Đề Xuất 12/2022 # Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoạt động nghiệp vụ tại Kho bạc Nhà nước Hưng Yên. Ảnh Thuỳ Linh.

Quyết định 1618/QĐ-BTC nêu rõ, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt và hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước; Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra các Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp huyện) thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quy định.

Đối với nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ tài chính nhà nước theo quy định của pháp luật, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh cần tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định của pháp luật; Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyết định của cấp có thẩm quyền, quản lý tiền, tài sản, ấn chỉ đặc biệt, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.

Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện chương trình hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà nước; cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.

Cơ cấu tổ chức

Theo Quyết định này của Bộ Tài chính, các phòng chức năng tham mưu, giúp việc Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, gồm có: Phòng Kế toán nhà nước; Phòng Kiểm soát chi; Phòng Thanh tra – Kiểm tra; Phòng Tài vụ – Quàn trị; Văn phòng.

Riêng Kho bạc Nhà nước Hà Nội được tổ chức 3 Phòng Kiểm soát chi, Kho bạc Nhà nước TP. Hồ Chí Minh được tổ chức 2 Phòng Kiểm soát chi.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/ 2019.

Thùy Linh

Quyết Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Của Kho Bạc Nhà Nước Số 26/2015/Qđ / 2023

Cơ cấu tổ chức của kho bạc nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kho bạc nhà nước

Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của kho bạc nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Quyết định này được Thủ tướng chính phủ ban hành, xét theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 8 năm 2015.

QUYẾT ĐỊNHQUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002; Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Điều 1. Vị trí và chức năng

1. Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật.

2. Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật, có trụ sở tại thành phố Hà Nội.

Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn

Kho bạc Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để:

a) Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các nghị quyết, dự án, đề án theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

b) Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, chiến lược, quy hoạch, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng thuộc lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước.

2. Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định:

a) Dự thảo thông tư và các văn bản khác về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước;

b) Kế hoạch hoạt động hàng năm của Kho bạc Nhà nước.

3. Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước.

4. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.

5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước.

6. Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước được giao theo quy định của pháp luật:

a) Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; thực hiện hạch toán số thu ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;

c) Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của ngân sách nhà nước, định kỳ công bố tỷ giá hạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ;

d) Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước do Kho bạc Nhà nước quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

đ) Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước.

7. Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

8. Tổ chức thực hiện kế toán ngân sách nhà nước:

a) Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản viện trợ, vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật;

c) Tổng hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Bộ Tài chính để trình Chính phủ theo quy định của pháp luật.

9. Tổ chức thực hiện tổng kế toán nhà nước:

a) Tiếp nhận thông tin báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán thuộc khu vực nhà nước theo quy định của pháp luật;

b) Tổng hợp thông tin tài chính nhà nước về tình hình tài sản nhà nước; nguồn vốn và nợ phải trả của Nhà nước; tình hình hoạt động, kết quả thu, chi ngân sách nhà nước; vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và các tài sản, nguồn lực, nghĩa vụ khác của Nhà nước;

c) Lập báo cáo tài chính nhà nước trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương, báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

10. Tổ chức thực hiện công tác thống kê kho bạc nhà nước và chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật.

11. Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ nhà nước tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống:

a) Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản đối với tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước;

b) Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi, thanh toán của Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật;

c) Được sử dụng ngân quỹ nhà nước để tạm ứng cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

d) Xây dựng và phát triển hệ thống các công cụ, nghiệp vụ quản lý hiện đại theo nguyên tắc đảm bảo an toàn và hiệu quả ngân quỹ nhà nước.

12. Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ.

13. Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc.

14. Thanh tra chuyên ngành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của Kho bạc Nhà nước; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật.

15. Hiện đại hóa hoạt động Kho bạc Nhà nước:

a) Xây dựng cơ chế, chính sách và quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam;

b) Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hóa cơ sở vật chất của hệ thống Kho bạc Nhà nước.

16. Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực kho bạc nhà nước theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.

17. Thực hiện công tác tổ chức và cán bộ:

a) Xây dựng tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu cải cách về cơ chế, chính sách và hiện đại hóa công nghệ quản lý;

b) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.

18. Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và tài sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.

19. Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt.

20. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Cơ cấu tổ chức

Kho bạc Nhà nước được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất.

1. Cơ quan Kho bạc Nhà nước ở Trung ương:

a) Vụ Tổng hợp – Pháp chế;

b) Vụ Kiểm soát chi;

c) Vụ Kho quỹ;

d) Vụ Hợp tác quốc tế;

đ) Vụ Thanh tra – Kiểm tra;

e) Vụ Tổ chức cán bộ;

g) Vụ Tài vụ – Quản trị;

h) Văn phòng;

i) Cục Kế toán nhà nước;

k) Cục Quản lý ngân quỹ;

l) Cục Công nghệ thông tin;

m) Sở Giao dịch Kho bạc Nhà nước;

n) Trường Nghiệp vụ Kho bạc;

o) Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia.

Các tổ chức quy định từ Điểm a đến Điểm m Khoản này là tổ chức hành chính giúp Tổng Giám đốc thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổ chức quy định tại Điểm n và Điểm o là tổ chức sự nghiệp.

2. Cơ quan Kho bạc Nhà nước ở địa phương:

a) Kho bạc Nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh) trực thuộc Kho bạc Nhà nước.

b) Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp huyện) trực thuộc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.

Kho bạc Nhà nước được tổ chức điểm giao dịch tại các địa bàn có khối lượng giao dịch lớn theo quy định của pháp luật.

Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, Kho bạc Nhà nước cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật.

3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Kho bạc Nhà nước.

Điều 4. Lãnh đạo

1. Kho bạc Nhà nước có Tổng Giám đốc và không quá 03 Phó Tổng Giám đốc.

2. Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của pháp luật.

3. Tổng Giám đốc là người đứng đầu Kho bạc Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Kho bạc Nhà nước. Phó Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.

Điều 5. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành

1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 8 năm 2015. Bãi bỏ Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.

2. Số lượng Phó Tổng Giám đốc của Kho bạc Nhà nước được thực hiện theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ cho đến khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định khác.

3. Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

Kho Bạc Nhà Nước Không Ngừng Hoàn Thiện Chức Năng, Nhiệm Vụ / 2023

Qua đó khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính công. Trong mỗi giai đoạn phát triển của Kho bạc Nhà nước, việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực luôn được đặt vào vị trí đặc biệt, được xem là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tạo nền móng thực hiện cải cách, đổi mới góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước.

Kho bạc Nhà nước không ngừng hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ

Hệ thống Kho bạc Nhà nước được tái thành lập, đi vào hoạt động từ ngày 01/4/1990 với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như quản lý quỹ ngân sách nhà nước, huy động và quản lý các nguồn vốn vay và trả nợ dân và tổ chức công tác kế toán ngân sách nhà nước.

Để đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu chung phát triển kinh tế, xã hội của đất nước do Đảng và Nhà nước đề ra, từ khi tái thành lập đến nay, Kho bạc Nhà nước đã có 04 lần sửa đổi, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ để thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ do Chính phủ, Bộ Tài chính giao, cụ thể:

– Ngày 05/4/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/CP hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Chức năng, nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách nhà nước của hệ thống Kho bạc Nhà nước có sự phát triển mang tính bước ngoặt về chất cùng với sự ra đời của Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 có hiệu lực từ năm ngân sách 1997.

– Ngày 13/11/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 235/2003/ QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính thực hiện chức năng cơ bản là: Quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước; huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển. Giai đoạn này, việc sửa đổi chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu và quy định mới của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, có hiệu lực từ năm ngân sách 2004.

– Ngày 26/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2009/QĐ- TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bên cạnh các chức năng đã có, Kho bạc Nhà nước được giao thực hiện thêm các chức năng quản lý ngân quỹ và chức năng tổng kế toán nhà nước.

– Ngày 08/7/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước được bổ sung nhóm nhiệm vụ về tổng hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước và cụ thể hóa nhóm nhiệm vụ để thực hiện chức năng tổng kế toán nhà nước.

