Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tài chính vi mô là loại hình cung cấp dịch vụ tài chính cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ. Cùng với các ngân hàng thương mại, công ty công nghệ, công ty cung cấp mạng di động và truyền thông thì TCVM đã và đang trở thành một phần quan trọng trong nỗ lực thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam.

Nhằm thúc đẩy TCVM phát triển rộng khắp, Việt Nam cần xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp, đề ra những giải pháp giúp quản lý chặt chẽ hoạt động của tổ chức TCVM theo quy định của pháp luật, định hướng cho các tổ chức TCVM phát triển an toàn, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, góp phần ổn định hệ thống tài chính – ngân hàng nói chung. Việc xây dựng và phát triển một cách căn bản loại hình tổ chức TCVM cũng là mục tiêu được đặt ra trong Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2195/QĐ-TTg.

Thúc đẩy phát triển các tổ chức TCVM có ý nghĩa kinh tế, chính trị, an sinh xã hội rất lớn thông qua mở rộng cánh cửa tiếp cận dịch vụ tài chính và tín dụng cho người có thu nhập thấp, người nghèo và người yếu thế; từ đó, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, hạn chế tình trạng “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi. Nhiều nghiên cứu cho thấy tín dụng vi mô và tiếp cận tín dụng vi mô là điều kiện quan trọng quyết định khả năng nâng cao mức sống và thoát cảnh đói nghèo. Theo PGS,TS. Trần Thị Thanh Tú, khoa Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội), nếu xét về mặt xã hội, TCVM đem lại cơ hội cho người dân vùng nông thôn – đặc biệt người nghèo, có thể tiếp cận dịch vụ tài chính, tăng cường sự tham gia vào cộng đồng. Bởi dễ thấy là các tổ chức TCVM có thể tiếp cận trực tiếp với khách hàng, từ việc phát vốn tới thu hồi vốn ở những vùng miền, khu vực mà ngân hàng hay mô hình chi nhánh truyền thống không thể với tới. Ngoài ra, TCVM còn trao quyền cho phụ nữ khi tăng khả năng thu và kiểm soát tài sản, giúp tự chủ và ra quyết định lớn trong gia đình; tăng thu nhập cho hộ nghèo – cận nghèo bằng việc trang trải các chi phí y tế, giáo dục, cải thiện sức khỏe và chế độ dinh dưỡng ..

Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam hiện nay, các tổ chức TCVM hoạt động vẫn còn manh mún, sản phẩm, dịch vụ chưa thật đa dạng, các chỉ số hoạt động và phát triển bền vững chưa cao. Đại diện Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) chia sẻ: Nhìn chung, hoạt động của các tổ chức TCVM gặp nhiều khó khăn khi đồng thời theo đuổi mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội. Việc cân bằng cả 2 mục tiêu cần hướng tới sự chuyên nghiệp hóa hoạt động, tạo dựng dịch vụ tài chính thân thiện, dễ tiếp cận cho người nghèo ngay tại cộng đồng, góp phần làm giảm nạn cho vay nặng lãi, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Có thể nói, hiệu quả xã hội của một tổ chức TCVM là những ảnh hưởng tích cực tới người sử dụng dịch vụ tài chính, nhân viên tại chính tổ chức đó, cộng đồng xung quanh và môi trường mà hoạt động TCVM mang lại, thể hiện trách nhiệm xã hội và sự bền vững luôn được đánh giá kèm với mức độ tiếp cận và tính an toàn.

Đối với tổ chức TCVM, Luật BHTG 2012 và Nghị định số 68/2013/NĐ-CP đã quy định và hướng dẫn chi tiết: “Tổ chức TCVM phải tham gia BHTG đối với tiền gửi của cá nhân, bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng TCVM, trừ tiền tiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức TCVM.” Như vậy, tương tự các TCTD khác, quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức TCVM luôn được đảm bảo và cũng là để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tiết kiệm thuận lợi nhằm huy động và mở rộng quy mô nguồn vốn cho loại hình tổ chức TCVM.

BHTGVN luôn chú trọng triển khai chính sách BHTG tại khối các tổ chức TCVM đồng bộ cùng với các loại hình tổ chức tham gia BHTG khác mặc dù số lượng tổ chức TCVM hiện tại vẫn còn khiêm tốn. Công tác thực hiện chính sách BHTG tại các tổ chức TCVM được BHTGVN tiến hành kịp thời và đầy đủ thông qua một loạt các hoạt động nghiệp vụ như: cấp, cấp lại Chứng nhận tham gia BHTG; tham gia giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ và tham gia xử lý trong quá trình Tái cơ cấu các TCTD; thông tin tuyên truyền chính sách BHTG.

Cụ thể, về tham gia công tác giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, BHTGVN luôn nỗ lực đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất theo Quy chế kiểm tra của BHTGVN, góp phần phát hiện thiếu sót và hạn chế trong quản trị điều hành, kiểm soát nội bộ, huy động vốn, hoạt động tín dụng, hạch toán, thu chi tiền mặt, quản lý giấy tờ sổ sách… cũng như mức độ thi hành nghiêm túc quy định của pháp luật về BHTG. BHTGVN sẵn sàng hỗ trợ các tổ chức TCVM xác định rõ nguyên nhân, kiến nghị biện pháp khắc phục. Bên cạnh đó, BHTGVN xác định thông tin tuyên truyền chính sách BHTG là một trong những nghiệp vụ quan trọng cần đẩy mạnh tại các tổ chức TCVM. Từ đó, nâng cao nhận thức của chính tổ chức TCVM về chính sách BHTG, tăng cường ý thức tự giác chấp hành quy định, hướng dẫn của BHTGVN, góp phần ổn định hoạt động của hệ thống tài chính – ngân hàng quốc gia.

