiểm tra phải tinh thông về nghiệp vụ, nhanh nhạy nắm bắt tình hình thực tế, linh hoạt xử lý mọi tình huống, có kết luận chính xác.

    Chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu mua thực phẩm đến khâu sơ chế, chế biến, bảo quản và tổ chức cho trẻ ăn.

    Nếu làm được như vậy, thì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ sẽ giảm đi đáng kể, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, xứng đáng là người “Gieo mầm xanh cho tương lai”.

    3.2- Phạm vi đối tượng – kiến nghị:

      3.2.1- Phạm vi đối tượng áp dụng:

    Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng tại Trường Mầm Non Vĩnh Trị trong năm học 2015-2016. Ngoài ra, sáng kiến này còn có thể áp dụng được đối với tất cả các trường Mầm non.

      3.2.2- Kiến nghị:

    Căn cứ vào thực tế của nhà trường, tình hình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ năm học 2015-2016 tôi có một số kiến nghị như sau:

    – Cần phát huy hơn nữa vai trò của địa phương trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng.

    – Phòng Giáo dục và Đào tạo cần tạo điều kiện cho cấp dưỡng được tham quan học hỏi các đơn vị làm tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng để học hỏi thêm kinh nghiệm.

    Vĩnh Trị, ngày 28  tháng 04 năm 2016

    Người viết sáng kiến

    Nguyễn Thị Thúy Hằng                                                                                             

    MỤC LỤC

    1.LÝ DO CHỌN DỀ TÀI                                                                   Trang    

    1.1.Đặt vấn đề                                                                                      01 – 02

    1.2.Mục đích chọn đề tài                                                                                        02

    1.3.Lịch sử đề tài                                                                                          02

    1.4.Phạm vi đề tài                                                                                         02

    2.NỘI DUNG CÔNG VIỆC

    2.1.Thực trạng đề tài                                                                             02 – 05

    2.2.Nội dung                                                                                                  05 – 06

    2.3.Biện pháp                                                                                                 06 – 22

    2.4.Kết quả, chuyển biến                                                                                22 – 23

      KẾT LUẬN

      3.1.Tóm lược giải pháp                                                                                  23 – 25

      3.2. Phạm vi đối tượng-kiến nghị

      Sang Kien Kinh Nghiem Mon Am Nhac / 2023

      PHẦN MỞ ĐẦUI. Lý do chọn đề tàiViệc giáo dục một con người toàn diện không chỉ giáo dục cho họ có đạo đức tốt, có trình độ hiểu biết, nắm chắc các kiến thức khoa học và xã hội mà còn phải giáo dục cho họ biết nhìn nhận, phân biệt, biết thưởng thức cái đẹp và biết làm đẹp cho cuộc sống nói chung, cuộc sống của mình nói riêng.Vì vậy, có thể nói rằng giáo dục thẩm mỹ cho con người là không thể thiếu được. Mà một trong những con đường giáo dục thẩm mỹ nhanh và hiệu quả nhất là giáo dục thông qua các môn học nghệ thuật.Trong đó Âm nhạc có vị trí rất quan trọng. Đặc biệt trong những năm gần đây, bộ giáo dục và đào tạo đã điều chỉnh nội dung giáo dục nghệ thuật trong nhà trường và coi đây là môn học bắt buộc, trong đó có môn Âm nhạc. Âm nhạc là phương tiện hiệu quả nhất trong giáo dục thẩm mỹ, đặc biệt là ở bậc tiểu học, thông qua môn học này đã hình thành cho các em những kiến thức ban đầu về ca hát, về kiến thức Âm nhạc, đặc biệt là trang bị cho các em có một thế giới tinh thần thoải mái hơn, giúp các em phát triển toàn diện hơn, từ đó giúp các em học tốt các môn học khác. Ở lớp 4- 5 ngoài việc học hát các em còn được tập đọc các bài tập đọc nhạc với các hình tiết tấu đơn giản như : Nốt trắng, nốt đen, móc đơn, được ghép lời ca theo nhạc và được làm các bài tập nhạc và vậy việc học âm nhạc ở lớp 4 của học sinh Tiểu học đã bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới. Các em trực tiếp được tiếp xúc với các nốt nhạc trên khuông nhạc có khoá son đó là một phân môn mới, phân môn Tập đọc nhạc. Bên cạnh đó việc rèn luyện khả năng nghe âm nhạc chuẩn xác, phát triển tai nghe góp phần vào việc giáo dục văn hóa âm nhạc cho các em là điều rất cần thiết .Qua thực tế giảng dạy từ những năm trước đây. Tôi nhận thấy rằng trước một bài tập đọc nhạc, ghi chép nhạc, để các em hiểu, nắm được và thực hiện tốt yêu cầu của bài người giáo viên cần có một phương pháp truyền đạt, hướng dẫn thật tốt , đơn giản nhưng lại hiệu quả nhất, để giúp các em nắm bắt, tiếp thu nhanh nhất kiến thức bài học. Từ đó, tôi đưa ra một số biện pháp dạy tập đọc nhạc cho học sinh khối 4- 5 ở bậc Tiểu học cũng là những kinh nghiệm mà tôi đã đúc kết được trong những năm giảng dạy tại trường.II. Mục đích nghiên cứuGiúp giáo viên dạy tốt môn hoạt động âm nhạc và học sinh học tốt môn hoạt động này. III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu: Từ năm học 2012- 2013, 2013- 2014.Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Hiệp Hòa B.IV. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp quan sát.Phương pháp vấn đáp.Phương pháp thực hành.

