Đề Xuất 12/2022 # Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Trung Quốc: Trị Cả “Gốc” Lẫn “Ngọn” / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Trung Quốc: Trị Cả “Gốc” Lẫn “Ngọn” / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Trung Quốc: Trị Cả “Gốc” Lẫn “Ngọn” / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giáo sư Hồ Tinh Đấu (Đại học Công nghệ Bắc Kinh, Trung Quốc) cho rằng phòng chống tham nhũng phải trị cả “gốc” lẫn “ngọn” và phải dựa vào việc xây dựng thể chế phòng chống tham nhũng.

Trong một phát biểu mới đây, Giáo sư Kinh tế Hồ Tinh Đấu thuộc Đại học Công nghệ Bắc Kinh cho rằng, mức độ phòng chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình là chưa từng có. Tới nay, hàng loạt biện pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí của ông Tập Cận Bình đã thu được hiệu quả rất tốt.

Tuy nhiên, Giáo sư Hồ Tinh Đấu cho rằng phòng chống tham nhũng phải trị cả “gốc” lẫn “ngọn” và phải dựa vào việc xây dựng thể chế phòng chống tham nhũng.

Trị “gốc”

Muốn “trị gốc”, điều căn bản nhất là phải giải quyết mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với Hiến pháp và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với ngành tư pháp. Vấn đề này tồn tại mâu thuẫn, nhưng không phải là không thể giải quyết được. Muốn giải quyết cần phải dám đột phá.

Bạc Hy Lai bị tuyên án.

Về xây dựng cơ chế phòng chống tham nhũng.

Thứ nhất, tách Cục Phòng chống Tham nhũng và Cục Giám sát ở Trung ương và địa phương độc lập với hệ thống hành chính, xây dựng cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập từ trên xuống dưới, ở Trung ương là Tổng cục, ở các tỉnh thành là Cục, không chịu sự lãnh đạo của chính quyền và đảng ủy địa phương, nhân sự thực hiện chế độ nhiệm kỳ 3 năm, tiến hành luân chuyển định kỳ. Cơ quan cấp trên của Tổng cục là Ủy ban Kiểm tra Kỉ luật Trung ương.

Thứ hai, tách tòa án các địa phương độc lập với chính quyền địa phương và Ủy ban Chính Pháp địa phương, do Tòa án Nhân dân Tối cao trực tiếp lãnh đạo, nhân sự và ngân sách do Tòa án Nhân dân Tối cao quyết định.

Theo chuyên gia phòng chống tham nhũng ở Bắc Kinh, những gì cần phải đột phá đương nhiên không chỉ dừng lại ở hai bước nêu trên. Nhưng nếu đã có hai sự độc lập, hai bước đột phá lớn này, Trung Quốc đã đi được bước đầu tiên trong việc trị quốc theo Hiến pháp và pháp luật. Một khi đã bước đi được bước đầu tiên thì sẽ có bước thứ hai, thứ ba…

Trả lời phỏng vấn ABC, chuyên gia về Trung Quốc Paul Monk cho rằng có ba nguyên nhân chính trong vấn đề tham nhũng của Trung Quốc:

Thứ nhất, Trung Quốc là một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh, làm ra nhiều của cải so với quá khứ, vì vậy có một khoản thặng dư ngân sách lớn, do đó, có rất nhiều cám dỗ và cơ hội kiếm tiền trong tất cả mọi lĩnh vực.

Thứ hai, bộ máy chính quyền của Trung Quốc vẫn còn quan liêu, công chức chưa được trả lương cao theo lao động, nên bị cám dỗ bởi những cá nhân, tổ chức có nhiều tiền. Vì vậy, việc nhiều người trong số họ nhận hối lộ là điều khó tránh khỏi.

Quả thực, trong thời gian rất dài, người dân đã “thích nghi” với tham nhũng, hoặc vì họ không có đủ các phương tiện thông tin để nhận biết, hoặc vì họ cảm thấy bất lực trước một hiện tượng mà họ xem như là một định mệnh không thể vượt qua. Thời kỳ này đã qua rồi. Không phải vì nạn tham nhũng đã bị đánh bại, cũng không phải vì không còn tình trạng tham nhũng trong các chính quyền.

Mà nhìn một cách tổng thể, nạn tham nhũng đã bị phanh phui nhiều hơn so với trước một phần góp công lớn từ sự minh bạch hóa các nguồn thông tin. Các phương tiện thông tin từ nay cho phép người dân dễ dàng biết được những điều trước đây được che giấu và không thể biết tới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình coi đấu tranh chống tham nhũng là một ưu tiên, chính là vì ông nhận thức được rằng đó là một ưu tiên đòi hỏi của tất cả đảng viên chân chính, của toàn bộ nhân dân Trung Quốc.

Ông muốn tấn công cả “hổ” lẫn “ruồi”, tức cả các vị lãnh đạo cấp cao, và gia đình họ – những người đã làm giàu một cách bất chính và đầy tai tiếng nhờ địa vị của họ; trong khi đó các quan chức nhỏ – tham nhũng “vặt” khiến cuộc sống hàng ngày của người dân thêm khốn khó.

Sau khi nắm quyền vào năm 2012, ông Tập Cận Bình đã tuyên bố tham nhũng không chỉ là một vấn đề nghiêm trọng, mà còn là một đe dọa đối với sự tồn vong của Trung Quốc.

Theo ông, tham nhũng kéo dài có thể dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và cũng như sự suy tàn của nhà nước Trung Quốc. Hàng trăm nghìn cán bộ đảng đã bị trừng phạt vì tội tham nhũng. Một chính sách đã khiến cho Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rất được lòng người dân.

Chính phủ Trung Quốc kiên trì “đả hổ diệt ruồi”. Chiến dịch chống tham nhũng đã thu được thành quả nổi bật, nhận được sự đồng thuận rộng khắp và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Đúng như tạp chí Forbes Mỹ từng viết, những tiến triển và thành quả giành được trong lĩnh vực chống tham nhũng của Trung Quốc được mọi người ghi nhận.

Ông George Tzogopoulos, học giả Viện Nghiên cứu châu Âu Nice, Pháp, cho biết chống tham nhũng là một vấn đề nan giải mang tính toàn cầu, nhưng Trung Quốc đã thu được thắng lợi quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng chỉ trong vài năm ngắn ngủi, khiến thế giới thán phục.

Để cho những kẻ tham nhũng không chốn nương thân, Chính phủ Trung Quốc còn tăng cường truy bắt quan tham bỏ trốn ra nước ngoài. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tăng cường hợp tác quốc tế về chống tham nhũng, để những kẻ tham nhũng không nơi ẩn náu.

Trong gần 3 năm qua, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ hợp tác chống tham nhũng với 89 nước và vùng lãnh thổ, ký kết 44 hiệp ước dẫn độ và 57 hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự.

