Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1/ Mục đích ý nghĩa :

Xuất phát từ mục đích ý nghĩa của Nhà trường xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người mới phát triển toàn diện , con người mới có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước . Muốn tạo nên những con người mới thì Nhà trường phải là nơi trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người toàn diện nhất , những con người đó chính là Học sinh , mà đặc biệt là Học sinh tiểu học , các em là những người chủ tương lai của đất nước , vì vậy chúng ta phải biết cách rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Trong thực tế mỗi Học sinh đều có một hoàn cảnh khác nhau , hoàn cảnh sẽ có tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của Học sinh , chính vì thế mà phương pháp Giáo dục Học sinh cá biệt sẽ giúp cho một số Học sinh cá biệt trở thành Học sinh bình thường hoà nhập với cộng đồng xã hội và trở thành những người hữu ích cho Đất nước .

PHÒNG GD SƠN HÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN BAO --------------™&˜------------- ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM -----------------------------™&˜----------------------------- TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT Người viết: Ngô Thị Kim Lan Đơn vị : Trường tiểu học Sơn Bao THÁNG 9 NĂM 2006 ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM -----------------------------™&˜----------------------------- TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Mục đích ý nghĩa : Xuất phát từ mục đích ý nghĩa của Nhà trường xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người mới phát triển toàn diện , con người mới có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước . Muốn tạo nên những con người mới thì Nhà trường phải là nơi trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người toàn diện nhất , những con người đó chính là Học sinh , mà đặc biệt là Học sinh tiểu học , các em là những người chủ tương lai của đất nước , vì vậy chúng ta phải biết cách rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Trong thực tế mỗi Học sinh đều có một hoàn cảnh khác nhau , hoàn cảnh sẽ có tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của Học sinh , chính vì thế mà phương pháp Giáo dục Học sinh cá biệt sẽ giúp cho một số Học sinh cá biệt trở thành Học sinh bình thường hoà nhập với cộng đồng xã hội và trở thành những người hữu ích cho Đất nước . 2/ Lý do chọn đề tài : Nền Giáo dục nước ta đang trên đà phát triển , tuy nhiên vẫn càng nhiều hiện tượng mà đặc biệt là Học sinh cá biệt ngày càng tăng ở các trường học nói chung và đối với trường tiểu học Sơn Bao nói riêng . đây là vấn đề bứt thiết , là tiếng kêu của toàn xã hội mà đặc biệt là ngành Giáo dục đóng vai trò chủ chốt trong việc Giáo dục thế hệ trẻ . Trong thực tế hiện nay , nhiều gia đình gặp không ít khó khăn , không đủ điều kiện nuôi con ăn học cho nên đã cho con ở nhà giúp việc gia đình và cho đi làm ăn xa , một số gia đình có nhận thức kém nên không quan tâm gì đến việc học của con em , giao hẳn cho Nhà trường . Mặc khác Sơn Bao là một xã vùng cao của huyện Sơn Hà , kinh tế của người dân càng quá nghèo , tỉ lệ hộ đói - hộ nghèo chiếm 70% , việc kiểm soát học hành của con em ở một số phụ huynh chưa đúng mức , từ dó đã làm cho các em đi học tuỳ theo sở thích , có nhiều em chán nản , quậy phá hoặc làm ra vẽ cho mình nổi bật trước lớp . Đứng trước thực trạng này , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm cho nên có cảm nghỉ mình phải làm sao đó và phải có trách nhiệm Giáo dục các em trở thành người Học sinh ngoan , vì đa số các em chưa ý thức được việc của mình làm. Vậy chúng ta là Giáo viên có hiểu nguyên nhân dẫn đến những việc làm đó không ? Tại sao chúng ta không tìm ra biện pháp Giáo dục Học sinh các biệt . Từ những câu hỏi đặc ra đó tôi đã quyết định tìm hiểu và viết sáng kiến kinh nghiệm mà đã chọn đề tài nêu ở trên . Đề tài này đã áp dụng từ năm học 2002-2003. PHẦN II : NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Bản thân tôi đưqợc trường phân công giảng dạy lớp hai nhiều năm , nhìn chung ở lớp hai , các em Học sinh càng nhỏ , thơ ngây . Chính vì thế mà chúng ta phải ra sức rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Thực tế trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng Học sinh , trong đó cũng không thể không nói đến Học sinh cá biệt . qua đây tôi xin trình bày những suy nghĩ và những việc mình đã làm trong công tác chủ nhiệm , đó là Giáo dục Học sinh cá biệt . Vậy Học sinh có biểu hiện như thế nào gọi là Học sinh cá biệt và chúng ta có những biện pháp Giáo dục ra sao để các em trở thành những Học sinh bình thường như bao Học sinh khác , đó là nội dung của sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày sau đây . 1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt : đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động , thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào , thời điểm nào . Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định . Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm , bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình , vì các em đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài , luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh , gây mất trật tự trong lớp . Biểu hiện về mặt thái độ của trẻ với chung quanh và bản thân , những đứa trẻ hiếu động này thuộc kiểu thần kinh mạnh , cân bằng và linh hoạt . biểu hiện của trẻ là ham hoạt động , ham hiểu biết , linh hoạt , thường vui vẻ , vô tư , cảm xúc của trẻ bất ổn định , rung cảm nhưng không sâu , nhanh nhớ , mau quên . Biểu hiện rõ nét nhất của đặc tính này là bất cứ điều gì hấp dẫn , thích thú vừa sức thì các em sẽ làm ngay , tập trung chú ý rất tích cực , càng trong học tập thì đòi hỏi phải kiên trì , chịu khó động não để làm bài , chiếm lĩnh kiến thức thì các em đâm ra chán nản , ít chú ý hoặc không chú ý nên kết quả học tập thấp . Chính vì điều đó , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm , đặc biệt là Giáo viên tiểu học , khi các em đến trường tôi luôn tạo cho các em và có cảm giác tôi giống như một người mẹ , luuôn có trách nhiệm theo sát các em từng giờ và trong mỗi buổi học để hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của từng em thì mới có hình thức , phương pháp , biện pháp dạy học phù hợp với các em thì mới đem lại kết quả cao . Đặc biệt cũng cần tạo không khí lớp học , trường học như chính ở nhà của các em , khi đo các em mới có cảm giác được quan tâm chăm sóc và tình yêu thương thật sự để học tập tốt . 2/ Biện pháp thực hiện : Đối với những trẻ nghịch ngợm , hay nói chuyện riêng , sau mỗi lần giảng bài xong , hoặc các em đã làm xong bài tập , các em không biết làm gì nên hay trêu chọc các bạn gây mất trật tự trong lớp Cô giáo nói không nghe , theo tôi cần giáo dục các em như sau : + Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em + Thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời + Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha + Không nên phê bình , trách phạt + Không nên sĩ nhục , xúc phạm đến các em + Tránh hình thức áp đặc doạ dẫm , buột các em phải làm theo vì điều đó sẽ không đem lại kết quả gì + đặc biệt Giáo viên không nên để các em có thời gian rỗi + Kết hợp giữa ba môi trường Giáo dục Gia đình - Nhà trường và Xã hội Sỡ dĩ tôi áp dụng các biện pháp nêu trên , vì như tôi đã nói lứa tuổi các em càng nhỏ và rất thơ ngây , các em luôn xem thầy - cô như một hình tượng , luôn làm theo cô, theo thầy . Mặt khác Giáo dục Học sinh không phải chỉ mang lại cho các em kiến thức , kĩ năng , mà còn phải Giáo dục cho các em về sự hình thành nhân cách , về lối sống , cách cư xử trong cuộc sống đời thường , vì vậy trước hết Giáo viên phải mẫu mực , lời lẽ phải chuẩn xác , trong sáng , gần gũi các em , tránh những lời nói thô tục , hành động thô bạo . Đặc biệt Giáo viên cần vạch rõ ranh giới giữa các việc , khi cấm các em không được làm việc gì đó thì phải nêu rõ nguyên nhân để các em hiểu được việc đó là sai , không nên làm . còn đối với những việc các em được làm , Giáo viên cũng cần giới hạn khung cảnh và những việc nên làm , dù đó là những việc rất nhỏ , vì làm như thế giúp các em hiểu rõ vì sao phải làm như thế này mà không làm như thế kia , và cũng không nên bắt buộc các em phải làm những điều mà các em không hiểu làm để làm gì . Khi các em đã hiểu được những yêu cầu của Giáo viên , khi ấy Giáo viên đưa ra tình huống để các em làm một cách thường xuyên . Việc làm đó được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ từng bước tạo thành thói quen , nề nếp , nhu cầu và không cảm thấy khó chịu thì các em dần dần sẽ trở nên tiến bộ , hoà nhập với cộng đồng . Tuy nhiên công việc này không thể chỉ có Giáo viên làm mà cần phải phối hợp nhịp nhàng , đồng bộ giữa Giáo viên chủ nhiệm và gia đình Học sinh , Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gần gũi với phụ huynh Học sinh để tìm hiểu trao đổi các hoạt động của các em xảy ra hằng ngày hoặc báo cáo những tiến bộ và nảy sinh những cái gì mới ngoài dự kiến của chúng ta thì khi đó Giáo viên chủ nhiệm cùng phụ huynh Giáo dục , uốn nắn ngay từ đầu và kịp thời . Trong học tập Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể , ở lớp phải chú ý đến việc sắp xếp , bố trí chỗ ngồi cho hợp lý . Học sinh yếu nên bố trí cho ngồi ở bàn trên , bố trí ngồi cạnh bạn học giỏi hơn để Giáo viên dể theo dõi , giúp đỡ các em trong từng môn học . Giáo viên cần dành sự quan tâm đến việc học tập của những Học sinh này nhiều hơn , thường xuyên kiểm tra bài về nhà , học tập ở lớp , kết quả tiếp thu bài sau mỗi buổi dạy . Giáo viên cần phân công giao nhiệm vụ cho bạn Học sinh giỏi giúp bạn học yếu bằng cách : Truy bài trước giờ vào lớp , kiểm tra bài về nhà , nhắc nhở bạn , giảng giải thêm khi bạn chưa hiểu được bài , chưa biết cách làm bài , không trách ,sĩ nhục bạn . Cứ tiến hành như thế , Giáo viên sẽ theo dõi được sự tiến bộ hoặc không tiến bộ của Học sinh để phối hợp với gia đình Học sinh cùng hướng dẫn thêm việc học ở nhà của các em đồng thời Giáo viên cũng có kế hoạch điều chỉnh hợp lý . Ngoài việc học ở nhà , ở lớp , Giáo viên càng tổ chức phụ đạo cho những Học sinh yếu ở ngoài giờ để nâng cao trình độ cho các em . Trong những buổi phụ đạo Giáo viên giảng lại kiến thức cũ đã học trong tuần để giúp các em nắm chắc bài và làm bài tốt hơn . Tuy nhiên Giáo viên tiến hành từng bước yêu cầu thấp đến yêu cầu cao , không nên vội vàng sẽ gây chán nản cho các em . Khi nhận thấy các em có sự tiến bộ cần khuyến khích kịp thời , khi các em làm sai hoặc không tiến bộ cần động viên chỉ bảo nhẹ nhàng , tránh nói những lời nặng nề xúc phạm đến nhân cách của Học sinh , đặc biệt là không nên bình phẩm Học sinh "Sao em học dốt thế" . Ngoài việc Giáo dục Học sinh cá biệt về đạo đức và học tập , Giáo viên chủ nhiệm cũng cần chú ý đến chữ viết của các em , vì thông qua chữ viết nó thể hiện được tính nết của con người . Rèn chữ viết đúng mẫu , đúng chính ta û , đúng tốc độ quy định và giữ vở sạch . Muốn rèn chữ viết trước hết phải rèn đọc đúng , phát âm đúng các phụ âm đầu , tập các em có đức tính cẩn thận ở tất cả các môn học . Để thực hiện được điều này Giáo viên phải mẫu mực khi viết và trình bày bảng , vì vậy cần rèn chữ viết cho Học sinh lớp 1; 2 đó là góp phần vào phong trào giữ vở sạch đẹp và trong sáng của tiếng việt mà tôi tin chắc chúng ta ai cũng làm được việc này . Tóm lại : Để Giáo dục Học sinh