      PHẦN NỘI DUNGI. Cơ sở lý luận Xuất phát từ thực trạng giảng dạy Âm nhạc cho học sinh ở lứa tuổi Tiểu học. Vấn đề học và kết quả học tập của các em là hết sức quan trọng, điều đó không chỉ phụ thuộc vào chương trình giảng dạy phù hợp mà còn phụ thuộc vào phương pháp truyền thụ của người thầy. Hơn nữa còn phù thuộc vào ý thức học tập của các em cùng với sự quan tâm chăm sóc, tạo điều kiện của gia đình và toàn thể xã hội. Như chúng ta đã biết, Âm nhạc là một môn học mang tính nghệ thuật cao, nó khác rất nhiều so với môn học khác, tuy nó không đòi hỏi sự chính xác một cách tuyệt đối như những con số nhưng lại đòi hỏi người học phải có sự yêu thích, sự đam mê thậm chí là một chút cái gọi là “năng khiếu”, điều này không phải học sinh nào cũng có được. Học Âm nhạc mang đến cho học sinh những phút giây thư giãn, thoải mái, học mà chơi, chơi mà học. Thông qua những câu nhạc, những lời ca, Âm nhạc giúp các em nhận thức những hình tượng âm thanh, giai điệu, kích thích cảm xúc của các em, giúp các em cảm thụ những giai điệu qua từng bài nhạc, từng câu nhạc. Vậy làm thế nào để các em đọc đúng được bài tập đọc nhạc ? Trước tiên người giáo viên cần tạo cho các em có một tâm trạng thoải mái, một hứng thú tràn đầy khi học âm nhạc và yếu tố quan trọng là người giáo viên phải truyền tải chính xác các kiến thức về Âm nhạc. Là giáo viên chuyên ngành Âm nhạc, qua thời gian trực tiếp giảng dạy, bản thân ít nhiều đã đúc kết được

      Thựuc Trạng Và Một Số Biện Pháp Sư Phạm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Thể Dục Tại Trường Thcs Ba Xa Sang Kien Kinh Nghiem 20112012 Doc / 2023

      Lời nói đầuĐất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp cộng nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong sự nghiệp đó, giáo dục đóng vai trò quan trọng hàng đầu nhằm giáo dục nhân cách thế hệ trẻ Việt nam một cách toàn diện, thông minh, sáng tạo, phục vụ tích cự nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước.Trong sự nghiệp phát triển hội nhập về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội và văn hóa, nền giáo dục đất nước ta đã đặt ra những mục tiêu cụ thể phát triển giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ và lao động kỹ thuật cho học sinh ở tất cả các bật học phổ thông. Do đó môn thể dục đã chính thức được đưa vào giảng dạy ở tất cả các bật học, cấp học trên toàn quốc, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

      Các trường THCS đã có nhiều cố gắng nhằm thực hiện tốt việc đưa môn thể dục vào giảng dạy. tuy nhiên đây là môn bắt buộc, mới đưa vào giảng dạy nên việc thực hiện chương trình còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động dạy và học.

      Nhằm đánh giá thực trạng và nâng cao chất lượng giảng dạy môn thể dục ở trường THCS Ba Xa. Trong thời gian hơn hai năm công tác tại trường THCS Ba Xa, bản thân em đã thấy được thực trạng hoạt động dạy và học môn thể dục ở trường còn có nhiều khó khăn và hạn chế nhất định. Do vậy em thực hiện đề tài khoa học này với mong muốn tìm hiểu thực trạng giảng dạy môn thể dục ở trường và đưa ra một số biện pháp sư phạm để khắc phục những hạn chế trong quá trình giảng dạy bộ môn thể dục ở trường THCS Ba Xa.

      IIIĐối tượng – khách thể nghiên cứu6

      VIPhương pháp nghiên cứu7

      PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨUCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN8

      IGiáo dục thể chất trong nhà trường phổ thong8,9

      1Vai trò của giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thong9

      2Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục thể chất đối với học sinh phổ thong9

      IINhững yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy môn thể dục tại trường phổ thong10

      2Công tác tổ chức giờ học11

      CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN THỂ DỤC Ở TRƯỜNG THCS BA XA

      IThực trạng chất lượng giảng dạy môn thể dục ở trường THCS Ba Xa12

      1Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên thể dục ở trường THCS Ba Xa12

      2Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập môn thể dục của trường THCS Ba Xa12

      3Thực trạng tổ chức giờ học thể dục của trường THCS Ba Xa13

      CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN THỂ DỤC Ở TRƯỜNG THCS BA XA.

