Đề Xuất 2/2023 # Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 10 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể về bốn nội dung quản lý nhà nước, gồm: xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại; và xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kinh nghiệm ba quốc gia điển hình, bài viết đề xuất một số bài học cho hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 

Mở đầu  

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp vĩ mô để bảo vệ sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vai trò điều tiết và quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo an toàn hiệu quả thanh toán quốc gia. Vì vậy, đối với các ngân hàng thương mại, khi mức dư nợ xấu tín dụng càng cao thì Ngân hàng Nhà nước thường đóng vai trò “người cứu cánh cuối cùng”. Bởi khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu của một ngân hàng thương mại bất kỳ trong hệ thống tăng cao báo động sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và cả uy tín ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng trong nước. Do tính chất lây lan của hiệu ứng đám đông, rủi ro tín dụng vượt kiểm soát sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính cho nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, cụ thể là, trong kiểm soát chất lượng tín dụng, đặc biệt là kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.   

Cần xây dựng và phát triển hệ thống NHTM có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng   

Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay, có sự tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.  

1. Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của ngân hàng thương mại  

Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các ngân hàng thương mại chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của Ngân hàng Trung ương, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các ngân hàng thương mại tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Trịnh Thị Thủy, 2015).   

Hoạt động quản lý nợ xấu của nhà nước bao gồm nhận diện nợ xấu, đưa ra các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình cần phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.  

 

– Phương pháp quản lý nhà nước đối với nợ xấu   

 

Hiện nay, có một số phương pháp được áp dụng phổ biến trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đó là: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế nhà nước, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp quản lý có mục tiêu, phương pháp quản lý tác nghiệp, phương pháp kiểm tra… (Phan Trung Hiền, 2009).  

Các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật. Về tính khoa học, các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải nắm vững đối tượng ngân hàng thương mại với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng này. Về tính nghệ thuật, các phương pháp quản lý nhà nước cần được lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra (Ghosh, 2015).  

– Công cụ quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại là tập hợp những phương tiện sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý về hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ quản lý này chuyển tải ý định và ý chí của mình đến các ngân hàng thương mại hoạt động trong nền kinh tế (Phan Trung Hiền, 2009).  

Hiện nay, có năm nhóm công cụ chính để quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý, (ii) Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các ngân hàng thương mại, (iii) Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, (iv) Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào các ngân hàng thương mại, và (v) Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ trên (Phan Trung Hiền, 2009).   

– Mục tiêu quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và cũng là hoạt động chủ đạo của các ngân hàng thương mại. Theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu của nhà nước cần hướng đến mục tiêu đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để ngày càng nâng cao chất lượng của hoạt động này. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với nợ xấu phải hướng đến mục tiêu tìm giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất để giảm tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng thương mại. Nói cách khác, thông qua các chính sách, cơ chế, đạo luật, nhà nước thông qua việc Ngân hàng Trung ương thực thi các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại một cách khoa học và có hiệu quả.  

Cụ thể hơn, có bốn mục tiêu cụ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại: Thứ nhất, duy trì sự an toàn và lành mạnh và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng: ngân hàng là đối tượng chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là nguồn thanh khoản dự phòng cho tất cả các tổ chức khác trong xã hội và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ của nhà nước (Corrigan, 1982). Thứ hai, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua vai trò của ngân hàng nhà nước là sẽ tạo động lực và khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển, ngăn ngừa nợ xấu. Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển: trong nền kinh tế thị trường, tác động của mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Thứ tư, định hướng, dẫn dắt và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo lập sự cân đối vĩ mô trong nền kinh tế và ngăn ngừa nợ xấu: nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động theo các quy luật vốn có của nó (Rosenstein-Rodan, 1961).

 

2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới  

2.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương châu Âu  

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB) điều hành chính sách tiền tệ đồng Euro của Liên minh châu Âu hay khu vực đồng Euro hiện nay sau khi Anh rời khối này. Do tính chất đặc thù của một khối các quốc gia, Ngân hàng Trung ương châu Âu có ban giám đốc đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc gồm lãnh đạo và đại diện các ngân hàng trung ương của các quốc gia trong liên minh. Hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của của Ngân hàng Trung ương châu Âu trong thời gian qua được triển khai gồm các nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Văn bản có vai trò quan trọng hỗ trợ việc thiết lập một khuôn khổ chung trên các hệ thống ngân hàng EU để nhận biết, phân loại và đánh giá nợ xấu đó là dự thảo hướng dẫn của Cơ quan Ngân hàng Châu Âu (European Banking Authority) từ năm 2014 (European Banking Authority, 2014, 2016a, 2016b). Các tiêu chuẩn này cung cấp các tiêu chí hài hòa để xác định các khoản nợ xấu, tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng được thực hiện bởi các ngân hàng châu Âu.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Ủy ban châu Âu tập trung đề xuất các phương án để đưa ra mức dự phòng tối thiểu cho các khoản nợ xấu trong tương lai. Ngày 14/03/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các biện pháp để giải quyết tỷ lệ nợ xấu cao tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong đó đặc biệt đề xuất quy định về dự phòng tổn thất tối thiểu đối với các khoản vay mới không hiệu quả. Sự hỗ trợ này bao gồm hai yếu tố chính: (i) yêu cầu các ngân hàng phải chi trả đến mức tối thiểu chung cho các khoản lỗ phát sinh và dự kiến đối với các khoản vay mới không hiệu quả (yêu cầu dự phòng tối thiểu) và (ii ) khi yêu cầu dự phòng tối thiểu không được đáp ứng, một khoản khấu trừ chênh lệch giữa dự phòng thực tế và dự phòng tối thiểu sẽ được 

thực hiện.   

