Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm # Top 2 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– Ý kiến đa chiều của nhiều chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… tại Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới”, do Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hôm nay (30/3), đã đưa ra nhiều gợi mở đáng chú ý về hướng phát triển thị trường vốn trong thập niên mới. Xin giới thiệu một số ý kiến tại Diễn đàn.

Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới” được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, 35 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội vào sáng 30/3/2021. Diễn đàn do Tạp chí Kinh tế và Dự báo tổ chức, nhằm tạo nên một sự kết nối, chia sẻ tầm nhìn và nhận diện bức tranh thị trường vốn trong kỷ nguyên mới.

Các nhà quản lý, chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp đã cùng chia sẻ những đánh giá của mình về 20 năm phát triển thị trường vốn và gợi mở những giải pháp, tầm nhìn cho kỷ nguyên mới

SÁNG KIẾN TỪ DOANH NGHIỆP

“Cần quan tâm hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp yếu”

Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

Khi định mức rủi ro của doanh nghiệp cao, thì khó tiếp cận vốn ngân hàng, nên phải tiếp cận vốn trên thị trường tài chính (phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ phái sinh). Chúng ta hay nói đến những đơn vị huy động vốn thành công trên thị trường tài chính, nhưng lại thường không quan tâm đến những doanh nghiệp vì nhiều lý do mà không còn tốt nữa nên gặp khó khăn trong huy động vốn.

Thực tiễn trong suốt quá trình phát triển, công ty không phải lúc nào cũng thuận lợi, có những lúc họ suy yếu, rơi vào tình trạng mất thanh khoản… Lúc đó họ rất khó khăn và cần vốn, cần hơn cả khi họ đang phát triển tốt. Song các quy định pháp lý dường như ít quan tâm đến nhu cầu huy động vốn của các đơn vị yếu kém này. Do đó, cần có chính sách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp yếu, có điều kiện tài chính chưa được tốt để tiếp cận vốn trên thị trường. Khi họ không thể tiếp cận được vốn ngân hàng, thì vẫn cần có cửa khác để cho họ huy động được vốn.

“Cần phát triển mạnh ngành bảo hiểm và quản lý tài sản…”

Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

Để thúc đẩy sự phát triển của 2 ngành này, cần nghiên cứu và cho phép triển khai một số loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí… với đặc điểm là chi phí tham gia bảo hiểm được giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân, để khuyến khích người dân tiết kiệm tham gia bảo hiểm, từ đó hỗ trợ sự phát triển của thị trường vốn.

Cơ quan quản lý TTCK cần thiết lập các quỹ nghiên cứu, cơ chế để hỗ trợ các nghiên cứu, các dự án khởi nghiệp về fintech trong lĩnh vực chứng khoán, quản lý tài sản, quản lý quỹ…

Cũng cần đổi mới chính sách theo hướng gia tăng khả năng cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trong việc sở hữu, mua/bán doanh nghiệp. Thực tế phát triển cho thấy, đang có xu hướng các công ty chứng khoán, quản lý quỹ cần mua lại, hoặc liên doanh với các công ty phát triển công nghệ để tạo ra các đột phá trong cung cấp dịch vụ, sản phẩm…

“HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn tiếp tục phát triển…”

Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

Từ khi thị trường chứng khoán (TTCK) mở ra, HAPACO và rất nhiều doanh nghiệp khác đã huy động được hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn từ nhà đầu tư đại chúng, nên đã mở rộng đầu tư, mở rộng cổ đông, đối tác, mở rộng quy mô thị trường.

Để doanh nghiệp đại chúng hoạt động ổn định, phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay, đại đa số các doanh nghiệp lựa chọn song hành cả 2 kênh huy động vốn, đó là qua TTCK và qua kênh vay các ngân hàng để bảo đảm sự chủ động. Qua đó giúp doanh nghiệp tăng năng lực tài chính, bảo đảm cho các kế hoạch hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng và đầu tư phát triển trong ngắn hạn và dài hạn.