Hoạt Động Của Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Chính Thức Tại Việt Nam

Ngày nhận bài: 30/12/2018 – Ngày biên tập: 3/1/2019 – Ngày duyệt đăng: 15/3/2019 (Bài đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 6/2019) : Tài chính vi mô (TCVM) là việc cung cấp trên một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ (ADB, 2010). Luật các Tổ chức tín dụng (2010) quy định, tổ chức TCVM là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng hoạt động tài chính của các tổ chức TCVM chính thức, được chuyển đổi từ các tổ chức phi chính phủ. : tài chính vi mô, hoạt động tài chính, tổ chức TCVM chính thức Activities of official micro finance institutions in Vietnam : Micro finance generally refers to the provision of financial services such as savings, loans, payment services, insurance, remittances in wide scale to the poor or low income households, individual business or micro SMEs (ADB, 2010). The Law on credit institutions (2010) stipulates that micro finance institutions are credit institutions mainly carrying out some banking activities to meet the needs of low income individuals and households as well as micro SMEs. In this article, the author concentrates on analyzing current situation and activity of official micro finance institutions, those are transformed from non- government organizations. : micro finance, financial activity, official micro finance institution Thực trạng hoạt động tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam

Hoạt động tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tập trung vào hai hoạt động cơ bản là tín dụng và tiết kiệm. Hoạt động tín dụng là chủ đạo, chiếm gần như tuyệt đối tổng tài sản của tổ chức TCVM chính thức. Với các sản phẩm ngày càng đa dạng về phương pháp cho vay, đối tượng cho vay, quy mô cho vay, mục đích cho vay, kỳ hạn trả nợ… hoạt động tín dụng đã góp phần hỗ trợ khách hàng phát triển sản xuất kinh doanh, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giầu. Về kết quả hoạt động, quy mô dư nợ của các tổ chức TCVM chính thức có xu hướng tăng, với tổng dư nợ tăng từ 2.197.884 triệu đồng (2013) lên 4.780.137 triệu đồng (2017), tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm. Kết quả này phản ánh hoạt động của các tổ chức TCVM chính thức ngày càng ổn định và phát triển, theo hướng chuyên nghiệp hơn, và hiệu quả hơn. Về phân loại tổ chức theo quy mô dư nợ, tính đến thời điểm cuối năm 2017, có 3/4 tổ chức chính thức được xếp vào loại tổ chức có quy mô lớn (gồm CEP, TYM và Thanh Hóa MFI), với tổng dư nợ trên 8 triệu USD, M7MFI là tổ chức duy nhất có quy mô vừa, với tổng dư nợ nằm trong khoảng từ 2-8 triệu USD).

Biểu 1: Quy mô tín dụng của các tổ chức TCVM chính thức giai đoạn 2013-2017 Đơn vị: Triệu VND

Mặc dù là tổ chức được cấp phép muộn hơn so với các tổ chức khác, nhưng với bề dày về lịch sử hoạt động trong lĩnh vực TCVM nên CEP là tổ chức dẫn đầu quy mô dư nợ. Quy mô dư nợ của CEP năm 2017 đạt 3.036.567 triệu đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2013, tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm. Đứng thứ hai về quy mô dư nợ là TYM, tổ chức đầu tiên được cấp phép vào năm 2010. Quy mô dư nợ của TYM tăng từ 601.949 triệu đồng (2013) lên 1.221.271 triệu đồng (2017), tương ứng với tỷ lệ tăng bình quân trên 19%/năm. Tiếp theo là Thanh Hóa MFI, mặc dù không phải là tổ chức có quy mô dư nợ cao nhất, nhưng Thanh Hóa MFI lại là tổ chức có mức tăng trưởng dư nợ ấn tượng nhất trong số các tổ chức chính thức. Với tỷ lệ tăng trưởng dư nợ bình quân giai đoạn 2013-2017 đạt gần 43% đã làm cho tổ chức này được xếp vào nhóm tổ chức có quy mô lớn từ năm 2016. Quy mô dư nợ của Thanh Hóa MFI đạt 294.737 triệu đồng (2017), gấp hơn 4 lần so với năm 2013. M7MFI là tổ chức chính thức duy nhất có quy mô vừa, với tổng dư nợ đạt 152.562 triệu đồng (2017), tăng bình quân trên 11%/năm trong giai đoạn 2013-2017.

Một trong những đặc thù trong hoạt động tín dụng của các tổ chức TCVM chính thức so với các loại hình tổ chức tín dụng khác là tỷ lệ nợ xấu ở mức rất thấp, thể hiện ở tỷ lệ Par 30 của các tổ chức TCVM chính thức đều nhỏ hơn 0,5%. Con số này thấp hơn rất nhiều so với chuẩn quốc tế 5% và chuẩn Việt Nam 3%. Rủi ro trong hoạt động tín dụng ở mức thấp là do đặc thù trong hoạt động cho vay của các tổ chức TCVM nói chung cũng như các tổ chức TCVM chính thức nói riêng về quy mô cho vay nhỏ, phương thức trả dần gốc và lãi định kỳ đã không tạo ra gánh nặng trả nợ cho khách hàng.

