Đề Xuất 12/2022 # Quản Lý Nhà Nước Về Báo Chí Trong Thời Kỳ Hội Nhập / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Quản Lý Nhà Nước Về Báo Chí Trong Thời Kỳ Hội Nhập / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quản Lý Nhà Nước Về Báo Chí Trong Thời Kỳ Hội Nhập / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bởi vậy, quản lý nhà nước về báo chí trong từng thời kỳ phát triển của đất nước cũng phải có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi hàng ngày của thực tế đời sống.

1. Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí

Theo quy định của Luật Báo chí năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung), cơ quan quản lý nhà nước về báo chí gồm: cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương (Bộ Thông tin và truyền thông); các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)

1.1. Quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Luật Báo chí quy định, Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí trên nhiều lĩnh vực, điển hình là các lĩnh vực sau:

1.1.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển sự nghiệp báo chí

Thời gian qua, hoạt động này được Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện nghiêm túc, đúng định hướng và sự chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, “Bộ đã và đang tiếp tục tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xác định những ấn phẩm chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, không phù hợp quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1999; trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010″… xây dựng quy hoạch hệ thống báo chí in toàn quốc” (1). Tuy nhiên, việc quy hoạch làm không đều, liên tục. Thêm nữa, công tác quản lý nhà nước về báo chí còn “thiếu chủ động trong định hướng chiến lược; chạy theo vụ việc, lúng túng trong quy hoạch, sắp xếp” (2). Thực tế hoạt động báo chí hiện nay vẫn tồn tại hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu, nhất là tình trạng có nhiều tờ báo trùng lắp về nội dung và thiếu ở chỗ nội dung một số mảng đề tài không được đề cập đến, nhất là mảng đề tài về các ngành khoa học. Thừa, thiếu còn thể hiện ở việc báo được xuất bản, phát hành phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị, còn nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, nhân dân có rất ít báo hoặc không có báo để đọc. “Nhiều cơ quan báo chí chỉ coi trọng địa bàn thành phố, thị xã vì ở đó có thể phát hành được nhiều, còn các địa bàn khác không được quan tâm đúng mức. Tình trạng đó dẫn đến mức hưởng thụ sách báo quá chênh lệch giữa thành phố, thị xã và vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, 75% báo chí chủ yếu phát hành ở thành phố, thị xã, vùng trung tâm, còn 25% báo chí phát hành ở vùng nông thôn” (3).

Lưu chiểu là một khâu quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí nhằm thực hiện chức năng kiểm tra trước khi cho lưu hành nhưng hiện nay, vẫn có một số tạp chí không thực hiện nộp lưu chiểu hoặc lưu chiểu không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Điều đó dẫn đến việc phát hiện chậm các vi phạm, gây không ít khó khăn cho quá trình xử lý và để lại hậu quả phức tạp. Hơn nữa, “khối lượng công việc phải xử lý trong công tác quản lý nhà nước về báo chí ngày càng nhiều và phức tạp, trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý trong tình hình mới” (6).

Tuy nhiên trên thực tế, mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí theo luật định chưa được thực hiện một cách rõ ràng, rành mạch. Nhiều trường hợp cơ quan chủ quản buông lỏng vai trò, trách nhiệm của mình. Một số cơ quan chủ quản không kiên quyết sáp nhập những tờ báo có tôn chỉ, mục đích trùng lặp, hoặc không đình chỉ những cơ quan báo chí thiếu các điều kiện đảm bảo cho tờ báo hoạt động bình thường, gây khó khăn cho việc quy hoạch hệ thống báo chí cả nước… Tình trạng buông lỏng chỉ đạo, quản lý của một số cơ quan chủ quản vẫn diễn ra. Không ít tờ báo xa rời tôn chỉ mục đích, chạy theo mục đích thương mại, không chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo, quản lý của cấp trên. Báo thuộc lĩnh vực này lại đưa tin về lĩnh vực khác, nhiều khi những sự kiện lớn của ngành mình, lĩnh vực mình lại phản ánh rất mờ nhạt, nhưng cơ quan chủ quản vẫn bỏ qua hoặc có nhắc nhở nhưng cơ quan báo chí không thực hiện thì cũng không xử lý. Tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo báo chí của nhiều cơ quan chủ quản thực hiện không chặt chẽ. Không ít cơ quan chủ quản phó mặc cho cơ quan báo chí tuyển chọn phóng viên, cộng tác viên, thu nhận cả những người không đủ tư cách đạo đức, chuyên môn vào làm báo. Có cơ quan chủ quản sau khi xin ra số phụ đã khoán trắng cả về nội dung lẫn kinh phí.

Vẫn còn hiện tượng cơ quan chủ quản bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo báo chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Một số cơ quan chủ quản báo chí không thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm, miễn nhiện cán bộ, không gửi văn bản thỏa thuận tới cơ quan quản lý nhà nước. Một số cơ quan xin thành lập cơ quan báo chí khi chưa đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật như: điều kiện về trụ sở, trang thiết bị, nguồn tài chính, tổ chức bộ máy, cán bộ…

Một số cơ quan báo chí chấp hành sự chỉ đạo không nghiêm túc, thường xuyên vi phạm hoặc có những vi phạm nghiêm trọng, Bộ Thông tin và truyền thông đã nhắc nhở, phê bình nhiều lần nhưng cơ quan chủ quản không tích cực chấn chỉnh, xử lý kỷ luật; hoặc xử lý không nghiêm (7).

1.3. Quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương

Trong thời gian qua, các Sở Thông tin và truyền thông đã chú trọng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương. Các Sở cũng chú trọng công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về quy hoạch báo chí; soạn thảo mới, cụ thể hóa, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy về báo chí trên cơ sở nội dung của Luật Báo chí và Nghị định 51/2002/NĐ-CP; thực hiện tốt chức năng quản lý hoạt động của các Văn phòng đại diện và phóng viên thường trú của báo chí trung ương và địa phương khác trên địa bàn…

Tuy nhiên, công tác quản lý báo chí ở địa phương còn những mặt hạn chế. Nhiều địa phương chưa có bộ phận, thậm chí chưa có cán bộ chuyên trách quản lý báo chí, xuất bản. Trong công tác quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình, Internet – lĩnh vực có tính đặc thù, đòi hỏi phải có kiến thức về công nghệ, kỹ thuật – trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ở một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu; đa số địa phương chưa có kinh phí đầu tư trang thiết bị đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của công tác quản lý. UBND và Sở Thông tin và truyền thông một số tỉnh, thành phố chưa nhận thức hết vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý các đài phát thanh, truyền hình thuộc quyền quản lý của mình. Một số địa phương, mặc dù có nhiều cơ quan báo chí, nhưng cho đến nay vẫn không có tổ chức bộ máy hoặc cán bộ chuyên trách giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Một số địa phương thực hiện việc xử lý vi phạm của cơ quan báo chí không nghiêm, có nơi không thực hiện đúng thẩm quyền (8).

2. Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí 2.1. Yêu cầu quản lý nhà nước về báo chí

Hoạt động báo chí của nước ta trong điều kiện hiện nay chịu các tác động: nhu cầu thông tin và được thông tin; sự phát triển nhanh về kỹ thuật và công nghệ truyền thông; nền kinh tế theo cơ chế thị trường… Những tác động trên đặt ra một số yêu cầu đối với quản lý nhà nước về báo chí như sau:

– Quản lý về báo chí phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của nhà nước và trong khuôn khổ của pháp luật.

– Phát triển báo chí phải đi đôi với quản lý chặt chẽ, có hiệu quả toàn bộ hệ thống báo chí cũng như từng cơ quan báo chí. Thời kỳ mới đặt ra những yêu cầu mới của hoạt động báo chí. Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường, mọi hoạt động của báo chí luôn đối mặt với nguy cơ tự phát. Do vậy, lãnh đạo, quản lý báo chí phải đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm của tình hình mới, phòng ngừa và hạn chế tiêu cực. Bên cạnh đó, cũng cần đề phòng khuynh hướng nhân danh sự lãnh đạo, quản lý để bóp nghẹt sức năng động, sáng tạo của các cơ quan cũng như cá nhân nhà báo. Quản lý chặt chẽ chính là điều kiện bảo đảm cho báo chí phát triển đúng quy hoạch, phù hợp quy mô, số lượng, tránh lãng phí. Nhưng báo chí là một bộ phận thuộc lĩnh vực sáng tạo văn hoá, tinh thần, rất cần những khoảng trống riêng như V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh. Do vậy, quản lý báo chí đòi hỏi phải vừa mềm dẻo, vừa nguyên tắc mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

– Quản lý nhà nước về báo chí phải bắt kịp trình độ phát triển cao của phương tiện kỹ thuật, công nghệ truyền thông hiện đại. Bản thân sự quản lý phải chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và đội ngũ cán bộ quản lý phải hiểu và sử dụng được. Điều này kéo theo việc các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có khuôn khổ pháp lý phù hợp với nhiều yêu cầu, trong đó có yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ truyền thông.

– Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí phải phù hợp với cơ chế vận hành trong điều kiện kinh tế thị trường. Pháp luật phải điều chỉnh kịp thời những tác động của thị trường, quy luật cung cầu. Báo chí đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của quần chúng nhưng điều đó không được dẫn đến khuynh hướng thương mại hóa một cách tràn lan và sự lũng đoạn của đồng tiền đối với báo chí. Nhu cầu thông tin và được thông tin cần có sự giao lưu quốc tế. Sự giao lưu này ngày càng mở rộng, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Pháp luật về báo chí phải phù hợp với các chuẩn mực và cam kết mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí

Để góp phần khắc phục sự yếu kém về mặt quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, chúng tôi xin nêu lên một số giải pháp sau:

2.2.1 Xây dựng quy hoạch phát triển báo chí phù hợp

Phương châm chỉ đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động báo chí là “phát triển đi đôi với quản lý tốt”. Sự phát triển này không chỉ đơn thuần là tăng về mặt số lượng mà còn bao gồm cả mở rộng quy mô, phạm vi tác động và nâng cao chất lượng thông tin. Việc tiếp tục mở rộng quy mô của báo chí trong phạm vi toàn xã hội là một yêu cầu tất yếu. Xã hội luôn phát triển, dân trí ngày càng cao, nhu cầu thông tin, giao tiếp tăng lên. Chính thực tiễn xã hội đòi hỏi mở rộng quy mô thông tin của từng cơ quan báo chí cũng như sự ra đời của những tờ báo, bản tin, tạp chí, chương trình phát thanh, truyền hình mới. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô này phải phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển báo chí, tránh tình trạng chồng chéo, vay mượn nội dung bài vở…

Hiện nay, chúng ta đã có Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010. Tuy nhiên, hoạt động báo chí trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhất là sự bùng nổ của thông tin toàn cầu… đang đặt ra những yêu cầu mới về quy hoạch báo chí; đòi hỏi chúng ta phải xây dựng chiến lược phát triển thông tin lâu dài cho đất nước. Chiến lược này phải là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Chiến lược thông tin phải đánh giá được thực trạng thông tin ở nước ta, đưa ra được các quan điểm chỉ đạo phát triển thông tin và mục tiêu phát triển thông tin đến năm 2020 và những năm tiếp theo, các giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu đó.

2.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí

Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì vậy, yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ trong lĩnh vực báo chí là hết sức cần thiết.

Chúng ta cần thấu suốt quan điểm: điều chỉnh hoạt động báo chí thông qua định hướng của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước, vừa bảo đảm sự chặt chẽ trong quy định, chế tài, vừa bảo đảm sự thông thoáng cho nhà báo và các cơ quan báo chí phát huy tính năng động, sáng tạo.

Hiện nay, Nhà nước vẫn đầu tư khá lớn cho báo chí với cơ cấu ngân sách gồm: ngân sách nhà nước cho phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử. Trong đó, phần đầu tư cho phát thanh, truyền hình là lớn nhất do các phương tiện trang thiết bị ban đầu rất đắt tiền. Trong tương lai, phần đầu tư cho báo điện tử cũng đòi hỏi lượng ngân sách khá lớn. Thực tế, đa số các báo, đài đều hoạt động dựa vào ngân sách. Nhà nước vẫn nên cấp ngân sách nhưng cần tính toán rõ các tiêu chí: mức trợ cấp, đối tượng, thời gian, trợ cấp không hoàn lại hoặc cho vay ban đầu với lãi suất thấp… để báo chí hoạt động đúng pháp luật, đúng định hướng, có hiệu quả. Tăng cường đầu tư cho các báo địa phương vùng sâu, khó khăn; có chính sách để tăng cường xuất bản và phát sóng thêm các đài bằng thứ tiếng của các dân tộc thiểu số để chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với đồng bào các dân tộc. Tựu chung lại, Nhà nước cần có chính sách tài chính quốc gia, huy động được các nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động phát triển thông tin; có chính sách và đầu tư thích hợp đối với hoạt động báo chí, đầu tư đủ, đúng trọng điểm đối với những cơ quan báo chí xứng tầm, cần thiết.

