Đề Xuất 12/2022 # Quản Lý Vật Tư Và Hiệu Quả Của Quản Lý Vật Tư Trong Nền Kinh Tế Thị Trường / 2023 # Top 21 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Quản Lý Vật Tư Và Hiệu Quả Của Quản Lý Vật Tư Trong Nền Kinh Tế Thị Trường / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quản Lý Vật Tư Và Hiệu Quả Của Quản Lý Vật Tư Trong Nền Kinh Tế Thị Trường / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vật tư kỹ thuật là sản phẩm của lao động được dùng để sản xuất : nguyên liệu, vật liệu… thiết bị, máy móc, bán thành phẩm. Có thể một sản phẩm của Doanh nghiệp này lại là loại nguyên liệu của Doanh nghiệp khác. Vì mỗi vật có những thuộc tính khác nhau và chính như thực hiệnế nó sẵn sàng có thể dùng cho nhiều việc, cho nên cùng một sản phẩm có thể dùng làm sản phẩm tiêu dùng hay dùng làm vật tư kỹ thuật. Bởi vậy, trong mọi trường hợp cần phải căn cứ vào công dụng cuối cùng của sản phẩm để xem xét nó là vật tư kỹ thuật hay là sản phẩm tiêu dùng đích thực.4

Phân loại vật tư kỹ thuật

– Theo công dụng:

Là những loại vật tư được phân loại theo công dụng và tính chất của nó trong quy trình sử dụng:

-Nhóm1 gồm: nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm

-Nhóm2 gồm: thiết bị máy móc công cụ , dụng cụ…

– Theo sự di chuyển giá trị vào thành phẩm

-Nhóm 1: nhóm vật tư chuyển một lần vào giá trị sản phẩm

-Nhóm 2 : nhóm vật tư chuyển từng phần váo sản phẩm .

– Phân theo tầm quan trọng của vật tư

Chia theo vật tư chính và vật tư phụ (Được xác định theo giá trị của vật tưvà cơ cấu cấu thành sản phẩm của nó )

-Vật tư quan trọng (các loại vật tư có độ khan hiếm cao, hoặc it có trên thị trường )

-Vật tư cần thiết (nhóm vật tư ít quan trọng hơn nhưng không thể thiếu )

-Vật tư ít quan trọng hơn (vật tư sẵn có trên thị trường, kế hoạchông cần phảI dự trữ nhiều)

– Phân chia theo A-B-C

C= Nhóm vật tư còn lại: nhóm này không quan trọng nhưng để đảm bảo tính đồng bộ và kịp thời thì loại này cũng phải quản lý

– Phân theo lượng và giá trị

-Nhóm 1: chiếm 20% mặt hàng và 80% giá trị

-Nhóm 2: Chiếm80% mặt hàng nhưng chỉ chiếm 20% giá trị

– Phân theo mức độ khan hiếm ( cần cấp) của vật tư

-Loại1: Nhóm vật tư rất khan hiếm (khó tìm kiếm hay đọc quyền trên thị trường )

-Loại2: Nhóm vật tư khan hiếm

-Loại3: Nhóm vật tư không khan hiếm ( có sẵn trên thị trường )

Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến loại vật tư có độ khan hiếm cao, với mức dự trữ cao hưn bình thựờng để đảm bảo độ an toàn ở Doanh nghiệp, tránh rủi ro .

– Theo tính chất sử dụng

-Nhóm vật tư thông dụng: Nhóm vật tư này được sử dụng nhiều ở các Doanh nghiệp mang tính phổ biến

-Nhóm vật tư chuyên dùng: là vật tư dùng cho một số ít các ngành không phổ biến trong nền kinh tế. Loại này, Doanh nghiệp phải xác định nguồn hàng ổn định và có mức dự trữ thoả đáng ổn định hoạt động kinh doanh của mình.

– Theo sự phân cấp quản lý:

-Nhóm vật tư được quản lý tập chung: Thị trường loại vật tư này do nhà nước cấp phát, quản lý theo kế hoạch và chỉ tiêu.

-Nhóm vật tư quản lý không tập chung: loại vật tư được mua bán tự do và có sẵn trên thị trường .