      IMột số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giờ học TDTT ở trường THCS Ba Xa14

      1Xây dựng cấu trúc giờ học hợp lý.15

      2Cải tiến phương pháp giờ học.15,16

      2.1Tổ chức giờ học theo phương pháp vòng tròn15,16

      3Tổ chức trò chơi trong giờ học thể dục16,17

      IIThực nghiệm đánh giá hiệu quả các biện pháp đưa ra.18

      1Xây dựng cấu trúc giờ học hợp lý.18

      2Tổ chức giờ học theo phương pháp tập luyện vòng tròn18,19

      3Tổ chức trò chơi trong giờ học thể dục19,20

      PHẦN III. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

      Ngày 27/03/1946 Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: ” Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công

      Trường Mầm Non Lộc Thủy / 2023

      Thế kỷ 21 là thế kỷ của trí tuệ, thế kỷ của nền kinh tế trí thức. Chính vì vậy Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm và đầu tư giáo dục, với quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục, trường đảm nhận nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ, là cơ sở nền tảng cho quá trình học tập, phát triển tư duy, hình thành cơ sở ban đầu nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường tiểu học.

      Xuất phát từ những đặc điểm cơ thể trẻ luôn phát triển tuân theo những quy luật cơ bản của sinh học, trình tự và tốc độ của sự phát triển phụ thuộc vào những yếu tố về di truyền, môi trường sống và đặc biệt là phương pháp nuôi dưỡng và rèn luyện thân thể một cách có ý thức.

      Trong vài thập kỉ và đặc biệt là trong những năm gần đây, cùng với sự chuyển biến mọi mặt của xã hội và đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội trẻ em đã có điều kiện được chăm sóc tốt hơn dẫn đến tinh trạng béo phì rất nhiều . Trên thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển thể chất của trẻ như: kinh tế, xã hội, chất lượng môi trường sống, song yếu tố chính vẫn là hình thức tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ.

      “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phát triển thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non”.

      Đề tài:“Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phát triển thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non”

      1.2.1. Đề tài nhằm giải quyết:

      Như trên đã trình bày: Giáo dục thể chất đã trở thành nhiệm vụ quan trọng và được quan tâm ngay từ bậc học mầm non….phải bắt đầu từ lứa tuổi mầm non và phải được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên để giúp trẻ có một cơ thể khỏe mạnh cân đối hài hòa và phát triển toàn diện về nhân cách. Mục đích nghiên cứu của tôi là nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả nhất trang bị cho trẻ bước đầu có những có kỹ năng nhất định cần thiết về phát triển thể chất, giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động.

      – Giúp giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng, cần thiết phải giáo dục thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non. Đồng thời bước đầu tháo gỡ những vướng mắc lúng túng về nội dung, biện pháp giáo dục thể chất cho trẻ. Từ đó cùng các đồng nghiệp tìm ra được một số biện pháp, hình thức tổ chức hữu hiệu để giáo dục thể chất cho trẻ Mầm non.

      Trong khuôn khổ kinh nghiệm này bản thân tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình về ý thức giáo dục phát triển thể chất trong trường, trong lớp học mẫu giáo ở độ tuổi 5 – 6 tuổi mà tôi đang đảm nhận. Nhưng đề tài thành công phạm vi áp dụng của nó sẽ được mở rộng ra ở trường chúng tôi, các trường bạn. Và ở cấp độ lớn hơn, ở các địa phương khác cũng có thể áp dụng….

      2.1.1. Những thuận lợi cơ bản:

      – Năm học 2014-2015, tôi đã được nhà trường phân công giảng dạy lớp 5 – 6 tuổi với số lượng 26 cháu. Các cháu khá mạnh dạn, thông minh, thích tham gia vào các hoạt động.

      – Trong năm học nàytrường đang phấn đấu xây dựng trường chuẩn quốc gia giai đoạn hai nên Ban giám hiệu nhà trường quan tâm trong việc triển khai kịp thời chương trình giáo dục phát triển thể chất, thường xuyên tăng trưởng cơ sơ vật chất phục vụ hoạt động phát triển thể chất cho trường (chú trọng cho lớp 5 – 6 tuổi).

      – Bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy khá lâu năm trong nghề lại luôn chịu khó tìm tòi học hỏi nên cũng tích lũy được một số kinh nghiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, hướng dẫn trẻ tham gia hoạt động phát triển thể chất, xây dựng môi trường đẹp gần gũi cuốn hút trẻ hăng say tham gia.

      – Số trẻ nam và nữ tương đối cân bằng

      – Phụ huynh học sinh quan tâm đến tình hình sức khỏe và chương trình học của con em mình

      1.1.2 Những khó khăn ban đầu:

      – Khả năng chú ý có chủ định của trẻ còn hạn chế, sự hứng thú của trẻ chưa bền nên ý thức tập luyện của trẻ chưa cao.

      Giáo viên chưa có nhiều sáng tạo trong hoạt động giáo dục thể chất.

      – Diện tích lớp học và diện tích sân tập chưa đạt chuẩn quy định.

      – Đồ dùng trực quan chưa hấp dẫn dẫn lôi cuốn trẻ dẫn đến các giờ hoạt động còn khô khan chưa có hiệu quả.

      – Giáo viên chưa có nhiều hình thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo vào hoạt động khiến trẻ gò bó, chưa hứng thú cho nên giờ hoạt động thể chất chưa đạt hiệu quả cao.

