Đề Xuất 11/2022 # Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt nội dung:

Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu tác động của tải trọng động đất lên các công trình vẫn còn tương đối mới tại Việt Nam. Hiện chúng ta đã có tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất (TCVN 9386:2012) được biên soạn từ tiêu chuẩn Eurocode 8 (2004) và một số quy định về giải pháp cấu tạo kháng chấn cho các cấu kiện dầm, sàn, tường chịu lực… và sửa chữa, gia cường cho các kết cấu nhà, công trình bị hư hỏng do động đất. Tuy nhiên, các giải pháp cấu tạo này vẫn tương đối ít và chưa đầy đủ nên cần thiết phải nghiên cứu bổ sung thêm cho phù hợp với từng đối tượng nhà cụ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, nhóm tác giả đã biên soạn cuốn “Giải pháp cấu tạo kháng chấn cho công trình xây dựng dân dụng”.

Nội dung sách trình bày các giải pháp cấu tạo kháng chấn cho các công trình nhà ở, nhà công cộng thấp tầng có chiều cao từ 9 tầng trở xuống, có kết cấu chịu lực dạng khung chịu lực, tường chịu lực, hệ hỗn hợp khung – tường chịu lực đổ tại chỗ bằng bê tông, bê tông cốt thép, gạch đá (có và không có cốt thép), được tính toán theo các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu thông thường nhưng không tính toán, thiết kế theo tiêu chuẩn chịu động đất, được xây dựng ở trong các vùng có đỉnh gia tốc nền thiết kế ag nằm trong khoảng 0,04 đến 0,08g, tương ứng với cấp động đất là cấp VI theo thang MSK-64, (động đất yếu). Khu vực xây dựng không nằm trong các vùng có nguy cơ trợt lở, lún hoặc xảy ra hiện tượng hóa lỏng nền đất khi có động đất yếu.

Nội dung sách gồm 05 chương:

Chương 1: Mở đầu.

Chương 2: Những quy định chung về cấu tạo kháng chấn.

Chương 3: Cấu tạo kháng chấn cho kết cấu bê tông và kết cấu bê tông cốt thép.

Chương 4: Cấu tạo kháng chấn cho kết cấu gạch đá.

Chương 5: Cấu tạo kháng chấn khi sửa chữa, phục hồi, gia cường kết cấu.

Thư viện Bộ Xây dựng

Thiết Kế Công Trình Kháng Chấn: Quan Trọng Nhưng Chưa Chú Trọng / 2023

Nôm na, các giải pháp thiết kế đảm bảo cho công trình đủ khả năng chịu lực, ít hư hại về mặt kết cấu dưới tác động của tải trọng động đất. Trong khi đó, nhiều chủ đầu tư dự án cao tầng ở Việt Nam vẫn “thờ ơ” với hạng mục này.

Rung lắc do ảnh hưởng đất đất từ Trung Quốc

Sáng 8/9, cư dân các chung cư cao tầng ở một số quận như Thanh Xuân, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai (Hà Nội) cảm nhận rõ tòa nhà rung chuyển. Anh Mạnh Hà, làm việc tại tòa Zen Tower 12 (Khuất Duy Tiến – Thanh Xuân) kể lại: Mọi người đang ngồi làm việc, bỗng thấy chóng mặt, quay ra hỏi nhau mới nhận ra có rung lắc, bàn ghế cũng rung khá mạnh. Nhiều người sợ hãi vội vàng di tản xuống tầng 1.

Thông tin từ Viện Vật lý Địa cầu, rung lắc mà những người dân Thủ đô cảm nhận được là do ảnh hưởng của lan truyền chấn động từ một trận động đất xảy ra tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc vào lúc 9 giờ 31 phút 28 giây sáng 8/9, cách ranh giới huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu khoảng 118km.