Về hoạt động tiết kiệm, sau khi chuyển đổi, các tổ chức chính thức đều chú trọng phát triển sản phẩm tiết kiệm tự nguyện và coi đây là nguồn vốn quan trọng trong hoạt động. Với quy mô gửi nhỏ, linh hoạt, thủ tục đơn giản, thuận tiện… huy động tiết kiệm tự nguyện ngày càng phát triển. Quy mô huy động tiết kiệm của các tổ chức TCVM chính thức có sự gia tăng nhanh chóng so với giai đoạn trước khi chuyển đổi, với tổng số dư tiết kiệm đạt 2.730.265 triệu đồng (2017), tăng gần 3 lần so với năm 2013, tương ứng với mức tăng bình quân 29%/năm. Tương ứng với sự gia tăng của quy mô tiết kiệm, tỷ trọng vốn tiết kiệm trong tổng nguồn vốn cũng tăng trong giai đoạn 2013-2017. Cụ thể là tỷ trọng vốn tiền gửi trong tổng nguồn vốn tăng từ khoảng 40% (2013) lên trên 50% (2017).

Biểu 2: Quy mô tiết kiệm của các tổ chức TCVM chính thức giai đoạn 2013-2017 Đơn vị: Triệu VND

Trong số các tổ chức chính thức, Thanh Hóa là tổ chức có tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn ấn tượng nhất, bình quân trên 55%/năm. Sự tăng trưởng ấn tượng này đã làm cho Thanh Hóa trở thành tổ chức lớn thứ ba về quy mô tiết kiệm. Tổng huy động tiết kiệm của Thanh Hóa MFI đạt 215.170 triệu đồng vào năm 2017, gấp hơn 5 lần so với năm 2013. Trường hợp của TYM, huy động tiết kiệm được xác định là một trong những chiến lược tạo nguồn bền vững. Vì vậy, sau khi được cấp phép, TYM đã rất chú trọng trong việc cung ứng và phát triển sản phẩm tiết kiệm nhờ đó mà quy mô tiết kiệm của TYM tăng từ 288.550 triệu đồng (2013) lên 813.482 triệu đồng (2017), tương ứng với tỷ lệ tăng bình quân xấp xỉ 30%/năm. Quy mô vốn tiền gửi của M7 cũng có sự thay đổi mạnh mẽ sau khi chuyển đổi. Quy mô huy động của M7 đạt 147.063 triệu đồng vào năm 2017, tăng gần 3 lần so với thời điểm bắt đầu chính thức hóa (2013), tỷ lệ tăng trưởng bình quân đạt gần 29%. CEP là tổ chức có quy mô tiết kiệm cao nhất, đạt 1.554.550 triệu đồng (2017), chiếm gần 60% tổng quy mô tiết kiệm của các tổ chức chính thức. Điểm khác biệt nữa của CEP so với các tổ chức khác đó là tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn ở mức thấp nhất, bình quân 27%/năm và cũng là tổ chức có tỷ trọng vốn tiền gửi thấp nhất, 47,62% vào năm 2017. Điều này có thể được lý giải bởi đến cuối năm 2017, CEP mới được công nhận như một tổ chức chính thức được phép huy động tiết kiệm tự nguyện từ khách hàng.

Về tự vững hoạt động (OSS), nhìn chung các tổ chức TCVM chính thức đều có thể trang trải toàn bộ chi phí hoạt động từ nguồn thu hoạt động để đảm bảo độ tự vững. Tuy nhiên, đối với mỗi tổ chức, với những đặc trưng khác nhau về quy mô, phạm vi hoạt động và lịch sử phát triển nên có sự khác biệt về độ tự vững. Về độ lớn, trong số 4 tổ chức chính thức, chỉ có TYM và CEP là những tổ chức có chỉ số OSS lớn nhất đạt bình quân trên 120% và tương đối ổn định trong giai đoạn 2013 – 2017. Như vậy, so với chuẩn quốc tế, cả hai tổ chức này đều đảm bảo tự vững hoạt động trong dài hạn. Trong đó, đặc biệt là CEP có chỉ số OSS cao hơn hẳn so với các nhóm đồng đẳng về tuổi, phạm vi hoạt động và quy mô. Thanh Hóa MFI và M7 MFI có chỉ số OSS thấp hơn, bình quân đạt dưới 120%, vì vậy so với tiêu chuẩn quốc tế thì cả hai tổ chức này đều chưa đảm bảo tự vững trong dài hạn. So với các nhóm đồng đẳng, chỉ số OSS của cả Thanh Hóa MFI và M7 MFI đều thấp hơn đáng kể. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do quy mô và địa bàn hoạt động giữa các tổ chức chính thức. Quy mô tổng tài sản của CEP và TYM lớn gấp nhiều lần so với Thanh Hóa MFI và M7 MFI, trong khi tổng tài sản của CEP đạt trên 3.000 tỷ đồng và TYM đạt gần 1.500 tỷ đồng (2017) thì tổng tài sản của tổ chức TCVM Thanh Hóa chỉ đạt trên 300 tỷ đồng và M7MFI đạt trên 250 tỷ đồng. Về địa bàn hoạt động, trong khi TYM và CEP lựa chọn cách tiếp cận rộng khắp thì Thanh Hóa và M7 lựa chọn cách tiếp cận tập trung ở 1 địa bàn. Cụ thể, TYM là tổ chức có mạng lưới hoạt động rộng khắp các tỉnh thành trải dài từ miền Bắc đến một số tỉnh miền Trung (tính đến cuối năm 2017, TYM hoạt động tại 66 huyện/thị thuộc 12 tỉnh/thành); CEP hoạt động trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và 8 tỉnh lân cận; M7 MFI hoạt động trên địa bàn của 2 tỉnh Quảng Ninh và Sơn La, còn lại Thanh Hóa MFI chỉ hoạt động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Biểu 3: Chỉ số tự vững hoạt động của các tổ chức TCVM chính thức