Quản Lý Vĩ Mô Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường / 2023

1

* Thời gian giảng: 8 tiết * Đối tượng học viên: Trung cấp lý luận chính trị. * Kết cấu bài giảng I/ Khái niệm và vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế ở nước ta 1. Khái niệm 2. Vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế II/ Chức năng và nội dung quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 1. Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế 2. Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế III/ Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta 1. Kiểu Nhà nước Việt Nam 2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế IV/ Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 1. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta 2. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế

3

Tiến trình bài giảng I/ KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH

TẾ

NƯỚC

TA

1. Khái niệm 1.1, Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động của các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các quá trình kinh tế – xã hội, bằng hệ thống công cụ có tính chất nhà nước nhằm đạt mục tiêu đã định. – Ở đây, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền nhất định, được luật pháp quy định. Trong các cơ quan nhà nước đó lại chia thành các cấp khác nhau, cụ thể: + Cơ quan nhà nước cấp Trung ương: Thực hiện quản lý vĩ mô trên phạm vi cả nước. + Cơ quan nhà nước ở địa phương, cơ sở: Thực hiện quản lý nhà nước trong phạm vi địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, quản lý nhà nước ở cấp cơ sở không được trái pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên. – Các lĩnh vực mà quản lý nhà nước tác động tới bao gồm rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, môi trường, 4

thổ: Gồm TW, địa phương, cơ sở (xã, phường). * Xét về khách thể của quản lý nhà nước về kinh tế, đó chính là duy trì trật tự mội trường kinh doanh và trật tự trong lĩnh vực quản lý kinh tế. (Cần phân biệt khách thể của quản lý sản xuất kinh doanh là nhằm hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất). * Xét về công cụ của quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng các công cụ mang tính quyền lực nhà nước, đó là luật pháp, các văn bản dưới luật, các chính sách, chiến lược, kế hoạch,… để tác động, điều chỉnh, dẫn dắt, định hướng các hoạt động kinh tế – xã hội nhằm đạt mục tiêu của Nhà nước đề ra. 2. Vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế 2.1, Quá trình nhận thức vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong lịch sử

7

Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nó ra đời khi xã hội có phân chia giai cấp, nó chính là công cụ để giai cấp thống trị điều hành, quản lý mọi mặt của đất nước, nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp đó. Nhà nước có 2 chức năng: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Một trong những hoạt động mà nhà nước thực hiện chức năng xã hội là Nhà nước có nhiệm vụ duy trì trật tự xã hội, dần dần do yêu cầu đặt ra, ngoài việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội, Nhà nước còn phải đảm nhận duy trì trật tự đối với các hoạt động kinh tế để các hoạt động này diễn ra một cách bình thường, thuận lợi. Càng ngày, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước càng được chú trọng. Cùng với sự biến đổi của chế độ chính trị và trình độ phát triển lực lượng sản xuất cũng như yêu cầu tăng trưởng kinh tế của các nước trong từng giai đoạn lịch sử, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước cũng biến đổi theo cho phù hợp. Cụ thể: * Dưới chế độ Phong kiến, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, Nhà nước thực hiện sự quản lý kinh tế ở việc quản lý ruộng đất (đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước phong kiến nhưng được phong cấp cho nông dân – Nhà Lý thế kỷ X; Thế kỷ XIV Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn điền, hạn nô; Thế kỷ XV Nhà Lê thực hiện chế độ quân điền và lộc điền,…); tổ chức thu thuế; đào mương, đắp đập, làm đường sá… * Dưới Chủ nghĩa tư bản, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ở từng thời kỳ có khác nhau. – Khi cơ chế thị trường vận hành, cạnh tranh tăng lên, 8

đòi hỏi giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước, đó là nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh theo mô hình của A.Smith (cuối TK XVIII, TK XIX, đầu TK XX), theo ông, bàn tay vô hình của tự do cạnh tranh sẽ bảo đảm cho xã hội những gì sản xuất ra phù hợp với nhu cầu của các thành viên của nó và theo những số lượng mong muốn, nó sẽ đưa tới kết quả là sự hài hòa xã hội. Lúc này vai trò của Nhà nước chỉ là “người gác đêm” cho Chủ nghĩa tư bản, thể hiện ở khẩu hiệu “Nhà nước tối thiểu” – Nền kinh tế thị trường tự do đã không kéo theo sự hài hòa xã hội, mà dẫn đến suy thoái, khủng hoảng chu kỳ, mất cân đối về cơ cấu kinh tế, cạnh tranh gay gắt dẫn đến độc quyền, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh, kết cục là các cuộc đấu tranh xã hội, làm cho địa vị giai cấp Tư sản bị lung lay. Đến đây, buộc các nhà kinh tế tư sản phải nhìn nhận lại học thuyết kinh tế của mình và điều chỉnh cho thích hợp. Lúc này Nhà nước buộc phải can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế để khắc phục những mặt tiêu cực do tự do cạnh tranh gây ra và bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình. Lý thuyết kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước của J.M.Keynes (đầu TK XX) đáp ứng yêu cầu đó. Ông chủ trương “mở rộng những chức năng của Nhà nước”, đề xuất một chính sách xã hội cao do Nhà nước thực hiện như: phát tiền các trợ cấp gia đình, bảo đảm sức mua của tiền công và hưu bổng, thuế đánh vào tư bản,…thực hiện “Nhà nước