Sau đợt rung lắc này, giới chuyên gia giám định về chất lượng công trình, nhìn nhận, tại các nước có bề dày lịch sử ứng phó với những thiên tai động đất, tiêu chuẩn Xây dựng với vai trò kháng chấn đóng vai trò quan trọng. Đơn cử như Nhật Bản, cứ sau mỗi trận động đất lại dẫn đến những thay đổi trong kiểm soát xây dựng tại Nhật Bản. Năm 1971, việc sửa đổi khẩn cấp của Luật Tiêu chuẩn Xây dựng nêu rõ giảm khoảng cách giữa các mối thép trong các cột bê tông xuống 100mm sau sự thất bại của nhiều cột công trình trong trận động đất trước. Thêm vào đó, Nhật Bản đã rất xuất sắc trong việc chế tạo và lắp đặt hệ thống van điều tiết giảm tác động của động đất trong các công trình. Điều đó có hiệu quả làm giảm độ rung của các vết nứt do thiên tai cho các tòa nhà.

Ngược lại, ở Việt Nam, cụ thể là các đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội – nơi tập trung nhiều công trình cao tầng, thiết kế kháng chấn chưa tốt và đồng đều. Căn nguyên xuất phát từ tâm lý chủ quan “ít khả năng xảy ra động đất mạnh” ở Việt Nam. Giai đoạn xây dựng thời kỳ 1954 – 1976, với giải pháp kết cấu nhà lắp ghép tấm lớn đã hình thành nên các khu chung cư cũ: Kim Liên, Nguyễn Công Trứ (từ 4 đến 5 tầng); Yên Lãng, Trương Định (2 tầng); Trung Tự, Khương Thượng, Giảng Võ, Vĩnh Hồ (từ 4 đến 5 tầng)… hầu hết không được thiết kế kháng chấn. Thời điểm hiện tại, nhiều công trình dù quan tâm hơn đến thiết kế kháng chấn song cũng chỉ dừng ở mức độ xem xét yếu tố lực tác động mà chưa chú ý đến phương diện năng lượng do động đất truyền vào công trình.

Xem xét đặc biệt khu vực trung tâm

PGS. TS Trần Chủng – nguyên Cục trưởng Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng) khuyến nghị: “Hà Nội hiện nay đã có bản đồ phân vùng về gia tốc nền tức là phân vùng về cấp động đất. Các công trình trên địa bàn cơ bản được thiết kế, tính toán có kể đến tải trọng của động đất và tải trọng của gió bão. Động đất ở Hà Nội chủ yếu ở mức độ nhẹ khoảng cấp 7 và có một vài vùng cấp 8. Dù vậy, với những công trình ở trong các vùng kể trên phải xem xét đặc biệt. Giống như các tiêu chuẩn về an toàn cháy nổ, kháng chấn cũng cần được chú trọng hơn.

Bộ Xây dựng từng kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đối với các công trình khi thiết kế chưa tính đến khả năng kháng chấn tại những khu vực có khả năng xảy ra động đất: Chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng phải tiến hành kiểm tra khả năng chịu lực của công trình thông qua bài toán ngược bằng mô hình toán trên cơ sở các tiêu chuẩn hiện hành về phân vùng động đất và thiết kế kháng chấn. Trên cơ sở đó có biện pháp gia cường nhằm hạn chế các thiệt hại do động đất gây ra. Sở Xây dựng các địa phương thông báo, hướng dẫn các chủ đầu tư, chủ quản lý sử dụng gia cường công trình và có biện pháp sơ tán kịp thời khi xảy ra động đất.