Hoạt động báo chí là một nghề vất vả và nguy hiểm. Quyết định chất lượng nội dung của một tờ báo là tổng biên tập và các nhà báo, vì vậy, Nhà nước cũng phải tính đến chính sách, chế độ hợp lý đối với nhà báo. Chính sách ưu đãi phải bảo đảm các điều kiện và phương tiện để các nhà báo hiểu biết về chủ trương, chính sách, tiếp cận với thực tiễn; tạo điều kiện cho các nhà báo hoạt động hiệu quả, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình viết báo; đề cao trách nhiệm chính trị – xã hội; có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với những nhà báo tài năng, có cống hiến xuất sắc cho đất nước.

Thứ hai, ở địa phương, cần xây dựng các quy định mới và cụ thể hơn để tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước cũng như để nâng cao vai trò của các Sở Thông tin và truyền thông.

Thứ ba, triển khai áp dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý nhà nước về báo chí. Với một đội ngũ cán bộ, nhân viên thiếu, trình độ có hạn, đầu việc nhiều thì đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý báo chí là việc làm cấp thiết. Điều đó vừa tinh giản được biên chế theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước, vừa quán xuyến công việc một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, về cán bộ quản lý báo chí, pháp luật cần quy định hệ thống tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn, bảo đảm công tác chuyên môn của từng đối tượng. Cán bộ quản lý báo chí phải có tri thức báo chí, tri thức về khoa học công nghệ thông tin và quản lý, tri thức pháp luật. Cần có những quy định cụ thể về tuyển dụng cán bộ, sắp xếp và bố trí cán bộ. Có một tình trạng tuy không phổ biến nhưng cũng cần lưu ý là các cơ quan cấp ủy và tổ chức cấp tỉnh coi ngành nào cũng giống ngành nào, “đã là tỉnh ủy viên thì làm gì cũng được”. Do vậy, nhiều người làm trái nghề vẫn phải nhận vì “tổ chức phân công”. Cuối cùng, Nhà nước cần có chính sách đào tạo và đào tạo lại những người quản lý báo chí để theo kịp tốc độ phát triển chung của xã hội và không tụt hậu quá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

2.2.8 Tăng cường thanh tra, kiểm tra

Đây là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí vì báo chí có quan hệ trực tiếp tới chính trị. Báo chí không những phản ánh dư luận mà còn tạo ra và hướng dẫn dư luận. Vì vậy, hoạt động này cần diễn ra thường xuyên, nhanh nhạy để kịp thời ngăn chặn, xử lý những vi phạm pháp luật về báo chí.

(1) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 11.

(2) Đỗ Quý Doãn, Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản hiện nay trên http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=18535628&News_id=10642346.

(3) Đỗ Quý Doãn, Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản hiện nay trên http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=18535628&News_id=10642346.

(4) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 15-16.

(5) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 14.

(6) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 15-16.

(7) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 16-18.

(8) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 18-20.

(9) Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 4.

Ths Phí Thị Thanh Tâm – Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

( MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Quản Lý Nhà Nước Về Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay (Tt) / 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ MAI ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành : Quản lý công Mã số: 62 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016

1

Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: 1. chúng tôi NGUYỄN HỮU KHIỂN 2. chúng tôi TẠ NGỌC TẤN

Phản biện 1: ……………………………………………………………………..

Phản biện 2: ……………………………………………………………………..

Phản biện 3: ……………………………………………………………………..

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện Địa điểm: Phòng Bảo vệ luận án tiến sĩ- Phòng họp…. Nhà….., Học viện Hành chính Quốc gia. Số 77 – Đường Nguyễn Chí Thanh Quận Đồng Đa, Thành phố Hà Nội. Thời gian: vào hồi … giờ …. phút, ngày ……tháng…… năm…….

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; hoặc thư viện của Học viện Hành chính quốc gia

2

MỞ ĐẦU

3

phát triển các CQBC thiếu quy hoạch; một bộ phận người làm báo còn hạn chế về năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp… Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới có những biến động phức tạp, mau lẹ; khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin có những bước phát triển mạnh mẽ, tạo ra những thời cơ, đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với báo chí. Cách thức thu nhận, trao đổi thông tin nhiều chiều và tức thì mang tính toàn cầu qua mạng interrnet đã tạo ra những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến hoạt động báo chí và QLNN về báo chí. Những năm gần đây, các thế lực thù địch thúc đẩy diễn biến hòa bình, trong đó lợi dụng những tác động, ảnh hưởng của báo chí là một chiêu bài được đẩy mạnh. Đặc biệt, mặt trận tư tưởng mà báo chí là lực lượng đi đầu được xem là ngày càng có vai trò quan trọng đối với đời sống chính trị – xã hội, nhất là đối với báo chí điện tử. Thực tế các cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng sắc màu”, “cách mạng hoa nhài” ở một loạt nước khu vực Trung Đông những năm gần đây đã cho thấy những tác động to lớn và vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí đối với đời sống chính trị – xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí là các khu vực trên thế giới. Ngày nay, báo chí trở thành mục tiêu quan trọng trong tiến trình tác động đến sự thay đổi của các hệ tư tưởng, các xu hướng chính trị. Thông tin trên báo chí ngày càng thể hiện tính định hướng dư luận. Do vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động báo chí, hoạt động QLNN về báo chí ngày càng phải đáp ứng yêu cầu cao hơn, khó khăn, phức tạp hơn. Trong khi đó, công tác quản lý chưa thực sự theo kịp. Những sai phạm trong hoạt động báo chí thời gian này cho thấy những hạn chế trong hoạt động QLNN về báo chí. Đó là những hạn chế từ cơ chế, chính sách chưa linh hoạt, đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hơn nữa. Công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đưa nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của của Nhà nước. Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế này, vai trò của Nhà nước dần thay đổi, quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề với hoạt động quản lý xã hội của Nhà 4