      Vào đầu năm học, sau một thời gian dạy, quan sát các em tôi tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động giáo dục thể chất, thông qua một số tiêu chí cụ thể và thống kê được một số thông tin ban đầu như sau:

      2.2.1. Biện pháp xây dựng kế hoạch của lớp:

      Bắt đầu nhận lớp, bản thân đã triển khai ngay việc xây dựng kế hoạch thực hiện của lớp. Vì xây dựng kế hoạch là một việc làm không thể thiếu của người giáo viên đứng lớp, nhằm tạo tính chủ động, làm việc có khoa học, có nề nếp và cũng là cơ sở để nhận xét đánh giá chất lượng công việc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và điều chỉnh một số công việc còn thiếu sót so với yêu cầu đặt ra. Việc xây dựng kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhóm lớp, phù hợp với khả năng nhận thức thực hành của trẻ.

      Dựa trên kế hoạch hoạt động của nhà trường, tôi nghiên cứu tiến hành khảo sát, đánh giá từng nội dung xem nội dung nào lớp đã làm được và kết quả ở mức độ nào, những nội dung nào chưa làm được, cần bổ sung những điều kiện gì để hoàn thiện. Từ đó, tôi xây dựng kế hoạch từng tháng, từng tuần sao cho phù hợp, những công việc nào giáo viên tự làm, những công việc nào cô và trẻ cùng làm và làm vào thời gian nào thích hợp để có hiệu quả thực sự.

      : – Tháng 9, 10, do thời tiết hay mưa nên tôi lên kế hoạch giáo dục thể chất cho các em bằng các hoạt động ở trong lớp (nếu trời mưa); ở ngoài sân trường (Nếu trời đẹp)

      – Tháng 11, 12 thời tiết hay mưa, rét , tôi lên kế hoạch giáo dục thể chất cho các em bằng các hoạt động ở trong nhà.

      – Tháng 1, 2 thời tiết ấm và đẹp hơn, tôi lên kế hoạch giáo dục thể chất cho các em bằng các hoạt động ở sân trường.

      – Tháng 3, 4,5 thời tiết nắng nhiều, tôi lên kế hoạch giáo dục thể chất cho các em bằng các hoạt động ở vườn trường vào đầu giờ học buổi sáng.

      Vì hoạt động giáo dục thể chất thường diễn ra nhiều nhất ở các hoạt động, trò

      chơi vận động. Các trò chơi lại được tổ chức nhiều ngoài trời (Phụ thuộc vào thời tiết). Nên khi lên kế hoạch cần có kế hoạch dự phòng thay đổi trò chơi, hoạt động theo thời tiết.

      2.2.2. Chuẩn bị điều kiện và đảm bảo an toàn phục vụ giáo dục thể chất cho trẻ:

      Muốn trẻ hứng thú với lĩnh vực giáo dục, các hoạt động phát triển thể chất thì việc đầu tiên của mỗi một giáo viên phải gây được hứng thú cho trẻ khi tới lớp học. Trẻ có được cô yêu thương, thích đến trường thì trẻ mới có hứng thú tham gia các hoạt động khác. Vì thế môi trường học tập tốt, môi trường học tập thân thiện sẽ khuyến khích trẻ thíc đi học, tích cực hoạt động theo các yêu cầu của cô. Vì vậy việc xây dựng môi trường học tập phù hợp và hấp dẫn trẻ là vô cùng cần thiết.

      Môi trường ngoài lớp học các cô giáo trong trường cùng phối hợp bố trí thời gian để thay đổi tạo quang cảnh sự phạm mới mẻ hấp dẫn. Đồ chơi ngoài trời thường bố trí sắp xếp tạo khoảng trống của sân trường cho trẻ tập thể dục sáng, trẻ có địa điểm để tham gia các hoạt động phát triển thể chất. Bên cạnh đó giáo viên thường tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động lao động ngoài trời như việc trồng cây, chăm sóc cây, tưới cây… Từ đó giúp trẻ phát triển thể chất và yêu thiên nhiên hơn.

      Ví dụ: Tổ chức hoạt động giáo dục thể chất củng cố rèn luyện kĩ năng cho nội dung chính của hoạt động, tôi tổ chức cho trẻ leo trèo qua các thang thể dục, đồ chơi ngoài trời hoặc leo lên bước xuống qua các bậc thang … hay chơi các trò chơi vận động, trò chơi dân gian ở ngoài sân trường

      Môi trường đa dạng, phong phú hấp dẫn sẽ gây hứng thú cho trẻ và tạo ra kết quả của hoạt động cao hơn. Từ đó góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân thiện giữa cô và trẻ, giữa trẻ và giáo viên. Qua việc vận dụng khi thực hiện trong môi trường học tập, tôi nhận thấy trẻ tham gia sôi nổi hơn với các hoạt động, đặc biệt là hoạt động giáo dục phát triển thể chất.

      a. Dụng cụ, đồ dùng tập luyện:

      : Khi tổ chức cho trẻ tập thể dục sáng, tôi thường xuyên thay đổi đồ dùng cho trẻ theo tuần: khi thì sử dụng vòng thể dục, khi thì gậy thể dục, nơ, cờ…sử dụng các đồ dùng này phù hợp với nội dung bài học và chủ điểm đang thực hiện. Hay khi chuẩn bị đồ dùng cho trẻ vận động cơ bản, tôi trang trí các đồ dùng học tập như cổng thể dục, tạo các đường hẹp bằng các dây hoa – thanh nhựa. Bật qua vật cản thì tôi thường làm các hộp…. có màu sắc hấp dẫn, kích thích thu hút trẻ vào giờ hoạt động, phát triển thể chất cho trẻ đạt kết quả cao. Các loại đồ dùng phục vụ học tập của trẻ được cô tạo ra luôn tuân thủ nguyên tắc: bền chắc, không sắc nhọn, không có nguy cơ gây tai nạn cho trẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ.