Có thể thấy, với chức năng, nhiệm vụ ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn hội nhập, phát triển và hiện đại hóa, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã khẳng định vị thế không thể thiếu được trong nền tài chính công góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Chủ động kiện toàn, sắp xếp, tinh gọn bộ máy đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Ngay từ khi mới thành lập, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính đến cấp huyện, phù hợp với tổ chức bộ máy của nền hành chính nhà nước và tổ chức của hệ thống chính trị ở Việt Nam.

– Giai đoạn từ tháng 01/1990 đến tháng 3/1995: Tại Kho bạc Nhà nước (giai đoạn này gọi là Cục Kho bạc Nhà nước) có 16 phòng chức năng; tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh (giai đoạn này gọi là Chi cục Kho bạc Nhà nước) có 07 phòng chức năng; tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện (giai đoạn này gọi là Chi nhánh Kho bạc Nhà nước) có 04 tổ nghiệp vụ.

– Giai đoạn từ tháng 4/1995 đến tháng 10/2003: Tại Kho bạc Nhà nước có 12 vụ chức năng (giảm 04 đơn vị so với giai đoạn trước), đổi tên từ phòng thành vụ; tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có 08 phòng chức năng (tăng 01 phòng so với giai đoạn trước); tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện vẫn giữ nguyên 04 đơn vị nghiệp vụ nhưng đổi tên từ tổ sang bộ phận; lúc này không gọi là điểm thu như giai đoạn trước mà được gọi là điểm giao dịch.

– Giai đoạn từ tháng 11/2003 đến tháng 9/2009: Tại Kho bạc Nhà nước có 13 ban (tăng 01 đơn vị so với giai đoạn trước), đổi tên từ vụ thành ban, trong đó có 03 đơn vị sự nghiệp; tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh và Kho bạc Nhà nước cấp huyện vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức như giai đoạn từ tháng 4/1995 đến tháng 10/2003.

– Giai đoạn từ tháng 10/2009 đến tháng 9/2015: Tại Kho bạc Nhà nước có 15 đơn vị (tăng 02 đơn vị so với giai đoạn trước), đổi tên từ ban thành vụ, trong đó có 12 đơn vị hành chính, 02 đơn vị sự nghiệp; 01 Văn phòng Ban Triển khai TABMIS; tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh mỗi đơn vị có 10 phòng chức năng (tăng 02 phòng so với giai đoạn trước); tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện chỉ còn 03 tổ nghiệp vụ. Đối với những địa bàn có hoạt động giao dịch lớn, duy trì các điểm giao dịch thường xuyên trong trụ sở; điểm giao dịch thường xuyên, không thường xuyên ngoài trụ sở.

Như vậy, trong giai đoạn này, hệ thống Kho bạc Nhà nước có tổng số 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh được tổ chức thành 614 phòng và 666 Kho bạc Nhà nước cấp huyện với 1.998 cấp tổ.

– Giai đoạn từ tháng 10/2015 đến tháng 9/2017: Tại Kho bạc Nhà nước có 14 đơn vị (giảm 01 đơn vị là Văn phòng Ban Triển khai TABMIS), trong đó có 12 đơn vị hành chính, 02 đơn vị sự nghiệp; tại 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh được tổ chức thành 491 phòng (giảm 123 phòng so với giai đoạn trước); tại 666 Kho bạc Nhà nước cấp

– huyện có 1.332 cấp tổ (giảm 666 tổ so với giai đoạn trước). Giai đoạn này, chỉ duy trì các điểm giao dịch thường xuyên ngoài trụ sở, giải thể các điểm giao dịch thường xuyên trong trụ sở và các điểm giao dịch không thường xuyên ngoài trụ sở.

– Giai đoạn từ tháng 10/2017 đến tháng 5/2018: Tại Kho bạc Nhà nước vẫn giữ nguyên 14 đơn vị như giai đoạn trước; tại 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh được tổ chức thành 489 phòng chức năng (giảm 02 phòng so với giai đoạn trước); tại 666 Kho bạc Nhà nước cấp huyện chỉ duy trì có 48 phòng (cấp tổ) thuộc Kho bạc Nhà nước quận trực thuộc Kho bạc Nhà nước Hà Nội và Kho bạc Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh, các Kho bạc Nhà nước cấp huyện còn lại làm việc theo chế độ chuyên viên.