Về xu hướng biến động, nhìn chung chỉ số OSS có xu hướng giảm nhẹ và đi tới ổn định. Sự biến động này là do sự gia tăng của các khoản chi phí phát sinh trong quá trình chuyển đổi và sau chuyển đổi. Tuy nhiên, mức độ như thế nào còn tùy thuộc vào quy mô và sự chuẩn bị của mỗi tổ chức trong từng giai đoạn cụ thể. Chẳng hạn với TYM, trong lần chuyển đổi thứ nhất vào năm 2008, từ Chương trình dự án sang Quỹ xã hội chỉ số OSS giảm mạnh từ 171% (2007) xuống còn 108% (2008), tương ứng với tỷ lệ giảm gần 37%; trong lần chuyển đổi thứ hai vào năm 2014, từ Quỹ xã hội thành tổ chức chính thức thì tỷ lệ giảm này chỉ còn 20%, là một trong những tín hiệu tích cực chứng tỏ sự chủ động trong khâu chuẩn bị nguồn lực tài chính cho chuyển đổi.

Biểu 4: So sánh chỉ số OSS với nhóm đồng đẳng năm 2016

Với thực trạng hoạt động như trên, có thể khái quát lại một số kết quả đạt được trong hoạt động tài chính của các tổ chức TCVM chính thức như sau: (i) Quy mô hoạt động của các tổ chức TCVM chính thức ngày càng mở rộng, tốc độ tăng trưởng tín dụng và tiết kiệm bình quân được duy trì ở mức khá cao; (ii) Rủi ro tín dụng ở mức thấp do quy mô khoản vay nhỏ, kết hợp với phương thức hoàn trả dần cả gốc và lãi định kỳ giúp giảm áp lực trả nợ cho khách hàng; (iii) Độ tự vững được duy trì ở mức cao (trên 100%), các nguồn thu từ hoạt động đủ để đảm bảo trang trải chi phí hoạt động.

Bên cạnh những kết quả đạt được đó, hoạt động tài chính của các tổ chức TCVM chính thức vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng về quy mô không đồng đều và có xu hướng tăng trưởng chậm lại.

Thứ hai, ngoài hai tổ chức lớn là CEP và TYM duy trì độ tự vững trong dài hạn với chỉ số OSS trên 120% theo chuẩn quốc tế, các tổ chức còn lại có chỉ số OSS ở mức thấp hơn và chưa ổn định.

Thứ ba, sản phẩm, dịch vụ tài chính chưa thật sự đa dạng. Các sản phẩm tài chính mới chỉ tập trung vào tín dụng và tiết kiệm. Các sản phẩm thường được thiết kế theo định hướng kế thừa từ những chương trình, dự án trước đó vì vậy vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm thanh toán chưa được triển khai, bảo hiểm mới chỉ được triển khai ở một phạm vi hạn chế.

Nhằm phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức TCVM chính thức trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Một là, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện môi trường pháp lý; tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý nhằm đảm bảo vừa phù hợp với đặc thù hoạt động của tổ chức TCVM, vừa thúc đẩy sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM.

Hai là, đa dạng hóa và phát triển sản phẩm theo định hướng thị trường, kết hợp hài hòa giữa việc đa dạng hóa các sản phẩm hiện có với phát triển các sản phẩm dịch vụ mới; đa dạng hóa và phát triển các sản phẩm tài chính gắn liền với các sản phẩm phi tài chính.

Ba là, tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng cường độ tự vững và tiếp cận khách hàng cũng như giúp gia tăng tiện ích cho sản phẩm và đa dạng hóa kênh phân phối, mặt khác còn giúp tổ chức TCVM chính thức đa dạng hóa sản phẩm cũng như tiết kiệm chi phí để gia tăng hiệu quả.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đây là một giải pháp chiến lược và lâu dài, đòi hỏi phải có lộ trình cụ thể, từ khâu rà soát, đánh giá nguồn nhân lực, đến lên kế hoạch, triển khai thực hiện cũng như tổng kết, đánh giá.