cá biệt tốt , trước hết người Giáo viên chủ nhiệm phải mẫu mực để Học sinh noi theo , luôn gần gũi , thương yêu và tôn trọng Học sinh , phải dành nhiều thời gian cho các em , đôn đốc nhắc nhở , tạo niềm tin cho các em , phải là người nhiệt tình với nghề nghiệp , tôn trọng với công việc , tất cả vì Học sinh thân yêu , vì tương lai của các em . Có như thế mới xứng đáng với câu " mỗi thầy giáo - cô giáo là một tấm gương sáng cho Học sinh noi theo", dạy học không chỉ đem lại kiến thức mà phải kết hợp cả dạy người . Đối tượng Học sinh cá biệt phần lớn là những Học sinh nghèo , thiếu giáo dục , ít được sự quan tâm của gia đình chính vì thế mà chúng ta cần phải luôn quan tâm , theo sát và tìm hiểu hoàn cảnh của từng Học sinh để tạo điều kiện học tập cho các em , luôn trao dồi đạo đức cho các em bằng chính lòng thương yêu thực sự của mình , từ đó sẽ cảm hoá được các em để các em hiểu và hoà nhập vào cộng đồng như bao nhiêu đứa trẻ bình thường khác trong xã hội . Công việc này tuy lúc đầu rất vất vả , tốn nhiều công sức , nhưng để theo dõi , uốn nén các em từng li , từng tí , khi các em đã tiếp thu những cái mới , nhận biết được nhiệm vụ của Học sinh dần dần đưa các em vào nề nếp học tập , có thời khoá biểu học ở nhà , các em trở thành thói quen , từ đó các em sẽ tiến bộ và bắt đầu ham học , kết quả học tập sẽ khả quan hơn . Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường Giáo dục thì mới thực sự đem lại hiệu quả cao . Sáng kiến này tôi đã áp dụng từ bao năm qua nhưng đặc biệt nhất là năm học 2002 - 2003 sáng kiến này mới thật sự có hiệu quả và áp dụng mãi đến nay . Cụ thể năm học 2002 - 2003 tôi dạy lớp 2A đó là năm đầu tiên áp dụng chương trình thay sách , lớp tôi có một Học sinh là Đinh Văn Vẹt , em là dân tôc H rê , em có đặc điểm là nghịch ngợm ít chú ý . nhưng lại học được , khi nhận lớp tôi đã phát hiện ra ngay diều này , càng hoàn cảnh gia đình em thì rất khó khăn , Mẹ mất sớm , Bố thì lấy vợ khác , và lúc nào cũng hay nhậu nhặc . Thời gian đầu em ở với bố mẹ , sau đó em về ở với anh trai , gần nhà của tôi . Đến lớp em chép bài chỉ là đối phó , chữ viết cẩu thả , biết làm toán nhưng không làm , nghĩa là thích thì làm , không thích thì thôi và luôn nói bằng tiếng của người địa phương . Từ đó tôi đã thực hiện như sau : + Ở miền núi Học sinh được phát vở nên vở của em không thiếu nhưng viết của em thì không có , trong lớp học tôi thấy em không chép bài nên liền lại hỏi vfa em đã cho biết là không có bút , thế là tôi đã lấy bút của mình để cho em và dặn dò nhắc nhở . Nhìn anh mắt của em ngơ ngác nhìn tôi , lúc này tôi cảm nhận được niềm vui sướng tràn ngập trong lòng của em , tôi hướng dẫn cho em viết và thường xuyên kiểm tra vở , việc này tôi thực hiện suốt cả một tuần và tôi đã nhận thấy em đã có sự tiến bộ rõ rệt , em đã ngoan hơn và không có nghịch như trước nữa , đặc biệt là giờ học toán em đã bắt đầu giơ tay xin lên bảng làm , có lúc em làm đúng , cũng có lúc làm sai , tôi luôn luôn khen ngợi và động viên . Bằng những câu nói nhẹ nhàng , những lời chỉ bảo tận tình của tôi , em đã ý thức được việc học của mình . Bên cạnh đó thời gian ngoài giờ tôi thường sang nhà để gặp phụ huynh và phối hợp với phụ huynh để cùng giáo dục em , thường xuyên động viên , khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em tham gia học tập tốt . Thực sự là tôi rất mừng khi thấy em tiến bộ , nhưng niềm vui mừng lại tăng lên gấp bội vì kết quả học kì I của em là Học sinh khá , đến học kì II em là Học sinh giỏi của lớp . Kể từ đó em thật sự đã trưởng thành và luôn làm gương cho các Học sinh khác noi theo , từ năm học đó về sau em đều là Học sinh giỏi của lớp . Tôi là Giáo viên chủ nhiệm , tôi cảm thấy rất mừng và tràn đầy hạnh phúc khi nhìn thấy sản phẩm của mình sáng kiến , cải tiến lại có chất lượng cao như thế và đó cũng chính là kết quả lớn nhất của tôi trong những năm qua . 3/ kết quả đạt được : Trong suốt thời gian qua bản thân tôi luôn mẫu mực trong mọi công tác , hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao , đặc biệt là công tác chủ nhiệm , tuy vùng cao nhưng tôi luôn đảm bảo duy trì sĩ số Học sinh , về Giáo dục Học sinh cá biệt có được ngững kết quả cao tỉ lệ Học sinh khá , giỏi nhiều , đảm bảo chỉ tiêu Học sinh lên lớp 100% PHẦN III : KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 1/ Kết luận : Tự hào về nghề nghiệp của mình là người ươm mầm non cho Tổ quốc , là người Giáo dục thế hệ trẻ trở thành người chủ tương lai của đất nước . Một thế hệ mà Bác Hồ hết sức chăm lo , quan tâm : " Non sông Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không , phần lớn là nhờ vào công học tập của các cháu" . Vâng lời Bác dạy , bản thân tôi là người ươm mầm cho đất nước , tôi nguyện ra sức phấn đấu hết sức mình để tạo cho các em một tương lai tốt đẹp , góp một phần công sức của mình vào việc xây dựng quê hương đất nước . 2/ Kiến nghị - đề xuất : Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp thực hiện công tác này , do đó phải nắm vững đặc điểm của từng em và điều kiện hoàn cảnh gia đình để tạo điều kiện cho các em học tập và rèn luyện . Nhà trường nên thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua học tập , để các em được tham gia và phải có khen thưởng kịp thời nhằm khuyến khích , động viên các em . Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên hệ với gia đình học sinh để báo cáo kết quả học tập và rèn luyện của học sinh cho phụ huynh nắm . Lập kế hoạch dạy phụ đạo cho Học sinh yếu kém . Nhà trường cần phải quan tâm bồi dưỡng đội ngũ Giáo viên của trường về công tác chủ nhiệm lớp để đưa phong trào của nhà trường ngày càng vững mạnh hơn , không có Học sinh cá biệt , xứng đáng là nhà trường xã hôi chủ nghĩa . Sơn Bao, ngày :.././ Người viết