bản sau: Một số khái niệm như báo chí, báo in, phát thanh, truyền hình, báo chí điện tử; quan điểm, nhận thức về TDNL, TDBC trong bối cảnh hiện nay… Hoạt động QLNN về báo chí của cơ quan được Nhà nước trao quyền QLNN về báo chí; Hệ thống pháp luật QLNN về báo chí; Tổ chức bộ máy cơ quan QLNN về báo chí; Đội ngũ cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ QLNN về báo chí; Sự phối kết hợp giữa cơ quan chịu trách nhiệm QLNN về báo chí với các ban, bộ, ngành; Công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan QLNN đối với báo chí; Nguồn lực tài chính cơ quan QLNN về báo chí… – Không gian nghiên cứu: trên cả nước (chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng). – Thời gian nghiên cứu: từ năm 1986, khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới đến nay. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận: Phương pháp luận biện chứng duy vật, duy vật lịch sử, tiếp cận hệ thống. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: tổng hợp, phân tích; thống kê; so sánh, tổng kết thực tiễn; quan sát trực tiếp; nghiên cứu chuyên gia; kế thừa khoa học. 5. Đóng góp mới của luận án Về lý luận: Qua nghiên cứu nhiều công trình đi trước, nghiên cứu sinh thấy có những điểm chưa được đề cập nên trong luận án sẽ tập trung nghiên cứu, như: – Luận án hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về báo chí trong thời kỳ truyền thông đa phương tiện; đề xuất, bổ sung điểm mới cho một số khái niệm cơ bản, như báo chí, phát thanh, truyền hình, báo chí điện tử, truyền thông đa phương tiện, góp phần bổ sung cơ sở lý luận về báo chí. – Đối với QLNN về báo chí, luận án góp phần bổ sung hệ thống cơ sở lý luận QLNN về báo chí: làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm, quan điểm QLNN về báo chí trong tình hình hiện nay, trong đó có vấn đề quản lý hoạt động báo chí nên đến mức độ nào; thời điểm có thể xem xét đến việc tư nhân hóa báo chí; hoạt động QLNN về 6

báo chí phải bảo đảm quyền TDNL, TDBC, bảo đảm quản lý phải tạo điều kiện cho báo chí phát triển, hội nhập với thế giới. Về thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về báo chí từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay; xác định những ưu điểm, phân tích hạn chế trong QLNN về báo chí, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý trong nước và tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia; đề xuất các giải pháp cơ bản phù hợp với tình hình, điều kiện nước ta để góp phần hoàn thiện hơn QLNN về báo chí. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận án thành công sẽ góp phần làm rõ, bổ sung, hoàn thiện hơn nhận thức về lý luận và thực tiễn QLNN về báo chí, đặc biệt trong thời kỳ báo chí ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia. Công trình sẽ là tài liệu cung cấp thêm cơ sở khoa học – thực tiễn về QLNN về báo chí ở nước ta, cho thấy sự cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí. Công trình sẽ là nguồn tư liệu cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà lãnh đạo, QLNN về báo chí tham khảo. Công trình sẽ là tư liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu QLNN về báo chí. 7. Kết cấu luận án Gồm 4 chương không kể phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo. Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về báo chí Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí thời kỳ đổi mới ở Việt Nam Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

7

Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ

11

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 12

13

14

theo nghiên cứu sinh thì những quy định này cần được đưa vào LBC như một phần không thể thiếu trong hoạt động QLNN về báo chí ở nước ta. h) Về nguồn lực tài chính: những năm gần đây các CQBC hình thành hai dạng: Thứ nhất là một bộ phận các CQBC vẫn được cấp ngân sách. Thứ hai là không được cấp ngân sách, trong đó có cơ quan tự trang trải được, có cơ quan lỗ. Thực tế, cơ quan không phụ thuộc vào ngân sách thì hoạt động ít chịu tác động chi phối của các cơ quan nhà nước, cơ quan chủ quản. 3.3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về báo chí Đa số cán bộ quản lý hiện nay đều nhận thức rõ những yêu cầu của thời kỳ mới, cộng với chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước nên trình độ, năng lực quản lý, ý thức trách nhiệm đều được nâng lên, tính chuyên nghiệp ngày càng thể hiện rõ hơn. Tuy nhiên cũng còn những hạn chế cần sớm khắc phục. 3.3.4 Công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật: Chưa thực sự nghiêm minh nhưng cũng đã góp phần giữ kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, giúp cho việc quản lý báo chí bằng pháp luật ngày càng hiệu quả. Bên cạnh việc kiểm tra, xử lý các vi phạm, Ban, Bộ cũng biểu dương kịp thời các CQBC đã thực hiện tốt việc tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 3.4 Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 3.4.1 Nguyên nhân được xác định là: sự tác động của bối cảnh trong nước và quốc tế với những diễn biến phức tạp, nhanh chóng. Bên cạnh đó là những lúng túng, bất cập trong phương thức, năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước đối với báo chí; năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm đội ngũ cán bộ QLNN về báo chí chưa cao; công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn QLNN về báo chí, công tác quy hoạch báo chí còn chậm. 3.4.2 Bài học kinh nghiệm: Thứ nhất, trong bất kỳ điều kiện nào, QLNN về báo chí cũng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật, phải xây dựng một hành lang pháp lý đủ mạnh để tạo cơ sở quan trọng cho họat động quản lý đạt hiệu quả cao. Thứ hai, thường xuyên đổi mới hoạt động quản lý cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn. Thứ ba, luôn coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cả về 16

năng lực quản lý và phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị cho những người làm công tác quản lý báo chí. Thứ tư, bảo đảm nguồn lực tài chính. Thứ năm, tích cực mở rộng quan hệ với các nước để học hỏi, tiếp thu các kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Thứ sáu, thường xuyên, thanh tra, kiểm tra hoạt động báo chí. Nghiêm túc xử lý khi có vi phạm; đồng thời biểu dương khen thưởng kịp thời. TỔNG KẾT CHƯƠNG 3

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ

4.1 Bối cảnh và quan điểm, định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí 4.1.1 Bối cảnh chung Báo chí nước ta là báo chí cách mạng, được hình thành và phát triển trên nền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng duy nhất cầm quyền; vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân. Dự báo chung báo chí sẽ phát triển theo hướng truyền thông đa phương tiện (multi media) và truyền thông đa kênh (multi platform). Về báo chí in: sẽ tiếp tục khó khăn, nhưng sẽ không mất đi chỗ đứng quan trọng, công nghệ thông tin sẽ góp phần củng cố vai trò của báo in. Về phát thanh, truyền hình: công nghệ kỹ thuật phát triển và sẽ được ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa trong phát thanh, truyền hình. Về báo chí điện tử: sẽ phát triển mạnh. Sự phát triển của internet và các ứng dụng công nghệ sẽ tăng thời lượng trung bình của người truy cập báo chí điện tử. Dự báo báo điện tử sẽ bắt kịp và vượt thời lượng dành cho truyền hình. 4.1.2 Quan điểm và định hướng Đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động quản lý, trong đó có QLNN về báo chí theo hướng chặt chẽ, liên tục, toàn diện và đồng bộ hóa các công cụ quản lý nhà nước, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, với thông lệ quốc tế mà chúng ta ký kết 17

và tham gia; Đáp ứng yêu cầu phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; Bảo đảm quyền TDNL, TDBC theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. 4.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí 4.2.1 Hoàn thiện và phát huy hiệu lực hệ thống luật và văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí. 4.2.1.1 Trước mắt tập trung vào sửa đổi, bổ sung LBC theo tinh thần Hiến