– ADB (2000), Finance for the Poor: Microfinance Development Strategy, https://www.adb.org/documents /finance-poor-microfinance-development-strategy – Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017), Sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô: thực trạng và giải pháp phát triển, Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam – CEP, Báo cáo hoạt động 2013-2017 – Nhóm Công tác TCVM Việt Nam, Danh bạ Tài chính vi mô Việt Nam từ 2013-2017 – TYM, Báo cáo hoạt động 2013-2017 – https://www.themix.org/mixmarket/countries-regions/vietnam

Mô Hình Tổ Chức: Tập Đoàn Tài Chính

Từ ngày 01/7/2008, mô hình tổ chức mới đa được áp dụng tại Tập đoàn, bao gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng Quản trị (có các Ủy ban chức năng giúp việc); Ban Kiểm soát và hình thành các Khối chức năng. Mô hình quản trị này được xây dựng dựa trên mục tiêu phát triển chiến lược kinh doanh của Tập đoàn; các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp của các Tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước; tuân thủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định tại Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt. Mô hình tổ chức này xác định cơ cấu quản trị rõ ràng, áp dụng các chuẩn mực trong quản trị điều hành, xác định trách nhiệm và mối quan hệ của công ty mẹ và các công ty con; qua đó, việc quản trị doanh nghiệp sẽ vừa chặt chẽ, vừa đảm bảo hiệu quả cho doanh nghiệp, nhưng không mang tính mệnh lệnh hành chính. Đây là một dấu mốc quan trọng góp phần đưa Tập đoàn từng bước hòa nhập với thị trường tài chính – bảo hiểm khu vực và thế giới, nâng cao vị thế và hình ảnh của Tập đoàn, nhằm góp phần đạt mục tiêu phát triển Bảo Việt là trở thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

HĐQT Tập đoàn Bảo Việt duy trì việc họp định kỳ mỗi quý một lần nhằm bàn bạc, trao đổi, thống nhất và kịp thời đưa ra các chỉ đạo trong điều hành hoạt động kinh doanh của Tập đoàn. Ngoài việc tổ chức họp định kỳ thường xuyên, HĐQT có thể triệu tập họp bất thường hoặc thực hiện lấy ý kiến các thành viên HĐQT bằng văn bản để ban hành các Nghị quyết, Quyết định của HĐQT dựa trên sự nhất trí, đồng lòng của các thành viên HĐQT và trên cơ sở lợi ích của các cổ đông và vì sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Việc tổ chức các phiên họp của HĐQT đảm bảo được thực hiện theo đúng những quy định của Điều lệ Tập đoàn và Luật Doanh nghiệp.

BAN KIỂM SOÁT

Các thành viên Ban Kiểm soát được bầu bằng nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông theo phương thức bầu dồn phiếu với số lượng cụ thể do Đại hội đồng cổ đông quyết định từ 3 đến 5 người.

CÁC ỦY BAN CHỨC NĂNG

ỦY BAN KIỂM TOÁN

ỦY BAN CHIẾN LƯỢC VÀ ĐẦU TƯ

Ủy ban Chiến lược và Đầu tư là Ủy ban trực thuộc HĐQT, có chức năng hoạch định chiến lược phát triển, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược kinh doanh và đề xuất thay đổi về chiến lược kinh doanh của toàn Tập đoàn; thúc đẩy việc thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển của Tập đoàn; hoạch định chiến lược đầu tư, xây dựng chính sách và nguyên tắc đầu tư ngắn, trung và dài hạn; nghiên cứu, thẩm định, đánh giá các khoản đầu tư thuộc thẩm quyền của HĐQT.

Uỷ ban Chiến lược và Đầu tư có từ ba đến năm ủy viên. Các ủy viên của Uỷ ban Chiến lược và Đầu tư sẽ do HĐQT bổ nhiệm cho từng nhiệm kỳ phù hợp với nhiệm kỳ của HĐQT.

ỦY BAN THÙ LAO VÀ BỔ NHIỆM

Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm là Ủy ban trực thuộc HĐQT, có chức năng tư vấn và tham mưu cho HĐQT trong việc hoạch định, thúc đẩy và đánh giá việc thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực Tập đoàn; nghiên cứu, thẩm định, đánh giá các đề xuất của của Tổng Giám đốc, Hội đồng thành viên các công ty con do Tập đoàn đầu tư 100% vốn điều lệ, Chủ nhiệm các Ủy ban thuộc HĐQT và các cán bộ quản lý để kiến nghị HĐQT xem xét phê duyệt về những vấn

Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm có từ ba đến năm ủy viên. Các ủy viên của Ủy ban Thù lao và Bổ nhiệm do HĐQT bổ nhiệm có thời hạn phù hợp với nhiệm kỳ của HĐQT.

Tổng Giám đốc Tập đoàn chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động của Tập đoàn Bảo Việt; quyết định các công việc theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định trong Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt; thực hiện trách nhiệm thành viên HĐQT theo quy định tại Quy chế hoạt động của HĐQT. Song song với việc hình thành các Ủy ban giúp việc thuộc HĐQT, mô hình tổ chức được xây dựng trên nguyên tắc phân công, quản lý theo các Khối chức năng.

Tổng Giám đốc Tập đoàn chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động của Tập đoàn Bảo Việt; quyết định các công việc theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định trong Điều lệ Tập đoàn Bảo Việt; thực hiện trách nhiệm thành viên HĐQT theo quy định tại Quy chế hoạt động của HĐQT. Song song với việc hình thành các Ủy ban giúp việc thuộc HĐQT, mô hình tổ chức được xây dựng trên nguyên tắc phân công, quản lý theo các Khối chức năng.