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

 

Các cơ quan giám sát ngân hàng thiết lập Cơ chế giám sát đơn (Single Supervisory Mechanism – SSM) trên cơ sở các hoạt động của Trụ cột 2 (SREP). Điều này cho thấy, việc nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá và kiểm soát chất lượng tài sản của khoản vay một cách công bằng. Bên cạnh đó, việc đánh giá toàn diện được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cơ quan có thẩm quyền quốc gia (NCA), bao gồm một số hoạt động quan trọng, đặc biệt là đánh giá chất lượng tài sản (AQR). Hoạt động này tập trung vào việc đánh giá giá trị chính xác của tài sản đảm bảo của các ngân hàng dựa trên một phương pháp thống nhất và hài hòa.  

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các chiến lược nợ xấu được đưa ra, về cơ bản, ECB xác định bốn thành phần cơ bản, đó là: (1) Đánh giá môi trường hoạt động, (2) Phát triển chiến lược, (3) Thực hiện kế hoạch hành động, và (4) Đưa chiến lược vào quy trình quản lý ở các cấp độ. Trong tương lai, Ủy ban châu Âu sẽ cho phép những nhà giám sát ngân hàng nhiều quyền hạn hơn để họ có thể tích cực thúc đẩy các ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu nhiều năm qua.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Liên minh châu Âu trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương châu Âu có thể buộc các ngân hàng tăng “vùng đệm” đối với các khoản nợ xấu hiện tại. Các ngân hàng cũng có thể buộc phải tự động trích thêm vốn cho các khoản vay mới khi thấy mức nợ xấu vượt quá mức chấp nhận được. Tuy nhiên, một cách khách quan, các biện pháp này có thể làm chi phí tăng quá mức, ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng.   

2.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc  

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế tài chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đối với hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại trong nước, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai một số nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu giải quyết nợ xấu là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế. Trung Quốc đã ban hành chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản dưới sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một số ngân hàng thương mại quốc doanh. Các công ty này đã mạnh dạn cho chứng khoán hóa các khoản nợ của ngân hàng thương mại và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng tại Trung Quốc.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Để quản lý tốt nợ xấu trong thời kỳ mới, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu ngành Ngân hàng của quốc gia này phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu quản lý nợ xấu trong khuôn khổ tối ưu hoá hiệu suất ngân hàng; (ii) Thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường công bằng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc; (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa; (iv) Triển khai các hoạt động cho vay phải thận trọng để có thể duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.   

Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của các khoản cho vay. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trung Quốc nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền vững, huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đẩy mạnh tại Trung Quốc. Quốc gia này tích cực sử dụng các phương pháp kiểm tra, giám sát hệ thống để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu tại Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu cơ bản là thực hành tổng hợp, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tính minh bạch của các khoản nợ xấu. Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng.  

Các cơ quan giám sát ngân hàng và bảo hiểm của Trung Quốc đã được sáp nhập để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề nợ xấu cũng như nhiều thách thức trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2017, các nhà quản lý ngành Ngân hàng Trung Quốc đẩy cao áp lực dọn sạch bảng cân đối kế toán cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng tăng cường công tác kiểm tra và giám sát trên cơ sở rủi ro. Ủy ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cường năng lực giám sát và phân tích từ xa, từ đó, cải thiện hoạt động lập kế hoạch và giám sát nợ xấu tại chỗ. Nhờ đó, chất lượng kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh các hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho các ngân hàng thương mại. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tự mua lại. Hoạt động này góp phần tạo vốn cho các ngân hàng thương mại, đồng thời khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Giải pháp này còn giúp những ngân hàng thương mại yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống.  

Công tác quản lý nhà nước về nợ xấu tại Trung Quốc chú trọng vào việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu trong tương lai. Các công ty AMC của Trung Quốc là nhân tố quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại quốc gia này. Đây là các doanh nghiệp tài chính độc lập nhà nước do Bộ Tài chính bỏ vốn thành lập. Khác với các công ty AMC nước ngoài, AMC tại Trung Quốc có đặc điểm là đa mục tiêu, vừa xử lý nợ xấu, vừa phải duy trì nền tài chính ổn định, và thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng. Phương pháp xử lý nợ xấu của AMC tại Trung Quốc chủ yếu là tái cơ cấu, sắp xếp lại nợ, hoặc chuyển nhượng nợ thành cổ phần. Việc chuyển nợ thành cổ phần thường được Trung Quốc thực hiện. Phương pháp đốc thúc hoàn nợ bao gồm thúc đẩy thu mua, ra tòa, bồi thường… dù được áp dụng nhiều nhưng hiệu quả rất kém tại Trung Quốc.  

2.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản  

Các hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong thời gian:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Nhìn chung, việc xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản chú trọng vào xây dựng hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và kiện toàn. Trong quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản qua nhiều giai đoạn vẫn tồn tại một vài hạn chế, nhưng đều được Chính phủ Nhật Bản thực hiện sửa đổi hoặc ban hành Luật mới rất nhanh chóng và kịp thời.  

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Tại Nhật Bản, BOJ yêu cầu các ngân hàng thương mại phải áp dụng những tiêu chuẩn quy định quốc tế như Basel II, III trong hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu. Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường xuyên. Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước.  

Để quản lý nợ xấu có hiệu quả, BOJ ứng dụng một số nguyên tắc quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn, từ đó giảm thiểu tối đa nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, gia hạn nợ, phát mại tài sản đảm bảo, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…   

Đáng chú ý, các chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành và tuyên truyền rộng rãi. Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao. Nhờ đó, việc tuân thủ và thực hiện theo pháp luật trong khi xử lý tài sản đảm bảo trả nợ được người dân gần như chấp hành tuyệt đối.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân có thể xảy ra ở các cán bộ tín dụng của ngân hàng thương mại, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng.   

Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: việc thực hiện cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng…  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) chuyên làm nhiệm vụ tái cơ cấu lại những doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu. RCC thực hiện chức năng thu hồi nợ xấu của nền kinh tế, hay còn gọi là một doanh nghiệp dịch vụ công. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Toàn bộ số tiền thành lập IRCJ là của các ngân hàng đóng góp chứ không phải từ Nhà nước.   