9

phúc lợi”. Tuy nhiên, những cải cách này không hề đi ngược lại quyền lợi của các tập đoàn tư bản độc quyền, mà trái lại, làm cho tư bản độc quyền tiếp tục tồn tại và phát triển, đồng thời cứu Chủ nghĩa tư bản thoát khỏi đổ vỡ. Chính vì vậy lý luận của Keynes chiếm vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế ở các nước tư bản từ những năm 30 TK XX đến sau Chiến tranh thế giới thứ II. – Sau CTTG II, với sự phát triển vũ bão của cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, đa quốc gia ngày càng chiếm địa vị khống chế trên thị trường thế giới thì vai trò điều tiết nền kinh tế thị trường có lúc vượt ra ngoài tầm tay của các nhà nước tư sản. Lúc này lý luận của Keynes không còn phù hợp; các nhà kinh tế học sau Keynes đã đưa ra lý luận về “Chủ nghĩa tự do mới” hay còn gọi là “Chủ nghĩa tự do cổ điển mới”: kết hợp chủ nghĩa tự do cổ điển của A.Smith với trường phái trọng thương cũ và mới, trường phái Keynes mới. Khẩu hiệu của họ là “thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn”, nghĩa là mở rộng tự do cạnh tranh trên thị trường, tăng cường vị trí của khu vực tư nhân, giảm vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước xuống mức thấp, giảm tỷ lệ chi tiêu công cộng, điều chỉnh phân phối thu nhập có lợi cho chủ tư bản, thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư trên phạm vi thế giới. Nhà triết học Pháp Coóc-nê-li-út Ca-xtơ-ri-a-đi cho 10

rằng “với việc áp dụng Chủ nghĩa tự do mới, Nhà nước trút bỏ trách nhiệm của mình và tự đặt cho mình dưới sự chi phối của các thị trường tiền tệ”. Mô hình này được nhiều nước tư bản phát triển áp dụng như Mỹ (thời Tổng thống Rigân), Anh (thời Thủ tướng Thát-Chơ) và các nước đang phát triển như Braxin,… Sau khoảng trên dưới 1 thập kỷ áp dụng, mô hình này đã để lại hậu quả nghiêm trọng: khủng hoảng, rối loạn, thất nghiệp, đói nghèo,… tạo ra một xã hội lưỡng cực: sự giàu có và sự nghèo khổ. Ví dụ: Năm 1960, khoảng cách thu nhập giữa 20% người giàu nhất và 20% nghèo nhất của dân số thế giới là 30 lần; năm 1991 tăng lên 61 lần. 12 nước EC (gia nhập trước 1994), số người nghèo tăng từ 38 triệu năm 1975 lên 53 triệu năm 1992. – Như vậy với nền kinh tế được điều tiết hoàn toàn bởi bàn tay thị trường, hay với nền kinh tế có sự can thiệp quá lớn của bàn tay nhà nước thì đều dẫn đến nền kinh tế rơi vào tình trạng hoạt động không hiệu quả. Để khắc phục khiếm khuyết đó, nhà kinh tế học người Mỹ P.Samuelson đã đưa ra lý thuyết “2 bàn tay”, đó là nền kinh tế được vận hành với sự kết hợp vài trò của thị trường và của nhà nước (nền kinh tế hỗn hợp). Do đó không thể loại trừ hay xem nhẹ một trong hai yếu tố đó. Hiện nay trên thế giới, hầu hết các nước tư bản đều đánh giá cao lý thuyết này. * Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, vào cuối những 11

năm 20 TK XX, với mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nên các nước đã thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ, Nhà nước có vai trò to lớn , can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính, tuyệt đối không chấp nhận thị trường. Với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa đã thực hiện được những mục tiêu kinh tế – xã hội quan trọng, đó là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển kinh tế, tăng cường an ninh, quốc phòng; chăm lo đến các chính sách xã hội: giáo dục, y tế; thực hiện công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. – Tuy nhiên, do duy trì một nền kinh tế phi hàng hóa với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung lâu dài đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, như: khủng hoảng kinh tế – xã hội, sử dụng lãng phí các nguồn lực, nền kinh tế không xuát phát từ thị trường, thiếu hàng hóa trầm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; bộ máy nhà nước cồng kềnh, quan liêu, kém hiệu quả; mọi động lực phát triển đều bị triệt tiêu,… Thêm vào đó, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, buộc các nước phải đổi mới tư duy kinh tế, tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Song trong quá trình chuyển đổi, một số nước đã có những cách làm không phù hợp, không tuân thủ đúng nguyên tắc cho nên dẫn tới thất bại, đổ vỡ, không giữ vững mục tiêu chính trị, đã chuyển sang phát triển nền kinh tế thị