Việc hình thành các Khối chức năng đa tạo ra những ưu việt rõ ràng trong khâu quản lý, điều hành, cụ thể: đáp ứng được các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp tiên tiến; việc tổ chức bộ máy mang tính năng động cao, có thể được điều chỉnh tùy theo từng thời kỳ cho phù hợp với việc quản lý kinh doanh; giúp Lãnh đạo Tập đoàn thực hiện việc quản trị doanh nghiệp theo hướng tập trung; tạo lập được tính chuyên môn hóa cao; quá trình ra các quyết định được kịp thời, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động và kinh doanh của Tập đoàn. Việc xác định nhiệm vụ cụ thể của các Khối chức năng là cơ sở để xây dựng bản mô tả công việc đối với từng chức danh công việc và xây dựng chính sách lương, thưởng phù hợp nhằm thu hút nhân sự có năng lực, góp phần vào quá trình đổi mới và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập đoàn.

admin

Tổ Chức Hoạt Động Thông Tin Tín Dụng Đối Với Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Fintech Tại Việt Nam

Ngày đăng:07:31 18/12/2019

Việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ thông tin giữa CIC với các tổ chức tài chính vi mô và tổ chức Fintech là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của CIC

Tuy nhiên, việc triển khai hoạt động TTTD tại các tổ chức nêu trên vẫn còn gặp nhiều khó khăn bởi rất nhiều nguyên nhân: do nhận thức, trình độ cán bộ còn hạn chế, nền tảng công nghệ thông tin còn lạc hậu, thiếu hành lang pháp lý… Hiện tại, các công ty P2P lending với hoạt động cấp tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nhưng vẫn chưa được phép tham gia hệ thống TTTD; ngoài ra, các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) chính thức, bán chính thức, vẫn đang thực hiện báo cáo thông tin theo hệ thống chung với các TCTD mà chưa có một hệ thống chia sẻ thông tin riêng phù hợp với đặc thù của các tổ chức này.

Từ thực trạng đó, việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ thông tin giữa CIC với các tổ chức tài chính vi mô và tổ chức Fintech là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của CIC, nhằm mở rộng kho dữ liệu thông tin tín dụng quốc gia, hỗ trợ tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước của NHNN và phục vụ hoạt động kinh doanh của các TCTD, tổ chức TCVM và Fintech.

1. Thực trạng hoạt động trao đổi TTTD hiện nay giữa CIC và các tổ chức TCVM, các Công ty P2P Lending

Hoạt động kết nối trao đổi TTTD mới hạn chế trong khu vực TCVM chính thức

Cùng với sự phát triển của hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của các TCTD, cho đến nay hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động báo cáo tín dụng nói chung và hoạt động báo cáo tín dụng của các tổ chức TCVM cũng đã dần hoàn thiện. Luật các TCTD (2010) đã khẳng định tổ chức TCVM là một loại hình tổ chức tín dụng trong hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam, theo đó các tổ chức TCVM phải thực hiện báo cáo TTTD như các TCTD theo quy định của Thông tư 03/2013/TT-NHNN ngày 25/01/2013 quy định về hoạt động thông tin tín dụng của NHNN. Ngoài ra theo Thông tư 03, các tổ chức tài chính vi mô bán chính thức cũng có cơ chế cho phép tham gia vào hoạt động thông tin tín dụng như các tổ chức tư nguyện, trao đổi theo nguyên tắc “có đi có lại” với CIC.

Kể từ khi Thông tư 03/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của NHNN có hiệu lực, CIC đã thực hiện triển khai đồng bộ hướng dẫn hoạt động thông tin tín dụng tới tất cả các chủ thể tham gia, trong đó hệ thống các QTDND và tổ chức TCVM được hướng dẫn thực hiện theo phương thức thực hiện tối giản để phù hợp với đặc thù hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin còn thô sơ của các đối tượng này. Các tổ chức TCVM chỉ phải thực hiện gửi báo cáo TTTD khách hàng vay định kỳ 1 tháng/1 lần bằng hình thức tệp dữ liệu định dạng excel với phương thức gửi file qua website CIC. Các chỉ tiêu cũng được CIC lược bỏ tối đa so với hệ thống chỉ tiêu các TCTD phải báo cáo, bao gồm 23 chỉ tiêu với tệp thông tin quan hệ tín dụng và 05 chỉ tiêu với tệp thông tin tài sản đảm bảo.

Cho đến nay, 4 tổ chức TCVM được NHNN cấp phép hoạt động chính thức đều đã nghiêm túc thực hiện kết nối trao đổi TTTD với CIC. Song song với chiều thực hiện báo cáo thông tin tín dụng về CIC, các tổ chức TCVM cũng bắt đầu nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tham khảo báo cáo thông tin tín dụng khách hàng trong quá trình xét duyệt cho vay, số lượng báo cáo khai thác của các quỹ đã có mức tăng mạnh hằng năm, đặc biệt là từ giai đoạn 2017-2019, khi CIC áp dụng chính sách giá cho tổ chức TCVM chỉ bằng 20% mức giá áp dụng cho các TCTD.