      b. Đảm bảo an toàn khi sử dụng các dụng cụ học tập, vui chơi:

      Trong trường mầm non việc đảm bảo an toàn cho trẻ được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, người giáo viên luôn lấy nhiệm vụ an toàn cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi là trọng tâm kế hoạch đề ra. Trẻ cần được đảm bảo an toàn trong mọi hoạt động có sự giám sát của giáo viên như: Trẻ chơi với các đồ dùng đồ chơi, dụng cụ luyện tập, địa điểm cho trẻ hoạt động. Trước mỗi trò chơi, tôi luôn quan tâm làm tốt công tác chuẩn bị: Sân tập, kiểm tra dụng cụ trước khi cho trẻ luyện tập. Đối với các đồ dùng như: ghế thể dục, thang leo… tôi kiểm tra độ chắc trước khi cho trẻ sử dụng. Nếu thấy chưa chắc chắn tôi tìm cách sửa chữa ngay. Khi đảm bảo được độ an toàn cho trẻ, tôi mới triển khai trò chơi đó, nếu không được cần thay đổi trò chơi vận động khác phù hợp với dụng cụ, đồ dùng hiện có của các em. Có kế hoạch kiểm tra thường xuyên đồ dùng, đồ chơi trong lớp để đảm bảo tính an toàn cho trẻ khi tham gia hoạt động.

      Khi các em chơi trò chơi vận động: ” Cầu thủ bóng rổ”

      Các em cần dụng cụ như là cốt bóng nhưng cột bóng rổ đó không còn an toàn nữa. Tôi mạnh dạn thay trò chơi ” Chim đổi lòng, hay trò chơi cho cá ăn”…. 2. 2.3. Lồng ghép tích hợp các hoạt động khác vào hoạt động thể chất: a/ Sử dụng âm nhạc trong hoạt động giáo dục thể chất: – Nói đến giáo dục phát triển thể chất mọi người thường nghĩ tới sự khô khan, cứng nhắc .Thật như vậy nếu không có biện pháp làm mềm hóa hoạt động học. Hoạt động giáo dục phát triển thể chất khi có âm nhạc sẽ thấy hứng thú và phấn khởi hơn, giờ hoạt động của trẻ đạt kết quả cao hơn. Nhưng phải biết lựa chọn phù hợp với t õ ng bài tập, tường chủ điểm đó mới là một quá trình mà chúng ta phải quan tâm.

      Ví dụ: – Khi dạy trẻ học chủ điểm ” Trường mầm non” tôi chọn nhạc bài: ‘Trường mẫu giáo yêu thương” kết hợp tập với vòng cho bài tập phát triển chung, thể dục sáng. Các em vừa hát vừa tập các động tác phụ họa.

      – Khi dạy trẻ học chủ điểm ” Thế giới động vật” tôi chọn nhạc bài:

      ” Nhện nhện đang chăng tơ chăng tơ ta cùng leo lên này

      Trời trời khi mưa to. Ối nhà đâu mất rồi?

      À còn đâu nữa, ông mặt trời lên kìa

      Nhện, lại đi chăng tơ ta cùng leo xuống nào”

      Vừa hát vừa vận động các động tác phù hợp tạo sự vui tươi, nhí nhảnh, thân thiện, đồng thời phát triển thể chất cho các em.

      Hoặc có thể từ các bài hát vui nhộn, nhí nhảnh với nhịp 2/4 như bài hát: “Đàn gà con”, “Đàn gà trong sân” tôi cho trẻ kết hợp khởi động trước khi hát.

      Bài hát ” Con rùa chậm chạp”- kết hợp với trò chơi vận động

      ” Chầm chậm từng bước mà rùa vẫn cố bước đi

      Và còn thi đua cùng thỏ con đang đi rất nhanh

      Chớ có nghĩ, chớ có coi thường

      Tưởng rùa là loài vật chậm nhất

      Đôi chân, đôi chân vẫn bước đi cho đến cùng”

      Với lời 2 tôi có thể thay thế bằng rùa chạy thi cùng với báo, cùng với chim hay một số con vật nào khác

      Tới phần hồi tĩnh, tôi cho trẻ đi nhẹ nhàng theo nhạc bài: Chim bay

      ” Con chim bay chim bay.

      Con cò bay cò bay.

      Vịt có bay không nào?

      Không bay, không bay

      Vịt thích lội dưới ao.

      Hay bài: Đất nước của những giấc mơ

      Như đàn chim vỗ cánh vào trời cao.

      Bay xa khắp chốn, ta cùng bay lên nào.

      Trên trời xanh thắm, trên đồng nương xanh.

      Cho trẻ thơ cất lên ngàn bao mơ ước.