– Giai đoạn từ tháng 6/2018 đến nay – giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả: Tại Kho bạc Nhà nước vẫn giữ nguyên 14 đơn vị như giai đoạn trước; tại 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh được tổ chức thành 318 phòng (giảm 43 Phòng Giao dịch và 128 phòng chức năng); tại 651 Kho bạc Nhà nước cấp huyện (giảm 15 Kho bạc Nhà nước cấp huyện so với giai đoạn trước) không tổ chức mô hình phòng, làm việc theo chế độ chuyên viên (giảm 48 phòng thuộc Kho bạc Nhà nước quận trực thuộc Kho bạc Nhà nước Hà Nội và Kho bạc Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh).

Như vậy, với sự đồng thuận và quyết tâm cao của toàn hệ thống, Kho bạc Nhà nước đã chủ động kiện toàn, sắp xếp, tinh gọn bộ máy đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo đúng chủ trương chung của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

Luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao

Cùng với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cải cách quy trình nghiệp vụ gắn với hiện đại hóa công nghệ quản lý, hệ thống Kho bạc Nhà nước luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, thông qua việc thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách, công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và kế hoạch cụ thể từng năm, kết hợp nhiều phương thức và hình thức đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ công chức, viên chức hệ thống.

Trong giai đoạn đầu thành lập và đi vào hoạt động, chất lượng đội ngũ công chức Kho bạc Nhà nước còn nhiều bất cập. Với tổng số gần 7.500 cán bộ, nhân viên từ hai ngành Tài chính và Ngân hàng chuyển sang Kho bạc Nhà nước, chỉ có 16,7% công chức có trình độ đại học trở lên, 43,3% có trình độ trung học, còn lại 40% chỉ mới đào tạo bậc sơ cấp hoặc chưa đào tạo về chuyên môn. Đến nay, đội ngũ công chức

Kho bạc Nhà nước đang ngày càng được củng cố, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ công chức, viên chức đều có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường tư tưởng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn được đào tạo cơ bản, có trình độ tin học, ngoại ngữ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, có kiến thức pháp luật. Đến nay, có tới hơn 84,26% công chức, viên chức có trình độ đại học và trên đại học, trong đó, công chức, viên chức có trình độ cao đẳng, trung cấp trở xuống chiếm 15,74%. Bên cạnh lớp thế hệ công chức Kho bạc đã trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm, gắn bó và cống hiến nhiều năm cho ngành, Kho bạc Nhà nước có một đội ngũ công chức trẻ, nhiệt huyết, được đào tạo chính quy, năng động, tự tin, có trình độ và kỹ năng khá chuyên nghiệp.

Có được đội ngũ cán bộ đạt chất lượng như vậy là do Kho bạc Nhà nước đã có quy trình đào tạo cán bộ thường xuyên và đều khắp thông qua các hình thức đào tạo dài hạn cho các cán bộ chuyên sâu; đào tạo ngắn hạn cho cán bộ đi luân chuyển; đào tạo tiền công vụ cho cán bộ mới tuyển dụng. Từ năm 2011 đến nay, Kho bạc Nhà nước đã chủ động cử 2.160 công chức đi đào tạo đại học; 1.340 công chức đi đào tạo sau đại học; 3.400 công chức tham gia bồi dưỡng lý luận chính trị; 5.200 công chức tham gia bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước; 2.490 công chức tham gia bồi dưỡng kiến thức lãnh đạo, quản lý; 2.600 công chức mới tuyển dụng tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kho bạc; 1.700 công chức tham gia bồi dưỡng ngoại ngữ; 15.600 lượt công chức tham gia bồi dưỡng tin học. Song song với đó, Kho bạc Nhà nước cũng khẩn trương triển khai công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ công chức làm nhiệm vụ thừa hành (kiểm ngân, thủ quỹ) để tạo điều kiện cho việc bố trí, sắp xếp lại nhân lực phù hợp với việc sắp xếp tinh gọn bộ máy. Ngoài việc cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước, Kho bạc Nhà nước đã cử nhiều lượt công chức có trình độ chuyên môn cơ bản đi đào tạo chuyên sâu tại nước ngoài về quản lý ngân quỹ, kế toán nhà nước, an toàn thông tin,… Sau khóa học, các công chức, viên chức đã vận dụng những kiến thức được học vào việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, trong đó nhiều trường hợp đã được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo phù hợp.

Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác luân chuyển, điều động chính là một trong những hình thức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có hiệu quả, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, thuộc đối tượng cán bộ nguồn, cán bộ thuộc diện quy hoạch. Kho bạc Nhà nước đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02 NQ/BCSĐ ngày 10/10/2014 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về công tác luân chuyển, luân phiên, điều động và định kỳ chuyển đổi vị trí công tác gắn liền với công tác sắp xếp lại, tinh gọn tổ chức bộ máy ở cả 3 cấp, cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện; từ công chức giữ chức vụ lãnh đạo đến công chức làm nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ; luân chuyển, điều động từ Kho bạc Nhà nước tỉnh này sang Kho bạc Nhà nước tỉnh khác, luân chuyển, điều động từ Trung ương về địa phương và ngược lại. Tính đến nay, đã có hàng chục lượt Giám đốc, Phó Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương, hàng ngàn lượt công chức là Trưởng phòng, Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp huyện đã được luân chuyển, luân phiên để đào tạo, bồi dưỡng.

Cùng với việc luân chuyển, điều động công chức trong toàn hệ thống, công tác quản lý biên chế và tinh gọn đội ngũ công chức hệ thống Kho bạc Nhà nước cũng được rà soát và tổ chức thực hiện đồng bộ. Theo đó, Kho bạc Nhà nước rà soát đưa ra khỏi biên chế những công chức dôi dư do sắp xếp tổ chức bộ máy, được đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ hoặc hoàn thành nhiệm vụ, nhưng còn hạn chế về năng lực theo đúng quy định, đáp ứng yêu cầu tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tính đến hết năm 2019, biên chế công chức của hệ thống Kho bạc Nhà nước đã cắt giảm được 1.155 người (đạt 7,4%) so với năm 2015 (đạt 74% kế hoạch đến năm 2021). Số trường hợp thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ 6 tháng cuối năm 2015 đến nay, tinh giản được gần 160 trường hợp do năng lực còn hạn chế, sức khỏe không đảm bảo (đạt tỷ lệ gần 66% so với kế hoạch tinh giản biên chế đến năm 2021).

Mặt khác, Kho bạc Nhà nước còn đặc biệt chú trọng đến công tác tuyển dụng đầu vào. Từ năm 2010 đến nay, Kho bạc Nhà nước đã tổ chức được 07 kỳ thi tuyển, xét tuyển, bổ sung gần 3000 công chức cho hệ thống Kho bạc Nhà nước. Về cơ bản nguồn công chức tuyển dụng mới đáp ứng tốt nhiệm vụ chuyên môn cũng như bù đắp kịp thời cho số công chức giảm hàng năm trong hệ thống. Tiêu chuẩn, điều kiện tuyển dụng ngày càng được nâng cao nhằm đáp ứng với yêu cầu công việc cũng như từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống. Đối với ngạch nhân viên, Kho bạc Nhà nước đã hạn chế tối đa việc tuyển dụng mới nhằm tiếp tục sắp xếp khi đồng bộ triển khai hiện đại hóa các quy trình nghiệp vụ.

Với mục tiêu phát triển con người là toàn diện, Kho bạc Nhà nước đã triển khai tốt chế độ chính sách, kịp thời động viên, khích lệ công chức, viên chức trong toàn hệ thống yên tâm công tác, bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá, nâng lương, nâng ngạch, chuyển ngạch cho cán bộ, công chức đã được tiến hành thường xuyên, theo đúng quy trình và đơn giản hóa thủ tục, đảm bảo quyền lợi chung của cán bộ.