Đặc biệt, Chính phủ Nhật Bản cho thực hiện việc phá sản đối với các ngân hàng thực sự yếu kém và không quản lý tốt nợ xấu. Đồng thời, Chính phủ triển khai song song những biện pháp hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo thanh toán tiền gửi tiết kiệm tại những ngân hàng đó. Ngoài ra, Nhật Bản đã tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi ở các ngân hàng lớn, đồng thời, giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng. Cụ thể, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa nợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn. Như vậy, chính những biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ Nhật Bản với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại quốc gia này bớt căng thẳng đi rất nhiều. 

 

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới, xét trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, tác giả rút ra được một số bài học sau:  

Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh xây dựng và tăng cường khung pháp lý một cách đồng bộ nhằm giám sát chặt chẽ ngành Ngân hàng, từ đó quản lý tốt và hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu. Để làm được điều này, Việt Nam cần chủ động hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tạo lập được môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững.   

Thứ hai, cần chú trọng đến việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cần hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững, từ đó có thể huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển.   

Thứ ba, cần chú trọng hơn nữa đến việc đảm bảo tính độc lập và tự quyết của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại. Nếu Ngân hàng Nhà nước không có thẩm quyền độc lập trong việc quyết định về tín dụng và quản lý nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả quản lý hoạt động này.   

Thứ tư, cần có đánh giá chính xác tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại để có thể nhanh chóng đưa ra các ứng phó ngay từ đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt, cần phải giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại để đánh giá đúng đắn tác động tới hệ thống tài chính, từ đó đưa ra những phương án phù hợp với tình hình tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, việc xử lý nhanh chóng tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng thương mại (tăng vốn kịp thời trong quá trình xử lý nợ xấu bằng mọi nguồn: công và tư), xem xét việc sử dụng vốn nhà nước để xử lý kịp thời, tránh làm sụp đổ hệ thống.  

Thứ năm, cần xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại có cấu trúc đa dạng về sở hữu, có quy mô hoạt động đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng. Chỉ như vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam mới có khả năng quản lý và xử lý hiệu quả nợ xấu. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và nợ xấu. Các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước chi phối phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển hệ thống.   

Thứ sáu, cần tăng cường quy chế quản lý, giám sát các hoạt động kinh doanh tín dụng và xử lý nợ xấu của từng ngân hàng thương mại, đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tài chính; cần chú trọng xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát ngân hàng.   

Thứ bảy, cần mở rộng kênh xử lý nợ xấu. Đây là một bài học cần được nghiên cứu kỹ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi ngân sách đầu tư cho công ty mua nợ xấu còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước quản lý) là biện pháp cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm xử lý một phần nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Việc xử lý có thể thực hiện thông qua một số phương thức như chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, mua lại nợ xấu …  

Thứ tám, cần nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên trong việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Các biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng sẽ góp phần giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại bớt căng thẳng. 

 

1. Corrigan G. (1982). “Are Banks Special?” 1982 Annual Report Essay. Minneapolis, United States: Federal Reserve Board. http://minneapolisfed.org/pubs/ar/ar1982a.cfm

2. European Banking Authority (2014), Final Draft Implementing Technical Standards on Supervisory reporting on forbearance and non-performing exposures under article 99 (4) of Regulation (EU) No 575/2013. 

3. Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104. 

4. IMF (2006), Financial Soundness Indicators: Compilation Guide, International Monetary Fund.

5. Nkusu Mwanza (2011), “Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies”, IMF Working Papers 11/161, International Monetary Fund.

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2018), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

7. Ozge Akinci, Jane Olmstead-Rumsey (2018), “How effective are macroprudential policies? An empirical investigation”, Journal of Financial Intermediation, Volume 33, January 2018, Pages 33-57.

8. Phan Trung Hiền (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ. 

9. Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội. 

10. Rosenstein-Rodan P.N. (1961), “Notes on the Theory of the ‘Big Push.’” In: H.S. Ellis and H.C. Wallich, editors. Economic Development for Latin America. New York, United States: St. Martin’s.

11. Trịnh Thị Thủy (2015), Quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. ThS. Phạm Phú Thái Theo TCNH số 10/2020

10 Giải Pháp Xử Lý Nợ Xấu Và Hạn Chế Nợ Xấu

Theo đó, mục tiêu của Đề án xử lý nợ xấu là tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng với lãi suất hợp lý, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô; cải thiện thanh khoản và nâng cao sự an toàn, lành mạnh, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ. Phấn đấu đến cuối năm 2015 xử lý được cơ bản số nợ xấu hiện nay.

Đề án sẽ tập trung xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam, bao gồm nợ xấu cấp tín dụng, nợ xấu mua trái phiếu doanh nghiệp và nợ xấu ủy thác cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp. Tập trung xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% tổng dư nợ và nợ xấu có tài sản bảo đảm, trong đó ưu tiên xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản.

Theo đề án này, Thủ tướng giao 5 bộ, ngành gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) là các thành phần chủ lực, cùng với chính quyền địa phương và các ngân hàng thương mại thực hiện.

Cụ thể, NHNN được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, các cơ quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu, thành lập và phê duyệt điều lệ công ty VAMC.

Đối với các tổ chức tín dụng cố tình che giấu nợ xấu, không thực hiện nghiêm túc các giải pháp xử lý nợ xấu, NHNN được thực hiện một số giải pháp như: Tiến hành thanh tra toàn diện, yêu cầu kiểm toán bắt buộc theo các nội dung do NHNN yêu cầu. Hạn chế việc mở rộng phạm vi, quy mô, địa bàn hoạt động. Hạn chế, đình chỉ một hoặc một số hoạt động ngân hàng. Hạn chế chia cổ tức, chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng tài sản.

Áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn cao hơn quy định. Yêu cầu tăng vốn điều lệ để đáp ứng các yêu cầu đảm bảo an toàn. Quyết định giới hạn tăng trưởng tín dụng trong những trường hợp cần thiết bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng và hệ thống các tổ chức tín dụng…

Bộ Xây dựng có trách nhiệm rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý đô thị, đầu tư, xây dựng, thị trường bất động sản để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng, VAMC để xử lý nhanh nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ biện pháp đẩy mạnh đầu tư và chi tiêu công cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Đồng thời, rà soát, bổ sung, sửa đổi Luật Doanh nghiệp, tạo điều kiện xử lý nhanh nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Các địa phương cũng được giao nhiệm vụ phải phối hợp trong công tác xử lý nợ xấu.

Đối với các tổ chức tín dụng, Thủ tướng yêu cầu, phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ, NHNN về xử lý nợ xấu. Xây dựng và triển khai kế hoạch xử lý nợ xấu và nâng cao chất lượng tín dụng. Chủ động triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu và kiềm chế nợ xấu gia tăng.

10 giải pháp xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu

Để xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai, các tổ chức tín dụng chủ động triển khai 10 giải pháp:

1- Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;

2- Tăng cường trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu;

3- Tiếp tục cơ cấu lại nợ;

4- Tiếp tục hỗ trợ vốn để khách hàng khắc phục khó khăn và phục hồi;

5- Bổ sung, hoàn thiện hồ sơ pháp lý tài sản bảo đảm;

6- Thu nợ và xử lý tài sản bảo đảm;

7- Hoán đổi nợ thành vốn;

8- Bán nợ xấu cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) thuộc Bộ Tài chính;

9- Kiểm soát chặt chẽ và giảm chi phí hoạt động;

10- Hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Xây Dựng Thị Trường Mua Bán Nợ: Giải Pháp Xử Lý Nợ Xấu

Ngày đăng:01:26 19/08/2019

Trong những nỗ lực quản lý nợ công nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn nợ công, an ninh tài chính quốc gia theo đúng chủ trương của Đảng và các nghị quyết của Quốc hội thì việc khuyến khích xây dựng thị trường mua bán nợ với tư cách là một trong những giải pháp xử lý nợ xấu trong nền kinh tế là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cao. Bài viết so sánh thực trạng xây dựng thị trường mua bán nợ của Việt Nam với thông lệ quốc tế để đưa ra một số khuyến nghị về những điều kiện cần cân nhắc để có thể phát triển một thị trường mua bán nợ hiệu quả.

1. Thực trạng quản lý nợ công và xử lý nợ xấu trong nền kinh tế

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG, 2017), tỷ lệ nợ công trên GDP năm 2017 ở mức 62,6%, thấp hơn so với mức 63,6% cuối năm 2016 do tăng trưởng kinh tế khả quan đạt kế hoạch 6,7% cùng với hàng loạt giải pháp đồng bộ về cơ cấu lại ngân sách, nợ công của Chính phủ như Nghị quyết 51/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 07-NQTW về giải pháp cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công, Nghị định 04/2017/NĐ-CP về hạn chế đối tượng, xiết chặt điều kiện cấp bảo lãnh chính phủ, Nghị định 52/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài đối với chính quyền địa phương. (Hình 1)

Những nỗ lực này đã góp phần làm dư nợ Chính phủ so với GDP giảm xuống mức 51,8% từ mức 52,6% của năm 2016. Ngoài ra, áp lực trả lãi trong nước cũng giảm do một số nguyên nhân như: (i) kỳ hạn phát hành bình quân TPCP tăng từ 8,7 năm trong năm 2016 lên 13,5 năm vào năm 2017); (ii) lãi suất phát hành bình quân trái phiếu chính phủ giảm từ 6,28% năm 2016 xuống 6,1% năm 2017.

Tuy nhiên, số liệu về các chỉ tiêu kiểm soát nợ công ở Bảng 1 cho thấy mặc dù hiện nay, tỷ lệ nợ công hiện vẫn trong giới hạn Quốc hội nhưng đang tiến dần tới ngưỡng trần. Đặc biệt trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ công có xu hướng gia tăng, cụ thể như trong giai đoạn 2006 – 2010, tăng thêm 15% GDP; vào giai đoạn 2011 – 2015, tăng thêm khoảng 7% GDP, bình quân mỗi năm tốc độ tăng nợ công khoảng 18,4%, cao gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (bao gồm cả trả nợ gốc và lãi) ước khoảng 25% tổng thu NSNN, nếu tính cả vay đảo nợ thì nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ còn cao hơn. Bên cạnh đó, bội chi NSNN vẫn ở mức cao và chưa đạt mục tiêu đề ra, đi đôi với việc tăng trưởng GDP chưa đạt kế hoạch nhưng không điều chỉnh giảm bội chi tương ứng thì nợ công càng có xu hướng tăng cao, nhất là khi có phát sinh rủi ro về giá dầu, tỷ giá (Tân, 2017). Bởi vậy, Chính phủ vẫn cần tiếp tục thực thi các biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ mức bội chi hàng năm và trần nợ công để đảm bảo mục tiêu duy trì mức trần nợ công không quá 65% GDP và sau năm 2020, không quá 62% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài không quá 50% GDP. (Bảng 1)

Trải qua 01 năm triển khai áp dụng vào thực tiễn, Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg đã góp phần củng cố năng lực tài chính của các TCTD. Tính đến 30/6/2018, vốn điều lệ của toàn hệ thống ước đạt 519,01 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với cuối năm 2017, tăng 6,3% so với cuối năm 2016; vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ước đạt 720,43 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2017, tăng 21,1% so với cuối năm 2016. Đến 30/6/2018, hệ thống TCTD đã xử lý được 138,29 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 (không bao gồm 61,04 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng). Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 70,23 nghìn tỷ đồng (chiếm 50,78%), xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 21,59 nghìn tỷ đồng (chiếm 15,61%) và xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 46,46 nghìn tỷ đồng (chiếm 33,59%) (NHNN, 2018).