Bước sang thập niên mới, giai đoạn 2021-2030, trên nền tảng những gì HAPACO đã đạt được và nhìn thấy cơ hội tương lai còn rộng mở phía trước, Hội đồng quản trị của Tập đoàn kỳ vọng, HAPACO sẽ trở thành Tập đoàn kinh tế lớn đa ngành tầm cỡ khu vực, với việc nâng vốn điều lệ lên gần 6.600 tỷ đồng và nâng vốn chủ sở hữu trên 35.000 tỷ đồng. Tập đoàn sẽ thực hiện 5 dự án lớn trong 5 năm tới, trong đó có Dự án Xây dựng Nhà máy điện gió tại Gia Lai, công suất 100 mW; Dự án xây dựng Bệnh viện Quốc tế Green thứ hai với quy mô gấp 3 lần hiện nay; Dự án xây nhà ở xã hội cho người lao động…

HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn Việt Nam, nhất là TTCK vượt qua các khó khăn hiện hữu, tiếp tục phát triển, thu hút được nhiều nhà đầu tư rót vốn vào thị trường. Khi đó, các doanh nghiệp như HAPACO sẽ huy động được vốn mới, mở rộng cổ đông, mở rộng đối tác, tạo thành một sức mạnh lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho doanh nghiệp và đất nước.

KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA

“Rất cần thị trường vốn lớn hơn nữa…”

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

Tăng trưởng tín dụng 14,4% trong vòng 10 năm qua thuộc nhóm cao nhất trong khu vực. Tăng trưởng tín dụng thực, đâu đó vẫn là 10%, cao nhất trong các nước ASEAN. Vì thế, rất cần thị trường vốn Việt Nam lớn hơn nữa để cân bằng hơn với thị trường tín dụng. Đến hết tháng 2/2021, vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam ước đạt 5.600 nghìn tỷ đồng (89% GDP 2020). Trong rổ hàng hóa, có 880 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán; 909 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM. Lượng tài khoản nhà đầu tư đạt 2,8 triệu tài khoản; số tài khoản giao dịch thường xuyên ước đạt 1,6 triệu tài khoản.

Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đang xây dựng Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021-2030. Dự kiến quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 120% GDP, thị trường trái phiếu đạt 55% GDP vào năm 2025. Số lượng nhà đầu tư trên thị trường đạt 5% dân số vào năm 2025.

Hiện có gần 3% dân số tham gia TTCK, nên còn nhiều dư địa phát triển TTCK. Cơ hội phát triển cân bằng thị trường vốn Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, còn rất nhiều thách thức trên con đường phát triển thị trường vốn. Đó là triển vọng phục hồi kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; quy mô thị trường vẫn còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực, thiếu tính ổn định; các sản phẩm còn ít, chưa đa dạng; tính minh bạch, chuyên nghiệp chưa cao; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Hạn chế về hạ tầng dẫn đến tình trạng nghẽn lệnh, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư. Nguy cơ bong bóng trên thị trường do lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư mới (F0) chưa có nhiều kiến thức về TTCK đổ vào thị trường. Nền tảng nhà đầu tư chưa bền vững, tính chuyên nghiệp chưa cao…

Trong kỷ nguyên mới, để phát triển thị trường vốn cân bằng với thị trường tín dụng, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2019; vận hành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam; tiếp tục triển khai các giải pháp tái cấu trúc TTCK; chú trọng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hơn.

Cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) gắn với niêm yết và đăng ký giao dịch trên TTCK. Thực hiện các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi vào năm 2023. Nâng cao năng lực quản lý, giám sát rủi ro hệ thống; tăng tính độc lập của UBCKNN.

Đặc biệt, kỷ nguyên mới đòi hỏi những nỗ lực nâng tầm quản trị doanh nghiệp, tính chuyên nghiệp của cộng đồng nhà đầu tư và khả năng điều hành thị trường của cơ quan quản lý.

Dự báo con người và công nghệ là 2 đột phá cho sự phát triển tới đây trên thị trường vốn Việt Nam. Cụ thể là phát triển nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp nhiều hơn. Cần nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thị trường; xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2030 với 2 cấu phần quan trọng là nâng hạng và chuyển đổi số. Đặc biệt, tính minh bạch, chuyên nghiệp là kim chỉ nam cho thị trường vốn phát triển lành mạnh, bền vững.

