Đề Xuất 5/2022 # Quyền Đi Qua Không Gây Hại Của Tàu Thuyền Nước Ngoài Trong Lãnh Hải # Top Like

Xem 12,276

Cập nhật nội dung chi tiết về Quyền Đi Qua Không Gây Hại Của Tàu Thuyền Nước Ngoài Trong Lãnh Hải mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,276 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Tòa Án Nhân Dân
  • Tòa Án Quân Sự Xét Xử Những Vụ Án Nào?
  • Trao Đổi Về Tình Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Tòa Án Quân Sự
  • Pháp Lệnh Tổ Chức Tòa Án Quân Sự
  • Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân 2014, Luật Số 62/2014/qh13 2022
  • Bài viết: Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo Công ước Luật Biển 1982 và Luật Biển Việt Nam 2012

    TÓM TẮT

    ABSTRACT:

    This paper studies in depth legal regime for “innocent passage” of foreign ships in international law of the sea. In particular, it focuses on the contents of this right that is acknowledged in the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 (UNCLOS), pcedents of the International Court of Justice (ICJ) as well as the law of some countries. Then, the paper analyses current provisions governing innocent passage right of foreign ships under Vietnam’s Law of the Sea 2012 and discusses relevant matters for the proper understanding and application of these provisions.

    TỪ KHÓA: Quyền đi qua không gây hại, Lãnh hải, Công pháp quốc tế, Công ước Luật Biển, Luật Biển Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý

    1. Tổng quan về quyền “đi qua không gây hại” trong luật biển quốc tế

    Vấn đề “quyền đi qua không gây hại”(ĐQKGH) hay qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải gắn liền với sự ghi nhận lãnh hải (territorial sea)như một vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven biển trong luật biển quốc tế. Về lịch sử, khái niệm “qua lại vô hại” của tàu thuyền nước ngoài đã được đề cập ở thời kỳ đế chế La Mã Quyền ĐQKGH của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải của quốc gia ven biển dần dần được thừa nhận trong thực tiễn pháp luật quốc tế và quốc gia cho đến đầu thế kỷ XX và sau đó được ghi nhận tại Điều 10 Dự thảo của Hiệp hội luật quốc tế ILA vào năm 1926 như sau: “tàu thuyền của tất cả các nước có quyền đi lại một cách tự do trong vùng lãnh hải nhưng phải chịu sự điều chỉnh của quốc gia có vùng lãnh hải nơi tàu thuyền đi qua”. Quyền đi qua không gây hại cũng được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế sau đó,

    2. Khái niệm “qua lại vô hại”

    Điều 17 Công ước 1982 quy định tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền ĐQKGH trong lãnh hải. Khái niệm “tất cả các quốc gia” bao gồm không chỉ các quốc gia là thành viên của Công ước 1982 mà còn là tất cả các quốc gia, khẳng định một lần nữa quyền tự do hàng hải đã tồn tại như một quy tắc tập quán quốc tế được đề cập từ sau Hội nghị Pháp điển hóa luật biển năm 1930. Thêm vào đó, thuật ngữ “tàu thuyền”được hiểu bao gồm cả tàu quân sự và tàu thương mại. Ngoài ra, khái niệm “tàu thuyền của các quốc gia”được hiểu là các quốc gia mà chiếc tàu đó mang quốc tịch. Theo quy định tại Điều 18(1)(a) thì đây là một trong những hình thức của việc qua lại trong lãnh hải.

    – Đi qua lãnh hải để đến hay rời đi từ một cảng hoặc một công trình cảng: Quy định tại Điều 14(2) của Công ước 1958 và Điều 17 của Công ước 1982 đã khẳng định lại nội dung của Điều 3(1) Dự thảo Công ước về quy chế pháp lý của lãnh hải năm 1930.

    – Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng: Trong khi thực hiện việc qua lại vô hại lãnh hải] tàu thuyền nước ngoài phải tiến hành việc đi qua một cách nhanh chóng và liên tục. Trong đó, khái niệm “nhanh chóng” có nghĩa tàu thuyền phải tiếp tục di chuyển (proceed) với tốc độ hoạt động bình thường của nó (usual operational speed)có tính đến những hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các điều kiện về hàng hải và thủy văn.