Trao Đối Kinh Nghiệm : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

Mục tiêu giáo dục của bậc THCS là ” … Tiếp tục phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể chất , thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có trình độ học vấn THCS và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học PTTH, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống “.

Vấn đề đặt ra là trường THCS có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển trở thành con người hữu ích cho xã hội và trước tiên là phát triển về mặt nhân cách .

Về mặt nhân cách, hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh (HS) phải được hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường THCS. Đó là ý thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội qui lớp học, trường học, chấp hành đúng pháp luật … .

Nhưng thực trạng hiện nay, ở hầu hết các trường THCS đều xuất hiện một bộ phận HS không chấp hành tốt nội qui nhà trường, học tập không nghiêm túc …làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền nếp chung của nhà trường và chất lượng học tập giảm sút . Số HS nầy thường được gọi là học sinh cá biệt (HSCB) có xu hướng phát triển. Nhà trường, giáo viên cũng đã có nhiều biện pháp uốn nắn, giáo dục nhưng chưa có hiệu quả .

Trước tình hình như vậy, là cán bộ quản lí, bản thân trăn trở và cố tìm ra biện pháp tối ưu nhằm giáo dục HSCB trở thành con ngoan trò giỏi .

Với phạm vi bài viết này, bản thân đề xuất một số biện pháp để giáo dục HSCB , mong tìm ra giải pháp tháo gỡ tình hình HSCB trong trường học .

II. Tình hình học sinh cá biệt ở trường THCS 1) Khái niệm về học sinh cá biệt :

Học sinh cá biệt (HSCB) là thuật ngữ thường dùng của nhà trường, thầy cô giáo chỉ những học sinh hoang nghịch: thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học … , không chấp hành nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình .

HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn làm cho HS dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội .

2) Tình hình HSCB ở trường THCS :

Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng HSCB có phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó đã để lại hậu quả như một ” di căn ” sau những vụ việc xãy ra ở các trường THPT : đánh thầy giáo, cướp của giết người, đánh lộn dẫn đến chết người … và những hành vi khác của thanh thiếu niên, học sinh tác động trực tiếp đến học sinh đang học trong nhà trường .

– HSCB tăng theo cấp lớp: Ở lớp 6,7 chưa bộc phát, nhưng đến lớp 8,9 học sinh có biểu hiện những thái độ thiếu nghiêm túc trong học tập, sinh hoạt nếu không kịp thời giáo dục sẽ sớm trở thành HSCB .

– HSCB tăng theo xu thế phát triển của xã hội theo ” cơ chế thị trường “ở khía cạnh tiêu cực .

Học sinh cá biệt biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau, tạm chia làm 4 nhóm :

1. Gây gổ đánh nhau , kết bè thành băng nhóm .

2. Bỏ giờ trốn học dẫn đến học tập sa sút hơn .

3. Quậy phá, thiếu nghiêm túc trong học tập .

4. Ương ngạnh, học đòi, không nghe lời thầy cô giáo, ý thức tổ chức kỷ luật kém .