Trong những năm gần đây, vấn đề hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam đã được nhìn nhận như là một trong những yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Trên thực tế, hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam đã xuất hiện từ năm 2003 với sự ra đời và hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp – Bộ Tài chính. Ngày 29/4/2014, Công ty đã chính thức chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC). Đặc biệt, tháng 6/2013, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập và chính thức bắt đầu mua nợ xấu từ ngày 1/10/2013. Hiện nay, ngoài VAMC và DATC, còn có hơn 20 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) thuộc các ngân hàng thương mại và khoảng 20 công ty mua bán nợ tư nhân tham gia mua bán nợ trên thị trường Việt Nam.

2. So sánh thị trường mua bán nợ Việt Nam với thông lệ quốc tế

Hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam đã có từ 15 năm nay nhưng sự phát triển của thị trường mua bán nợ của Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế cả về chiều rộng và chiều sâu cũng như chưa có sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần kinh tế. Các sản phẩm trên thị trường còn tương đối đơn giản, giao dịch hầu như chỉ mới dừng lại ở thị trường sơ cấp. Mặc dù Chính phủ cũng đã có những chính sách ban đầu khuyến khích phát triển thị trường mua bán nợ, tuy nhiên, nếu so sánh cấu trúc thị trường mua bán nợ của Việt Nam với thông lệ quốc tế cho thấy có hai vướng mắc lớn cần khắc phục cụ thể là: (i) khung pháp lý quản lý thị trường mua bán nợ; và (ii) hoạt động của các thành phần tham gia trên thị trường mua bán nợ.

Về đối tượng áp dụng: đối tượng áp dụng của Nghị định 69 (Chính phủ, 2016) là tương đối hẹp do chỉ gồm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ (Điều 2). Trong khi đó, một số chủ thể khác đang hoạt động trên thị trường mua bán nợ hiện nay vẫn tiếp tục được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác.

Về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ: Nghị định 69 nêu rõ “Doanh nghiệp mua bán nợ không được nhận cấp tín dụng từ ngân hàng để mua nợ của khách hàng vay tại chính ngân hàng đó” (khoản 5, Điều 7). Mục đích của quy định là phòng ngừa khả năng doanh nghiệp vay tiền ngân hàng mua nợ cũ để tạo ra nợ mới hay thực chất là đảo nợ. Tuy nhiên, điều này cũng bất hợp lý vì theo các nguyên tắc thị trường và nghiệp vụ kinh doanh mua bán nợ thông thường thì doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ các khoản vay độc lập. Hơn nữa, với vốn điều lệ 100 tỉ đồng theo như quy định trong Nghị định 69 thì việc đưa ra những quy định có thể hạn chế các doanh nghiệp mua bán nợ vay vốn tín dụng để mua nợ thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp này.

Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp trông đợi nhất là điều kiện để được tham gia mua nợ xấu từ VAMC hay từ các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc các TCTD. Do đa số các khoản nợ này đều có tài sản đảm bảo nên có khả năng sinh lời, vì vậy, hấp dẫn các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được đề cập tới trong Nghị định 69.

Một vấn đề khác là việc cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua bán nợ. Theo quy định về thành lập và hoạt động của VAMC hiện nay thì việc gọi vốn nước ngoài trong xử lý nợ xấu là gần như không thể do quy chế về quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân nước ngoài chưa được quy định rõ. Trong khi đó, hiện nay, VAMC và các ngân hàng có những khoản nợ có đầy đủ giấy tờ pháp lý, có thể tổ chức bán đấu giá để thu hồi vốn nhưng các doanh nghiệp trong nước không có đủ năng lực tài chính để mua. Những trường hợp như vậy nên cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua để kéo nguồn vốn ngoại vào thị trường, tuy nhiên, vấn đề này cũng chưa được quy định trong Nghị định 69 (Minh, 2017).

Thông lệ quốc tế cho thấy sự có mặt đầy đủ và hoạt động của các thành phần tham gia trên thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán nợ. Cùng với những vấn đề tồn đọng trong khung pháp lý thì hiện nay, trên thị trường mua bán nợ Việt Nam, vẫn chưa có đủ các thành phần cơ bản hoặc là có nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Đây được coi là một trong những điểm yếu rất lớn trong phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

– Về hàng hóa trên thị trường

Thị trường trái phiếu là kênh dẫn vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế, tuy nhiên, ở Việt Nam, kênh huy động vốn này gần như chưa phát triển do nhiều nguyên nhân như hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, sức khỏe của doanh nghiệp, sự minh bạch của thị trường, tính thanh khoản. Thêm vào đó, cơ cấu thị trường trái phiếu Việt Nam có tỷ lệ trái phiếu chính phủ lớn hơn 90% tổng lượng trái phiếu được phát hành, tương đương với những thị trường kém phát triển trong khu vực như Indonesia và Philippines.

Mặc dù khung pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ và trái phiếu doanh nghiệp đã trở thành một kênh huy động vốn ngày càng quan trọng, tuy nhiên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập. Cụ thể là số lượng doanh nghiệp và lượng vốn huy động từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế. Các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chủ yếu là các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế mà đa phần là doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng như quản trị doanh nghiệp, tổ chức định mức tín nhiệm, hệ thống thông tin giao dịch thứ cấp, hệ thống nhà đầu tư… Do vậy, nhà đầu tư thiếu thông tin hỗ trợ, đặc biệt là thông tin về độ rủi ro của trái phiếu để xác định giá vốn, mức lãi suất hợp lý khiến cho trái phiếu doanh nghiệp chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư.

Hạn chế về số lượng: Số lượng các công ty tham gia mua nợ chuyên nghiệp trên thị trường Việt Nam hiện còn hạn chế và hoạt động chưa hiệu quả. Hiện bên cầu về mua nợ chỉ có DATC, VAMC và một số công ty mua bán nợ trực thuộc ngân hàng cũng như công ty mua bán nợ tư nhân. Tuy nhiên, nhiều công ty AMC thuộc các ngân hàng hiện nay chỉ thực hiện một số nghiệp vụ như thanh lý tài sản gán nợ, quản lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cho ngân hàng mẹ trong khi việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu thì gần như không thực hiện. Thêm vào đó, trong một số trường hợp, các công ty AMC còn là công cụ để các ngân hàng lách quy định của Nhà nước như lách trần tín dụng, vì thế, sẽ không giải quyết được gốc của vấn đề là xử lý nợ xấu. Mặc khác, nợ doanh nghiệp chủ yếu vẫn là do DATC mua mà không có các công ty mua bán nợ khác tham gia.