Nói về thực trạng chống tham nhũng và tầm quan trọng của nó với tương lai thế giới, tại Hội nghị các bên tham gia Công ước Liên Hợp Quốc chống tham nhũng lần thứ 6, diễn ra tại Saint-Peterbourg hồi tháng 11-2015, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon khi đó đã khẳng định: “Xóa bỏ tham nhũng là điều kiện mấu chốt để thực hiện một sự phát triển bền vững”. Trong chuyến thăm châu Phi, cùng tháng 11-2015, Giáo hoàng Francis cũng nhấn mạnh sự đòi hỏi tính liêm khiết và trung thực.

Tại Trung Phi ngày 29-11-2015, ông nhắc nhở rằng “cách hành xử và quản lý của chính quyền” có tầm quan trọng hàng đầu, do đó giới chức trách phải “làm gương cho người dân”. Tại Kenya, trong một sân vận động đầy ắp 50.000 người, Giáo hoàng Francis đã lên án tham nhũng: “Mỗi khi một người nhận hối lộ là một lần người đó phá hoại nhân cách của mình và tổ quốc của mình”.

Trong “một thế giới phẳng” sự thành công trong cuộc chiến chống tham nhũng ở một số nước đã khơi dậy các phong trào chống tham nhũng ở khắp các châu lục và ở mọi chế độ chính trị. Theo Ngân hàng thế giới (WB), số tiền tham nhũng trên toàn thế giới lên tới khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm.

Ca sĩ La Phi là bồ nhí của cựu quan chức cấp cao Bộ Đường sắt Trung Quốc Trương Thự Quang.

Theo một số nhận định, số tiền được “tẩy rửa” mỗi năm có thể lên tới 5% GDP toàn cầu. Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) nhận định trên thực tế có khoảng từ 800 đến 2.000 tỷ USD được “tẩy rửa” mỗi năm – gần bằng GDP của một số nước như Ấn Độ, Italy hay Nga. Chắc chắn, khó thống kê được một cách chính xác, nhưng những đánh giá trên cũng có thể giúp chúng ta hiểu một phần những ngóc ngách vô cùng tinh vi, phức tạp.

Nghiên cứu viên cao cấp Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga Lomanov cho biết, hành động chống tham nhũng xuyên quốc gia quy mô lớn của Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm rộng khắp của cộng đồng quốc tế, cũng nêu tấm gương và cung cấp kinh nghiệm cho nhiều nước. Chống tham nhũng xuyên quốc gia có thể ngăn chặn quan tham trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, giảm thiểu thiệt hại kinh tế, cải thiện môi trường, ngăn chặn tham nhũng từ ý nghĩa rộng hơn.

Giáo sư Andrew Wedeman, Khoa Chính trị Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Trung Quốc, Đại học bang Georgia, Mỹ cho biết, từ các chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô toàn quốc, cho tới hợp tác chống tham nhũng xuyên quốc gia dựa vào cơ chế G20, thể hiện cường độ chống tham nhũng của Trung Quốc ở nước ngoài.

Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế, tham nhũng xuyên quốc gia là một trong những tệ nạn chính trên thế giới, hợp tác chống tham nhũng xuyên quốc gia trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Việc Trung Quốc luôn tích cực thúc đẩy các bên tăng cường hợp tác thiết thực trong các mặt truy bắt quan tham trốn ra nước ngoài và thu hồi tang vật, trả lại tài sản, không cung cấp nơi lẩn trốn cho quan tham… sẽ thúc đẩy các nước cùng nhau xây dựng nguyên tắc về truy bắt quan tham trốn ra nước ngoài và thu hồi tang vật.

Để phối hợp tốt hơn nữa, ngăn chặn tình trạng quan chức tham nhũng “ôm” tiền chạy ra nước ngoài, mới đây nhất, ngày 20/1, Trung Quốc đã đề nghị các nhà ngoại giao nước ngoài tại Bắc Kinh hỗ trợ “thành lập một mạng lưới hợp tác chống tham nhũng” trong bối cảnh Bắc Kinh tìm kiếm sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ hơn trong cuộc chiến chống tham nhũng do Chủ tịch Tập Cận Bình phát động.

Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết đấu tranh chống nạn tham nhũng, đồng thời cảnh báo rằng việc thất bại trong giải quyết vấn nạn này có thể đe dọa đến tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cuộc chiến sẽ ngày càng quyết liệt hơn

Theo tuyên bố của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, các đoàn kiểm tra đã được cử đến làm việc tại Quốc hội và Ủy ban toàn quốc Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân.

Chủ tịch CCDI ông Vương Kỳ Sơn cho biết các đoàn kiểm tra làm việc dưới sự chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và sẽ tập trung vào các vấn đề như quá trình xây dựng đảng, các biện pháp chống tham nhũng và thực hiện chính sách của đảng và nhà nước tại các đơn vị. Khía cạnh đáng chú ý nhất của các đợt kiểm tra ngày càng rộng và nhằm vào các cơ quan trọng yếu này chính là sự chú trọng vào một số “tổ chức lãnh đạo đảng” – thực chất là những nhóm nhỏ gồm các quan chức chóp bu của nhiều tổ chức khác nhau.

Tại cuộc họp của CCDI – cơ quan chống tham nhũng cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc – Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cam kết đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng, khi ông Tập Cận Bình phát biểu tại cuộc họp rằng: “Nạn tham nhũng đã giảm nhưng vẫn chưa biến mất”. Chủ tịch Tập Cận Bình nói rằng chiến dịch chống tham nhũng hiện vẫn còn “khó khăn gian khổ và phức tạp,” và cho rằng cơ chế chống tham nhũng vẫn cần sự cải thiện.

Làm thế nào để chống tham nhũng từ ngọn đến gốc, để cuộc chiến chống tham nhũng tiến thêm những bước quan trọng, “diệt trừ tận gốc”, cần xây dựng các cơ chế pháp luật, quản lý nhà nước, tăng cường liêm chính… khiến quan chức từ chỗ “không dám tham nhũng” đến “không thể tham nhũng” và “không muốn tham nhũng”, có như vậy công cuộc chống tham nhũng mới thành công.