    2.2. Khái niệm “không gây hại”

    Khái niệm “không gây hại”không được định nghĩa một cách cụ thể, thay vào đó, các Công ước về Biển năm 1958 và 1982 cũng như Dự thảo năm 1930 về Quy chế pháp lý của lãnh hải đưa ra cách hiểu khái niệm “không gây hại”bằng cách giải thích “sự gây hại”(non-innocence). Công ước 1982 tại Điều 19(1) đưa ra định nghĩa chung dựa trên quy định của Công ước 1958, “việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển”. Tại khoản 2, Công ước 1982 liệt kê những hành vi của tàu thuyền thực hiện trong khi qua lại trong lãnh hải của một quốc gia ven biển được coi là “làm phương hại”(pjudicial), qua đó gián tiếp làm rõ nội hàm của khái niệm “vô hại”.

    2.2.1. Những hành vi gây hại (non-innocent activities)

    Thứ nhất,những hành vi được coi là “gây hại”là những hành vi thực hiện trong quá trình chiếc tàu đang đi lại trong lãnh hải, do đó mức độ nguy hiểm gây ra cho quốc gia ven biển là lớn hơn và có tính quyết định trong việc xác định việc qua lại là có gây hại hay không so với những hành vi tương tự được thực hiện trong các vùng biển đặc quyền kinh tế hoặc tiếp giáp lãnh hải.

    Thứ ba,khoản 2 Điều 19 chủ yếu mang tính chất liệt kê và do đó không bao quát hết những hành vi có thể xảy ra trên thực tế, mặc dù Công ước 1982 đã dự liệu khả năng này bằng quy định có tính chất mở tại điểm l: “Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua”nhằm cho phép quốc gia ven biển có thể áp đặt sự khẳng định một hành vi có phải là “gây hại”hay không. Vấn đề này dẫn đến cách hiểu rằng quốc gia ven biển có quyền xác định, dựa trên cơ sở Công ước và lập luận của mình trong việc xác định tính chất “gây hại”của hành vi mà tàu thuyền nước ngoài thực hiện khi đi qua vùng lãnh hải của mình. Chính vì vậy, danh mục các hành vi nêu ra tại Điều 19(2) không phải là danh mục đóng (exhausted list).

    Thứ năm, mặc dù Điều 19(2) đã chỉ ra những hành vi được coi là “gây hại”,tuy nhiên Điều19 và cả Điều21 đều không đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để xác định sự vi phạm đã xảy ra trên thực tế hay chưa. Chính vì vậy, việc xác định một hành vi là “gây hại”cũng như thời điểm xảy ra sự vi phạm tùy thuộc vào các quốc gia ven biển, do đó có thể có sự khác biệt giữa các quốc gia, cũng như giữa quốc gia ven biển và quốc gia mà chiếc tàu mang quốc tịch về cùng một vấn đề.

    Điểm b đề cập đến hành vi thu thập tin tức tình báo, do đó về cơ bản cũng là những hành vi không phải do các tàu thương mại (merchant ships)thực hiện. Mặc dù vậy, các tàu thương mại cũng có thể thực hiện những hành vi như vậy, chẳng hạn như việc thu thập các thông tin nhạy cảm (sensitive)của quốc gia ven biển, do đó được coi là những hành vi gây hại. Tuy nhiên, việc xác định hành vi thu thập tin tức tình báo làm phương hại đến quốc phòng và an ninh tùy thuộc vào sự quyết định của quốc gia ven biển. Ngoài ra, việc xác định có hay không hành vi thu thập tình báo cũng sẽ khó khăn hơn do sự phát triển của khoa học, công nghệ.