Hạn chế về năng lực và nhân sự: Năng lực tài chính và nhân sự các công ty tham gia mua bán nợ còn hạn chế đặc biệt là thiếu chuyên gia giỏi trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp. Trong số các tổ chức đã hoạt động tương đối thuần thục chỉ duy nhất có DATC, tuy nhiên, quy mô, phạm vi, nguồn lực tài chính cũng như kinh nghiệm xử lý của DATC không đáng kể so với quy mô nợ cần mua bán của Việt Nam.

Hạn chế về vốn: Số vốn của các công ty tham gia mua bán nợ còn thấp trong khi vẫn chưa có các quỹ đầu tư lớn tham gia vào thị trường mua bán nợ của Việt Nam. Hiện trên thị trường chỉ có DATC thuộc Bộ Tài chính với số vốn là tương đối lớn trong khi hầu hết các AMC khác đều có quy mô vốn nhỏ, nên gặp nhiều khó khăn khi xử lý những món nợ xấu lớn. Vốn nhỏ dẫn tới tốc độ xử lý nợ chậm chạp và do vậy, tốc độ quay vòng vốn của các công ty mua bán nợ chậm, có khi phải mất từ 3 – 5 năm để xử lý một khoản nợ. Ví dụ như với khoản nợ xấu ngân hàng gia tăng đột biến thì tốc độ xử lý của DATC phải tăng lên gấp trăm lần mới đáp ứng đủ.

– Về tổ chức quản lý, giám sát hoạt động thị trường

Thị trường mua bán nợ của Việt Nam hiện vẫn đang giai đoạn sơ khai, vì vậy, vẫn chưa có một cơ quan quản lý nhà nước nào được giao nhiệm vụ chính thức quản lý và giám sát hoạt động của thị trường này. Mặc dù Nghị định 69/2016/NĐ-CP quy định các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động mua bán nợ bao gồm Bộ Tài chính, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan đăng ký kinh doanh và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định khung, trên thực tế, các cơ quan quản lý cần xây dựng những biện pháp cụ thể hơn để có thể thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được phân công.

– Về yêu cầu công bố thông tin

Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 có đề cập giải pháp cải thiện chất lượng nguồn cung thông qua áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về công bố thông tin, quản trị công ty và xây dựng cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, cho tới thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được khung pháp lý đủ mạnh có tính răn đe trong việc yêu cầu các doanh nghiệp minh bạch trong cung cấp thông tin và cũng chưa có khung pháp lý trong việc bảo vệ nhà đầu tư.

+ Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm & thẩm định giá

Theo thống kê của (ADB, 2016), hiện Việt Nam chưa có các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và thẩm định giá có uy tín. Sự phát triển của những tổ chức này sẽ giúp định giá khoản nợ một cách hợp lý và đáng tin cậy hơn, hỗ trợ nhà đầu tư có thể xác định có nên mua các khoản nợ hay không và mua ở mức giá nào. Như vậy, thị trường mua bán nợ mới có thể trở nên minh bạch và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư hơn.

3. Một số hàm ý nhằm phát triển thị trường mua bán nợ Việt Nam

Để bổ sung cho những quy định pháp luật thì các hiệp hội nghề nghiệp cũng đưa ra những quy định hay thông lệ riêng để hỗ trợ quản lý và giám sát hoạt động của thị trường mua bán nợ. Ví dụ như DBA International là Hiệp hội lớn nhất tập hợp các công ty mua nợ phát hành các quy định hoạt động cho thành viên của mình hay ACA International, hiệp hội lớn nhất của các công ty thu nợ cũng ban hành những quy định ứng xử đối với các công ty thu nợ nói chung và các công ty thu nợ đồng thời thực hiện hoạt động mua nợ.

b. Thực hiện tổ chức quản lý giám sát hoạt động thị trường mua bán nợ

Để thị trường mua bán nợ phát triển, cần đảm bảo lợi ích cho các thành viên chính tham gia vào thị trường cụ thể là bên bán nợ, bên mua nợ và khách hàng/con nợ mà mấu chốt là đảm bảo hoạt động thu nợ phải được diễn ra một cách công bằng, minh bạch và hợp pháp. Để đạt được những mục tiêu như vậy, cần thành lập những tổ chức quản lý và giám sát thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả.

Tại các quốc gia có thị trường mua bán nợ phát triển theo thống kê của PWC (2015) thì việc thu nợ của 35% số nợ chưa thanh toán cần tới sự hỗ trợ của các tổ chức mua nợ và thu nợ chuyên nghiệp. Do đó, chính phủ các quốc gia này đặt nặng trọng tâm vào việc quản lý hoạt động của các tổ chức này. Điều đó đồng nghĩa là các công ty mua nợ hay thu nợ phải đáp ứng những quy định pháp luật ngày càng chặt chẽ hơn nên luôn phải thường xuyên theo dõi các thay đổi trong các quy định pháp luật để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình như tăng lợi nhuận, cải thiện quan hệ với khách hàng và đáp ứng những quy định pháp luật mới. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của FRBP (2013) thì một quy định quản lý chặt chẽ hơn đối với hoạt động thu nợ sẽ làm giảm 1,1 % tỷ nợ thu hồi. Như vậy, nếu càng nhiều quy định quản lý chặt hơn thì các công ty mua/thu nợ sẽ không chỉ tăng chi phí thu nợ, mà còn hạn chế nhiều hơn khi lựa chọn các chiến lược hoạt động và do vậy, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính hiệu quả của họ.