Đồng quan điểm, KTS Ngô Bá Loan cho rằng, các công trình cao ốc nên được thiết kế kháng chấn đồng bộ theo hướng hiện đại, đảm bảo hai tiêu chí quan trọng nhất. “Đầu tiên kết cấu phải có khả năng chịu lực lớn trong miền đàn hồi. Thứ hai, đảm bảo kết cấu phân tán năng lượng do động đất truyền vào, thông qua sự biến dạng dẻo trong giới hạn cho phép hoặc các thiết bị hấp thu năng lượng. Từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt cơ quan thẩm định khi xem xét những hồ sơ thiết kế phải đặt vào trong những vùng địa chất nhất định. Bởi nhiều chủ đầu tư cố tình lảng tránh bởi đầu tư vào những công trình ở khu vực này chi phí rất tốn kém. Với diễn biến thiên tai ngày càng khắc nghiệt, rõ ràng bài toán thiết kế kháng chấn ở các đô thị lớn của nước ta cần được chú trọng đúng mức hơn” – bà Loan phân tích.

Căn cứ bản đồ phân vùng động đất lãnh thổ Việt Nam do Viện Vật lý Địa cầu lập, ở nước ta chỉ có một số vùng thuộc khu vực phía Bắc được dự báo là có khả năng xảy ra động đất cấp 8 (theo thang MSK), chấn động do động đất gây ra tại một số địa điểm vùng Tây Bắc có thể đạt tới cấp 9.

Nghiên Cứu Giải Pháp Kết Cấu Lắp Ghép Sử Dụng Bê Tông Tính Năng Cao Cho Công Trình Xây Dựng Trên Đảo / 2023

Toàn cảnh họp Hội đồng nghiệm thu

Tại cuộc họp, chủ nhiệm đề tài, TS. Lê Minh Long – Phó Viện trưởng IBST cho biết, việc xây dựng các công trình trên đảo mang tính đặc thù riêng và gặp nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển, sản xuất vật liệu, lắp ghép cấu kiện cho đến hoàn thiện và bảo trì. Ngoài ra, do tác động âm thực của môi trường trên đảo rất cao làm cho các kết cấu bị ăn mòn nhanh nên việc lựa chọn vật liệu thích hợp với đặc thù khí hậu này cũng là vấn đề cần quan tâm đặc biệt. Cho đến nay việc nghiên cứu đồng bộ từ khảo sát, nghiên cứu về vật liệu, kết cấu, thi công, nghiệm thu, bảo trì đối với công trình xây dựng trên đảo còn rất hạn chế. Qua đó, có thể thấy tính cấp thiết của đề tài “Nghiên cứu giải pháp kết cấu lắp ghép sử dụng bê tông tính năng cao cho công trình xây dựng trên đảo” nhằm nghiên cứu các vật liệu và giải pháp kết cấu, công nghệ thi công đảm bảo khả năng chịu lực, tăng độ bền lâu, giảm chi phí bảo trì, phù hợp với điều kiện vận chuyển, thi công cho các công trình xây dựng trên đảo.

Qua báo cáo tổng kết cho thấy đề tài đã đạt được những kết quả chính như sau: Đề tài đã thực hiện việc khảo sát thực trạng xây dựng trên đảo ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả đảo gần và đảo xa để thu thập các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của đề tài, như: quy mô xây dựng, vật liệu sử dụng, điều kiện vận chuyển, điều kiện thi công, thực trạng ăn mòn,…Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài đã thực hiện khối lượng lớn nghiên cứu về vật liệu tiên tiến trong đó có bê tông tính năng cao, giải pháp kết cấu, thi công lắp dựng, nghiệm thu, bảo trì đối với công trình xây dựng trên đảo; Đã có nghiên cứu cụ thể về các tiêu chuẩn, quy trình thiết kế và đưa ra đề xuất áp dụng các tiêu chuẩn vật liệu, thiết kế kết cấu, hướng dẫn, chỉ dẫn kỹ thuật, nghiệm thu,…cho kết cấu sử dụng vật liệu bê tông tính năng cao (UHPC). Đề tài cũng đã tính toán, thiết kế, chế tạo và thử nghiệm cho tất cả các loại cấu kiện chịu lực cần thiết cho công trình. Cùng với đó, đề tài đã xây dựng được hồ sơ thiết kế nhà mẫu có quy mô: 02 tầng, diện tích mỗi sàn khoảng 80m2 với đầy đủ các hạng mục về kiến trúc, kết cấu, điện-nước, giải pháp hoàn thiện và đã thi công được kết cấu nhà mẫu này tại Viện IBST. Kết quả đạt được của đề tài còn bao gồm chỉ dẫn sản xuất, thi công lắp dựng và nghiệm thu cho công trình xây dựng trên đảo sử dụng bê tông tính năng cao và giải pháp kết cấu lắp ghép và quy trình bảo trì đối với loại công trình này.