18

đặc biệt là thông qua công tác cán bộ. Tuân thủ nghiêm các quy định về tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý CQBC, đồng thời đề cao trách nhiệm người đứng đầu CQBC. Bố trí bộ phận riêng, cán bộ chuyên trách quản lý các CQBC trực thuộc trên cơ sở có sự ràng buộc trách nhiệm. Thường xuyên kiểm tra, giám sát toàn diện để có hỗ trợ kịp thời cả về nhân lực, vật lực… 4.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về báo chí Phải xác định nhu cầu về đội ngũ cán bộ, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cả cho ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; Phải lấy chất lượng làm đầu dựa vào các tiêu chí, tiêu chuẩn của một nhà quản lý báo chí. Đối với từng lĩnh vực cũng phải có những tiêu chí riêng; Đổi mới phương thức, cách thức, nội dung tuyển dụng; Nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ thông qua việc dùng người đúng khả năng, đúng vị trí, đúng trình độ, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng; Nâng cấp các trường đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới chương trình dạy và học; Nâng cao trình độ quản lý ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi mặt. 4.2.4 Tăng cường các nguồn lực tài chính. Hoàn thiện chế độ chính sách và đầu tư thích hợp. Nhà nước cần có chính sách tài chính quốc gia. Có thể nghiên cứu phương thức Nhà nước trợ cấp có điều kiện, trợ cấp không hoàn lại hoặc cho vay ban đầu với lãi suất thấp… cho các CQBC địa phương vùng sâu, xa, khó khăn, đặc biệt là các chương trình phát sóng thêm các đài bằng thứ tiếng của các dân tộc thiểu số… 4.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế: Trên cơ sở xác định những “điểm yếu”, đề ra những giải pháp mang tính đột phá: Về kinh tế báo chí: lập nên những tập đoàn báo chí mạnh để hỗ trợ về lực cho việc hội nhập; Về năng lực quản lý, năng lực chuyên môn: phải được nâng cao để tiếp cận cái mới; Về ý thức đạo đức nghề: đề cao thông tin trung thực, chính xác, nhanh nhạy, khi đó chính kiến của nhà báo rõ ràng hơn, tiếng nói của báo chí Việt Nam sẽ có sức nặng hơn trên trường quốc tế. 4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: hoạt động này cần diễn ra thường xuyên, nghiêm túc để kịp thời ngăn chặn, xử lý những vi phạm pháp luật về báo chí. Tăng cường đầu tư trang thiết bị cần thiết, bổ sung đội ngũ cán bộ thanh tra

20

Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu / 2023

Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể về bốn nội dung quản lý nhà nước, gồm: xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại; và xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kinh nghiệm ba quốc gia điển hình, bài viết đề xuất một số bài học cho hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 

Mở đầu  

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp vĩ mô để bảo vệ sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vai trò điều tiết và quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo an toàn hiệu quả thanh toán quốc gia. Vì vậy, đối với các ngân hàng thương mại, khi mức dư nợ xấu tín dụng càng cao thì Ngân hàng Nhà nước thường đóng vai trò “người cứu cánh cuối cùng”. Bởi khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu của một ngân hàng thương mại bất kỳ trong hệ thống tăng cao báo động sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và cả uy tín ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng trong nước. Do tính chất lây lan của hiệu ứng đám đông, rủi ro tín dụng vượt kiểm soát sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính cho nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, cụ thể là, trong kiểm soát chất lượng tín dụng, đặc biệt là kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.   

Cần xây dựng và phát triển hệ thống NHTM có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng   

Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay, có sự tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.  

1. Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của ngân hàng thương mại  

Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các ngân hàng thương mại chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của Ngân hàng Trung ương, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các ngân hàng thương mại tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Trịnh Thị Thủy, 2015).   

Hoạt động quản lý nợ xấu của nhà nước bao gồm nhận diện nợ xấu, đưa ra các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình cần phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.  

 

– Phương pháp quản lý nhà nước đối với nợ xấu   

 

Hiện nay, có một số phương pháp được áp dụng phổ biến trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đó là: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế nhà nước, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp quản lý có mục tiêu, phương pháp quản lý tác nghiệp, phương pháp kiểm tra… (Phan Trung Hiền, 2009).  

Các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật. Về tính khoa học, các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải nắm vững đối tượng ngân hàng thương mại với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng này. Về tính nghệ thuật, các phương pháp quản lý nhà nước cần được lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra (Ghosh, 2015).  

– Công cụ quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại là tập hợp những phương tiện sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý về hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ quản lý này chuyển tải ý định và ý chí của mình đến các ngân hàng thương mại hoạt động trong nền kinh tế (Phan Trung Hiền, 2009).  

Hiện nay, có năm nhóm công cụ chính để quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý, (ii) Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các ngân hàng thương mại, (iii) Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, (iv) Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào các ngân hàng thương mại, và (v) Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ trên (Phan Trung Hiền, 2009).   

– Mục tiêu quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và cũng là hoạt động chủ đạo của các ngân hàng thương mại. Theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu của nhà nước cần hướng đến mục tiêu đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để ngày càng nâng cao chất lượng của hoạt động này. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với nợ xấu phải hướng đến mục tiêu tìm giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất để giảm tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng thương mại. Nói cách khác, thông qua các chính sách, cơ chế, đạo luật, nhà nước thông qua việc Ngân hàng Trung ương thực thi các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại một cách khoa học và có hiệu quả.  

Cụ thể hơn, có bốn mục tiêu cụ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại: Thứ nhất, duy trì sự an toàn và lành mạnh và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng: ngân hàng là đối tượng chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là nguồn thanh khoản dự phòng cho tất cả các tổ chức khác trong xã hội và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ của nhà nước (Corrigan, 1982). Thứ hai, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua vai trò của ngân hàng nhà nước là sẽ tạo động lực và khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển, ngăn ngừa nợ xấu. Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển: trong nền kinh tế thị trường, tác động của mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Thứ tư, định hướng, dẫn dắt và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo lập sự cân đối vĩ mô trong nền kinh tế và ngăn ngừa nợ xấu: nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động theo các quy luật vốn có của nó (Rosenstein-Rodan, 1961).