Đảm nhiệm vị trí tổ chức tư vấn nói trên có thể là các công ty tư vấn chuyên nghiệp hoặc các cơ quan quản lý của Chính phủ. Ví dụ như tại Mỹ trong năm 2016, CFPB đã tiến hành khảo sát các công ty mua nợ và thu nợ để tìm hiểu rõ hơn về chi phí hoạt động của các tổ chức này, qua đó, giúp cho CFPB đánh giá được tốt hơn tác động của các quy định mới tới các tổ chức này. Hoạt động này của CFPB đã giúp các công ty mua nợ và thu nợ có thể dự kiến được những biến đổi trong các quy định quản lý và cân nhắc điều chỉnh chiến lược hoạt động của mình cho phù hợp và kịp thời (CFPB, 2016b).

– Công ty thẩm định giá tài sản chuyên nghiệp

Để thị trường mua bán nợ hoạt động có hiệu quả thì cần thiết phải có mặt các công ty thẩm định giá chuyên nghiệp có chức năng định giá độc lập các khoản nợ sẽ được đưa ra mua bán trên thị trường.

Để kiểm soát và quản lý hoạt động thẩm định giá phát triển đúng hướng, phát huy được vai trò tích cực trong nền kinh tế, chính phủ các nước thông thường không chỉ quan tâm xây dựng các quy định quản lý, mà còn thành lập các các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động thẩm định giá và các tổ chức nghề nghiệp trên cơ sở các luật lệ đã ban hành. Nhiều nước đã giao cho tổ chức Hội chức năng quản lý và kiểm soát khá lớn. Ví dụ như tại Trung Quốc, Hội Thẩm định giá được Chính phủ bảo trợ thành lập, hỗ trợ kinh phí và ủy quyền thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước như cấp giấy phép hoạt động, ban hành các tiêu chuẩn, quy tắc thẩm định giá… Hay tại Việt Nam thì Hội Thẩm định giá Việt Nam là một tổ chức tổ chức xã hội – nghề nghiệp phi chính phủ được thành lập theo Quyết định số 138/2005/QĐ-BNV ngày 26/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính. Mục đích của Hội là đại diện cho quyền và lợi ích của cộng đồng các pháp nhân và thể nhân hoạt động thẩm định giá trên phạm vi cả nước nhằm phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp và các cá nhân hành nghề thẩm định giá, các nhà quản lý về hoạt động thẩm định giá, tổ chức và cá nhân ở trong nước và ngoài nước đóng góp, tạo điều kiện phát triển sự nghiệp thẩm định giá; động viên khuyến khích hội viên nghiêm túc chấp hành pháp luật, nâng cao kiến thức, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp xử lý những vướng mắc trong lĩnh vực thẩm định giá, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hội viên phát triển bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên.

– Tổ chức xếp hạng tín nhiệm

1. Tạp chí Tài chính. (25/2/2018, Feb. 25). truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại địa chỉ: DATC và một số vướng mắc đặt ra: http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/thong-tin-doanh-nghiep/datc-va-mot-so-vuong-mac-dat-ra 135849.html.

2. ADB. (2016). Báo cáo thường niên. ADB.

3. Chính phủ. (2016). Các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. Hà Nội: Chính phủ.

4. Cứ, P.S. (2013). Vai trò của Xếp hạng tín nhiệm trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam truy cập từ: http://crvietnam.com/tabid/229/post/154/Vai-tro-cua-Xep-hang-tin-nhiem-trong-nen-kinh-te-thi-truong-va-hoi-nhap-quoc-te-o-Viet-Nam.aspx

5. Học viện chính sách phát triển. (2014). Xúc tiến hình thành trung tâm tài chính để thu hút vốn đầu tư từ các ngân hàng, công ty tài chính và các quỹ đầu tư lớn. Hà nội: Học viện chính sách

6. Minh, Đ. T. (2017). Công ty Luật TNHH Vietthink. truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại địa chỉ: Khung pháp lý về dịch vụ mua bán nợ vẫn còn nhiều nút thắt: http://vietthink.vn/1184/print-article.html.

7. NHNN. (2018, August 28). 01 năm triển khai Nghị quyết 42 và Quyết định 1058: Bước đột phá trong xử lý nợ xấu. Retrieved December 12, 2018, from https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/ttsk/ttsk_chitiet

8. Tân, N. M. (2017, ngày 11 tháng 5). Giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công ở Việt Nam. truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018 http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/giai-phap-co-cau-lai-ngan-sach-nha-nuoc-va-no-cong-o-viet-nam-126381.html.

9. Quỳnh, Đ.H. (25/4/2018) truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại địa chỉ http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu–trao-doi/trao-doi-binh-luan/hoat-dong-mua-ban-xu-ly-no-va-mot-so-bat-cap-dat-ra-140128.html.

10. UBGSTCQG. (2017). Báo cáo toàn cảnh thị trường tài chính tiền tệ năm 2017. Hà Nội: Ủy ban Giám sát Tài chinh Quốc gia.

11. UBGSTCQG. (2018). Báo cao tình hình kinh tế tài chính xã hội tháng 5 năm 2018. Hà Nội: Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia.

12. Consumer Financial Protection Bureau (CFPB). 2016. Fair Debt Collection Practices Act, CFPB Annual Report.

13. Consumer Financial Protection Bureau (CFPB). 2016b. Study of third-party debt collection operations.

14. Federal Trade Commission. 2013. The structure and practices of the debt buying industry. http://www. ftc.gov/os/2013/01/debtbuyingreport.pdf

15. Horwitz, J. (2012). Bank of America sold card debts to collectors despite faulty records. American Banker. http://www.americanbanker.com/issues/177_62/bofa-credit-cards-collections-debts-faulty-records-1047992-1.htm

16. Office of the Comptroller of the Currency (OCC). 2013a. Statement of the Office of the Comptroller of the Currency provided to the Subcommittee on Financial Institutions and Consumer Protection; Senate Committee on Banking, Housing, and Urban Affairs; Shining a light on the consumer debt industry. http://www.occ.gov/news-issuances/ congressional-testimony/2013/pub-test-2013-116-oral.pdf.

17. Office of the Comptroller of the Currency. 2013b. Risk Management Guidance. http://www.occ.gov/news-issuances/bulletins/2014/bulletin-2014-37.html.