      Trẻ làm động tác theo nội dung của bài hát đi nhẹ nhàng 1-2 phút

      Với mỗi chủ điểm tôi luôn lựa chon các bài hát có nội dung phù hợp với chủ điểm để đưa vào dạy trẻ. Tôi thường chọn lựa các bài hát vui nhộn, có động tác phụ họa gây hứng thú với trẻ và góp phần giáo dục thể chất cho trẻ. Tôi luôn hiểu: Âm nhạc và vận động liên kết với nhau từ lúc trẻ chào đời và kéo dài suốt thời kỳ thơ ấu.

      b/ Tổ chức các hội thi trong hoạt động giáo dục thể chất.

      Hội thi là đỉnh cao của phong trào thi đua dạy tốt học tốt, tổ chức các hội thi có hiệu quả nhằm khêu gợi tính sáng tạo, phát huy tinh thần tự học trẻ. Để hội thi có có tác dụng giáo dục thể chất cho các em thì giáo viên cần chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ cho hội thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tích cực ở trẻ.

      Khi dạy trẻ chủ điểm Tết và mùa xuân, tôi tổ chức cho trẻ tham gia hội thi: Ngày hội mùa xuân

      Với hoạt động giáo dục thể chất là: Đi trên ghế thể dục có mang vật trên tay, trò chơi – Nhảy lò cò

      + Khởi động: Cho trẻ lên tàu tới tham dự hội thi.

      + Bài tập phát triển chung: Phần thi đồng diễn (Trẻ tập các động tác thể dục theo hiệu lệnh của cô hoặc theo lời bài hát về chủ điểm này).

      +Vận động cơ bản: Phần thi Ai khéo hơn ai (Đi trên ghế thể dục có mang vật trên tay}.

      + Trò chơi: Phần thi : Nhảy đẹp (Trẻ nhảy lò cò)

      + Hồi tĩnh: Cho trẻ thể hiện niềm mơ ước của mình (đi nhẹ nhàng)

      Với các nội dung xuyên suốt trong hội thi của ngày hội như vậy trẻ thể hiện và hứng thú tích cực tham gia hoạt động. Bên cạnh đó, tôi chọn lựa các nội dung giáo dục cho trẻ biết về truyền thống, phong tục, tập quán của địa phương quê hương của đất nước con người việt

      c/ Sử dụng thơ, truyện, đồng dao, ca dao trong hoạt động giáo dục phát triển thể chất :

      Ví dụ: Hoạt động giáo dục phát triển thể chất với nội dung thực hiện “Bật vào 5 ô – trèo lên xuống ghế”. Chủ điểm gia đình. Tôi sử dụng truyện: “Tích Chu”. Cho trẻ đóng vai Tích Chu đi lấy nước cho bà uống để bà Tích Chu sống trở lại. Đường đi lấy nước khó khăn và phải trải qua nhiều sông, suối gồ ghề, khấp khểnh, vượt qua nhiều chặng đường nguy hiểm.

      + Phần khởi động: Cho trẻ đi lên tàu đi lấy nước.

      + Phần hồi tĩnh: Bạn Tích Chu có gửi tặng mỗi bạn 1 niềm mơ ước bay tới đất nước của những giấc mơ đẹp, các em hãy nói về ước mơ của mình.

      Ngoài các câu chuyện, tôi còn áp dụng các bài thơ, ca dao, đồng dao để gây hứng thú dạy trẻ kích thích trẻ tích cực tham gia các hoạt động phát triển thể chất.

      : Khi cho trẻ chơi trò chơi vận động: Chuyền bóng, tôi cho trẻ đọc các câu thơ: Không có cánh mà bóng biết bay

      Không có chân mà bóng biết chạy

      Nhanh nhanh bạn ơi xem ai tài ai khéo

      Đồng thời kết hợp vừa đọc thơ trẻ vừa chơi vận động nhịp nhàng và thi đua cùng các bạn.

      d/ Sử dụng trò chơi dân gian trong hoạt động giáo dục phát triển thể chất thể chất :

      Các trò chơi dân gian được hình thành từ lâu đời và được ông cha ta truyền từ đời này sang đời khác, trải nghiệm qua thực tế cuộc sống con người. Những trò chơi dân gian đó theo chúng ta từ khi sinh ra và lớn lên, đi vào cuộc sống và còn đọng lại mãi trong tâm hồn chúng ta. Đó là những hình ảnh đẹp về quê hương đất nước, về gia đình và tuổi ấu thơ.

      Trò chơi dân gian thường được tổ chức trong các dịp vui chơi hội hè nhằm phát triển các tố chất thể lực. Hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ: “Học mà chơi- chơi mà học” nên việc sử dụng trò chơi dân gian được tôi luôn quan tâm áp dụng khi tổ chức các hoạt động. Tôi vận dụng các trò chơi dân gian phù hợp với kiến thức và tuân thử nguyên tắc vừa sức của trẻ. Chính vì vậy, nó đã giúp trẻ tiếp thu được kiến thức một cách nhẹ nhàng thoải mái.

      : Với trò chơi: ” Ai ném xa nhất ” tôi có thể thay thế và đưa trò chơi dân gian: “Ném còn” vào để dạy trẻ.

      Hay đối với các trò chơi củng cố phát triển cơ tay, hông, tôi cho trẻ chơi trò chơi “Đua thuyền”

      Ví dụ: Khi cho trẻ chơi trò chơi vận động: Ai nhanh nhất, tôi lựa chọn và thay thế bằng trò chơi: Rồng rắn lên mây, chìm nổi ở các trò chơi này với yêu cầu người lớn làm đầu rắn phải thể hiện rõ trách nhiệm giữ đầu rắn, ngăn chặn giúp các bạn Từ việc đưa trò chơi dân gian vào thay thế các nội dung trò chơi vận động trong bài học trẻ thấy hứng thú tích cực học tập và nội dung kết quả học cao hơn.