12

trường tư bản chủ nghĩa (các nước Đông Âu). Còn một số nước (trong đó có Trung Quốc, Việt Nam) đã có những bước chuyển đổi phù hợp, vừa tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa đảm bảo giữ vững mục tiêu Chủ nghĩa xã hội. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng trong suốt 20 năm qua kể từ khi chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, bộ mặt đất nước đã thay đổi, nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, an ninh – chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, dân chủ ngày càng được phát huy, công bằng xã hội đang dần được thiết lập. Như vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, có thể khẳng định rằng cho dù ở các nước có chế độ chính trị khác nhau, đều phát triển nền kinh tế thị trường – một thành quả của nền văn minh nhân loại, coi đó là phương tiện để thúc đẩy kinh tế phát triển, đi liền với nó là sự điều tiết của nhà nước. Tuy nhiên, không hẳn sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế ở các nước đều như nhau, mà ở mỗi nước, do mục đích, động lực, bản chất xã hội của từng nhà nước mà sự quản lý, điều 2.2, Tính tất yếu khách tiết nền kinh tế là khác nhau. quan của quản lý nhà nước

Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay, chúng

về kinh tế trong nền kinh tế ta coi trọng vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà thị trường định hướng xã nước đối với nền kinh tế thị trường để đảm bảo định hội chủ nghĩa

hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 13

– Thứ nhất, Nhà nước ta đại diện cho sở hữu công cộng và nắm giữ tài sản cho toàn dân, là chủ thể quản lý cao nhất đối với các hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước.

Quản lý nhà nước nói chung, đặc biệt quản lý vĩ mô của Nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, vì:

Trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, vấn đề tổ chức quản lý của nhà nước được đặt lên hàng đầu là quản lý kinh tế. Lênin cho rằng: “Nhiệm vụ quản lý nhà nước trước hết và trên hết được quy lại thành nhiệm vụ thuần tuý kinh tế … nói tóm lại nhiệm vụ đó được quy thành nhiệm vụ tổ chức lại nền kinh tế” Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là người đại diện chủ sở hữu tài sản công, vừa là người đại diện cho lợi ích – Thứ hai, sự phát triển mạnh của nhân dân lao động, vì thế chức năng quản lý kinh tế mẽ của khoa học, công nghệ là một tất yếu khách quan. Chỉ có sự quản lý của nhà hiện đại làm nảy sinh nhiều nước, nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững, chế vấn đề đòi hỏi nhà nước và 14

chỉ nhà nước mới có chức độ người bóc lột người và bất công xã hội mới được năng, thẩm quyền thực hiện xóa bỏ, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. giải quyết.

Tuy nhiên vai trò của nhà nước có được phát huy hay không còn tuỳ thuộc vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản lý kinh tế – xã hội các cấp.

– Thứ ba, sự đa dạng về sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta đòi hỏi nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý.

Sự phát triển của KH – CN hiện đại sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt cơ cấu ngành, vùng và cơ cấu sản phẩm, đồng thời, cơ cấu lao động cũng thay đổi. Điều đó cần phải có một sự định hướng chiến lược của nhà nước trong chính sách ưu đãi ngành, vùng, trong chính sách giáo dục – đào tạo, cũng như nghiên cứu KH-CN.

– Thứ tư, toàn cầu hóa, quốc tế

Nếu như trước đổi mới, nền kinh tế nước ta với 2

hóa nhiều lĩnh vực đòi hỏi nhà hình thức sở hữu (toàn dân và tập thể), tương ứng với nước phải tăng cường vai trò nó là 2 thành phần kinh tế (quốc doanh và HTX), thì quản lý của mình.

cho đến nay, với các hình thức sở hữu khác nhau (toàn 15

dân, tập thể, tư nhân, hỗn hợp) và 6 thành phần kinh tế hoạt động đan xen nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nếu không tăng cường vai trò nhà nước thì không thể bảo đảm cho các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng, tuân thủ đúng pháp luật…

Trong xu thế quốc tế hóa, TCH đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, chúng ta không thể đứng ngoài vòng xoáy – Thứ năm, những khuyết tật đó, mà phải tích cực chủ động hội nhập vào nền kinh tế của kinh tế thị trường đặt ra thế giới. Tuy nhiên, đối với một nước kinh tế kém phát yêu cầu phải có sự quản lý, triển, pháp luật chưa hoàn thiện, khả năng thua thiệt, yếu thế là khó tránh khỏi (vụ cá tra, cá ba sa, tôm xuất điều tiết của nhà nước. khẩu, thương hiệu nước mắm Phú Quốc…). Chính vì vậy, nếu không có bước đi, lộ trình thích hợp, không có các chính sách, chiến lược kinh tế đúng đắn, không có sự định hướng phát triển thì thách thức trong quá trình hội nhập ngày càng lớn.