    Điểm h quy định về hành vi gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, khác với những hành vi trước đó quy định tại khoản 2 Điều 19 ở việc đề cập đến tính chất nghiêm trọng của hành vi gây ô nhiễm, bên cạnh việc nhấn mạnh chủ ý của việc gây ô nhiễm đó. Ngoài ra, việc gây ô nhiễm này không được hiểu theo nghĩa là trái với các luật và quy định của quốc gia ven biển mà là trái với Công ước, điều này có nghĩa là việc xem xét sự vi phạm cần phải liên hệ đến phần XII của Công ước (quy định về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển). Điều này dẫn đến khả năng cho phép quốc gia ven biển có quyền can thiệp vào hoạt động của tàu thuyền nước ngoài đang đi lại trong vùng lãnh hải nhằm thực thi quyền của mình trong vấn đề bảo vệ môi trường biển theo quy định của Điều 220(2), (5) và (6) của Công ước 1982, trong đó bao gồm việc kiểm tra và bắt giữ con tàu nhằm mục đích tố tụng.

    Điểm i xem các hành vi đánh bắt hải sản của tàu thuyền khi đi qua lãnh hải là những hành vi gây hại, do đó bao gồm cả những hành vi đánh bắt có tính không thường xuyên (occasional)và không chuyên nghiệp (non-professional).Mặc dù vậy, yếu tố đánh bắt mới là yếu tố có tính quyết định mà không phải chỉ đơn thuần là sự không tuân thủ luật và quy định của quốc gia ven biển về đánh bắt hải sản. Ngoài ra, việc đánh bắt như vậy không bị giới hạn ở việc chiếc tàu là quân sự hay không quân sự. Quy định này nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi hợp pháp của quốc gia ven biển đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật trong vùng biển mà quốc gia này có chủ quyền.

    Tại điểm k, các hành vi làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển được coi là gây hại. Những hành vi này có thể bao gồm những hành vi can thiệp điện tử (electromagnetic interference),việc sử dụng trái phép nguồn sóng (frequency resources),làm hủy hoại hệ thống cáp hay ống dẫn ngầm thông tin liên lạc, các thiết bị dẫn đường hàng hải hoặc các công trình thiết bị khác. Đáng chú ý là những hành vi phải được thực hiện với chủ ý, do đó không bao gồm những hành vi gây thiệt hại nhưng do sự cẩu thả hoặc không có chủ định. Trong trường hợp này, chiếc tàu vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường về dân sự hoặc xử lý hành chính nhưng không phải là hành vi “gây hại”.

    Cuối cùng, quy định tại điểm l cho phép quốc gia ven biển có đặc quyền trong việc xác định những hành vi không thuộc loại được liệt kê ở các điểm trước đó là hành vi gây hại cũng như việc thu thập và đưa ra chứng cứ. Trên thực tế, những hành vi sau đây thường được coi là những hành vi khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua: đổ, tiêu hủy chất thải trên tàu, phát sóng, treo khẩu hiệu, băng rôn trái với nền tảng tôn giáo hoặc xã hội của quốc gia ven biển, thu nhặt san hô, việc nổi loạn (rebellion),việc ngừng hoặc thả neo ngoài những trường hợp quy định tại Điều 18(2) hay việc đi lại ngoằn ngoèo trong lãnh hải. Mặc dù vậy, việc xác định có hay không sự gây hại theo điểm này phải đảm bảo tinh thần không được cản trở quyền ĐQKGH của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải (Điều24(1)). Hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác có thể bị coi là”gây hại”nếu như chúng không đi nổi và treo cờ quốc tịch hợp pháp (Điều 20). Trái lại, việc các loại tàu như trên tiếp tục đi ngầm khi qua lãnh hải có thể bị coi là vi phạm quyền qua lại vô hại, trong khi luật của một số nước trong trường hợp này có quy định buộc chiếc tàu chấm dứt hành vi và có thể bị tấn công khi cần thiết. Do đó, các quốc gia ven biển có quyền tài phán và chấm dứt quyền qua lại của tàu thuyền nước ngoài nếu chúng vi phạm các luật và quy định của mình trong khi thực hiện quyền qua lại trong lãnh hải. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là quốc gia ven biển có quyền tước bỏ quyền này một cách độc đoán.