Bên cạnh khu vực TCVM chính thức đã thực hiện kết nối đầy đủ, khu vực TCVM bán chính thức mới chỉ có 01 Quỹ hỗ trợ hộ gia đình thu nhập thấp phát triển kinh tế (VietED Foundation) tham gia kết nối với CIC theo hình thức của một tổ chức tự nguyện. Đây là một kết quả hết sức hạn chế trong tổng số hàng trăm chương trình dự án tài chính vi mô đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

Kết quả trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân như:

– Đây là loại hình tổ chức có quy mô nhỏ, có nhiều hạn chế về nguồn vốn, nền tảng công nghệ và trình độ nhân lực quản lý, vận hành nên các hạn chế này sẽ đồng thời gây khó khăn cản trở các tổ chức TCVM, đặc biệt nhóm bán chính thức trong việc kết nối với CIC trong hoạt động thông tin tín dụng.

– Khung pháp lý TCVM hiện nay cũng là một thách thức đối với các tổ chức muốn chuyển đổi thành tổ chức TCVM được cấp phép. Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 thể hiện rõ điều kiện chuyển đổi đã thay đổi và có chiều hướng tăng thêm các điều kiện về chủ thể nộp đơn thành lập sẽ là những rào cản cho các tổ chức muốn chuyển sang tổ chức TCVM chính thức.

Số lượng 4 tổ chức TCVM được NHNN cấp phép hoạt động và 35 chương trình, dự án TCVM do UBND tỉnh, thành phố cấp phép hoạt động, 15 chương trình, dự án TCVM được NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận đăng ký theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ trong số 438 chương trình, dự án TCVM đang hoạt động tại 56 tỉnh, thành phố trên cả nước là một con số quá khiêm tốn trong một thị trường còn rất nhiều triển vọng như Việt Nam.

Các chương trình, dự án TCTCVM vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, hoạt động tự phát, không thống nhất, được cấp phép, quản lý bởi các đơn vị khác nhau (UBND các cấp, Hội Phụ nữ các cấp, Hội Nông dân các cấp…) nên công tác quản lý còn thiếu tập trung, công tác phối hợp còn nhiều bất cập dẫn đến khó khăn cho CIC trong công tác triển khai kết nối TTTD.

– Thiếu sự kết nối giữa các tổ chức hoạt động TCVM, mới chỉ có Nhóm công tác Tài chính vi mô Việt nam (VMFWG) hoạt động trong mảng này và chỉ có 30 tổ chức TCVM thành viên tham gia, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các chương trình, dự án TCVM hiện nay. Các tổ Chức TCVM vẫn đang hoạt động khá độc lập, mỗi tổ chức chỉ tập trung hoạt động ở một số vùng nhất định, thiếu trung gian liên kết các đơn vị cũng là một khó khăn lớn cho CIC trong hoạt động tư vấn tham gia hoạt động TTTD.

Với những đặc trưng và hạn chế trên, CIC cần chủ động nghiên cứu để có những giải pháp đồng bộ về hệ thống kết nối, điều kiện, chế độ báo cáo dữ liệu, mẫu sản phẩm, chi phí khai thác báo cáo… để tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức TCVM, đặc biệt là nhóm bán chính thức tham gia kết nối TTTD.

Các công ty P2P lending đang chờ hoàn thiện khung pháp lý để có thể tham gia hệ thống TTTD

Mặc dù Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi và tiềm năng cho sự phát triển của lĩnh vực Fintech (cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh và internet ở mức cao…), nhưng lĩnh vực này đang phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn trong đó thiếu hụt về hàng lang pháp lý là một trong những thách thức, rào cản lớn nhất. Trên thực tế, khuôn khổ pháp lý quản lý của Việt Nam về cơ bản mới chỉ đáp ứng được một phần cho lĩnh vực công nghệ tài chính trong thanh toán, chưa đầy đủ, đồng bộ cho các lĩnh vực tài chính khác, đặc biệt là lĩnh vực cho vay ngang hàng. Ngoài ra, các quy định về bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm tài chính, bảo vệ thông tin cá nhân vẫn chưa được hoàn thiện… do vậy các hoạt động kết nối thông tin tín dụng giữa CIC và các loại hình công ty này còn hạn chế.

Theo quy định tại Thông tư số 03/2013/TT-NHNN ngày 28/01/2013 và Thông tư sửa đổi số 27/2017/TT-NHNN ngày 31/12/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ban hành Quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Các tổ chức đáp ứng được các điều kiện, quy định của CIC thì có thể tham gia hệ thống TTTD với danh nghĩa tổ chức tự nguyện, khai thác dịch vụ TTTD theo thỏa thuận và cam kết với CIC trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và nguyên tắc hoạt động TTTD của NHNN.

Như vậy, theo quy định hiện hành của NHNN, nếu các công ty P2P Lending nếu thỏa mãn các yêu điều kiện theo các quy định này thì có thể tham gia hệ thống TTTD của CIC như môt tổ chức tự nguyện. Tuy nhiên, cho vay ngang hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro, dễ biến bị biến tướng và để lại các hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nên cần có khuôn khổ pháp luật quy định cụ thể về hoạt động của các doanh nghiệp này. Chỉ những doanh nghiệp P2P chân chính, thỏa mãn các yêu cầu của NHNN mới được cấp phép. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cấp phép cho các công ty P2P đủ năng lực là điều kiện tiên quyết để các công ty P2P có thể tham gia hệ thống TTTD của CIC.