 

2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới  

2.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương châu Âu  

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB) điều hành chính sách tiền tệ đồng Euro của Liên minh châu Âu hay khu vực đồng Euro hiện nay sau khi Anh rời khối này. Do tính chất đặc thù của một khối các quốc gia, Ngân hàng Trung ương châu Âu có ban giám đốc đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc gồm lãnh đạo và đại diện các ngân hàng trung ương của các quốc gia trong liên minh. Hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của của Ngân hàng Trung ương châu Âu trong thời gian qua được triển khai gồm các nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Văn bản có vai trò quan trọng hỗ trợ việc thiết lập một khuôn khổ chung trên các hệ thống ngân hàng EU để nhận biết, phân loại và đánh giá nợ xấu đó là dự thảo hướng dẫn của Cơ quan Ngân hàng Châu Âu (European Banking Authority) từ năm 2014 (European Banking Authority, 2014, 2016a, 2016b). Các tiêu chuẩn này cung cấp các tiêu chí hài hòa để xác định các khoản nợ xấu, tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng được thực hiện bởi các ngân hàng châu Âu.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Ủy ban châu Âu tập trung đề xuất các phương án để đưa ra mức dự phòng tối thiểu cho các khoản nợ xấu trong tương lai. Ngày 14/03/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các biện pháp để giải quyết tỷ lệ nợ xấu cao tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong đó đặc biệt đề xuất quy định về dự phòng tổn thất tối thiểu đối với các khoản vay mới không hiệu quả. Sự hỗ trợ này bao gồm hai yếu tố chính: (i) yêu cầu các ngân hàng phải chi trả đến mức tối thiểu chung cho các khoản lỗ phát sinh và dự kiến đối với các khoản vay mới không hiệu quả (yêu cầu dự phòng tối thiểu) và (ii ) khi yêu cầu dự phòng tối thiểu không được đáp ứng, một khoản khấu trừ chênh lệch giữa dự phòng thực tế và dự phòng tối thiểu sẽ được 

thực hiện.   

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

 

Các cơ quan giám sát ngân hàng thiết lập Cơ chế giám sát đơn (Single Supervisory Mechanism – SSM) trên cơ sở các hoạt động của Trụ cột 2 (SREP). Điều này cho thấy, việc nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá và kiểm soát chất lượng tài sản của khoản vay một cách công bằng. Bên cạnh đó, việc đánh giá toàn diện được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cơ quan có thẩm quyền quốc gia (NCA), bao gồm một số hoạt động quan trọng, đặc biệt là đánh giá chất lượng tài sản (AQR). Hoạt động này tập trung vào việc đánh giá giá trị chính xác của tài sản đảm bảo của các ngân hàng dựa trên một phương pháp thống nhất và hài hòa.  

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các chiến lược nợ xấu được đưa ra, về cơ bản, ECB xác định bốn thành phần cơ bản, đó là: (1) Đánh giá môi trường hoạt động, (2) Phát triển chiến lược, (3) Thực hiện kế hoạch hành động, và (4) Đưa chiến lược vào quy trình quản lý ở các cấp độ. Trong tương lai, Ủy ban châu Âu sẽ cho phép những nhà giám sát ngân hàng nhiều quyền hạn hơn để họ có thể tích cực thúc đẩy các ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu nhiều năm qua.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Liên minh châu Âu trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương châu Âu có thể buộc các ngân hàng tăng “vùng đệm” đối với các khoản nợ xấu hiện tại. Các ngân hàng cũng có thể buộc phải tự động trích thêm vốn cho các khoản vay mới khi thấy mức nợ xấu vượt quá mức chấp nhận được. Tuy nhiên, một cách khách quan, các biện pháp này có thể làm chi phí tăng quá mức, ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng.   

2.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc  

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế tài chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đối với hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại trong nước, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai một số nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu giải quyết nợ xấu là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế. Trung Quốc đã ban hành chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản dưới sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một số ngân hàng thương mại quốc doanh. Các công ty này đã mạnh dạn cho chứng khoán hóa các khoản nợ của ngân hàng thương mại và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng tại Trung Quốc.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Để quản lý tốt nợ xấu trong thời kỳ mới, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu ngành Ngân hàng của quốc gia này phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu quản lý nợ xấu trong khuôn khổ tối ưu hoá hiệu suất ngân hàng; (ii) Thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường công bằng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc; (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa; (iv) Triển khai các hoạt động cho vay phải thận trọng để có thể duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.   

Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của các khoản cho vay. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trung Quốc nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền vững, huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đẩy mạnh tại Trung Quốc. Quốc gia này tích cực sử dụng các phương pháp kiểm tra, giám sát hệ thống để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu tại Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu cơ bản là thực hành tổng hợp, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tính minh bạch của các khoản nợ xấu. Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng.  

Các cơ quan giám sát ngân hàng và bảo hiểm của Trung Quốc đã được sáp nhập để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề nợ xấu cũng như nhiều thách thức trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2017, các nhà quản lý ngành Ngân hàng Trung Quốc đẩy cao áp lực dọn sạch bảng cân đối kế toán cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng tăng cường công tác kiểm tra và giám sát trên cơ sở rủi ro. Ủy ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cường năng lực giám sát và phân tích từ xa, từ đó, cải thiện hoạt động lập kế hoạch và giám sát nợ xấu tại chỗ. Nhờ đó, chất lượng kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh các hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho các ngân hàng thương mại. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tự mua lại. Hoạt động này góp phần tạo vốn cho các ngân hàng thương mại, đồng thời khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Giải pháp này còn giúp những ngân hàng thương mại yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống.  

Công tác quản lý nhà nước về nợ xấu tại Trung Quốc chú trọng vào việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu trong tương lai. Các công ty AMC của Trung Quốc là nhân tố quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại quốc gia này. Đây là các doanh nghiệp tài chính độc lập nhà nước do Bộ Tài chính bỏ vốn thành lập. Khác với các công ty AMC nước ngoài, AMC tại Trung Quốc có đặc điểm là đa mục tiêu, vừa xử lý nợ xấu, vừa phải duy trì nền tài chính ổn định, và thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng. Phương pháp xử lý nợ xấu của AMC tại Trung Quốc chủ yếu là tái cơ cấu, sắp xếp lại nợ, hoặc chuyển nhượng nợ thành cổ phần. Việc chuyển nợ thành cổ phần thường được Trung Quốc thực hiện. Phương pháp đốc thúc hoàn nợ bao gồm thúc đẩy thu mua, ra tòa, bồi thường… dù được áp dụng nhiều nhưng hiệu quả rất kém tại Trung Quốc.  