Theo Hoa Nguyễn ( tổng hợp)

An ninh thế giới

Một Số Kinh Nghiệm Phòng, Chống Tham Nhũng Của Trung Quốc / 2023

    1. Ràng buộc và giám sát quyền lực là then chốt của PCTN

    Xây dựng phòng tuyến. Ràng buộc và giám sát quyền lực, đầu tiên phải phát huy tính tự giác bên trong của cán bộ để tự ràng buộc và tự giám sát, về mặt tư tưởng cần xây dựng vững chắc phòng tuyến đạo đức, phòng tuyến kỷ luật và phòng tuyến pháp luật. Phòng tuyến đạo đức chỉ năng lực tự ràng buộc được hình thành trên nền tảng phẩm chất đạo đức tốt đẹp của một cá nhân. Phòng tuyến đạo đức vững như thành đồng có thể khiến động cơ và hành vi tham nhũng không thể phát sinh. Phòng tuyến đạo đức được hình thành chủ yếu dựa vào sự tu dưỡng đạo đức, hoàn thiện lý tưởng, lương tâm đạo đức một cách tự giác của cá nhân cán bộ lãnh đạo. Phòng tuyến pháp luật là chỉ năng lực tự kiềm chế được hình thành do trong lòng có sự kính sợ pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật. Pháp luật là biện pháp nghiêm ngặt nhất, có sức mạnh nhất để trừng trị tham nhũng, sự nghiêm ngặt và sức mạnh của nó nhờ vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.     Dùng chế độ để quản lý quyền lực. Phải tăng cường ràng buộc và giám sát đối với việc sử dụng quyền lực, đem quyền lực nhốt vào trong một cái lồng của chế độ, hình thành cơ chế trừng trị, răn đe không dám tham nhũng, cơ chế phòng ngừa không thể tham nhũng, cơ chế bảo đảm để không dễ tham nhũng. Sở dĩ dùng chế độ quản lý quyền lực trở thành pháp quy thông dụng của nhà nước pháp quyền để ràng buộc quyền lực chính là vì mọi khâu của thực thi quyền lực, mọi lĩnh vực mà quyền lực ảnh hưởng tới và tất cả quan chức nắm quyền và thực thi quyền lực đều nằm trong khuôn khổ chặt chẽ của chế độ, quyền lực chỉ có thể thi triển trong khuôn khổ “chiếc lồng sắt của chế độ”, giống như con hổ vườn bách thú chỉ có thể ở trong cái lồng, không thể dẫn đến lạm dụng quyền lực.

    2. Xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng là chiến lược quốc gia chống tham nhũng của trung Quốc

    Tháng 12-2010, Chính phủ Trung Quốc công bố sách trắng về “Chống tham nhũng và xây dựng liêm chính của Trung Quốc”, trong đó chỉ rõ xây dựng kiện toàn hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng là chiến lược chống tham nhũng quốc gia, có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ công tác công tác thúc đẩy chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết.     Xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng là quyết sách chiến lược lớn đi sâu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng tác phong Đảng liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng của Trung Quốc, nhận định một cách khoa học tình hình chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, là yêu cầu tất yếu để công tác chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết đi sâu phát triển, là con đường tất yếu để phòng ngừa và trừng trị tham nhũng có hiệu quả hơn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.     Xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng là lập kế hoạch, là trọng điểm, là công trình hệ thống và là bình diện công tác của toàn Đảng nắm công tác phòng, chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết.     Thông qua việc thúc đẩy xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và tăng cường nghiên cứu lý luận, đã làm sâu sắc thêm nhận thức mang tính quy luật, cụ thể là:     Phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc phương hướng đúng đắn của việc xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng;     Phải kiên trì xoay quanh trung tâm, phục vụ đại cục, tự giác đưa việc xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng vào đại cục của công trình mới vĩ đại về xây dựng Đảng và sự nghiệp vĩ đại mà Đảng lãnh đạo để lập kế hoạch, bố trí và thúc đẩy.     Phải kiên trì cả gốc lẫn ngọn, tiến hành đồng thời cả trừng trị và phòng ngừa, không ngừng tăng cường tính tổng thể, tính nhịp nhàng của công tác trừng trị và phòng ngừa tham nhũng.     Phải kiên trì thúc đẩy xây dựng thể chế, cơ chế, chế độ trừng trị và phòng, chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết.     Về hình thành sức mạnh tổng hợp trong công tác xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng, quan điểm và chiến lược, sách lược của Trung Quốc thể hiện ở những điểm cơ bản sau:     Thứ nhất, kiên quyết trừng trị tham nhũng, duy trì xu thế áp lực cao trừng trị tham nhũng, thực hiện có án phải được điều tra, có tham nhũng phải bị trừng trị. Kiên trì đánh cả “hổ” lẫn “ruồi”. “Đánh hổ” chính là chỉ giám sát trọng điểm, kiên quyết điều tra xử lý các hành vi tham nhũng lớn, chủ yếu có hai loại: Cần trọng điểm trừng trị những hành vi tham nhũng xảy ra ở những cán bộ trung, cao cấp và cần trọng điểm điều tra xử lý tham nhũng tập thể có tính tổ chức. “Đánh ruồi” cần trọng điểm giám sát, tập trung điều tra xử lý hai loại hành vi tham nhũng: Một là hành vi tham nhũng kiểu “quan nhỏ tham nhũng lớn”, hai là tấn công tham nhũng trong lĩnh vực dân sinh. Tham nhũng trong lĩnh vực dân sinh trực tiếp xâm hại tới các quyền lợi thiết thân như quyền sinh tồn cơ bản và quyền sống của quần chúng, những sự kiện có tính bộc phát, tính đông người mà nó dẫn tới thường khó có thể lường trước, xuất hiện phản ứng dây chuyền, dễ gây ra ảnh hưởng mặt trái xã hội tương đối lớn.     Mặt khác, phải phòng ngừa tham nhũng một cách khoa học, hiệu quả hơn. Tăng cường giáo dục chống tham nhũng với xây dựng liêm khiết và xây dựng văn hóa liêm chính, xây dựng vững chắc phòng tuyến đạo đức tư tưởng chống tham nhũng, đề phòng biến chất. Tăng cường xây dựng chế độ pháp quy chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, nâng cao năng lực thực thi chế độ, “nhốt” quyền lực vào trong “chiếc lồng chế độ”. Tăng cường giám sát đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, bảo đảm quyền lực được thực thi nghiêm chỉnh. Chú trọng trừng trị và phòng ngừa tham nhũng kết hợp một cách hữu cơ lại với nhau, nhịp nhàng với nhau, cùng phát huy vai trò.     Thứ hai, hình thành sự hợp lực áp dụng đồng thời nhiều biện pháp xử lý tổng hợp tham nhũng. Phát huy đầy đủ vai trò của pháp luật, kỷ cương, điều tra xử lý nghiêm các vụ án vi phạm pháp luật, kỷ cương theo quy định của Đảng, chính quyền và pháp luật của Nhà nước. Phát huy đầy đủ vai trò giải quyết của tổ chức, đối với những trường hợp chưa đến mức vi phạm kỷ luật nhưng đã không còn phù hợp để đảm nhận chức vụ hiện tại thì tổ chức tiến hành xử lý.