2. Đề xuất giải pháp phát triển mô hình trao đổi TTTD đối với các tổ chức tài chính vi mô và Fintech tại Việt Nam

Giải pháp kết nối trao đổi TTTD đối với các tổ chức TCVM

Xây dựng mô hình kết nối phù hợp, tiện lợi

Do các tổ chức TCVM (bao gồm cả chính thức, bán chính thức và phi chính thức) có số lượng rất lớn, trong khi đó phần lớn có đều có quy mô nhỏ và năng lực về tài chính và công nghệ kém nên việc định hướng xây dựng mô hình hoạt động TTTD đối với các đơn vị này của CIC hướng tới đáp ứng các yêu cầu tối giản như sau:

– Dịch vụ cung cấp được cụ thể hóa, thông qua các ứng dụng cụ thể như website, phần mềm win form…;

– Giao diện phần mềm cần thiết kế đơn giản, dễ dàng sử dụng;

– Hỗ trợ các máy tính cấu hình thấp, đời cũ;

– Dễ dàng cài đặt, triển khai;

– Có chức năng hỗ trợ người dùng ngay trên giao diện phần mềm…

Hệ thống kết nối cho các tổ chức TCVM sẽ theo hướng: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ và các chức năng khác thông qua 01 website. Người dùng từ các tổ chức TCVM truy cập website này để thực hiện các nghiệp vụ TTTD chính như: Gửi báo cáo thông tin tín dụng, hỏi trả lời tin báo cáo TTTD và chức năng tra soát, thanh toán phí.

Tăng cường biện pháp hỗ trợ từ CIC

– Xây dựng tài liệu, sổ tay hướng dẫn kết nối chi tiết để cung cấp đến các đơn vị khi cần; hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng trong quá trình các đơn vị thực hiện kết nối;

– Tổ chức các lớp học hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị, có thể tổ chức tập trung hoặc online;

– Có các chính sách hỗ trợ về giá sản phẩm đối với các tổ chức TCVM, áp dụng cả với đối tượng TCVM bán chính thức.

Giải pháp kết nối trao đổi TTTD đối với công ty P2P lending

Hiện tại, NHNN đang trình Chính phủ về việc Xây dựng khuôn khổ pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho các Công ty Fintech nói chung và Công ty P2P lending nói riêng phù hợp với thực tiễn, thông lệ quốc tế; tạo cơ chế hợp tác giữa các ngân hàng và các công ty Fintech nói chung và công ty P2P lending nói riêng. Khuôn khổ pháp lý thử nghiệm đang xây dựng, bên cạnh các quy định về thể chế, hoạt động của các đơn vị này, cần có những quy định về việc bắt buộc các doanh nghiệp gửi báo cáo cho CIC, cũng như khuyến khích các đơn vị tham khảo thông tin từ CIC trong quá trình cấp tín dụng.

Xây dựng mô hình kết nối phù hợp đặc trưng hoạt động

Các công ty Fintech có nền tảng công nghệ và nhân sự cao, thường đã có sẵn hệ thống quản lý hoàn chỉnh, cho phép có thể tạo lập các báo cáo dưới dạng dữ liệu có cấu trúc, sẵn sàng cho các giao tiếp máy – máy. Đồng thời các công ty Fintech thường có nhu cầu lưu trữ và tái sử dụng các TTTD nhận được nên việc xây dựng mô hình hoạt động TTTD đối với các đơn vị này cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

– Dịch vụ cung cấp cần được tiêu chuẩn hóa, sẵn sàng đối với các kết nối máy – máy;

– Không cần giao diện phần mềm;

– Dữ liệu gửi đi và nhận được phải ở dạng dễ dàng lưu trữ và tái sử dụng;

– Thời gian triển khai ngắn, khả năng tương thích với nhiều hệ thống khác nhau…

Do đó, đề xuất xây dựng hệ thống cho các công ty Fintech như sau: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ và các chức năng khác dưới dạng services hoặc API. Dựa trên thông số kết nối và hướng dẫn do CIC cung cấp, các công ty Fintech có thể tự kết nối và thực hiện các nghiệp vụ TTTD chính như: Gửi báo cáo thông tin tín dụng, hỏi trả lời tin báo cáo TTTD và thực hiện chức năng tra soát, thanh toán phí.

Tăng cường biện pháp hỗ trợ từ phía CIC

– Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện về đường truyền kết nối, công nghệ thông tin, thiết kế mẫu sản phẩm…để khi khuôn khổ pháp lý được thông qua có thể cho các công ty Fintech tham gia hệ thống TTTD;

– Xây dựng tài liệu, sổ tay hướng dẫn kết nối chi tiết để cung cấp đến các đơn vị khi cần;

– Hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng trong quá trình các đơn vị thực hiện kết nối;

– Tổ chức các lớp học hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị, có thể tổ chức tập trung hoặc online;

1. Danh bạ TCVM Việt Nam 2013-2016;

2. Tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng hoạt động và các hàm ý chính sách (Trương Quang Thông, Vũ Đức Cần);

3. Phát triển hoạt động của các tổ chức TCVM tại Việt Nam (Nguyễn Quỳnh Phương);

4. Cho vay ngang hàng cần khuôn khổ pháp lý phù hợp – Thời báo Ngân hàng (http://thoibaonganhang.vn/cho-vay-ngang-hang-can-khuon-kho-phap-ly-phu-hop-85912.html);

5. Thông tư số 03/2013/TT-NHNN ngày 28/01/2013 và Thông tư sửa đổi số 27/2017/TT-NHNN ngày 31/12/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam v/v Ban hành Quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!