2.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản  

Các hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong thời gian:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Nhìn chung, việc xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản chú trọng vào xây dựng hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và kiện toàn. Trong quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản qua nhiều giai đoạn vẫn tồn tại một vài hạn chế, nhưng đều được Chính phủ Nhật Bản thực hiện sửa đổi hoặc ban hành Luật mới rất nhanh chóng và kịp thời.  

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Tại Nhật Bản, BOJ yêu cầu các ngân hàng thương mại phải áp dụng những tiêu chuẩn quy định quốc tế như Basel II, III trong hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu. Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường xuyên. Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước.  

Để quản lý nợ xấu có hiệu quả, BOJ ứng dụng một số nguyên tắc quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn, từ đó giảm thiểu tối đa nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, gia hạn nợ, phát mại tài sản đảm bảo, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…   

Đáng chú ý, các chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành và tuyên truyền rộng rãi. Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao. Nhờ đó, việc tuân thủ và thực hiện theo pháp luật trong khi xử lý tài sản đảm bảo trả nợ được người dân gần như chấp hành tuyệt đối.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân có thể xảy ra ở các cán bộ tín dụng của ngân hàng thương mại, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng.   

Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: việc thực hiện cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng…  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) chuyên làm nhiệm vụ tái cơ cấu lại những doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu. RCC thực hiện chức năng thu hồi nợ xấu của nền kinh tế, hay còn gọi là một doanh nghiệp dịch vụ công. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Toàn bộ số tiền thành lập IRCJ là của các ngân hàng đóng góp chứ không phải từ Nhà nước.   

Đặc biệt, Chính phủ Nhật Bản cho thực hiện việc phá sản đối với các ngân hàng thực sự yếu kém và không quản lý tốt nợ xấu. Đồng thời, Chính phủ triển khai song song những biện pháp hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo thanh toán tiền gửi tiết kiệm tại những ngân hàng đó. Ngoài ra, Nhật Bản đã tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi ở các ngân hàng lớn, đồng thời, giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng. Cụ thể, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa nợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn. Như vậy, chính những biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ Nhật Bản với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại quốc gia này bớt căng thẳng đi rất nhiều. 

 

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới, xét trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, tác giả rút ra được một số bài học sau:  

Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh xây dựng và tăng cường khung pháp lý một cách đồng bộ nhằm giám sát chặt chẽ ngành Ngân hàng, từ đó quản lý tốt và hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu. Để làm được điều này, Việt Nam cần chủ động hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tạo lập được môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững.   

Thứ hai, cần chú trọng đến việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cần hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững, từ đó có thể huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển.   

Thứ ba, cần chú trọng hơn nữa đến việc đảm bảo tính độc lập và tự quyết của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại. Nếu Ngân hàng Nhà nước không có thẩm quyền độc lập trong việc quyết định về tín dụng và quản lý nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả quản lý hoạt động này.   

Thứ tư, cần có đánh giá chính xác tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại để có thể nhanh chóng đưa ra các ứng phó ngay từ đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt, cần phải giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại để đánh giá đúng đắn tác động tới hệ thống tài chính, từ đó đưa ra những phương án phù hợp với tình hình tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, việc xử lý nhanh chóng tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng thương mại (tăng vốn kịp thời trong quá trình xử lý nợ xấu bằng mọi nguồn: công và tư), xem xét việc sử dụng vốn nhà nước để xử lý kịp thời, tránh làm sụp đổ hệ thống.  

Thứ năm, cần xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại có cấu trúc đa dạng về sở hữu, có quy mô hoạt động đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng. Chỉ như vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam mới có khả năng quản lý và xử lý hiệu quả nợ xấu. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và nợ xấu. Các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước chi phối phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển hệ thống.   

Thứ sáu, cần tăng cường quy chế quản lý, giám sát các hoạt động kinh doanh tín dụng và xử lý nợ xấu của từng ngân hàng thương mại, đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tài chính; cần chú trọng xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát ngân hàng.   

Thứ bảy, cần mở rộng kênh xử lý nợ xấu. Đây là một bài học cần được nghiên cứu kỹ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi ngân sách đầu tư cho công ty mua nợ xấu còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước quản lý) là biện pháp cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm xử lý một phần nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Việc xử lý có thể thực hiện thông qua một số phương thức như chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, mua lại nợ xấu …  

Thứ tám, cần nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên trong việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Các biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng sẽ góp phần giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại bớt căng thẳng. 

 

1. Corrigan G. (1982). “Are Banks Special?” 1982 Annual Report Essay. Minneapolis, United States: Federal Reserve Board. http://minneapolisfed.org/pubs/ar/ar1982a.cfm

2. European Banking Authority (2014), Final Draft Implementing Technical Standards on Supervisory reporting on forbearance and non-performing exposures under article 99 (4) of Regulation (EU) No 575/2013. 

3. Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104. 

4. IMF (2006), Financial Soundness Indicators: Compilation Guide, International Monetary Fund.

5. Nkusu Mwanza (2011), “Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies”, IMF Working Papers 11/161, International Monetary Fund.

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2018), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

7. Ozge Akinci, Jane Olmstead-Rumsey (2018), “How effective are macroprudential policies? An empirical investigation”, Journal of Financial Intermediation, Volume 33, January 2018, Pages 33-57.

8. Phan Trung Hiền (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ. 

9. Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội. 

10. Rosenstein-Rodan P.N. (1961), “Notes on the Theory of the ‘Big Push.’” In: H.S. Ellis and H.C. Wallich, editors. Economic Development for Latin America. New York, United States: St. Martin’s.