Nền kinh tế thị trường là phương tiện để các nước đạt được sự tăng trưởng cao. Song, kinh tế thị trường không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết tốt mọi vấn đề. Bên cạnh mặt tích cực, nó cũng chứa đựng những hạn chế, tiêu cực như: cạnh tranh gay gắt dẫn 16

– Thứ sáu, tăng cường quản lý đến độc quyền, hiện tượng buôn lậu, trốn thuế, làm nhà nước về kinh tế để giữ hàng giả, phân hóa giàu nghèo, môi trường sinh thái bị vững định hướng xã hội chủ hủy hoại cạn kiệt, tệ nạn xã hội nảy sinh, lối sống chạy nghĩa.

theo đồng tiền,… Đối với Việt Nam, chúng ta vẫn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy sự điều tiết của nhà nước là hết sức cần thiết để giảm bớt những khuyết tật của kinh tế thị trường, phát huy tối đa mặt tích cực để phục vụ cho phát triển kinh tế.

Chúng ta xác định mục tiêu cuối cùng là xây dựng 2.3, Vai trò * Đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững

thành công Chủ nghĩa xã hội, cho nên phát triển kinh tế chính là nhằm phục vụ cho mục tiêu đó. Mặc dù hiện nay chúng ta đang trong TKQĐ lên CNXH, nhưng trong từng bước phát triển đều phải đảm bảo giữ vững định hướng XHCN. Trong điều kiện một nền kinh tế nhiều thành phần, nhà nước đảm bảo định hướng XHCN thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước – lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế. Đồng thời hướng các thành phần vào làm ăn có hiệu quả, thực hiện tốt các chính sách xã hội.

17

Thể hiện: – Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô: Đảm bảo giá trị * Đảm bảo hiệu quả kinh tế –

đồng tiền; đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh

xã hội

tế như: cân đối hàng hóa – tiền tệ, cung – cầu, xuất khẩu – nhập khẩu, đầu tư cá nhân – đầu tư cộng đồng, cân đối giữa các ngành,… – Đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế liên tục: Tổng sản phẩm quốc dân và thu nhập bình quân đầu người năm sau tăng hơn năm trước. – Đảm bảo sự phát triển kinh tế giai đoạn trước không gây tổn hại đến giai đoạn sau, môi trường sinh thái được bảo vệ.

Tức là nền kinh tế có sự tăng trưởng liên tục, đi liền với nó là những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiến bộ xã hội. * Thúc đẩy nhanh sự phát triển

+ Tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở chỗ: Tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm trong GDP. + Tiến bộ về mặt xã hội thể hiện: Về lao động: Tỷ lệ lao động trong CN và DV ngày càng tăng; tỷ lệ lao động trong NN ngày càng giảm; Tỷ lệ lao động được 18

* Đảm bảo định hướng xã hội đào tạo tăng lên; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Đời chủ nghĩa

sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên.

Nhà nước xác định các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tăng cường và khuyến khích đầu tư để tạo động lực cho sự phát triển nhanh.

NỘI hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định

DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC hướng XHCN, cùng với sự tác động mạnh mẽ của các TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐỊNH

HƯỚNG

XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế

yếu tố bên ngoài đã và đang tạo ra những cơ hội và thách thức to lớn đối với nước ta. Để phát huy tối đa mặt tích cực, nắm bắt nhanh cơ hội và đẩy lùi nguy cơ, hạn chế tiêu cực, điều đó đòi hỏi cần có sự quản lý, điều tiết, can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế. Do

1.1, Quan niệm chức năng vậy phải đánh giá đúng và ngày càng tăng cường vai quản lý nhà nước về kinh tế trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế thị 19

Chức năng quản lý nhà trường định hướng XHCN. nước về kinh tế là những hoạt động quản lý kinh tế mà nhà nước phải thực hiện để đạt tới các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

Từ cách hiểu trên, có thể thấy chức năng quản lý kinh tế của nhà nước là các hoạt động quản lý kinh tế mang tính tất yếu khách quan do bản chất, vai trò của nhà nước quy định. Mục tiêu của việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do vậy, cơ sở để xác định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là: + Chức năng của quản lý kinh tế nói chung. + Bản chất, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. + Mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước qua các giai 20

Sơ Đồ Quản Lý Kho Hàng Vật Tư, Tránh Thất Thoát Cho Cửa Hàng / 2023

21/08/2020 22:52:04

Sơ đồ quản lý kho vật tư là một trong những hoạt động không thể thiếu trong kinh doanh. Nếu không quản lý kho một cách hiệu quả, cửa hàng có thể gặp nhiều vấn đề như tồn trữ quá nhiều hay hàng không đủ cho khách.