3. tăng cường sáng tạo chế độ nâng cao hiệu lực phòng ngừa và trừng trị tham nhũng

    Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn luôn coi trừng trị và phòng ngừa tham nhũng là nhiệm vụ chính trị quan trọng, với tinh thần cải cách sáng tạo, tích cực thúc đẩy xây dựng chế độ chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, tăng cường ràng buộc và giám sát đối với vận hành quyền lực, đã xây dựng được hệ thống chế độ chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết phù hợp với tình hình đất nước Trung Quốc, tạo sự bảo đảm mạnh mẽ cho phát triển lành mạnh kinh tế – xã hội và không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Thực tiễn cho thấy, muốn trừng trị và phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả cần phải tăng cường xây dựng chế độ, đem quyền lực nhốt vào “trong lồng chế độ”. Đồng thời xác định xây dựng chế độ cũng không phải làm một lần có thể dùng mãi mãi, cần phải căn cứ vào tình hình mới, tình thế mới để không ngừng điều chỉnh hoàn thiện, khiến cho chế độ luôn luôn duy trì được sức sống và hiệu lực.     Trung Quốc thực hiện tăng cường sáng tạo chế độ nâng cao hiệu lực phòng ngừa và trừng trị tham nhũng trên ba nội dung cơ bản sau:     Thứ nhất, đi sâu thúc đẩy công tác chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết cần phải đẩy nhanh sáng tạo chế độ. Thời kỳ đầu cải cách mở cửa, khi tổng kết các loại sai lầm mà Đảng Cộng sản Trung Quốc từng xảy ra trước kia, Đặng Tiểu Bình nói: “Chế độ tốt có thể khiến cho kẻ xấu không thể mặc ý hoành hành, chế độ không tốt có thể khiến cho người tốt không thể nào làm việc tốt một cách đầy đủ, thậm chí có thể đi tới mặt ngược lại”. Hơn 30 năm cải cách đến nay, Đảng và Nhà nước Trung Quốc từng bước xây dựng một loạt cơ quan, tổ chức, chế độ pháp quy, cơ chế giải pháp trừng trị và phòng ngừa tham nhũng, thúc đẩy chế độ hóa, quy phạm hóa, pháp chế hóa các mặt công tác.     Thứ hai, thúc đẩy xây dựng chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết với tinh thần cải cách sáng tạo. Cần coi trọng cao độ việc quy hoạch, xây dựng và hoàn thiện chế độ, mặt khác cũng cần coi trọng cao độ cơ chế chấp hành, cơ chế đôn đốc thực hiện chế độ, bảo đảm các chế độ được thực hiện đến nơi đến chốn, phát huy hiệu lực chế độ ở mức lớn nhất; thúc đẩy thiết kế thượng tầng của chế độ, thúc đẩy hình thành sự hợp lực của chế độ để chống tham nhũng.     Kiện toàn xây dựng chế độ ở các lĩnh vực, các khâu của chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết. Do đó cần ra sức thúc đẩy cải cách các lĩnh vực trọng điểm như đi sâu cải cách chế độ xét duyệt hành chính, cải cách chế độ nhân sự cán bộ, cải cách thể chế tư pháp và cơ chế công tác, cải cách thể chế quản lý tài chính tiền tệ, loại bỏ điều kiện chế độ và khoảng chống chế độ nảy sinh tham nhũng trong lĩnh vực này.     Sáng tạo phương pháp công tác và biện pháp chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết. Đường lối quần chúng là phương pháp lãnh đạo và phương pháp công tác căn bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bảo đảm quyền được thông tin, quyền tham gia, quyền biểu đạt, quyền giám sát của quần chúng nhân dân, là sự bảo đảm quan trọng cho quyền lực được vận hành đúng đắn.     Trung Quốc đã tích cực sáng tạo phương pháp và biện pháp, đặc biệt là tận dụng đầy đủ cơ hội to lớn do kỹ thuật đem lại như Internet, xây dựng sân chơi chống tham nhũng qua mạng, mở rộng phạm vi và độ sâu tham gia của công chúng trong công tác chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, vừa tăng cường sự giám sát đối với vận hành quyền lực, cũng đã đẩy nhanh việc phát hiện và trinh sát phá một số vụ án lớn, vụ án quan trọng, thúc đẩy quyền lực vận hành minh bạch.     Nâng cao độ mở quốc tế của xây dựng chế độ. Thời gian qua ở Trung Quốc việc các quan chức tham nhũng chạy ra nước ngoài đã trở thành vấn đề được xã hội quan tâm rộng rãi, đã thách thức nghiêm trọng tới tính quyền uy và sự tín nhiệm chung của chế độ. Trước thực trạng đó, Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế chống tham nhũng. Thông qua hợp tác quốc tế về chống tham nhũng không những đã cắt đứt đường các quan chức chạt ra nước ngoài, mà còn thể hiện với cộng đồng quốc tế quyết tâm chống tham nhũng của Trung Quốc.     Thứ ba, thông qua sáng tạo không ngừng giải phóng hiệu lực chế độ của chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, thể hiện ở hai mặt sau đây:     Không ngừng trinh sát phá một số vụ án lớn, vụ án quan trọng, thể hiện quyết tâm kiên định trừng trị tham nhũng của đảng cầm quyền. Những năm gần đây, Trung Quốc tuân thủ mọi bình đẳng trước pháp luật, không có đặc quyền trước chế độ, ràng buộc chế độ không có ngoại lệ, kiên quyết bảo vệ tính nghiêm túc của kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước. Trung Quốc kiên quyết điều tra xử lý một loạt vụ án vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật lớn, đặc biệt là các vụ án lớn cán bộ lãnh đạo lợi dụng quyền nhân sự, quyền tư pháp, quyền xét duyệt hành chính, quyền chấp pháp hành chính… để thực hiện câu kết giữa quan chức và doanh nghiệp, giao dịch quyền tiền, đòi và nhận hối lộ, đã thể hiện với toàn xã hội thái độ rõ ràng kiên quyết tấn công và trừng trị tham nhũng của Đảng, góp phần tăng cường lòng tin của quần chúng nhân dân đối với đấu tranh chống tham nhũng.

Phạm Anh Tuấn (Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương)  

Kinh Nghiệm Phòng Chống Tham Nhũng Ở Singapore / 2023

Singapore được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới với hệ thống dịch vụ công trong sạch và hiệu quả.

Tham nhũng ở Singapore đã nằm trong vòng kiểm soát của khu vực nhà nước và tư nhân.

Có được kết quả này là do các yếu tố sau:

1. Ý chí, quyết tâm mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo Singapore trước cuộc chiến chống tham nhũng:

Sau khi độc lập, nhà nước Singapore phải đối mặt với nhiều thử thách khó khăn, trong đó tham nhũng là một vấn đề khá nghiêm trọng, trở thành một nguy cơ đe dọa uy tín của đảng cầm quyền.