Học sinh thường có thể lực phát triển, phát sinh tâm lý đua đòi, làm “anh hùng” ở tuổi mới lớn, thường xuất hiện ở lớp 8,9; tuổi dễ bị kích động, lôi kéo thành băng nhóm, thích gây gỗ đánh nhau … giữa HS trong lớp, trong trường và ngoài nhà trường .

Một bộ phận HS vì điều kiện học tập thiếu, tiếp thu chậm dẫn đến năng lực học tập hạn chế, thường không thuộc bài, sợ bị kiểm tra ở những môn học khó, hoặc thầy cô khó, nên bỏ giờ dần dần thành thói quen hay bỏ giờ trốn học và từ đó lực học sa sút và có khả năng bỏ học giữa chừng hoặc do bạn bè lôi cuốn vào những trò chơi vô bổ mà bỏ giờ trốn học .

* Ở nhóm thứ 3: Như ở nhóm 2, HS do đặc điểm tâm sinh lý phát triển không bình thường, không tập trung nghe giảng, tiếp thu hạn chế, không hiểu bài dẫn đến ý thức học tập kém, thường xuyên quậy phá, không tập trung cho việc học tập, biểu hiện: xé sách vở của bạn, “phá” bạn và những trò chơi ngớ ngẩn khác trong giờ học. Những HS này dần dần lực học giảm sút, dẫn đến bỏ giờ trốn học và bỏ học .

* Ở nhóm thứ 4: Một số ít HS biểu hiện tính ương ngạnh, bướng bỉnh, không chấp hành những qui định của lớp, khi được lưu ý nhắc nhở, có vẻ ăn năn sửa sai nhưng rồi vẫn “chứng nào tật ấy ” rồi thường xuyên vi phạm bất chấp sự góp ý của bạn bè, sự giáo dục của thầy cô giáo, kể cả những hình phạt cho những vi phạm vẫn không chấp hành: chẳng hạn như tác phong không nghiêm túc (áo không bỏ vào trong quần, tay áo xắn lên, ống quần gấp cao, in hình quái dị, tóc chải rẽ giữa, nhuộm màu, để đuôi sau, bấm lỗ tai, mặt dán kim tuyến, nói tục với bạn bè, không tham gia sinh hoạt lớp, tách rời tập thể, …).

Ở tất cả các nhóm HSCB trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và năng lực học tập của học sinh .

Dù ở nhóm HSCB nào nếu chúng ta không kịp thời uốn nắn, giáo dục các em thì dễ dẫn đến các em từ những vi phạm nhỏ đến việc làm không có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .

Tất cả những HS bình thường trở thành những HSCB đều có nguyên nhân của nó, ở đây chỉ nêu lên một số nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HS làm cho các em trở thành HSCB.

III. Nguyên nhân phát sinh học sinh cá biệt

Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng ở đây chỉ nêu một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học tập của các em

1. Ảnh hưởng của sự phát triển xã hội theo cơ chế thị trường :

Xã hội phát triển là điêù đáng mừng, nhưng khi phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá trớn …

Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bida, internet, ka raokê … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm ăn chơi hàng ngày nhan nhãn, đập vào mắt các em làm cho các em không tự chủ, tham gia không có ý thức dần dần tiêm nhiễm và trở thành HS hư ( nhóm 1,2 )

2. Ảnh hưởng của môi trường giáo dục gia đình:

Thời gian HS học tập, sinh hoạt ở nhà trường chỉ từ 4-5 giờ trong ngày, việc sinh hoạt học tập đều có sự quản lí hướng dẫn của GVCN, GVBM, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt ở gia đình : tự học, lao động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết HS đều có thời khóa biểu học tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những HS thực sự tự giác trong học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình .

Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan tâm và không tạo điều kiện cho các em học tập thì việc học tập các em không đến nơi đến chốn, chất lượng học tập bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua sút bạn bè dẫn đến chán học, bỏ học .

Như vậy, HSCB phát sinh từ những ảnh hưởng không tốt của môi trường giáo dục gia đình, đó là :

* Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn :

Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không quan tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc con cái phải lao động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn bài, học bài cũ, do đó khi đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi thầy cô giáo kiểm tra bài cũ .. từ đó thua sút bạn bè và phát sinh tâm lí chán học dẫn đến bỏ giờ trốn học, bỏ học ( nhóm 2 ) .

* Gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của con cái :

Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả vợ chồng đều đi làm ăn xa, phó mặc con cái cho ông bà hoặc chị em chăm sóc lẫn nhau, một số HS chưa tự giác và thiếu sự quản lí chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh, từ đó ham chơi mà trốn học, bỏ học .

Có gia đình tuy không khó khăn về kinh tế nhưng có tham vọng làm giàu, bỏ mặc con cái, không quan tâm đến việc học tập của con cái kể cả những thói hư tật xấu của con cái, cha mẹ cũng không biết để răn dạy, do đó từ những vi phạm nhỏ dần dần đến việc lớn (ở nhóm 2) .

* Gia đình có cha mẹ bất hòa, không có hạnh phúc :

Lứa tuổi các em rất nhạy cảm, những cuộc cãi vã của cha mẹ, sự to tiếng quát nạt, bạo lực của người cha làm cho các em dần dần bị ảnh hưởng, từ đó nẩy sinh những việc làm không lành mạnh (biểu hiện ở nhóm 1) thích đánh lộn để giải tỏa tâm lý, bị ức chế, bỏ nhà đi chơi không thíêt tha đến việc học, từ đó lực học giảm sút dẫn đến chán học, bỏ học. Ngoài ra, gặp hoàn cảnh gia đình có người cha nát rượu, cũng ảnh hưởng rất lớn đến HS làm các em trở thành HSCB .

Với môi trường giáo dục của gia đình như vậy, HS khó có thể trở thành con ngoan trò giỏi, nếu không có sự động viên kịp thời của bạn bè, nhà trường và thầy cô giáo .

Thấy rõ được những nguyên nhân trên và từ những phân tích sự hình thành các nhóm HSCB, xin đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế sự phát triển và giáo dục HSCB

IV. Những biện pháp hạn chế và giáo dục học sinh cá biệt 1. Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường:

– Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK ( tốt, khá, trung bình, yếu ) theo Thông tư 40, Điều lệ trường PT . Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB

– Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội qui lớp học , trường học .

2. Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp :

Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa .

Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại của TT40 làm cho các em thấy được phạm vi vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. GVCN nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ .

3. Kết hợp với Hội PHHS để giáo dục HS:

Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng CSVC còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB .

Thực tế, những năm qua Thường trực Hội PHHS đã giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch .

4. Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội:

Hiện nay ở địa phương đã hình thành các khu dân cư và nhiều nơi đã xây dựng khu dân cư, thôn văn hóa, đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn .

5. Dùng phương pháp kết bạn:

Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao . Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ … sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh .

Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết .

Trong thực tế , các nhà trường , thầy cô giáo cũng đã từng vận dụng những biện pháp nêu trên và một số biện pháp khác, nhưng vì chưa nắm được nguyên nhân và chưa phân tích các đối tượng cụ thể. Đồng thời, việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, đồng bộ nên việc giáo dục HS chưa có hiêụ quả cao.

Nếu chúng ta phân tích được các nhóm đối tượng HSCB và tìm hiểu, phân tích kỹ những nguyên nhân dẫn đến HS hoang nghịch đồng thời biết kết hợp và vận dụng các biện pháp trên phù hợp cho từng đối tượng thì sẽ hạn chế và giáo dục HSCB trở thành con ngoan, trò giỏi .