      Công tác phối kết hợp giữa phụ huynh với lớp là điều kiện không thể thiếu được trong việc thực hiện mục tiêu chăm sóc, giáo dục trẻ. Phụ huynh chính là chiếc cầu nối giữa cô và trẻ, là sợi dây liên lạc để trao đổi những thông tin cần thiết trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và giáo dục thể chất nói riêng. Vì vậy tôi đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm chuyển tải đến phụ huynh và cộng đồng mục đích, yêu cầu, nội dung của việc giáo dục thể chất của lớp, trường mầm non. Ngoài việc tuyên truyền bằng hình thức bài viết, sưu tầm nội dung hình ảnh phù hợp như: 10 điều giáo dục thể chất dán ở góc: “Những điều mẹ cha cần biết ” để những giờ đón, trả trẻ phụ huynh trực tiếp xem, qua đó phụ huynh hiểu sâu hơn về việc giáo dục thể chất đối với sức khỏe trẻ. Ngoài ra, tôi còn liên hệ với phụ huynh sưu tầm cho lớp một số phế liệu như lốp xe máy, ô tô, các vỏ nhựa, tranh ảnh …để làm đồ dùng cho hoạt động giáo dục thể chất. Một số đồ dùng, tôi còn kết hợp với phụ huynh cùng làm để phụ huynh thấy được cách sử dụng, tác dụng của đồ dùng đó.

      Ngoài ra, tôi luôn kết hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục thể chất cho các em khi các em trở về sinh hoạt ở địa phương. Các tổ chức đoàn thể cùng tổ chức các hoạt động vui chơi tạo điều kiện cho trẻ phát triển về thể chất và tinh thần.

      Qua việc thực hiện các biện pháp giáo dục thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non trên, đến cuối năm, tôi nhận thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Đa số trẻ khỏe mạnh hơn, vui vẻ, tự tin, linh hoạt, sáng tạo, tích cực hơn trong học tập và các hoạt động. Không khí học tập trong lớp tự nhiên, nhẹ nhàng, thân thiện hơn. Các em yêu thích đến trường hơn, quý mến bạn bè và luôn xem cô giáo là người mẹ thứ hai của mình. Một số học sinh đầu năm hơi gầy, còn rụt rè, nhút nhát đã dần trút bỏ được sự tự ti và trở nên khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tự tin để thể hiện khả năng của bản thân mình trong mọi hoạt động, mọi trò chơi. Cha mẹ học sinh đã hiểu được lợi ích của việc giáo dục thể chất cho trẻ sẽ giúp con khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tự tin, thích đi học, thích đến trường nên phụ huynh hưởng ứng nhiệt tình.

      Tôi đã duy trì số lượng 100%, không có trẻ nghỉ học tự do và dài ngày. Tỉ lệ chuyên cần đạt 98% trở lên. Tỉ lệ bé ngoan đạt 96% trở lên.

      * Chất lượng:

      – Chăm sóc nuôi dưỡng: Tỷ lệ suy dinh dưỡng cuối năm 7,7% so với đầu năm 11.5% giảm 3,8%.

      Tỷ lệ suy thấp còi cuối năm 7,7% so với đầu năm 11.5% giảm 3,8%.

      – Lĩnh vực phát triển thể chất: Qua đánh giá chất lượng cuối năm đạt 25/26 cháu chiếm tỷ 96,2% ; Chưa đạt 1/26 chiếm tỷ lệ 3,8%.

      – Lớp đạt danh hiệu Tập thể lớp Tiên tiến xuất sắc.

      + Hội thi ” Môi trường Xanh – Sạch – Đẹp” đạt giải A cấp trường.

      + Hội thi “Tự làm đồ dùng đồ chơi” cấp trường đạt giải xuất sắc.

      * Đối với giáo viên:

      Giáo viên đã nắm chắc nội dung, các biện pháp giáo dục thể chất cho các em, vận dụng được các phương pháp phù hợp gắn với cuộc sống thực tế của trẻ. Hình thành cho trẻ những hoạt động, hành vi thái độ đúng đắn để phát triển thể chất.

      Xuất phát từ những mong muốn truyền đạt cho trẻ những tri thức ban đầu về phát triển tri thức, thể chất con người mới đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì lẽ đó, mà bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, tham khảo, tài liệu và đúc rút các biện pháp trên để bản thân nắm chắc được phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ. Quá trình thực hiện các biện pháp trên giúp tôi tự tin, vững vàng hơn khi lên lớp.

      * Đối với phụ huynh và cộng đồng:

      Từ những kết quả đạt được bản thân tôi đã tạo được lòng tin đối với phụ huynh làm cho phụ huynh càng tin tưởng yên tâm đưa con đến trường. Qua đó nâng cao nhận thức của phụ huynh về việc giáo dục thể chất cho trẻ là rất cần thiết. Phụ huynh phấn khởi quan tâm, thường xuyên chăm lo cho con, gặp gỡ cô giáo trao đổi thăm hỏi con thường xuyên hơn. Từ đó phụ huynh đã tạo điều kiện tốt cho trẻ tham gia vào các hoạt động, cung cấp tranh ảnh, dụng cụ làm đồ chơi, làm đồ dùng học tập, hỗ trợ mua sắm những đồ dùng cần thiết cho sự phát triển thể chất của trẻ.