18. PricewaterhouseCoopers LLP. 2015. A new normal in consumer debt collections and recoveries: Focusing on compliance while delivering results. https://www.pwc.ie/media-centre/assets/publications/2015-a-new-normal-in-consumer-debt-collections-and-recoveries.pdf.

TS. Trần Thị Vân Anh

Nguồn: TCNH số 2+3/2019

Đề Xuất 10 Giải Pháp Xử Lý Nợ Xấu

Hiệp hội các Nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có bản đề xuất 10 giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.

Giải pháp đầu tiên mà VAFI đề xuất là các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này, theo VAFI, sẽ giúp ngân hàng thương mại nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của ngân hàng.

Thứ 2, các ngân hàng cần có chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý trong giai đoạn khó khăn này. Cách thức này giúp giảm chi phí một cách hợp lý nhằm hỗ trợ cho việc tăng mức trích lập dự phòng tỷ lệ nợ xấu.

Thứ 3, Nhà nước cần chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi theo 3 phương pháp. Nếu doanh nghiệp có lịch sử quản trị kinh doanh tốt, đang gặp khó khăn về nghĩa vụ trả nợ gốc hoặc do các dự án đầu tư đang triển khai chưa đi vào hoạt động… có thể chuyển một phần nợ gốc thành trái phiếu trung hạn. Điều này nhằm hỗ trợ thanh khoản và giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển.

Phương pháp thứ hai là chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ phần. Đồng thời, chuyển vị thế các ngân hàng đang là chủ nợ thành cổ đông lớn nắm đa số cổ phần nếu nhận thấy sau tái cấu trúc doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển. Theo lý giải của VAFI, đây là cách thức xử lý khá phổ biến theo thông lệ thế giới . Đối với Việt Nam, từ trước tới nay đã có rất nhiều trường hợp thành công, không những cứu được doanh nghiệp khỏi nguy cơ giải thể phá sản mà còn bảo toàn được nguồn vốn của các ngân hàng.

Để các điều kiện cơ bản để tiến trình chứng khoán hóa được thành công, theo VAFI, trong vai trò đồng chủ nợ các ngân hàng cần tích cực nâng cao tính cộng đồng hơn nữa, phối hợp với doanh nghiệp để xử lý nợ xấu. Đồng thời, các ngân hàng nên sử dụng các công ty con của mình như công ty quản lý mua bán nợ, công ty chứng khoán hay công ty quản lý quỹ để tham gia chủ động vào tiến trình chứng khoán hóa.

Giải pháp xử lý nợ xấu thứ 4, ngân hàng cần tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành ngân hàng lên 40%. Đồng thời cũng cho phép nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài lên mức 25% hoặc 30% vốn điều lệ.

Thứ năm, Chính phủ cần cho phép một số ngân hàng nước ngoài có tiểm lực tài chính mạnh, quản trị doanh nghiệp tốt mua lại những nhà băng yếu kém. Những ngân hàng yếu kém, theo định nghĩa của VAFI, là những ngân hàng có quản trị kinh doanh yếu kém, có tỷ lệ nợ xấu rất cao.

Giải pháp thứ 6, Ngân hàng Nhà nước cần khuyến khích các ngân hàng thật sự mạnh mua lại những ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên, việc mua lại này cần sự hỗ trợ từ tài chính từ phía Ngân hàng nhà nước.

Thứ 7, miễn các loại thuế (thuế GTGT, thuế Thu nhập doanh nghiệp…) cho các hoạt động mua bán nợ nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán nợ. VAFI cho rằng, việc miễn các loại thuế về hoạt động mua bán nợ sẽ làm giảm tổn thất về nợ xấu, thúc đẩy các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào thị trường mua bán nợ. Đồng thời, thực hiện giải pháp này sẽ không làm tốn kém ngân sách nhà nước.

Thứ 8, Nhà nước cần miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nghiệp vụ phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Hiệp hội các Nhà đầu tư tài chính cho rằng, điều này giúp giảm lãi suất huy động, và giúp hệ thống ngân hàng thương mại có điều kiện huy động vốn dài hạn, thay vì ngắn hạn, đồng thời thúc đẩy tiến trình chứng khoán hóa các khoản nợ.

Phá băng thị trường bất động sản là giải pháp thứ 9 được VAFI đưa ra. Hiệp hội này lý giải, trong giai đoạn hiện nay vẫn còn hàng triệu người chưa có khả năng mua nhà, nếu giá nhà chỉ ở mức vài trăm triệu đồng một căn thì nhu cầu thực tế là rất lớn. Vì thế, nhà nước cần nhanh chóng biến sáng kiến căn hộ nhỏ tối thiểu 25 m2 thành hiện thực.

Đồng thời, theo VAFI, Nhà nước nên giảm 50% thuế GTGT trong các ngành kinh tế đang gặp khó khăn như xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, sửa chữa tàu biền, vận tải biển nội địa, cơ khí.

Giải pháp cuối cùng, thứ 10, Nhà nước nên cơ cấu lại phân bổ ngân sách cho năm 2013 theo hướng tăng chi ngân sách cho lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tằng. Không nên đặt mục tiêu tăng thâm hụt ngân sách mà phải là tăng chi ngân sách cho lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng trên cơ sở giảm chi ở các ngành lĩnh vực chưa cấp thiết.

Nợ xấu theo báo cáo chính thức của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3 là 8,6%, tương đương với 202.000 tỷ đồng. Để xử lý khoản nợ xấu này, nhà điều hành cũng gợi ý giải pháp thành lập công ty mua bán nợ xấu quốc gia (AMC) với số vốn 100.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, giải pháp về công ty mua bán nợ xấu vẫn dừng lại ở mức tham khảo và bàn bạc, chứ chưa có gì chính thức, cụ thể.

Nhiều chuyên gia cho rằng, xử lý nợ xấu là việc nên quyết định và hành động nhanh để tránh những hệ lụy tiêu cực cho nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước cũng hứa sẽ đưa ra những biện pháp cụ thẻ trong năm nay để trình Chính phủ.

Tuấn Lân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!