Năm 1960, ông Ong Pang Boon, Bộ trưởng Bộ nội vụ, đã phát biểu tại Hội đồng lập pháp:

“Chính phủ ý thức một cách sâu sắc rằng một chính quyền không thể tiếp tục tồn tại cho dù mục tiêu và ý định có tốt như thế nào đi chăng nữa, nếu tham nhũng còn tồn tại trong hàng ngũ những người có chức có quyền và trong hệ thống dịch vụ công mà chính quyền phải dựa vào đó để cung cấp một bộ máy hành chính hữu hiệu và hiệu quả nhằm biến chính sách thành hành động…

Do đó, chính phủ Singapore quyết tâm làm tất cả mọi việc có thể sao cho tất cả các biện pháp lập pháp và hành chính được thực hiện để làm giảm cơ hội xẩy ra tham nhũng, làm cho việc phát hiện tham nhũng dễ dàng hơn, răn đe và trừng trị nghiêm khắc những người có hành vi tham nhũng”.

Năm 1965, các nhà lãnh đạo ở Singapore đã tự tách cá nhân mình khỏi các quan hệ tài chính và thương mại đồng thời làm việc cần mẫn hơn những người dưới quyền để làm gương cho các viên chức nhà nước khác.

Năm 1979, ông Lý Quang Diệu, đương kim thủ tướng của Singapore đã phát biểu:

“Một khi những nhà lãnh đạo chủ chốt kém liêm khiết, không nghiêm khắc đòi hỏi những chuẩn mực cao, lúc đó cấu trúc toàn vẹn của hệ thống hành chính sẽ yếu đi và cuối cùng nó sẽ sụp đổ.

Singapore chỉ có thể tiếp tục tồn tại nếu như các bộ trưởng và viên chức cao cấp đều liêm khiết và làm việc hiệu quả…

Chỉ khi nào chúng ta giữ vững tính toàn vẹn của bộ máy hành chính thì nền kinh tế mới có thể vận hành theo hướng cho phép người Singapore thấy rõ mối liên hệ giữa làm việc siêng năng với những phần thưởng xứng đáng.

Chỉ khi đó, người ta, người nước ngoài và người Singapore mới đầu tư vào Singapore;

Chỉ khi đó người dân Singapore mới làm việc để bản thân và con cái của mình tốt hơn thông qua giáo dục và đào tạo, thay vì chỉ trông chờ vào vận may đến từ bạn bè hay người thân, hay bôi trơn quan hệ ở những nơi thích hợp”.

Có thể thấy, lời phát biểu của ông Lý Quang Diệu khi đó đã thể hiện nhận thức chung của Đảng hành động nhân dân (PAP) và chính phủ Singapore rằng:

Vị trí, vai trò của đảng cầm quyền và các nhà lãnh đạo đất nước phải được chứng minh, được thể hiện bằng chính đạo đức của họ mà phẩm chất cần thiết trước hết là sự liêm khiết.

Dựa trên cơ sở của ý chí và quyết tâm chính trị đó mà chính phủ Đảng PAP đã đưa ra một trong những nguyên tắc hướng dẫn cho giới quan chức là:

” Giữ mình trong sạch và không nhận hối lộ”.

Từ kinh nghiệm chống tham nhũng trong lịch sử và hiện tại ở Singapore, người ta có thể nêu ra một định đề là:

Nếu những người lãnh đạo không giữ được mình trong sạch thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng sẽ không bao giờ thành công.

Những người lãnh đạo phải thể hiện được đức thanh liêm của mình thì xã hội mới tin được là họ có ý chí và quyết tâm chính trị trung thực, mạnh mẽ trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Đó chính là yếu tố tiên quyết đầu tiên mang tính đột phá, dẫn dắt và chỉ đạo hành động chống tham nhũng có tính chất nhất quán và đạt hiệu quả trên thực tế.

2. Tăng cường hệ thống luật pháp và chú trọng tăng cường mức độ hình phạt đối với hành vi tham nhũng

Tuy đã ban hành Luật phòng chống tham nhũng, nhưng ở Singapore, luật này thường được xem xét lại nhằm bảo đảm kẻ phạm tội tham nhũng không thể thoát khỏi sự trừng phạt của luật pháp.

Đó là một quan điểm biện chứng, thể hiện cách nhìn hiện thực và nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật, làm các quy định pháp luật tương thích với thực tế cuộc sống luôn vận động, phát triển.

Những sửa đổi bổ sung của Luật cho đến nay gồm có:

– Cho toà án quyền ra lệnh kẻ phạm tội phải trả một số tiền tương đương với số tiền hối lộ đã nhận ngoài việc trừng phạt dưới hình thức phạt tiền và/hoặc ngồi tù.

– Cho điều tra viên nhiều quyền rộng rãi hơn.

– Không cần thiết phải chứng minh rằng kẻ nhận hối lộ có khả năng thực hiện ân huệ theo yêu cầu.

– Cho điều tra viên quyền yêu cầu viên chức nhà nước đang bị điều tra phải cung cấp lời khai có tuyên thệ nêu rõ các tài sản mà bản thân người này, vợ/chồng và con cái có sở hữu.

– Cho công tố viên quyền lấy thông tin từ cơ quan kiểm soát thuế thu nhập.

– Cho toà án quyền công nhận rằng sự giầu có không tương xứng với thu nhập là bằng chứng vững chắc bổ sung.

– Cho phép bỏ quy tắc tòng phạm xem bằng chứng tòng phạm như không đáng tin, ngoại trừ được chứng thực rõ ràng.

– Làm cho việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của điều tra viên Cục điều tra tham nhũng (CPIB) trở thành nghĩa vụ mang tính luật định.

– Công dân Singapore có thể bị trừng phạt vì những hành vi tham nhũng ở ngoài lãnh thổ Singapore và sẽ bị xử lý như thể hành vi này đã được thực hiện tại Singapore.

– Cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật là một hành vi phạm tội có thể bị bắt giữ.

Về khía cạnh này, Cục Điều tra Tham nhũng Singapore (CPIB) đã thể hiện được vai trò là một cơ quan chống tham nhũng độc lập mang lại hiệu quả rất cao, trở thành nỗi sợ hãi đối với những kẻ có ý định tham nhũng hay dính líu đến tham nhũng.

CPIB có quyền tự do hành động để xử lý kẻ tham nhũng bất kể kẻ đó ở vị trí xã hội nào, thuộc đảng phái chính trị nào, thuộc sắc tộc hay theo tín ngưỡng nào.

Theo lời của một nhà quan sát quốc tế: ” Trong bộ máy hành chính của Singapore, CPIB được kính sợ như con mắt có thể nhìn mọi thứ của lãnh đạo PAP, và được kính trọng vì sự hiệu quả chính xác như bộ máy đồng hồ và những phương pháp nghiệp vụ tinh vi.”