Lê Quang Hải @ 15:49 22/07/2012 Số lượt xem: 338

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương pháp này. Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh. 2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2011 đến tháng 12 năm 2012 B. NỘI DUNG I. MỤC TIÊU: 1. Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh: Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Hình thành cho học sinh có ý thức tự giác về các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định. Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức. Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người. Giáo dục HS thành một công dân hoàn thiện cả tài và đức. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI: Xuất phát từ những thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS An Tân và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị đã đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau: 1. xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh: 1.1 Ý nghĩa: Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: Cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là "nhà trường", là môi trường mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội. 1.2 Nội dung: - Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, cải tạo bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục thân thiện đối với học sinh: Vừa qua được sự đầu tư của các cấp lãnh đạo môi trường cảnh quan của trường ngăn nếp, sạch đẹp đã góp phần thu hút học sinh ham thích đến trường và ham thích hoạt động. - Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một nề nếp sinh hoạt của nhà trường, biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: Phát huy tinh thần tự quản của học sinh, trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc có nội quy từng lớp và toàn trường. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không vô lễ, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3 Cách làm: Về Ban giám hiệu: - Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. - Thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh từ đó có biện pháp khắc phục. - Quản lý sâu sát lực lượng GVCN đây là lực lượng quan trọng và quyết định sự hình thành nhân cách của HS. - Thành lập tổ giám thị cung cấp thông tin về GV và HS để kịp thời uốn nắng và giáo dục những hành vi sai chuẩn mực. - Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. - Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động thường xuyên cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Cũng năm 2011 - 2012 nhà trường cũng có kế hoạch phân công khu vực lao động thường xuyên ở khu vực sân trường và khu WC trong quá trình theo dõi thấy có hiệu quả. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, xử lý những HS vi phạm có tính chất nghiêm trọng và các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Quán triệt chung giáo dục đạo đức HS là trách nhiệm của HĐSP nhà trường mà nòng cốt là GVCN. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. Đối với giáo viên Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. Cung cấp thông tin của HS cho GVCN nắm bắt và kịp thời giáo dục. Đối với Đoàn đội: Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức chào cờ đầu tuần nhận xét hoạt động tuần qua đó phê bình những cá nhân hoặc tập thể chưa tốt, sinh hoạt đội hàng tuần để tuyên truyền giáo dục và rèn luyện HS có ý thức tốt. Tổ chức các hoạt động thi đua và các hoạt động ngoại khóa tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Thành lập BTĐ của Liên Đội mục đích theo dõi các hoạt động của HS qua đó thông báo cho GVCN các HS có những biểu hiện xấu để kịp thời phát hiện giáo dục. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương, chăm sóc đền thờ liệt sĩ, viếng thư thăm hỏi các chú bộ đội ở đảo Trường xa . 2. nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy bộ môn GDCD 2.1 Ý nghĩa: Môn GDCD có vai trò, vị trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh THCS, vì thông qua các bài học người giáo viên sẽ trang bị, hình thành cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức cần thiết trong cuộc sống một cách có hệ thống, đúng phương pháp, đúng quy trình. 2.2 Nội dung: Làm cho Cha mẹ học sinh, cán bộ giáo viên biết tầm quan trọng của môn GDCD đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh , để từ đó họ có sự thay đổi nhận thức và có những hành động tích cực hơn. Giáo viên là lực lượng quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục, do đó giáo viên nhất là giáo viên dạy GDCD phải được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành giảng dạy, phải thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phải xác định được vai trò, vị trí của môn GDCD, trách nhiệm của bản thân, Giáo viên dạy môn GDCD cần quán triệt mục tiêu môn học trong quá trình dạy học. Phải nắm rõ cái đích cuối cùng cần đạt được trong dạy học GDCD là hành động phù hợp với các các chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Nếu học sinh không có chuyển biến trong hành động thì việc dạy học không đạt hiệu quả. Chương trình môn GDCD là sự nối tiếp việc dạy và học môn đạo đức ở tiểu học, đồng thời chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trên hoặc đi vào cuộc sống lao động Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn GDCD là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 2. 3 Cách làm cụ thể đối với môn GDCD: Đối với Ban giám hiệu nhà trường Tham mưu với UBND xã tổ chức chuyên đề về giáo dục đạo đức học sinh cho cán bộ, đảng viên và giáo viên trong toàn xã, thông qua đó quán triệt nhận thức nâng cao vai trò vị trí của bộ môn GDCD trong nhà trường. Triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình môn GDCD, quy chế 40 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá xếp loại học sinh THCS. Kiểm tra việc thực hiện chương trình, hồ sơ sổ sách, giáo án, dự giờ các tiết lên lớp của giáo viên dạy môn GDCD. Đầu tư mua sắm sách, báo, tài liệu, trang bị tủ sách pháp luật, tạo điều kiện tốt cho giáo viên tham khảo và cập nhật kiến thức phục vụ giảng dạy bộ môn GDCD. Đối với giáo viên dạy môn GDCD Phải tự rèn luyện bản thân để có những phẩm chất và năng lực của người giáo viên, có trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy tốt. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh. Nghiên cứu nắm vững các văn bản quy định về chương trình giảng dạy môn GDCD, chế độ cho điểm đánh giá chất lượng bộ môn. Tích cực sưu tầm, sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm, cải tiến đồ dùng dạy học hiện có để gây hứng thú cho học sinh khi học trên lớp. Khi dạy trên lớp thường xuyên quan sát hành động và thái độ học tập, hành vi đạo đức của học sinh để đưa ra những kết luận đúng đắn về tình hình lớp giúp ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm nắm để có biện pháp kịp thời uốn nắn các em. Trong kiểm tra ngoài việc cho đề kiểm tra giống như các môn khác cần thiết kế thêm các bài tập tình huống, lập kế hoạch, viết báo cáo 3. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạoo đức cho học sinh: 3.1 Ý nghĩa: GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 3.2 Nội dung: - GVCN phải Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh: Đầu năm học GVCN phải thu thập thông tin về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, cách giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN Phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô, bạn bè và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết từ đó thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng về đạo đức học sinh. GVCN cần nắm bắt số điện thoại của phụ huynh HS để kịp thời liên lạc với phụ huynh khi có tình huấn xấu xảy ra hoặc HS cá biệt cố tình không cung cấp thông tin của GVCN về cho phụ huynh nắm. Ngoài ra GVCN phải tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu tạo cho nó được lặp đi lặp lại và trở thành thói quen. Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống mới cho lớp trong điền kiện cụ thể. Rèn luyện khung cán sự lớp có khả năng quản lý và tự quản tốt. Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh công bằng khách quan với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh. GVCN nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học: Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trường, của các đoàn thể trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm Để theo dõi nắm bắt toàn diện thực trang của HS GVCN cần phải có mối quan hệ với GVBM và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường đây là việc làm rất quan trọng của GVCN có như vây GVCN mới kịp thời nắm bắt thông tin và có biện pháp GD HS theo đúng chuẩn mực. 3.3 Cách làm: *. Đối với Ban giám hiệu nhà trường Cần thực hiện tốt việc lựa chọn và phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm, những người có phẩm chất và năng lực trong công tác chủ nhiệm . Tạo mọi điền kiện, đôn đốc, giúp đỡ GVCN làm tốt những nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN quy định tại điều 31- 32 điều lệ trường trung học. Có kế hoạch cụ thể về công tác chủ nhiệm, có chỉ tiêu rèn luyện phấn đấu phù hợp với thực trạng của trường. Thường xuyên thu nhận thông tin về tình hình diễn biến đạo đức của học sinh do GVCN cung cấp, có biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn những tình huống xấu xảy ra. Thường xuyên kiểm tra số sách của giáo viên chủ nhiệm, dự các tiết sinh hoạt lớp của GVCN. Đưa công tác chủ nhiệm vào tiêu chí thi đua khen thưởng, xếp loại cuối năm bên cạnh đó có biện pháp xử lý kịp thời đúng người, đúng trường hợp. *. Đối với GVCN: Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh: (học bạ, hoàn cảnh gia đình.) có nghệ thuật phân loại học sinh để có biên pháp giáo dục đún đắn. Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh. Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp. Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu. Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh. Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, nếu thông tin không pản hồi kịp thời thông tin qua điện thoại hoặc đến nhà. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. Có kế hoạch thăm nhà học sinh cá biệt theo tuần - tháng. *. Đối với GVBM, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường: Tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN về tình hình học sinh của lớp. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc đánh giá xếp loại Hạnh kiểm, xét kỷ luật học sinh. 4. Khả năng áp dụng: Kể từ khi áp dụng các giải pháp giáo dục trên vấn đề đạo đức của học sinh trong nhà trường nói chung, từng lớp nói riêng đã dần dần cải thiện. Những HS thường xuyên vi phạm cũng đã phần nào sửa đổi, Một số học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp đã biết nghe lời thầy cô, các em đã biết kiềm chế trong lời ăn tiếng nói, tác phong của mình, khi mắc lỗi các em đã biết nhìn nhận khuyết điểm của mình để sửa lỗi. Nhìn chung thực trạng đạo đức của HS có sự tiến bộ đây là điều đáng mừng đối với tôi và tôi hy vọng tình hình đạo đức HS sẽ tiến bộ hơn nữa trong những năm tới và có thể sử dụng chung cho tất cả các trường THCS trong huyện nói chung 5. Lợi ích kinh tế xã hội Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng thực hiện tôi thấy đạo đức HS của trường THCS An Tân bước đầu có sự tiến triển khá tốt điển hình: Vào cuối năm học tôi nhận thấy những trường hợp kỷ luật của HS đầu năm có sự tiến bộ đảng kể như: Em Nguyễn Thị Thu Thảo lớp 8A1 từ một HS vi phạm kỷ luật nay em đã tiến bộ vượt bật và hiện đang là thành viên của đội sao đỏ của trường; Lỡ Thị Thảo Trinh cũng từ HS vi phạm nay em đã trở thành HS ngoan hiền của lớp không còn những biểu hiện xấu như năm trước.Nhìn chung tình hình đạo đức của HS có sự tiến bộ đây là điều đáng mừng đối với tôi và tôi hy vọng tình hình đạo đức HS sẽ tiến bộ hơn nữa trong những năm tới và có thể sử dụng chung cho cả các trường THCS nói chung. * Thống kê xếp loại Hạnh kiểm của học sinh cuối năm học: 2011 - 2012 + Loại tốt : 154 đội viên chiếm tỉ lệ: 52,5% + Loại khá : 83 đội viên chiếm tỉ lệ: 28,4% + Loại TB : 56 đội viênchiếm tỉ lệ: 19,1% (Không có HS yếu kém) C. PHẦN KẾT LUẬN Trước sự phát triển của xã hội hiện nay thực trạng đạo đức học sinh của các trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên và CBQL xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức. Những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đã được thể hiện qua hai con đường cơ bản: * Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường, cụ thể là môn giáo dục công dân. * Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ một trường THCS An Tân nên có nhiều vấn đề chưa được phân tích một cách đầy đủ, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh./. KIẾN NGHỊ: Các cấp lãnh đạo, các đoàn thể cần quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất cảnh quan môi trường xanh, đẹp, thân thiện. BGH nhà trường cần tăng cường tham mưu với lãnh đạo xã, công an để tiện nắm bắt thông giữa nhà trường - gia đình - xã hội tin kịp thời nhăn chặn và xử lý một số HS cá biệt vi phạm. An Tân, ngày 01 tháng 02 năm 2013 Đánh giá của Hội đồng Khoa học Người viết Trường THCS An Tân Nguyễn Hữu Giàu

Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN BAO ————–™&˜————- ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM —————————–™&˜—————————– TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT Người viết: Ngô Thị Kim Lan Đơn vị : Trường tiểu học Sơn Bao THÁNG 9 NĂM 2006 ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM —————————–™&˜—————————– TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Mục đích ý nghĩa : Xuất phát từ mục đích ý nghĩa của Nhà trường xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người mới phát triển toàn diện , con người mới có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước . Muốn tạo nên những con người mới thì Nhà trường phải là nơi trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người toàn diện nhất , những con người đó chính là Học sinh , mà đặc biệt là Học sinh tiểu học , các em là những người chủ tương lai của đất nước , vì vậy chúng ta phải biết cách rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Trong thực tế mỗi Học sinh đều có một hoàn cảnh khác nhau , hoàn cảnh sẽ có tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của Học sinh , chính vì thế mà phương pháp Giáo dục Học sinh cá biệt sẽ giúp cho một số Học sinh cá biệt trở thành Học sinh bình thường hoà nhập với cộng đồng xã hội và trở thành những người hữu ích cho Đất nước . 2/ Lý do chọn đề tài : Nền Giáo dục nước ta đang trên đà phát triển , tuy nhiên vẫn càng nhiều hiện tượng mà đặc biệt là Học sinh cá biệt ngày càng tăng ở các trường học nói chung và đối với trường tiểu học Sơn Bao nói riêng . đây là vấn đề bứt thiết , là tiếng kêu của toàn xã hội mà đặc biệt là ngành Giáo dục đóng vai trò chủ chốt trong việc Giáo dục thế hệ trẻ . Trong thực tế hiện nay , nhiều gia đình gặp không ít khó khăn , không đủ điều kiện nuôi con ăn học cho nên đã cho con ở nhà giúp việc gia đình và cho đi làm ăn xa , một số gia đình có nhận thức kém nên không quan tâm gì đến việc học của con em , giao hẳn cho Nhà trường . Mặc khác Sơn Bao là một xã vùng cao của huyện Sơn Hà , kinh tế của người dân càng quá nghèo , tỉ lệ hộ đói – hộ nghèo chiếm 70% , việc kiểm soát học hành của con em ở một số phụ huynh chưa đúng mức , từ dó đã làm cho các em đi học tuỳ theo sở thích , có nhiều em chán nản , quậy phá hoặc làm ra vẽ cho mình nổi bật trước lớp . Đứng trước thực trạng này , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm cho nên có cảm nghỉ mình phải làm sao đó và phải có trách nhiệm Giáo dục các em trở thành người Học sinh ngoan , vì đa số các em chưa ý thức được việc của mình làm. Vậy chúng ta là Giáo viên có hiểu nguyên nhân dẫn đến những việc làm đó không ? Tại sao chúng ta không tìm ra biện pháp Giáo dục Học sinh các biệt . Từ những câu hỏi đặc ra đó tôi đã quyết định tìm hiểu và viết sáng kiến kinh nghiệm mà đã chọn đề tài nêu ở trên . Đề tài này đã áp dụng từ năm học 2002-2003. PHẦN II : NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Bản thân tôi đưqợc trường phân công giảng dạy lớp hai nhiều năm , nhìn chung ở lớp hai , các em Học sinh càng nhỏ , thơ ngây . Chính vì thế mà chúng ta phải ra sức rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Thực tế trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng Học sinh , trong đó cũng không thể không nói đến Học sinh cá biệt . qua đây tôi xin trình bày những suy nghĩ và những việc mình đã làm trong công tác chủ nhiệm , đó là Giáo dục Học sinh cá biệt . Vậy Học sinh có biểu hiện như thế nào gọi là Học sinh cá biệt và chúng ta có những biện pháp Giáo dục ra sao để các em trở thành những Học sinh bình thường như bao Học sinh khác , đó là nội dung của sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày sau đây . 1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt : đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động , thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào , thời điểm nào . Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định . Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm , bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình , vì các em đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài , luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh , gây mất trật tự trong lớp . Biểu hiện về mặt thái độ của trẻ với chung quanh và bản thân , những đứa trẻ hiếu động này thuộc kiểu thần kinh mạnh , cân bằng và linh hoạt . biểu hiện của trẻ là ham hoạt động , ham hiểu biết , linh hoạt , thường vui vẻ , vô tư , cảm xúc của trẻ bất ổn định , rung cảm nhưng không sâu , nhanh nhớ , mau quên . Biểu hiện rõ nét nhất của đặc tính này là bất cứ điều gì hấp dẫn , thích thú vừa sức thì các em sẽ làm ngay , tập trung chú ý rất tích cực , càng trong học tập thì đòi hỏi phải kiên trì , chịu khó động não để làm bài , chiếm lĩnh kiến thức thì các em đâm ra chán nản , ít chú ý hoặc không chú ý nên kết quả học tập thấp . Chính vì điều đó , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm , đặc biệt là Giáo viên tiểu học , khi các em đến trường tôi luôn tạo cho các em và có cảm giác tôi giống như một người mẹ , luuôn có trách nhiệm theo sát các em từng giờ và trong mỗi buổi học để hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của từng em thì mới có hình thức , phương pháp , biện pháp dạy học phù hợp với các em thì mới đem lại kết quả cao . Đặc biệt cũng cần tạo không khí lớp học , trường học như chính ở nhà của các em , khi đo các em mới có cảm giác được quan tâm chăm sóc và tình yêu thương thật sự để học tập tốt . 2/ Biện pháp thực hiện : Đối với những trẻ nghịch ngợm , hay nói chuyện riêng , sau mỗi lần giảng bài xong , hoặc các em đã làm xong bài tập , các em không biết làm gì nên hay trêu chọc các bạn gây mất trật tự trong lớp Cô giáo nói không nghe , theo tôi cần giáo dục các em như sau : + Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em + Thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời + Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha + Không nên phê bình , trách phạt + Không nên sĩ nhục , xúc phạm đến các em + Tránh hình thức áp đặc doạ dẫm , buột các em phải làm theo vì điều đó sẽ không đem lại kết quả gì + đặc biệt Giáo viên không nên để các em có thời gian rỗi + Kết hợp giữa ba môi trường Giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội Sỡ dĩ tôi áp dụng các biện pháp nêu trên , vì như tôi đã nói lứa tuổi các em càng nhỏ và rất thơ ngây , các em luôn xem thầy – cô như một hình tượng , luôn làm theo cô, theo thầy . Mặt khác Giáo dục Học sinh không phải chỉ mang lại cho các em kiến thức , kĩ năng , mà còn phải Giáo dục cho các em về sự hình thành nhân cách , về lối sống , cách cư xử trong cuộc sống đời thường , vì vậy trước hết Giáo viên phải mẫu mực , lời lẽ phải chuẩn xác , trong sáng , gần gũi các em , tránh những lời nói thô tục , hành động thô bạo . Đặc biệt Giáo viên cần vạch rõ ranh giới giữa các việc , khi cấm các em không được làm việc gì đó thì phải nêu rõ nguyên nhân để các em hiểu được việc đó là sai , không nên làm . còn đối với những việc các em được làm , Giáo viên cũng cần giới hạn khung cảnh và những việc nên làm , dù đó là những việc rất nhỏ , vì làm như thế giúp các em hiểu rõ vì sao phải làm như thế này mà không làm như thế kia , và cũng không nên bắt buộc các em phải làm những điều mà các em không hiểu làm để làm gì . Khi các em đã hiểu được những yêu cầu của Giáo viên , khi ấy Giáo viên đưa ra tình huống để các em làm một cách thường xuyên . Việc làm đó được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ từng bước tạo thành thói quen , nề nếp , nhu cầu và không cảm thấy khó chịu thì các em dần dần sẽ trở nên tiến bộ , hoà nhập với cộng đồng . Tuy nhiên công việc này không thể chỉ có Giáo viên làm mà cần phải phối hợp nhịp nhàng , đồng bộ giữa Giáo viên chủ nhiệm và gia đình Học sinh , Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gần gũi với phụ huynh Học sinh để tìm hiểu trao đổi các hoạt động của các em xảy ra hằng ngày hoặc báo cáo những tiến bộ và nảy sinh những cái gì mới ngoài dự kiến của chúng ta thì khi đó Giáo viên chủ nhiệm cùng phụ huynh Giáo dục , uốn nắn