Quản Trị Rủi Ro Tài Chính Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam

Xem 2,376

Cập nhật thông tin chi tiết về Quản Trị Rủi Ro Tài Chính Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam mới nhất ngày 13/04/2021 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 2,376 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Quản Trị Rủi Ro Tài Chính Cho Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Rủi Ro Tài Chính Là Gì? Cách Ngăn Ngừa Và Xử Lý Rủi Ro
  • Rủi Ro Tài Chính Là Gì? Phân Tích Rủi Ro Tài Chính Của Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Nhận Diện Rủi Ro Tài Chính Và Giải Pháp Ổn Định An Ninh Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Nhân Viên Tư Vấn Giải Pháp Tài Chính Khách Hàng Cá Nhân Tuyển Dụng Tại Công Ty Tnhh Bhnt Prudential Việt Nam
  • Tiếp cận từ việc phân tích môi trường kinh doanh của DN, có thể thấy RRTC của DN xuất phát từ 3 nguồn cơ bản sau: (i) Môi trường bên trong DN; (ii) Môi trường ngành; (iii) Môi trường kinh tế vĩ mô. Từ tiếp cận đó, có thể hình dung cấu trúc RRTC cơ bản của DN như sau:

    Các loại RRTC có thể tương tác với nhau, làm tăng nguy cơ và tổn thất cho DN. Ví dụ: RRTD có thể làm trầm trọng rủi ro thanh khoản và rủi ro phá sản; các rủi ro do nguồn ngoại sinh cũng có thể kết hợp với nhau tạo nên những nguy cơ lớn hơn và tổn thất dự kiến cao hơn. Do đó, các giải pháp quản trị RRTC cần được thiết kế một cách có hệ thống, bám sát cấu trúc rủi ro của DN.

    Nhận diện các loại rủi ro tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam

    Hiện nay, có rất nhiều loại RRTC của DN nhưng chủ yếu tập trung vào các loại RRTC sau:

    – Rủi ro thanh khoản: Ngoại trừ các ngành Chứng khoán, Công nghệ viễn thông, Dịch vụ du lịch, Giáo dục, Hàng không, Dầu khí, Phân bón, Thực phẩm và Vận tải có hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 1, còn các ngành nghề khác đều có nguy cơ về khả năng thanh toán. Trong đó, các DN khoáng sản, thép và vật liệu xây dựng có các chỉ số thanh khoản thấp trong cả giai đoạn 2012-2016 (Hình 2).

    – Rủi ro phá sản: Xu hướng sử dụng đòn bẩy tài chính cũng khác nhau giữa các ngành, có những ngành tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu ổn định ở mức cao như bất động sản, có những ngành thể hiện xu hướng tăng đòn bẩy như cao su, nhựa-bao bì, thủy sản và có những ngành giảm sử dụng đòn bẩy tài chính như thép, dầu khí, xây dựng, mặc dù tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu vẫn ở mức khá cao. Rủi ro phá sản có thể được nhận dạng bằng mô hình Z-score.

    Để xác định mức độ tin cậy của của mô hình này tại Việt Nam, nhóm tác giả Lê Cao Hoàng Anh và Nguyễn Thu Hằng đã tiến hành kiểm định chỉ số Z với mẫu nghiên cứu gồm 293 DN niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Kết quả kiểm định cho thấy, mô hình của Alhman rất hiệu quả với tỷ lệ dự báo chính xác đạt 91% tại thời điểm một năm trước khi DN kiệt quệ tài chính, tỷ lệ này giảm xuống còn 72% trong vòng hai năm.

    Nhiều ngành đang sử dụng đòn bẩy tài chính cao như bất động sản, hàng không, năng lượng, thép, thương mại, thủy sản và các DN ngành Xây dựng. Đặc biệt, có những ngành tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu ổn định ở mức cao như bất động sản và có những ngành thể hiện xu hướng tăng đòn bẩy như cao su, nhựa – bao bì, thủy sản (Hình 3).

    Các dữ liệu tổn thất quá khứ cho thấy, rủi ro hối đoái nghiệp vụ có thể tạo ra những tổn thất lớn cho DN. Ví dụ như: Cuối năm 2014, Công ty cổ phần Gemadept có khoản nợ bằng ngoại tệ khoảng 46,7 triệu USD, dẫn tới lợi nhuận ròng của Gemadept giảm khoảng 15 tỷ đồng khi tỷ giá tăng 2% (Lan, 2021). Các DN xuất khẩu kỳ vọng hưởng lợi từ biến động tăng giá ngoại tệ, thì trong điều kiện công nghiệp phụ trợ hiện còn yếu, lợi thế từ xuất khẩu thu ngoại tệ cũng bị trung hòa phần lớn bởi việc nhập khẩu các yếu tố đầu vào. Đồng thời, việc duy trì tỷ giá VND/USD không tăng nhiều qua các năm, trong điều kiện lạm phát đối với VND so với USD có sự chênh lệch lớn hơn, dẫn tới VND được định giá cao so với USD (theo ngang giá sức mua). Theo nguyên lý, điều này gây ra rủi ro hối đoái kinh tế đối với các DN xuất khẩu của Việt Nam.

    – Rủi ro tín dụng: Có thể được nhận dạng qua Z-score (Altman, 2012). Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, mô hình của Altman có tỷ lệ dự báo chính xác đạt 91% tại thời điểm một năm trước khi DN kiệt quệ tài chính và đạt 72% trong vòng hai năm (Lan, 2021). Kết quả kiểm định này gần như tương đồng với kết quả kiểm định tại các thị trường mới nổi khác như Mexico, Thái Lan. Dữ liệu tính toán Z-score đối với các DN niêm yết tại Bảng 1 cho thấy, hiểm họa tổn thất do RRTD nếu chấp nhận bán chịu cho các DN có Z-score quá thấp (dưới mức 1.8 đối với các công ty cổ phần).