      Như vậy, với kết quả đạt được chứng tỏ phần nào sáng kiến của bản thân đưa ra và áp dụng có hiệu quả trong lớp cũng như trong khối. Thiết nghĩ, mỗi giáo viên trong trường đều áp dụng sáng kiến này trong công tác chủ nhiệm, giáo dục trẻ của mình thì các em sẽ có k ü năng sống, thể chất phát triển tốt hơn, các em khỏe mạnh, tự tin, mạnh dạn, yêu thích đến trường hơn.

      Giáo dục thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non là một việc làm hết sức cần thiết của giáo viên trực tiếp chủ nhiệm, giảng dạy các em. Vì đến trường các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được giáo dục thể chất, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết. Qua quá trình thực hiện các biện pháp nói trên, bản thân tôi rút ra “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non” như sau:

      1/ Muốn tổ chức tốt việc cho trẻ tham gia các hoạt động phát triển thể chất, trước hết giáo viên không ngừng tự học tập bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nắm chắc nội dung về giáo dục phát triển thể chất cho các em, cần tìm hiểu kỹ nội dung để xây dựng kế hoạch và chuẩn bị tốt mọi điều kiện để tiến hành cho trẻ tham tốt hoạt động.

      2/ Tạo môi trường trong và ngoài lớp luôn luôn sạch sẽ, gây được ấn tượng gần gũi thân thiện với trẻ.

      4/ Tích cực tìm kiếm nguyên vật liệu, phế liệu để làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ hoạt động, vận động nhiều. Cần tạo nhiều cơ hội cho trẻ được hoạt động với thiên nhiên được trải nghiệm trên các dụng cụ học tập do cô giáo làm ra. Đẩy mạnh công tác tham mưu với nhà trường để mua sắm đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc giáo dục phát triển thể chất của trẻ.

      5/ Phối hợp với các đoàn thể tạo môi trường xanh- sạch- đẹp và an toàn.

      7/ Nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh thông qua công tác tuyên truyền về giáo dục thể chất cho trẻ. Giáo viên thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, cùng phụ huynh kiếm vật liệu, cùng phụ huynh làm đồ dùng, đồ chơi “Rẻ tiền, dễ kiếm” cho trẻ có dụng cụ học tập phong phú, đa dạng giúp trẻ yêu thích, hứng thú với giờ học, yêu thích đến trường hơn.

      7/ Để trẻ tham gia hoạt động thực sự hấp dẫn trẻ, giáo viên cần quan tâm đến yếu tố thi đua, động viên, khích lệ kịp thời trong khi hoạt động học tập, vui chơi..

      8/ Đặc biệt giáo viên phải thực sự thương yêu và tôn trọng trẻ, phải biết kiềm chế và kiên trì, nhẫn nại lấy tình cảm làm yếu tố quan trọng để giáo dục trẻ có làm được những điều trên thì hoạt động giáo dục phát triển thể chất cho trẻ mới đạt hiệu quả cao.

      3.1.Ý nghĩa của đề tài:

      Như vậy hoạt động giáo dục thể chất trong trường mầm non đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển về: Đức- Trí- Thể – Mỹ cho trẻ. Nó góp phần giúp trẻ phát triển một cách toàn diên – Thông qua hoạt động này đã tạo được không khí thoải mái giúp trẻ tham gia các lĩnh vực khác có hiệu quả hơn

      Là một giáo viên mầm non cần phải có ý thức học hỏi để có những kỹ năng nhất định về những vấn đề trên nhằm tổ chức thật tốt việc giáo dục, hướng dẫn trẻ thực hiện tốt các hoạt động phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển toàn diện.

      Với kinh nghiệm trên, bản thân tôi thực hiện khá tốt việc giáo dục phát triển thể chất cho trẻ. Từ đây, nó có thể sẽ được áp dụng cho tất cả giáo viên ở trường tôi không những thế nó còn được áp dụng rộng rãi cho tất cả các trường bạn trong huyện và nhiều địa phương khác…

      Từng bước củng cố đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao dần chất lượng hoạt động giáo dục thể chất trong trường mầm non để việc giáo dục trẻ ý thức luyên tập góp phần vào việc hình thành nhân cách toàn diện cho trẻ mẫu giáo.

      – Nhà trường đồng bộ về trang thiết bị cơ sở vật chất trong lớp và ngoài trời cho hoạt động giáo dục thể chất.

      Trang bị thêm đồ dùng hiện đại để áp dụng nhu cầu dạy và học hiện nay.

      Giáo dục thể chất cần chú trọng nhiều hơn dưới nhiều hình thức khác nhau:

      + Trong hoạt động thể dục, giờ học

      + Trong thể dục buổi sáng.

      + Vận động sau khi ngủ dậy.

      + Các buổi dạo chơi ngoài trời.

      Bạn đang đọc nội dung bài viết Sang Kien Kinh Nghiem – Mầm Non Vĩnh Trị / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!