1. Sơ đồ quản lý kho hàng – vật tư hiệu quả

Về cơ bản, một sơ đồ quản lý kho sẽ bao gồm các phần quản lý thông tin hàng hóa, nhập kho, xuất kho, báo cáo tồn kho và kiểm kê kho. Đây là sơ đồ đơn giản và phổ biến nhất được nhiều cửa hàng sử dụng.

Sơ đồ quản lý kho hàng – vật tư phổ biến

Để hiểu hơn về sơ đồ trên, người quản lý kho cần chú ý đến các thuật ngữ sau đây:

2. Ứng dụng sơ đồ quản lý kho cho cửa hàng bán lẻ

Đối với các cửa hàng bán lẻ với quy mô vừa và nhỏ, chủ cửa hàng có thể áp dụng sơ đồ quản lý kho một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế kinh doanh của mỗi cửa hàng.

Sơ đồ quản lý kho hàng – vật tư dành cho cửa hàng bán lẻ

Sơ đồ quản lý kho dành cho cửa hàng bán lẻ sẽ có phần đơn giản hơn so với doanh nghiệp, phù hợp với cơ cấu tổ chức cũng như thực tế kinh doanh của cửa hàng. Bên cạnh đó, chủ cửa hàng cũng có thể sử dụng phần mềm quản lý bán hàng để dễ dàng hơn khi thực hiện theo sơ đồ này.

Nhiều chủ cửa hàng lựa chọn quản lý kho bằng excel, quản lý bằng sổ xuất nhập tồn kho, tuy nhiên phương án phổ biến nhất hiện nay mà hầu hết các chủ cửa hàng đang sử dụng là KiotViet – Phần mềm quản lý bán hàng được nhiều chủ cửa hàng sử dụng bởi sự đơn giản và hiệu quả trong việc hỗ trợ quản lý kho hàng.

BẠN CÓ BIẾT: Hiện tại phần mềm bán hàng KiotViet đang có chương trình dùng thử MIỄN PHÍ cho mọi khách hàng với đầy đủ TẤT CẢ CÁC TÍNH NĂNG

MIỄN PHÍ dùng thử

Sơ đồ quản lý kho hàng – vật tư không chỉ giúp chủ cửa hàng dễ dàng theo dõi mà còn hỗ trợ nhân viên thực hiện các công việc hiệu quả nhất. Hy vọng những chia sẻ trên sẽ giúp chủ cửa hàng có thêm cách quản lý kho thuận tiện và dễ dàng hơn.

KiotViet – Phần mềm quản lý bán hàng phổ biến nhất

Dùng thử miễn phí

Vật Tư Là Gì? Nhiệm Vụ Của Kế Toán Vật Tư Trong Doanh Nghiệp / 2023

1. Khái niệm về các loại tư liệu sản xuất nguyên liệu, vật liệu và vật tư

Nguyên liệu là những vật chất tự nhiên chưa qua chế biến và cần được lao động, máy móc, kỹ thuật biến hóa mới thành sản phẩm. Ví dụ: Lúa mạch là nguyên liệu của DN sản xuất bia

– Nguyên liệu chính: Là nguyên liệu tạo nên thành phần chính của sản phẩm

– Nguyên liệu phụ: Là nguyên liệu không phải thành phần chính của sản phẩm mà chỉ tham gia tạo nên sản phẩm gia công

Vật liệu là những vật chất từ tự nhiên hoặc đã qua chế biến để có thể sử dụng trong sản xuất. Vật liệu rộng hơn, bao gồm nhiều tư liệu sản xuất hơn nguyên liệu. Những tư liệu đầu vào của một quá trình sản xuất hoặc chế tạo đều là vật liệu sản xuất. Riêng đối với ngành công nghiệp, vật liệu là những sản phẩm chưa hoàn thiện và thường được dùng để làm ra sản phẩm cao cấp hơn phục vụ trong cuộc sống

Ví dụ: Thép là vật liệu dùng trong các công trình xây dựng, sợi là vật liệu dùng trong sản xuất vải,…

Vật tư là các loại vật liệu (có thể là vật liệu đã thành sản phẩm hoặc là bán thành phẩm) cần thiết sử dụng trong quy trình sản xuất để tạo ra sản phẩm nhưng không trực tiếp cấu thành sản phẩm. Chẳng hạn vật tư là bao bì hoặc vật liệu làm bao bì chứa sản phẩm, là túi nilon, túi giấy hay là thùng carton để đóng gói sản phẩm.