ngay từ đầu và kịp thời . Trong học tập Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể , ở lớp phải chú ý đến việc sắp xếp , bố trí chỗ ngồi cho hợp lý . Học sinh yếu nên bố trí cho ngồi ở bàn trên , bố trí ngồi cạnh bạn học giỏi hơn để Giáo viên dể theo dõi , giúp đỡ các em trong từng môn học . Giáo viên cần dành sự quan tâm đến việc học tập của những Học sinh này nhiều hơn , thường xuyên kiểm tra bài về nhà , học tập ở lớp , kết quả tiếp thu bài sau mỗi buổi dạy . Giáo viên cần phân công giao nhiệm vụ cho bạn Học sinh giỏi giúp bạn học yếu bằng cách : Truy bài trước giờ vào lớp , kiểm tra bài về nhà , nhắc nhở bạn , giảng giải thêm khi bạn chưa hiểu được bài , chưa biết cách làm bài , không trách ,sĩ nhục bạn . Cứ tiến hành như thế , Giáo viên sẽ theo dõi được sự tiến bộ hoặc không tiến bộ của Học sinh để phối hợp với gia đình Học sinh cùng hướng dẫn thêm việc học ở nhà của các em đồng thời Giáo viên cũng có kế hoạch điều chỉnh hợp lý . Ngoài việc học ở nhà , ở lớp , Giáo viên càng tổ chức phụ đạo cho những Học sinh yếu ở ngoài giờ để nâng cao trình độ cho các em . Trong những buổi phụ đạo Giáo viên giảng lại kiến thức cũ đã học trong tuần để giúp các em nắm chắc bài và làm bài tốt hơn . Tuy nhiên Giáo viên tiến hành từng bước yêu cầu thấp đến yêu cầu cao , không nên vội vàng sẽ gây chán nản cho các em . Khi nhận thấy các em có sự tiến bộ cần khuyến khích kịp thời , khi các em làm sai hoặc không tiến bộ cần động viên chỉ bảo nhẹ nhàng , tránh nói những lời nặng nề xúc phạm đến nhân cách của Học sinh , đặc biệt là không nên bình phẩm Học sinh “Sao em học dốt thế” . Ngoài việc Giáo dục Học sinh cá biệt về đạo đức và học tập , Giáo viên chủ nhiệm cũng cần chú ý đến chữ viết của các em , vì thông qua chữ viết nó thể hiện được tính nết của con người . Rèn chữ viết đúng mẫu , đúng chính ta û , đúng tốc độ quy định và giữ vở sạch . Muốn rèn chữ viết trước hết phải rèn đọc đúng , phát âm đúng các phụ âm đầu , tập các em có đức tính cẩn thận ở tất cả các môn học . Để thực hiện được điều này Giáo viên phải mẫu mực khi viết và trình bày bảng , vì vậy cần rèn chữ viết cho Học sinh lớp 1; 2 đó là góp phần vào phong trào giữ vở sạch đẹp và trong sáng của tiếng việt mà tôi tin chắc chúng ta ai cũng làm được việc này . Tóm lại : Để Giáo dục Học sinh cá biệt tốt , trước hết người Giáo viên chủ nhiệm phải mẫu mực để Học sinh noi theo , luôn gần gũi , thương yêu và tôn trọng Học sinh , phải dành nhiều thời gian cho các em , đôn đốc nhắc nhở , tạo niềm tin cho các em , phải là người nhiệt tình với nghề nghiệp , tôn trọng với công việc , tất cả vì Học sinh thân yêu , vì tương lai của các em . Có như thế mới xứng đáng với câu “ mỗi thầy giáo – cô giáo là một tấm gương sáng cho Học sinh noi theo”, dạy học không chỉ đem lại kiến thức mà phải kết hợp cả dạy người . Đối tượng Học sinh cá biệt phần lớn là những Học sinh nghèo , thiếu giáo dục , ít được sự quan tâm của gia đình chính vì thế mà chúng ta cần phải luôn quan tâm , theo sát và tìm hiểu hoàn cảnh của từng Học sinh để tạo điều kiện học tập cho các em , luôn trao dồi đạo đức cho các em bằng chính lòng thương yêu thực sự của mình , từ đó sẽ cảm hoá được các em để các em hiểu và hoà nhập vào cộng đồng như bao nhiêu đứa trẻ bình thường khác trong xã hội . Công việc này tuy lúc đầu rất vất vả , tốn nhiều công sức , nhưng để theo dõi , uốn nén các em từng li , từng tí , khi các em đã tiếp thu những cái mới , nhận biết được nhiệm vụ của Học sinh dần dần đưa các em vào nề nếp học tập , có thời khoá biểu học ở nhà , các em trở thành thói quen , từ đó các em sẽ tiến bộ và bắt đầu ham học , kết quả học tập sẽ khả quan hơn . Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường Giáo dục thì mới thực sự đem lại hiệu quả cao . Sáng kiến này tôi đã áp dụng từ bao năm qua nhưng đặc biệt nhất là năm học 2002 – 2003 sáng kiến này mới thật sự có hiệu quả và áp dụng mãi đến nay . Cụ thể năm học 2002 – 2003 tôi dạy lớp 2A đó là năm đầu tiên áp dụng chương trình thay sách , lớp tôi có một Học sinh là Đinh Văn Vẹt , em là dân tôc H rê , em có đặc điểm là nghịch ngợm ít chú ý . nhưng lại học được , khi nhận lớp tôi đã phát hiện ra ngay diều này , càng hoàn cảnh gia đình em thì rất khó khăn , Mẹ mất sớm , Bố thì lấy vợ khác , và lúc nào cũng hay nhậu nhặc . Thời gian đầu em ở với bố mẹ , sau đó em về ở với anh trai , gần nhà của tôi . Đến lớp em chép bài chỉ là đối phó , chữ viết cẩu thả , biết làm toán nhưng không làm , nghĩa là thích thì làm , không thích thì thôi và luôn nói bằng tiếng của người địa phương . Từ đó tôi đã thực hiện như sau : + Ở miền núi Học sinh được phát vở nên vở của em không thiếu nhưng viết của em thì không có , trong lớp học tôi thấy em không chép bài nên liền lại hỏi vfa em đã cho biết là không có bút , thế là tôi đã lấy bút của mình để cho em và dặn dò nhắc nhở . Nhìn anh mắt của em ngơ ngác nhìn tôi , lúc này tôi cảm nhận được niềm vui sướng tràn ngập trong lòng của em , tôi hướng dẫn cho em viết và thường xuyên kiểm tra vở , việc này tôi thực hiện suốt cả một tuần và tôi đã nhận thấy em đã có sự tiến bộ rõ rệt , em đã ngoan hơn và không có nghịch như trước nữa , đặc biệt là giờ học toán em đã bắt đầu giơ tay xin lên bảng làm , có lúc em làm đúng , cũng có lúc làm sai , tôi luôn luôn khen ngợi và động viên . Bằng những câu nói nhẹ nhàng , những lời chỉ bảo tận tình của tôi , em đã ý thức được việc học của mình . Bên cạnh đó thời gian ngoài giờ tôi thường sang nhà để gặp phụ huynh và phối hợp với phụ huynh để cùng giáo dục em , thường xuyên động viên , khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em tham gia học tập tốt . Thực sự là tôi rất mừng khi thấy em tiến bộ , nhưng niềm vui mừng lại tăng lên gấp bội vì kết quả học kì I của em là Học sinh khá , đến học kì II em là Học sinh giỏi của lớp . Kể từ đó em thật sự đã trưởng thành và luôn làm gương cho các Học sinh khác noi theo , từ năm học đó về sau em đều là Học sinh giỏi của lớp . Tôi là Giáo viên chủ nhiệm , tôi cảm thấy rất mừng và tràn đầy hạnh phúc khi nhìn thấy sản phẩm của mình sáng kiến , cải tiến lại có chất lượng cao như thế và đó cũng chính là kết quả lớn nhất của tôi trong những năm qua . 3/ kết quả đạt được : Trong suốt thời gian qua bản thân tôi luôn mẫu mực trong mọi công tác , hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao , đặc biệt là công tác chủ nhiệm , tuy vùng cao nhưng tôi luôn đảm bảo duy trì sĩ số Học sinh , về Giáo dục Học sinh cá biệt có được ngững kết quả cao tỉ lệ Học sinh khá , giỏi nhiều , đảm bảo chỉ tiêu Học sinh lên lớp 100% PHẦN III : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 1/ Kết luận : Tự hào về nghề nghiệp của mình là người ươm mầm non cho Tổ quốc , là người Giáo dục thế hệ trẻ trở thành người chủ tương lai của đất nước . Một thế hệ mà Bác Hồ hết sức chăm lo , quan tâm : “ Non sông Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không , phần lớn là nhờ vào công học tập của các cháu” . Vâng lời Bác dạy , bản thân tôi là người ươm mầm cho đất nước , tôi nguyện ra sức phấn đấu hết sức mình để tạo cho các em một tương lai tốt đẹp , góp một phần công sức của mình vào việc xây dựng quê hương đất nước . 2/ Kiến nghị – đề xuất : Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp thực hiện công tác này , do đó phải nắm vững đặc điểm của từng em và điều kiện hoàn cảnh gia đình để tạo điều kiện cho các em học tập và rèn luyện . Nhà trường nên thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua học tập , để các em được tham gia và phải có khen thưởng kịp thời nhằm khuyến khích , động viên các em . Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên hệ với gia đình học sinh để báo cáo kết quả học tập và rèn luyện của học sinh cho phụ huynh nắm . Lập kế hoạch dạy phụ đạo cho Học sinh yếu kém . Nhà trường cần phải quan tâm bồi dưỡng đội ngũ Giáo viên của trường về công tác chủ nhiệm lớp để đưa phong trào của nhà trường ngày càng vững mạnh hơn , không có Học sinh cá biệt , xứng đáng là nhà trường xã hôi chủ nghĩa . Sơn Bao, ngày :.././ Người viết

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!