Tại Singapore, người có hành vi tham nhũng có thể bị phạt tiền đến 100.000 đô la Singapore, hoặc bị phạt tù đến 5 năm , hoặc áp dụng cả hai hình phạt.

Ngoài phạt tiền và phạt tù, người bị kết tội tham nhũng sẽ bị toà án ra lệnh hoàn trả lại số tiền hối lộ đã nhận; đồng thời toà án còn có quyền tịch thu tài sản và những nguồn tiền mà người bị kết tội không lý giải được nguồn gốc.

Một viên chức nhà nước tham nhũng có thể bị kết án tại toà nếu có đầy đủ bằng chứng, hoặc người này có thể được xử lý thông qua các thủ tục mang tính kỷ luật của cơ quan bộ ngành nếu không có đầy đủ chứng cứ để khởi tố tại toà.

Viên chức nhà nước bị toà kết án tham nhũng sẽ bị mất việc và nếu người này đã về hưu thì tiền lương hưu và các trợ cấp khác cũng bị mất.

Việc xử lý kỷ luật của cơ quan bộ ngành có các mức hình thức:

Đuổi việc – hạ cấp bậc – ngưng hay hoãn tăng lương – phạt tiền hay khiển trách – buộc về hưu sớm.

Hệ thống tư pháp Singapore đã áp dụng những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với những kẻ phạm tội tham nhũng không chỉ nhằm bảo đảm và duy trì sự công bằng, niềm tin của xã hội cũng như sự trong sạch và hiệu qủa của bộ máy hành chính; mà còn nhằm ngăn ngừa và răn đe những kẻ rắp tâm tham nhũng.

3. Các biện pháp hành chính phòng ngừa tham nhũng đi đôi với giáo dục

Chính phủ Singapore đã ban hành một số biện pháp hành chính nhằm giảm thiểu cơ hội phát sinh tham nhũng, đó là:

– Thay cảnh sát viên biệt phái bằng điều tra viên nhân sự.

– Hợp lý hoá các thủ tục hành chính và thường xuyên tiến hành xem xét lại các thủ tục hành chính của các bộ ngành dễ bị tham nhũng chi phối.

– Dẹp bỏ quan liêu hành chính.

– Xem xét mức lương của viên chức nhà nước để đảm bảo rằng họ được trả công một cách xứng đáng.

– Nhắc nhở các nhà thầu làm công trình của nhà nước rằng đút lót viên chức nhà nước quản lý dự án có thể dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng.

Thực tế cho thấy một bộ máy hành chính kém hiệu quả sẽ là một bộ máy đậm mầu sắc quan liêu, thủ tục rườm rà, phiền nhiễu, có nhiều kẽ hở cho viên chức lợi dụng nhận hối lộ và bòn rút công quỹ khi đồng lương ít ỏi.

Vì vậy, đi đôi với việc cải cách hành chính cần phải đảm bảo mức lương tốt cho quan chức thì sẽ giảm rất nhiều cơ hội tham nhũng bởi nếu quan chức có lương cao thì họ sẽ không dại gì nhận một khoản tiền hối lộ nào đó để rồi mất đi tất cả.

Bên cạnh chính sách lương là việc giáo dục lòng tự trọng, xem tham nhũng như là nỗi sỉ nhục danh dự và là nỗi sợ hãi khi bị áp dụng chế tài pháp luật.

Thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện, các diễn đàn về cạm bẫy của tham nhũng cho viên chức nhà nước đồng tư vấn cũng để giúp họ biết cách phòng tránh việc dính líu vào tham nhũng.

Ngoài ra, CPIB cũng tiến hành các buổi trao đổi với tên gọi:

“Hành trình học hỏi” cho học sinh các trường trung học nhằm giúp cho thế hệ trẻ có những nhận thức nhất định về hành vi tham nhũng.

Có thể nói, cuộc chiến chống tham nhũng ở Singapore chưa phải là kết thúc hoàn hảo, nhưng trên thực tế tham nhũng đã nằm trong sự kiểm soát của chính phủ nước này.

Và chính điều đó là một trong những yếu tố tạo dựng niềm tin của xã hội và các thành phần doanh nghiệp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bền vững của Singapore.

Nguồn: Tạp chí Thanh tra / Cục Điều tra Tham nhũng Singapore

Luật Phòng, Chống Tham Nhũng 2005 / 2023

Khoá XI, kỳ họp thứ 8 (Từ ngày 18 tháng 10 đến ngày 29 tháng 11 năm 2005) Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về phòng, chống tham nhũng.

1. Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

2. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.

3. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

1. Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng.

2. Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định.

3. Minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và khi cần thiết được xác minh, kết luận.

4. Nhũng nhiễu là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

5. Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.

6. Cơ quan, tổ chức, đơn vị b ao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước.

1. Tham ô tài sản.

2. Nhận hối lộ.

3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

1. Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

2. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.

6. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

b) Tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác về hành vi tham nhũng;

c) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng;

d) Chủ động phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

a) Chỉ đạo việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Gương mẫu, liêm khiết; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;

c) Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

3. Người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng quy định của pháp luật;

b) Gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

c) Kê khai tài sản theo quy định của Luật này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của việc kê khai đó.

Công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng; có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với nhau và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử vụ việc tham nhũng.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phòng, chống tham nhũng; phát hiện, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham nhũng; giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng; khi đưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa.

1. Các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.

2. Đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.

3. Lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.

1. Chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ.

1. Hình thức công khai bao gồm:

a) Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

b) Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

d) Phát hành ấn phẩm;

đ) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

e) Đưa lên trang thông tin điện tử;

g) Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Ngoài những trường hợp pháp luật có quy định về hình thức công khai, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai quy định tại khoản 1 Điều này.

1. Việc mua sắm công và xây dựng cơ bản phải được công khai theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp mua sắm công và xây dựng cơ bản mà pháp luật quy định phải đấu thầu thì nội dung công khai bao gồm:

a) Kế hoạch đấu thầu, mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển, mời thầu;

c) Thông tin về cá nhân, tổ chức thuộc chủ dự án, bên mời thầu, nhà thầu, cơ quan quản lý hoặc đối tượng khác vi phạm pháp luật về đấu thầu; thông tin về nhà thầu bị cấm tham gia và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu;

d) Văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, hệ thống thông tin dữ liệu về đấu thầu;

đ) Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu trên phạm vi toàn quốc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; báo cáo tổng kết công tác đấu thầu của bộ, ngành, địa phương và cơ sở;

e) Thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu.