11. Trịnh Thị Thủy (2015), Quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. ThS. Phạm Phú Thái Theo TCNH số 10/2020

Quản Lí Nhà Nước Về An Sinh Xã Hội / 2023

4/9/2014 1 Chương VIII: Quản lí nhà nước về ASXH I. Sự cần thiết của QLNN về ASXH II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH IV. Cơ quan QLNN về ASXH 4/9/2014 2 I. Sự cần thiết của QNLL về ASXH 1.1. Khái niệm – QLNN: quá trình tác động có tổ chức và bằng pháp luật của chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước lên các đối tượng quản lí nhằm thực hiện chức năng quản lí của nhà nước 4/9/2014 3 I. Sự cần thiết của QNLL về ASXH 1.2. Sự cần thiết + Diện bảo vệ của ASXH rộng + Tất cả các chính sách ASXH đều nhằm đảm bảo công bằng xã hội + Các chính sách trong hộ thống ASXH thường có sự đan xen, lồng ghép + Hầu hết các chính sách ASXH đều phải được luật hóa 4/9/2014 4 I. Sự cần thiết của QNLL về ASXH 1.2. Sự cần thiết + Nhà nước luôn đóng vai trò trong việc duy trì mối quan hệ bền vững giữa các bên trong hệ thống ASXH + Một số chính sách ASXH không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia 4/9/2014 5 I. Sự cần thiết của QNLL về ASXH 1.3. Vai trò của QLNN về ASXH + Xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH + Nhanh chóng đưa chính sách ASXH vào cuộc sống + Điều phối các chính sách ASXH cho phù hợp + Tạo điều kiện cho các chính sách ASXH hoạt động có hiệu quả + Vai trò trong quan hệ quốc tế 4/9/2014 6 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.1. Nguyên tắc QLNN về ASXH 2.1.1.Đảm bảo đúng pháp luật và chuẩn mực quốc tế → Dựa trên cơ sở pháp luật và chuẩn mực quốc tế → Sử dụng pháp luật và chuẩn mực quốc tế là phương tiện để quản lí có hiệu quả 4/9/2014 7 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.1. Nguyên tắc QLNN về ASXH → Đòi hỏi: . Xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật . Giáo dục pháp luật cho toàn dân . Xử lí nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật 4/9/2014 8 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.1. Nguyên tắc QLNN về ASXH 2.1.2. Đảm bảo công khai và dân chủ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” – Công khai các chương trình, kế hoạch, dự án, tài chính – Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân 4/9/2014 9 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.1. Nguyên tắc QLNN về ASXH 2.1.3. Nhà nước quản lí thống nhất – Nhà nước là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có quyền ban hành hệ thống pháp luật – Hoạch định chính sách, ban hành hệ thống pháp luật, lập hệ thống cơ quan chức năng nhà nước, kiểm tra việc tổ chức thực hiện – Phân cấp quyền hạn và trách nhiệm 4/9/2014 10 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.1. Nguyên tắc QLNN về ASXH 2.1.4.Đảm bảo tính linh hoạt – Tính linh họat giúp chính sách ASXH theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện KT-XH – Đồng thời giúp nhà nước phát huy được sự chủ động, sáng tạo và linh họat trong việc điều hành, phát huy sức mạnh tổng hợp trong quá trình thực thi chính sách. 4/9/2014 11 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.2. Cơ sở QLNN về ASXH 2. 2.1. Định hướng và mục tiêu của nhà nước ” Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Xây dựng hệ thống ASXH đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân” 4/9/2014 12 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.2. Cơ sở QLNN về ASXH 2.2.2.Luật pháp quốc gia và các chuẩn mực quốc tế – Pháp luật là hệ thống các quy phạm có tính chất bắt buộc nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành – Hiến pháp có tính pháp lí cao nhất – Hệ thống pháp luật quốc gia thống nhất, các ngành luật đều có mối quan hệ ràng buộc 4/9/2014 13 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.2. Cơ sở QLNN về ASXH – Luật hành chính, luật Lao độngcó đối tượng điều chỉnh tương đối gần với luật ASXH – Hệ thống các chuẩn mực quốc tế về ASXH như hệ thống công ước, khuyến nghị về BHXH, hệ thống chuẩn nghèo quốc tế 4/9/2014 14 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.2. Cơ sở QLNN về ASXH 2.2.3. Điều kiện KT-XH – KT-XH phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ASXH – KT-XH phát triển đòi hỏi hệ thống chính sách ASXH phải thường xuyên được sửa đổi, bổ sung → Phải kết hợp hài hòa giữa chính sách KT và chính sách ASXH 4/9/2014 15 II. Nguyên tắc và cơ sở QLNN về ASXH 2.2. Cơ sở QLNN về ASXH 2.2.4. Nhận thức của công chúng về ASXH 4/9/2014 16 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.1.Xây dựng chiến lược và KH phát triển ASXH – Chiến lược và kế hoạch: + Chỉ rõ định hướng, mục tiêu cho hệ thống ASXH + Giúp Nhà nước có các bước đi và giải pháp phù hợp 4/9/2014 17 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.1.Xây dựng chiến lược và KH phát triển ASXH – Xây dựng chiến lược, kế hoạch: + Dự báo được xu hướng biến đổi của hệ thống ASXH thế giới + Đánh giá đúng thực trạng phát triển của hệ thống ASXH quốc gia + Phân tích nhu cầu về ASXH và khả năng đáp ứng nhu cầu + Đưa ra các giải pháp 4/9/2014 18 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.2. Hoạch định hệ thống chính sách ASXH – Cụ thể hóa chiến lược và kế hoạch ASXH – Là một quá trình nghiên cứu, tìm ra vấn đề cần giải quyết của hệ thống ASXH quốc gia, đề xuất các mục tiêu, giải pháp cụ thể để đạt mục tiêu – Trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua và ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật 4/9/2014 19 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.3. Ban hành văn bản pháp quy – Thể chế hóa chính sách ASXH, tạo khuôn khổ pháp luật cho hệ thống ASXH phát triển trong thực tế – Luật ASXH quan trọng đối với sự phát triển hệ thống ASXH quốc gia 4/9/2014 20 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.3. Ban hành văn bản pháp quy – Luật ASXH quan trọng đối với sự phát triển hệ thống ASXH quốc gia + Đảm bảo bằng pháp luật quyền hưởng ASXH + Tạo sự dung hòa về lợi ích, gắn kết các thành viên trong xã hội + Là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lí ASXH 4/9/2014 21 III. Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 3.4. Tổ chức bộ máy, hướng dẫn, giám sát, thanh tra việc thực hiện chính sách ASXH – Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách ASXH các cấp – Đảm bảo các cơ quan QLNN về ASXH thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, tuân thủ pháp luật về ASXH 4/9/2014 22 IV. Cơ quan QLNN về ASXH BỘ LĐ – TB – XH

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quản Lý Nhà Nước Về Báo Chí Trong Thời Kỳ Hội Nhập / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!