Theo báo cáo của IBST, kết quả nổi bật của đề tài là đã nghiên cứu và lựa chọn thành công vật liệu bê tông tiên tiến (bê tông cốt sợi thép phân tán tính năng siêu cao: UPHC) cho kết cấu công trình xây dựng phù hợp với môi trường biển đảo bao gồm: UHPC cho kết cấu chịu lực (cột, dầm, sàn tầng, sàn mái) và UHPC cho các cấu kiện đúc sẵn (bể chứa nước, bể phốt thành móng không cốt thép thanh); liên kết cho các mối nối khô, UHPC và vữa chèn để bảo vệ mối nối. Ngoài ra, thành công của đề tài nghiên cứu còn phải  kể đến các sản phẩm của đề tài đều áp dụng được vào thực tế, những mô đun nhà mẫu được nghiên cứu phù hợp với nhiều kiểu dáng kiến trúc và loại công trình có chức năng khác nhau, có thể tích hợp được với các thiết bị nội, ngoại thất có sẵn trên thị trường. Như vậy, những vật liệu, kết cấu đã lựa chọn sẽ nâng cao chất lượng và khả năng chống ăn mòn, tuổi thọ cho kết cấu. Hơn nữa, những vật liệu, kết cấu này phù hợp với thi công thủ công hoặc bán thủ công nhanh chóng. Từ đó, giảm được chi phí bảo trì, có giá thành hợp lý so với kết cấu bê tông cốt thép truyền thống – vốn không phù hợp với điều kiện xâm thực trên đảo.

Tại Hội đồng, TS. Lê Minh Long và TS. Trần Bá Việt đại diện cho nhóm nghiên cứu đã có phần giải trình, làm rõ một số nội dung vấn đề các thành viên Hội đồng đưa ra nhằm hoàn thiện đề tài.

Kết luận cuộc họp, chúng tôi Vũ Ngọc Anh – Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường đánh giá cao kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài với sự nghiên cứu đầy đủ và cẩn thận lý thuyết, khảo sát thực tế và tiến hành thử nghiệm thành công công nghệ vật liệu tiên tiến, giải pháp kết cấu, vận chuyển, thi công, bảo trì cho công trình xây dựng trên đảo. Bên cạnh đó, chúng tôi Vũ Ngọc Anh cũng nhấn mạnh đề tài mang ý nghĩa chính trị lớn trong vấn đề khẳng định chủ quyền biển đảo của đất nước, để người dân sinh sống trên biển đảo có một ngôi nhà vững chãi có thể yên tâm an cư lập nghiệp…

 Đề tài “Nghiên cứu giải pháp kết cấu lắp ghép sử dụng bê tông tính năng cao cho công trình xây dựng trên đảo” đã được Hội đồng nghiệm thu, với kết quả đạt điểm Xuất sắc.

Cần Xây Dựng Chính Sách Để Thích Ứng Với Quá Trình Già Hóa Dân Số / 2023

Hội thảo chia sẻ “Báo cáo xây dựng chiến lược quốc gia toàn diện thích ứng với GHDS Việt Nam 2020-2030, tầm nhìn đến 2035” do Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi (NCT) Việt Nam phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tổ chức ngày 21/12/2018 tại Hà Nội.