Việc làm Kế toán – Kiểm toán

Vật tư được cấu tạo nên bởi 02 từ “vật” và “tư”. “Vật” trong từ vật liệu còn “tư” trong tư liệu sản xuất, dùng để chỉ các công cụ, dụng cụ và máy móc thiết bị sử dụng. Ngoài khái niệm “vật tư” nêu trên, vật tư còn là bộ phận cơ bản trong toàn bộ quá trình sản xuất bao gồm rộng hơn cả nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ và máy móc thiết bị. Tuy nhiên để kế toán dễ dàng xử lý số liệu, hạch toán và báo cáo tài chính, người ta thường tách phần tài sản cố định trong đó có máy móc thiết bị thành 1 phần riêng và vật tư từ đó được phân làm 02 nhóm chính là nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ.

– Nguyên vật liệu hay còn gọi là vật tư tiêu hao tức là những loại vật tư được sử dụng theo thời gian có xu hướng giảm đi cho đến khi hết, bao gồm:

+ Nguyên liệu, vật liệu chính: là đối tượng lao động cấu thành trực tiếp sản phẩm hay cấu tạo nên bộ phận chính của sản phẩm. Ví dụ: Thép, xi măng, … dùng trong các công trình xây dựng. Chi phí mua và sử dụng nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất sản phẩm hình thành nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Khái niệm nêu trên không hoàn toàn chính xác nếu áp dụng để mô tả chính xác nguyên vật liệu chính bởi thực tế có rất nhiều vật liệu vừa là vật liệu chính trong hoạt động sử dụng này nhưng lại là vật liệu phụ trong hoạt động khác. Vì vật khái niệm trên chỉ mang tính tương đối

+ Nguyên vật liệu phụ: Là đối tượng lao động chỉ có tác dụng hỗ trợ hoạt động sản xuất đi kèm với nguyên vật liệu chính làm tăng chất lượng sản phẩm. Chẳng hạn khi một ngôi nhà được hoàn thành, người thợ nề dùng sơn để phủ sắc ngôi nhà thì sơn ở đây chính là vật liệu phụ giúp sản phẩm được hoàn thành đúng kế hoạch.

+ Nhiên liệu: Cũng là vật liệu nhưng được sử dụng để vận hàng các thiết bị công nghệ sản xuất ra sản phẩm, kinh doanh. Công nghệ ở đây là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị phục vụ cho công việc của người công nhân. Ví dụ: Xăng dầu để chạy máy, khí ga hoặc than củi khi đốt lên cũng là nhiên liệu,…

+ Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết trong máy móc thiết bị sản xuất hay các phương tiện vận tải (thứ 2) dùng để thay thế, sửa chữa khi thiết bị tương tự được lắp ghép trong máy móc bị hư hại không thể khắc phục để tiếp tục hoạt động cần phải thay mới.

+ Các loại vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản khác bao gồm các loại vật liệu và thiết bị, phương tiện lắp đặt vào các công trình xây dựng như điều hòa, TV, máy bơm,… lắp vào công trình phục vụ cho người sử dụng sau khi công trình đã hoàn thành.

+ Vật liệu khác: Là các loại vật liệu còn lại được xem xét gồm phế liệu thu hồi từ thanh lý tài sản cố định, từ sản xuất kinh doanh

+ Phế liệu: Là những vật liệu tận dụng được sau quá trình sản xuất được dùng để thanh lý, bán ra ngoài, chẳng hạn như bao xi măng, sắt thép thừa không còn tận dụng vào sản xuất.

– Công cụ dụng cụ hay còn gọi là vật tư luân chuyển không bị tiêu hào mà chỉ bị hao mòn giảm tính năng sử dụng theo thời gian. Thời gian sử dụng ngắn hoặc thấp tùy thuộc vào số lần sử dụng và điều kiện bảo quản. Giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của công cụ, dụng cụ không đủ điều kiện để xét vào loại tài sản cố định. Công cụ dụng cụ được chia ra thành 2 loại:

+ Công cụ, dụng cụ được phân bổ 1 lần: Là những công cụ, dụng cụ có thời gian sử dụng ngắn và giá trị nhỏ. Ví dụ: xẻng, búa, xe lôi, dụng cụ bảo hộ lao động,…

+ Công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều lần: Là những công cụ, dụng cụ có giá trị lớn và phân bổ dần như giàn giáo, cốt pha,…

Vật tư kỹ thuật bao gồm các sản phẩm của lao động dùng để sản xuất, đó là nguyên, nhiên, vật liệu, điện lực, bán thành phẩm, dụng cụ phụ tùng và cả thiết bị máy móc,… Vật tư kỹ thuật dùng để chỉ chung:

– Những vật có chức năng làm tư liệu sản xuất và cả những tư liệu sản xuất ở có khả năng được sử dụng

– Những vật đang được sử dụng làm tư liệu sản xuất

Từ đó có thể định nghĩa vật tư kỹ thuật là những vật có chức năng làm tư liệu sản xuất, đang trong quá trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng sản xuất chưa bước vào tiêu dùng sản xuất trực tiếp được phân loại theo những tiêu chuẩn sau:

– Phân loại vật tư kỹ thuật theo công dụng sản xuất:

+ Vật tư dùng làm đối tượng lao động

+ Vật tư dùng làm tư liệu lao động

– Phân loại theo tính chất sử dụng

Mọi vật tư kỹ thuật đều là tư liệu sản xuất, nhưng mọi tư liệu sản xuất lại không phải là vật tư mà tư liệu sản xuất có thể là nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu,….

2.3. Công tác quản lý vật tư là gì?

Quản lý vật tư là quy trình bao gồm lập kế hoạch chuỗi cung ứng và khả năng thực hiện chuỗi cung ứng tức là trong công ty trong hoạt động kinh doanh sản xuất lập kế hoạch lên danh sách rồi đặt vật tư. Các yêu cầu vật tư này sẽ được công ty đặt mua hoặc nhờ các chức năng khác để tìm nguồn cung ứng. Trách nhiệm của quản lý vật tư là xác định lượng nguyên liệu sẽ được triển khai tại mỗi địa điểm trong chuỗi cung ứng hoặc thiết lập kế hoạch bổ sung nguyên liệu, xác định mức tồn kho để có kế hoạch bổ sung kịp thời đáp ứng yêu cầu vật chất trong suốt chuỗi cung ứng mở rộng.

Quản lý vật tư bao gồm: Quản lý nguyên vật liệu, Quản lý kiểm soát hàng tồn kho, Phân tích kho, Hoạch định vật liệu,… nhằm đảm bảo cung cấp nguyên liệu, mức tồn kho tối đa phục vụ nhu cầu sản xuất, giữa mức lệch ở mức tối thiểu giữa kết quả thực tế và kế hoạch triển khai.

Việc làm Quản trị kinh doanh

3. Việc làm kế toán vật tư trong doanh nghiệp

3.1. Nhiệm vụ của kế toán vật tư

– Ghi chép, theo dõi tình hình nhập, xuất đồng thời đảm bảo số hàng tồn trong kho theo quy định của doanh nghiệp để kịp thời đáp ứng hoạt động sản xuất

– Đánh giá tình hình hàng hóa, nguyên vật liệu bằng cách làm việc thường xuyên với những kế toán viên quản lý hoạt động khác để thu thập thông tin

– Thực hiện công việc một cách chính xác bao gồm những phương pháp hạch toán vật liệu, các nguyên tắc, thủ tục nhập, xuất kho vật liệu

– Giám sát hàng hóa, kiểm tra số liệu thực tế với số lượng tồn thường xuyên để tránh thất thoát

– Kiểm tra hàng hóa để kịp thời xử lý số lượng thừa, thiếu vật liệu, loại bỏ và đổi trả những vật liệu kém chất lượng để đảm bảo hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp hiệu quả nhất

– Thực hiện lập báo cáo kế toán về vật liệu để thông tin cho quản lý nắm rõ tình hình vật liệu.

3.2. Vai trò của kế toán vật tư

Kế toán vật tư giúp doanh nghiệp quản lý các nguồn nguyên vật liệu vì vật họ có vai trò vô cùng quan trọng. Nếu kế toán có năng lực quản lý tốt nguyên vật liệu sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí. Đồng thời với việc nắm rõ thông tin số liệu, kế toán vật tư còn tham vấn cho doanh nghiệp các hướng giải quyết hợp lý những tình huống rủi ro xảy ra với nguyên vật liệu. Bên cạnh đó còn giúp doanh nghiệp quản lý chặt chẽ hàng hóa tránh tình trạng thất thoát.

Với vai trò quan trọng như vậy, nhà tuyển dụng thường yêu cầu kế toán vật tư phải là người tỉ mỉ, có trách nhiệm với công việc và biết sắp xếp, trình bày sổ sách đảm bảo thường xuyên ghi chép số lượng, tình trạng hàng hóa tại doanh nghiệp. Do tính chất công việc nên kế toán vật tư còn phải rất cẩn thận, kiên trì mới đảm bảo hoàn thành tốt công việc.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quản Lý Vật Tư Và Hiệu Quả Của Quản Lý Vật Tư Trong Nền Kinh Tế Thị Trường / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!