    – Phải thực hiện hành trình đi qua lãnh hải một cách liên tục và nhanh chóng, trừ những trường hợp đặc biệt.Đây là nghĩa vụ cơ bản của mọi tàu thuyền khi thực hiện quyền qua lại vô hại. Nghĩa vụ không được thực hiện những hành vi gây hại có nghĩa tàu thuyền nước ngoài có nghĩa vụ không thực hiện những hành vi liệt kê tại Điều 19(2). Sự vi phạm các quy định này sẽ dẫn đến việc đình chỉ quyền đi qua không gây hại và khả năng áp dụng các biện pháp tài phán của quốc gia ven biển khi cần thiết. Ngoài ra, các tàu ngầm và phương tiện đi ngầm khác có nghĩa vụ phải đi nổi và treo cờ quốc tịch hợp pháp (Điều 20). Nghĩa vụ này được áp dụng đối với mọi tàu thuyền với mục đích thương mại hoặc quân sự.

    – Trả lệ phí cho những dịch vụ cụ thể.Điều này không trái với quy định tại Điều 26 quy định quốc gia ven biển không được thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải, trừ những khoản tiền trả công cho những dịch vụ riêng đối với những tàu thuyền này. Điều quan trọng là khi thu lệ phí đó, quốc gia ven biển không được phân biệt đối xử. Các dịch vụ chung không phải trả lệ phí là những dịch vụ cơ bản thiết yếu cung cấp cho mọi tàu thuyền khi đi qua lãnh hải như việc xây dựng các đèn biển, phao cứu hộ, vận hành các thiết bị hỗ trợ hàng hải, quản lý an toàn và giám sát. Các dịch vụ cụ thể đòi hỏi tàu thuyền phải trả lệ phí bao gồm những dịch vụ dành cho các tàu thuyền cụ thể như lai dắt, hoa tiêu, kéo đẩy, sửa chữa khẩn cấp, nạo vét luồng lạch cho những tàu thuyền cụ thể nào đó… Phân loại theo loại tàu thuyền gồm:tuyến hàng hải cho tàu, thuyền thương mại;tuyến hàng hải cho tàu, thuyền quân sự; tàu thuyền chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chở chất phóng xạ, chất độc hại hoặc nguy hiểm khác. Cũng ngay tại Điều 1 của dự thảo đã nói rõ phạm vi điều chỉnh của nghị định là công bố tuyến hàng hải, phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam; tổ chức quản lý, khai thác nhằm phục vụ cho việc ĐQKGH, đảm bảo an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Vì vậy, quy định của Việt Nam về yêu cầu thông báo trước cũng không phải là mới và quá cao trong khu vực. Luật Biển Việt Nam 2012 là một bước chỉnh sửa theo hướng tích cực hơn so với các quy định của pháp luật Việt Nam trước đây.

    Mặt khác Công ước 1982 cũng không có điều khoản nào quy định cấm quốc gia yêu cầu thông báo trước. Theo chúng tôi, bản thân việc yêu cầu thông báo trước không đồng nghĩa với việc tàu thuyền chỉ được qua lại khi đã được phép, nghĩa là việc thông báo khác với xin phép, không làm ảnh hưởng đến quyền qua lại không gây hại của các tàu thuyền. Mục đích của việc thông báo trước chủ yếu là nhằm đảm bảo an toàn hàng hải, đảm bảo quyền, lợi ích cho chính các tàu thuyền di chuyển trong lãnh hải Việt Nam. Đồng thời, việc này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc quản lý, theo dõi các vùng biển của ta. Hơn nữa, lãnh hải được coi như một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia, là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia. Tại vùng biển này, quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm như đối với lãnh thổ trên đất liền. Đây cũng là vùng tiếp giáp với nội thủy nên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển. Do đó mọi hoạt động của tàu thuyền diễn ra trên vùng lãnh hải cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Công ước 1982 cũng không có bất kỳ một quy định riêng nào đề cập đến việc tàu quân sự nước ngoài có quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải mà không phải xin phép hoặc thông báo.