1. Dự án quy hoạch đầu tư xây dựng phải được lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch.

2. Dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương phải được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

3. Dự án đầu tư xây dựng sau khi được quyết định, phê duyệt phải được công khai để nhân dân giám sát.

1. Các cấp ngân sách, đơn vị dự toán ngân sách phải công khai chi tiết số liệu dự toán và quyết toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê chuẩn, kể cả khoản ngân sách bổ sung.

2. Đơn vị dự toán ngân sách có nguồn thu và các khoản chi từ các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải công khai mục đích huy động, kết quả huy động và hiệu quả việc sử dụng các nguồn huy động.

3. Tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai các nội dung sau đây:

a) Số liệu dự toán, quyết toán;

b) Khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân (nếu có);

c) Cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ.

4. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây:

a) Việc phân bổ vốn đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm cho các dự án;

b) Dự toán ngân sách của dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư được duyệt, mức vốn đầu tư của dự án được giao trong dự toán ngân sách năm;

c) Quyết toán vốn đầu tư của dự án hằng năm;

d) Quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5. Quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây:

a) Quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ;

b) Kế hoạch tài chính hằng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền;

c) Kết quả hoạt động của quỹ;

d) Quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

6. Việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải công khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và nhân dân nơi trực tiếp thụ hưởng biết.

1. Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình, lập quỹ trong phạm vi địa phương phải lấy ý kiến nhân dân và được Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

2. Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân quy định tại khoản 1 Điều này phải được công khai để nhân dân giám sát và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.

3. Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán.

4. Công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân phải công khai các nội dung sau đây:

a) Nội dung phải công khai quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Dự toán cho từng công trình theo kế hoạch đầu tư được duyệt;

c) Nguồn vốn đầu tư cho từng công trình;

d) Kết quả đã huy động của từng đối tượng cụ thể, thời gian huy động;

đ) Kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

e) Tiến độ thi công và kết quả nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình và quyết toán công trình.

5. Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân vì mục đích từ thiện, nhân đạo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Việc quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này. Đối với các khoản viện trợ phi chính phủ phải được công khai cho các đối tượng thụ hưởng biết.

Doanh nghiệp của Nhà nước có trách nhiệm công khai vốn và tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính và kết quả kiểm toán, việc trích, lập và sử dụng quỹ của doanh nghiệp, việc tuyển dụng lao động, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp và nội dung khác theo quy định của pháp luật.

1. Việc cổ phần hoá doanh nghiệp của Nhà nước phải công khai, minh bạch; không được cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Doanh nghiệp được cổ phần hoá có trách nhiệm công khai thực trạng tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hoá và việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp (nếu có).

3. Việc bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hoá phải thực hiện bằng phương thức bán đấu giá.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện kiểm toán và chịu sự kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước theo quy định của pháp luật về kiểm toán.

2. Báo cáo kiểm toán phải được công khai theo quy định tại Điều 12 của Luật này.

1. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm dân chủ và công khai.

2. Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch đó phải thông báo công khai cho nhân dân địa phương nơi được quy hoạch, điều chỉnh biết.

3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, việc giải phóng mặt bằng, giá đền bù khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai.

4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy hoạch chi tiết và việc phân lô đất ở, đối tượng được giao đất làm nhà ở phải được công khai.

1. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp giấy phép xây dựng nhà ở và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải được công khai.

2. Việc hoá giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, đối tượng được hoá giá nhà ở và các khoản tiền phải nộp khi hoá giá nhà ở phải được công khai.

3. Việc bán nhà ở cho người tái định cư, người có thu nhập thấp và những đối tượng ưu tiên khác phải được công khai.

1. Việc tuyển sinh, thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ phải được công khai.

2. Cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, việc thu, quản lý, sử dụng học phí, lệ phí tuyển sinh, các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, các khoản hỗ trợ, đầu tư cho giáo dục và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

1. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề y, dược tư nhân, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề cho các cơ sở hành nghề y, dược phải được công khai.

2. Cơ quan quản lý khoa học – công nghệ, đơn vị nghiên cứu khoa học – công nghệ phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản hỗ trợ, viện trợ, đầu tư, các khoản thu từ hoạt động khoa học – công nghệ.

1. Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước phải được tiến hành công khai theo quy định của pháp luật.

2. Văn bản, quyết định sau đây phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:

a) Kết luận thanh tra;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định giải quyết tố cáo;

c) Báo cáo kiểm toán.

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực nhà, đất, xây dựng, đăng ký kinh doanh, xét duyệt dự án, cấp vốn ngân sách nhà nước, tín dụng, ngân hàng, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý hộ khẩu, thuế, hải quan, bảo hiểm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải công khai thủ tục hành chính, giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật và đúng yêu cầu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

3. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải thích chưa thoả đáng hoặc cố tình gây khó khăn, phiền hà thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền kiến nghị lên cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

1. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác vào cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được công khai về số lượng, tiêu chuẩn, hình thức và kết quả tuyển dụng.

2. Việc quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, chuyển ngạch, luân chuyển, điều động, khen thưởng, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật, hưu trí đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quy định của pháp luật.

2. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu phải cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức yêu cầu biết và nêu rõ lý do.

1. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

2. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó.

3. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, người được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu biết và nêu rõ lý do.

1. Hằng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.

2. Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng phải được công khai.

1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a) Xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

b) Công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình;

c) Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

2. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều này hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

3. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, đơn vị ban hành trái pháp luật các chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và xử lý kịp thời hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

2. Người có hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Người cho phép sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng vượt quá; người sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được sử dụng vượt quá.

4. Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được hưởng lợi.

1. Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức.

2. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành.

1. Cán bộ, công chức, viên chức không được làm những việc sau đây:

a) Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;

b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

đ) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.

2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.

5. Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hoá, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.

6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;

b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.

2. Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo cho người báo cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày; trường hợp cần thiết thì quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo.

Cán bộ, công chức, viên chức biết được hành vi tham nhũng mà không báo cáo, người nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức.

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong cơ quan, ngành, lĩnh vực do mình quản lý.

2. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy tắc ứng xử của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên và cán bộ, công chức, viên chức khác trong cơ quan Toà án, Viện kiểm sát.

3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức này.

1. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề.

2. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật.

2. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải theo kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Việc chuyển đổi vị trí công tác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ quản lý. Việc luân chuyển cán bộ, công chức giữ chức vụ quản lý thực hiện theo quy định về luân chuyển cán bộ.

1. Những người sau đây phải kê khai tài sản:

a) Cán bộ từ Phó trưởng phòng của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị;

b) Một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn; người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân;

c) Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Chính phủ quy định cụ thể những người phải kê khai tài sản quy định tại khoản này.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.

3. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai.

Các loại tài sản phải kê khai bao gồm:

1. Nhà, quyền sử dụng đất;

2. Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên;

3. Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

4. Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật.