    Dữ liệu tổn thất quá khứ cũng cho thấy, RRTD đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho DN. Ví dụ như Công ty cổ phần Cadovimex (CAD), do để khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều gây ra thua lỗ liên tiếp, nên năm 2012 DN thuỷ sản này đã huỷ niêm yết trên sàn HOSE. Nhiều cuộc khảo sát cũng cho thấy, việc thu hồi nợ luôn là một trong những mối quan ngại hàng đầu của các nhà quản trị DN tại Việt Nam.

    Giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tài chính tại doanh nghiệp

    Để hạn chế các loại RRTC của các DN Việt Nam hiện nay, trong thời gian tới, các DN cần triển khai các giải pháp sau:

    Thứ nhất, thiết lập bộ phận quản trị RRTC. Các DN Việt Nam có thể cân nhắc những lựa chọn gồm (i) Thành lập bộ phận quản trị RRTC thuộc phòng quản trị rủi ro; (ii) Thành lập bộ phận quản trị RRTC thuộc phòng quản trị tài chính; (iii) Bổ sung chức năng quản trị RRTC cho các bộ phận quản trị hiện có; (iv) Sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị RRTC. Việc lựa chọn mô hình quản trị RRTC nào là tùy thuộc vào quy mô DN, năng lực và phong cách của nhà quản trị. Đồng thời, cần tăng cường hoạt động của các câu lạc bộ, các hiệp hội, diễn đàn các nhà quản trị để tăng cường hiệu quả truyền thông phương pháp, kỹ năng và kinh nghiệm quản trị RRTC DN.

    Thứ hai, về tiến trình quản trị RRTC, nhà quản trị cần tuân thủ các bước sau:

    – Bước 1: Xác định mục tiêu của DN: Nhà quản trị dựa vào mục tiêu để đề ra các mục tiêu và chỉ tiêu của quản trị RRTC tổng thể hay cho từng chương trình hành động, từng thương vụ.

    – Bước 2: Đánh giá RRTC toàn diện: Bao gồm nhận dạng RRTC, đánh giá tác động qua lại giữa các RRTC, đánh giá tổn thất dự kiến và phân tích chuỗi rủi ro (Merkhofer, 1987).

    – Bước 3: Kiểm soát RRTC: Tập trung vào các hoạt động né tránh RRTC, ngăn chặn hay giảm thiểu tổn thất do RRTC gây ra cho DN.

    – Bước 5: Quản trị chương trình hành động: Yếu tố này thiết lập các chương trình và quy trình nghiệp vụ mà hoạt động quản trị RRTC hàng ngày phải tuân thủ. Việc xây dựng chương trình, quy trình thủ tục, kết hợp với quản trị chất lượng toàn diện (TQM)sẽ đảm bảo quản trị RRTC một cách toàn diện.

    Từ các bước về quản trị RRTC của DN nêu trên có thể thấy, không tạo ra một quy trình cứng nhắc, mà trên thực tế thứ tự các nội dung có thể thay đổi, xen kẽ, thậm chí hợp nhất tùy theo điều kiện của DN và các diễn biến về nguồn rủi ro.

    Thứ ba, về nhận dạng RRTC, các nhà quản trị DN có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau như: Sử dụng bảng liệt kê; Phân tích báo cáo tài chính; Giao tiếp trong nội bộ tổ chức; Giao tiếp với các tổ chức chuyên nghiệp; Phân tích hợp đồng; Nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ. Tuy nhiên, trước hết, cần quan tâm tới các dấu hiệu nhận dạng RRTC cơ bản (rủi ro thanh khoản, phá sản, rủi ro hối đoái…) được thể hiện cụ thể ở bảng 2.

    Có thể thấy, tình hình tài chính nội tại của DN, diễn biến môi trường ngành và môi trường vĩ mô đều cho thấy, những dấu hiệu rõ rệt của RRTCDN. Tại Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị rủi ro và giá trị DN (Lan, 2021). Mặc dù các dịch vụ tài chính tại Việt Nam đã phát triển khá đa dạng nhưng nhiều nhà quản trị DN còn xa lạ với các kỹ thuật quản trị RRTC. Không ít nhà quản trị vẫn coi RRTC là do sự kém may mắn, hoặc cho rằng RRTC không trực tiếp đe dọa DN của mình, cho đến khi DN thực sự có tổn thất do RRTC.

    Với sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, sự tham gia của giới nghiên cứu, sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan truyền thông và hơn hết là sự chủ động học hỏi không ngừng của các nhà quản trị DN, năng lực quản trị RRTC của cộng đồng doanh nhân Việt Nam sẽ từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu quản trị DN trong bối cảnh môi trường kinh doanh không ngừng biến động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Cho Thuê Tài Chính Máy Thi Công Xây Dựng Tại Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tài Chính Tại Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Dịch Vụ Tài Chính Việt Nam
  • Thị Trường Tài Chính Việt Nam Đầu Năm 2021 Và Những Giải Pháp Đề Xuất
  • Thị Trường Tài Chính Xanh Tại Việt Nam: Thực Trạng, Kinh Nghiệm Quốc Tế Và Giải Pháp
  • Bạn đang xem bài viết Quản Trị Rủi Ro Tài Chính Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!