    Tóm lại, những quy định trong LBVN 2012một mặt đã quy định rõ quyền tự do hàng hải đối với tàu thuyền nước ngoài đi qua vùng lãnh hải Việt Nam, mặt khác cũng có những quy định rất chặt chẽ để quyền tự do ấy không làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và trật tự, an toàn, an ninh biển của Việt Nam. Tất cả những quy định này đều phù hợp với quy định trong Công ước 1982, khẳng định rõ thái độ tôn trọng những điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Bởi vậy, LBVN 2012là căn cứ pháp lý quan trọng để các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và trật tự, an toàn, an ninh biển của Việt Nam, trong đó có việc bảo đảm an toàn cho ngư dân bám biển và các doanh nghiệp hoạt động khai thác tài nguyên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

    CHÚ THÍCH

    * Tiến sĩ Luật, giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.

    **Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.

    Chẳng hạn, theo Vattel, “các tàu thuyền không thể bị từ chối đi vào vùng lãnh hải nếu như mục đích của chúng là không hại (innocent) và không có sự nghi ngờ (suspicion) khi mà các nước chủ nhà có trách nhiệm phải dành sự đi qua… khi mà sự đi qua này là không gây hại hoặc nguy hiểm”.Xem Haijiang, Jurisdiction of the Coastal State over Foreign Merchant Ships in Internal Waters and Territorial Sea(Spinger, 2006), tr. 141.

    Xem Haijiang, tr. 145.

    Ví dụ tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật quốc tế năm 1930 đại biểu của Mỹ đã cho rằng “không được coi là qua lại vô hại nếu như chiếc tàu đi qua lãnh hải để vào một cảng biển của một quốc gia khác hoặc rời khỏi cảng biển đó”.Xem LON Doc. C. 251(b). M. 145(b) 1930; Tương tự, đại biểu của Vương quốc Anh cho rằng”qua lại vô hại là quyền của một chiếc tàu nước ngoài không đi đến hoặc xuất phát từ cảng biển của một quốc gia và đi qua lãnh hải của một quốc gia ven biển với mục đích duy nhất là đi qua vùng lãnh hải đó”. Xem Rosenne (ed.), League of Nations Conference for the Codification of International law Xem Haijiang, tr. 152.

    Chẳng hạn, Điều 3(2) Dự thảo năm 1930 định nghĩa sự gây hại là “…thực hiện các hành vi làm phương hại đến an ninh, chính sách công hoặc những lợi ích tài chính của quốc gia đó”. Điều 14(4) của Công ước 1958 định nghĩa “việc qua lại được coi là vô hại nếu như nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc qua lại này phải được thực hiện phù hợp với những điều khoản này và những quy tắc khác của luật quốc tế”.

    ICJ Reports, tr. 28 – 32.

    Nandan/Rosenne, tr. 169.

    Chẳng hạn như các tài liệu quy định bởi các điều ước về môi trường như SOLAS 1974; MARPOL 73/78 hoặc các quy tắc (Code) do IMO ban hành như Code for the Construction and Equipment of Ships Carrying Dangerous Chemicals in Bulk (IBC), the Code for the Construction and Equipment of Ships Carrying Liquefied Gases in Bulk (IGC), the International Maritime Dangerous Goods (IMDG) Code, the Code of Safety for Nuclear Merchant Ships and the International Safety Management (ISM) Code…

    Xem tlđd, tr. 179.

    Dự thảo Nghị định quy định về việc công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam 2013.

    [20] Dự thảo 2013.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Đóng Chiến Hạm Tàng Hình Tên Lửa Kalibr Và Shtil
  • Chương 3. Tàu Quân Sự Nước Ngoài Đến Việt Nam Để Sửa Chữa
  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Thừa Thiên
  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Quảng Trị: Tổ Chức Lễ Khánh Thành Nhà Khách Tình Nghĩa Thành Cổ Quảng Trị.
  • Dấu Ấn Lớn Của Công Tác Tư Tưởng Trong Quân Đội (Bài 1)
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Quyền Đi Qua Không Gây Hại Của Tàu Thuyền Nước Ngoài Trong Lãnh Hải trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100