1. Việc kê khai tài sản được thực hiện hằng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai làm việc và được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó.

3. Bản kê khai tài sản được nộp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

1. Việc xác minh tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

2. Việc xác minh tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết;

b) Theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

c) Có hành vi tham nhũng.

1. Trước khi ra quyết định xác minh tài sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai giải trình rõ việc kê khai. Việc giải trình phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình.

2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định xác minh trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát sinh căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 47 của Luật này.

3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc xác minh khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

4. Trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày ra quyết định xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản tiến hành thẩm tra, xác minh và phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản.

5. Thủ tục xác minh tài sản của người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. Thời hạn xác minh phải đáp ứng yêu cầu về thời gian bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

1. Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản.

2. Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản phải được gửi cho cơ quan, tổ chức yêu cầu xác minh và người có tài sản được xác minh.

3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật này phải chịu trách nhiệm về tính khách quan, chính xác và nội dung kết luận của mình.

1. Khi có yêu cầu và theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai tại các địa điểm sau đây:

a) Trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản làm việc khi người đó được bổ nhiệm, bầu, phê chuẩn;

b) Tại hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

c) Tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người được đề nghị để Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc Đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội bầu, phê chuẩn.

2. Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản của người bị khởi tố về hành vi tham nhũng phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý và lưu giữ bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai do mình quản lý; tổ chức việc xác minh theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản và công khai kết luận đó theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong các trường hợp quy định tại Điều 50 của Luật này.

1. Người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

2. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản không trung thực thì bị xoá tên khỏi danh sách những người ứng cử; người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ đã dự kiến.

Chính phủ trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ.

2. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách.

3. Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý.

4. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước về việc để xảy ra hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật này và điều lệ, quy chế của tổ chức đó.

5. Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được loại trừ trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật.

3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

4. Trong kết luận thanh tra, kết luận kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:

a) Yếu kém về năng lực quản lý;

b) Thiếu trách nhiệm trong quản lý;

c) Bao che cho người có hành vi tham nhũng.

Kết luận phải được gửi cho Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức.

1. Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý để thực hiện việc thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, Kho bạc nhà nước. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản.

2. Chính phủ áp dụng các giải pháp tài chính, công nghệ tiến tới thực hiện mọi khoản chi đối với người có chức vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 1 của Luật này và các giao dịch khác sử dụng ngân sách nhà nước phải thông qua tài khoản.

1. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng.

2. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền.

1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân và cán bộ, công chức, viên chức khác do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc người đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý.

3. Khi phát hiện hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền.

1. Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng.

2. Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.

Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật.

1. Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

2. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

3. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền; giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết để khi có biểu hiện đe doạ, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu.

3. Cơ quan thanh tra có trách nhiệm giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý; trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhận được tố cáo về hành vi tham nhũng phải xử lý theo thẩm quyền.

4. Thời hạn giải quyết tố cáo, thời hạn trả lời người tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, hạn chế thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần theo quy định của pháp luật.

1. Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này.

2. Người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng.

3. Người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng.

4. Người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.

5. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Người có hành vi tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

2. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.

3. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.

4. Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp về việc phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý.

1. Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước. Giúp việc cho Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng có bộ phận thường trực hoạt động chuyên trách.

2. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.

1. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.

2. Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát công tác phòng ngừa tham nhũng thuộc lĩnh vực do mình phụ trách.

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng.

3. Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương.

4. Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

1. Trong Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng.

2. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng quy định tại khoản 1 Điều này do Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm sau đây:

1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác ; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý;

2. Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về tham nhũng.

1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động truy tố các tội phạm về tham nhũng; kiểm sát hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án đối với các tội phạm về tham nhũng.

2. Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xét xử, hướng dẫn công tác xét xử các tội phạm về tham nhũng.

Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống tham nhũng theo các nội dung sau đây:

1. Trao đổi thường xuyên thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác phòng, chống tham nhũng;

2. Chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý;

3. Tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp phòng, chống tham nhũng.

1. Trong trường hợp cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan điều tra thì cơ quan điều tra phải tiếp nhận và giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Trong trường hợp không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có quyền thông báo với Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan điều tra cấp trên.

1. Trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát.

2. Trong trường hợp cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản cho cơ quan đã chuyển hồ sơ.

1. Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải có biện pháp để kiểm tra nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, lộng quyền, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức, viên chức của mình trong hoạt động chống tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải tăng cường quản lý cán bộ, công chức, viên chức; chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng.

3. Cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

Trường hợp có tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng đối với Thanh tra viên, Kiểm toán viên, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án và cán bộ, công chức, viên chức khác của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thì người đứng đầu cơ quan phải giải quyết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

Kết quả giải quyết tố cáo phải được công khai.

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm sau đây:

a) Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân và các thành viên tổ chức mình thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; kiến nghị các biện pháp nhằm phát hiện và phòng ngừa tham nhũng;

b) Động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng;

c) Cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xác minh, xử lý vụ việc tham nhũng;

d) Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xác minh vụ việc tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, trả lời trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày.

1. Nhà nước khuyến khích cơ quan báo chí, phóng viên đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng.

2. Cơ quan báo chí có trách nhiệm biểu dương tinh thần và những việc làm tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng; lên án, đấu tranh đối với những người có hành vi tham nhũng; tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

4. Cơ quan báo chí, phóng viên phải đưa tin trung thực, khách quan. Tổng biên tập, phóng viên chịu trách nhiệm về việc đưa tin và chấp hành pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

1. Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo về hành vi tham nhũng và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xác minh, kết luận về hành vi tham nhũng.

2. Hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm tổ chức, động viên, khuyến khích hội viên của mình xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng.

3. Hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và hội viên có trách nhiệm kiến nghị với Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhằm phòng, chống tham nhũng.

4. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, có cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi tham ô, đưa hối lộ.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các tổ chức khác tổ chức diễn đàn để trao đổi, cung cấp thông tin, phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng.

1. Công dân tự mình, thông qua Ban thanh tra nhân dân hoặc thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia phòng, chống tham nhũng.

2. Ban thanh tra nhân dân tại xã, phường, thị trấn, trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Nhà nước cam kết thực hiện điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống tham nhũng trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi.

1. Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan hữu quan thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, xây dựng chính sách, trao đổi thông tin, hỗ trợ tài chính, trợ giúp kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm trong phòng, chống tham nhũng.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong phòng, chống tham nhũng.

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006.

2. Pháp lệnh chống tham nhũng ngày 26 tháng 02 năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh chống tham nhũng ngày 28 tháng 4 năm 2000 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Trung Quốc: Trị Cả “Gốc” Lẫn “Ngọn” / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!