Cần có hướng tiếp cận toàn diện hơn để thích ứng với GHDS

Ông Lê Bạch Dương trợ lý Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNFPA tại Việt Nam cho biết, già hóa là một tất yếu của sự phát triển. Chúng ta cần chuyển hướng trọng tâm từ việc đơn thuần giúp tiếp cận với tuổi già sang giúp tiếp cận với một tuổi già vui vẻ và hạnh phúc. Đồng thời, già hóa không chỉ là giải quyết các vấn đề của NCT. Chẳng hạn, phụ nữ thường phải chăm sóc NCT trong gia đình và với số NCT ngày càng tăng, nhu cầu chăm sóc cũng tăng cao thì cũng gây khó khăn nhất định cho người chăm sóc trong gia đình. Do đó, Việt Nam cần có hướng tiếp cận toàn diện hơn để thích ứng và đáp ứng nhu cầu của toàn bộ dân số, chuẩn bị cho một xã hội già trong tương lai.

Định hướng sửa đổi Luật NCT, hệ thống trợ giúp xã hội đã được ông Đoàn Hữu Minh, trưởng phòng Công tác xã hội (Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐ-TB&XH) thông tin tại Hội thảo. Theo đó, sẽ tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Luật NCT và xây dựng hồ sơ dự thảo Luật NCT sửa đổi, bổ sung. Dự kiến năm 2020 sẽ hoàn thiện dự thảo Luật để trình Chính phủ, Quốc hội.

Ông Minh cho biết, nội dung sửa đổi Luật sẽ hoàn thiện nhóm chính sách tạo điều kiện để NCT còn khả năng lao động được tham gia làm việc, phát huy vai trò NCT theo thông điệp của Liên hợp quốc “Nghỉ hưu nhưng không nghỉ làm việc”; tiếp tục hoàn thiện nhóm chính sách khuyến khích xã hội hóa chăm sóc và phát huy vai trò của NCT; Bổ sung nhóm chính sách phát triển công tác xã hội đối với NCT; mở rộng đối tượng thuộc diện thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội theo hướng giảm độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội đối với NCT xuống 75 tuổi, ưu tiên NCT ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và người có hoàn cảnh khó khăn; cải cách hành chính gắn với ứng dụng CNTT trong giải quyết chính sách an sinh xã hội đối với NCT.

Tại hội thảo, thông tin về đề án chăm sóc sức khỏe NCT giai đoạn 2017-2025, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) cho hay, đến năm 2025, 100% NCT hoặc người thân trực tiếp chăm sóc NCT biết thông tin về GHDS, quyền được chăm sóc sức khỏe của NCT và các kiến thức chăm sóc sức khỏe NCT; 80% NCT có khả năng tự chăm sóc, được cung cấp kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe; 90% NCT bị bệnh được tiếp cận dịch vụ; 100% NCT có thẻ bảo hiểm y tế; 100% bệnh viện TƯ, tỉnh (trừ bệnh viện chuyên khoa nhi) có tổ chức lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là NCT; 100% NCT không có khả năng tự chăm sóc, được chăm sóc sức khỏe bởi gia đình, cộng đồng; tăng ít nhất hai lần số NCT cô đơn không nơi nương tựa, không còn khả năng tự chăm sóc, không có người trợ giúp tại nhà và có điều kiện chi trả được chăm sóc trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe tập trung so với năm 2016.

Ông Lê Bạch Dương cho rằng, việc xây dựng chính sách đối với GHDS cần áp dụng hướng tiếp cận trên cơ sở đảm bảo quyền và bình đẳng giới cho toàn bộ dân số. “Việc xây dựng một chính sách quốc gia toàn diện thích ứng với GHDS sẽ giúp Việt Nam có một khung chính sách mạnh mẽ và hiệu quả cho phát triển bền vững trong tương lai. Chính sách này cần nhìn nhận NCT là một nguồn lực cho phát triển, do đó chính sách cần hướng tới phát huy nguồn lực của NCT chứ không chỉ coi NCT như những người thụ thưởng các dịch vụ xã hội tự động”, ông Dương nói.

HÒA THANH

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!