Nhìn lại những năm qua, có thể khẳng định rằng, công tác xây dựng hệ thống Kho bạc Nhà nước với trọng tâm là kiện toàn bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn gắn với hiện đại hóa công nghệ quản lý và quy trình nghiệp vụ đi đôi với phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, có tính chuyên nghiệp cao đã được triển khai mạnh mẽ, toàn diện với tư duy sáng tạo và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thành tích chung của ngành Tài chính. Toàn thể công chức, viên chức hệ thống Kho bạc Nhà nước sẽ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, chung sức, chung lòng cùng nhau xây dựng và phát triển hệ thống Kho bạc Nhà nước ngày càng vững mạnh./.

P.V

Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Cơ Quan Bhxh Cấp Tỉnh, Cấp Huyện / 2023

Ngày 4/10/2016, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh đã ký ban hành Quyết định số 1414/QĐ-BHXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH cấp tỉnh, cấp huyện.

Theo đó, BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại tỉnh.

BHXH tỉnh có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BH thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BH thất nghiệp, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BH thất nghiệp, BHYT trên địa bàn tỉnh.

BHXH tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng; chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Giám đốc và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh.

BHXH tỉnh có tối đa 3 Phó Giám đốc

BHXH tỉnh có 18 chức năng nhiệm vụ chính, trong đó có chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp được giao theo Luật BHXH (sửa đổi) như: Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, trên địa bàn tỉnh; gửi kế hoạch thanh tra để báo cáo BHXH Việt Nam, UBND tỉnh, Thanh tra cấp tỉnh. Thanh tra đột xuất khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp trên địa bàn tỉnh hoặc khi được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam giao; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đóng BHXH, BH thất nghiệp, BHYT theo quy định…

Bên cạnh đó, BHXH tỉnh cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BH thất nghiệp trên địa bàn…

BHXH tỉnh do Giám đốc quản lý, điều hành theo chế độ thủ trưởng; giúp Giám đốc có các Phó Giám đốc. Giám đốc và các Phó Giám đốc BHXH tỉnh do Tổng Giám đốc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, khen thưởng và kỷ luật. Số lượng Phó Giám đốc BHXH tỉnh không quá 3 người; riêng BHXH TP.Hà Nội và BHXH TP.Hồ Chí Minh không quá 4 người.

Về cơ cấu tổ chức, BHXH tỉnh có Văn phòng và 11 phòng gồm: Phòng Chế độ BHXH; Phòng Giám định BHYT; Phòng Quản lý thu; Phòng Khai thác và thu nợ; Phòng Cấp sổ, thẻ; Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Kế hoạch- Tài chính; Phòng Thanh tra- Kiểm tra; Phòng Công nghệ thông tin; Phòng Tiếp nhận và Trả kết quả thủ tục hành chính.

BHXH TP.Hà Nội và BHXH TP.Hồ Chí Minh được thành lập thêm Phòng Quản lý hồ sơ và Phòng Tuyên truyền; đồng thời, tách Phòng Giám định BHYT thành Phòng Giám định BHYT 1 và Phòng Giám định BHYT 2.

Thành lập các Tổ nghiệp vụ tại BHXH huyện

Theo Quyết định 1414/QĐ-BHXH, BHXH huyện là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc BHXH tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT; quản lý thu, chi BHXH, BH thất nghiệp, BHYT trên địa bàn theo quy định. BHXH huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc BHXH tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của UBND huyện.

BHXH huyện có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của BHXH Việt Nam và BHXH tỉnh.

BHXH huyện được thành lập không quá 5 Tổ nghiệp vụ. Tổ Nghiệp vụ thuộc BHXH huyện do Giám đốc BHXH tỉnh quyết định thành lập sau khi được Tổng Giám đốc phê duyệt. Tổ Nghiệp vụ có chức năng giúp Giám đốc BHXH huyện thực hiện các nhiệm vụ được giao đối với từng lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Tổng Giám đốc.

Quyết định 1414/QĐ-BHXH có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 99/QĐ-BHXH ngày 28/01/2015 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương.

PTH

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Kho Bạc Nhà Nước Cấp Tỉnh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!