PHẢN HỒI TỪ NHÀ QUẢN LÝ, HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

“3 nhóm giải pháp thúc đẩy DNNN tham gia thị trường vốn”

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

Phát triển thị trường vốn sẽ góp phần thúc đẩy các DNNN sớm hoàn thành quy trình quản trị công ty minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là các công ty đại chúng có vốn nhà nước, qua đó thúc đẩy tăng khối lượng giao dịch trên thị trường, tăng tính thanh khoản cho cổ đông nhà nước.

Phát triển thị trường vốn cũng sẽ thúc đẩy các DNNN tham gia huy động vốn theo hướng giảm tỷ trọng vay tín dụng thương mại, đa dạng các hình thức huy động bổ sung vốn. Thị trường vốn là tấm gương phản chiếu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phải đổi mới quản trị, minh bạch thông tin, tăng cường sức cạnh tranh, chấp hành nghiêm quy định cuả pháp luật, nguyên tắc thị trường.

Để gắn sự phát triển của thị trường vốn với lộ trình tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2021-2025 cần triển khai 3 nhóm giải pháp.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước với phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khuôn khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN về sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN và Nghị quyết số 60/2018/QH14 của Quốc hội; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước.

Hoàn thiện chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp, trong đó:

+ Thực hiện nghiêm quy định về đăng ký lưu ký, đăng ký giao dịch, đăng ký niêm yết trên TTCK. Thí điểm một số DNNN sau cổ phần hóa đăng ký giao dịch, niêm yết trên TTCK khu vực và thế giới.

+ Các doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa đạt tỷ lệ vốn nhà nước theo tiêu chí phân loại DNNN, thì phải tổ chức lập kế hoạch và triển khai công tác thoái vốn theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tỷ lệ nhà nước nắm giữ.

“Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính”

TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

Để thị trường vốn phát triển tích cực trong thời gian tới cần triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển TTCK và thị trường tiền tệ.

Cùng với đó là tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh chứng khoán; sáp nhập, mua, bán doanh nghiệp; hạn chế tình trạng nhà đầu tư thao túng thị trường và thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam. Giám sát chặt chẽ, cảnh báo và có các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động phát hành và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Rà soát, hoàn thiện các quy định về đăng ký phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bảo đảm tính minh bạch, khả năng đánh giá rủi ro đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển những tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, tin cậy. Tăng cường vai trò của quản lý nhà nước đối với giám sát việc phát hành, phân phối, cung cấp dịch vụ trái phiếu doanh nghiệp. Phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nghiên cứu tổ chức thị trường giao dịch đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Đẩy nhanh cơ cấu thị trường chứng khoán theo Đề án đã được phê duyệt. Cùng với việc hoàn thiện cơ cấu bộ máy, xây dựng lại thị trường cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh theo hướng chuyên môn hóa, tiếp tục tái cơ cấu hệ thống các định chế trung gian

Thúc đẩy triển khai kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước. Thực hiện kiểm tra, xử lý kịp thời các doanh nghiệp không tuân thủ quy định về niêm yết/đăng ký giao dịch sau khi cổ phần hóa.

Đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi theo đánh giá của MSCI và FTSE.

Đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống giao dịch, đưa hệ thống công nghệ thông tin mới vào hoạt động đồng bộ. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục đưa ra các sản phẩm mới vào thị trường.

Tăng cường giám sát, nâng cao hiệu qủa quản lý, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo kỷ cương kỷ luật của thị trường để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và hoạt động lành mạnh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu triển khai số hóa các tài sản tài chính trên TTCK, áp dụng các công nghệ tài chính mới (Fintech); chuẩn hóa hoạt động mở tài khoản trực tuyến (e-contract); xác thực khách hàng trực tuyến (EKYC).

Với thị trường tiền tệ, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước một mặt cần duy trì môi trường lãi suất thấp, mặt khác cũng cần củng cố uy tín, độ tin cậy của Ngân hàng Nhà nước trong việc bảo vệ ổn định giá cả và điều hành chính sách tiền tệ. Việc duy trì lãi suất thấp và tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp cho phép họ giảm chi phí sản xuất, qua đó sẽ giảm áp lực lên lạm phát khi nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng. Môi trường lãi suất thấp có thể giúp các ngân hàng thương mại đang thiếu vốn có điều kiện thuận lợi tăng vốn đáp ứng các yêu cầu đủ vốn theo nguyên tắc Basel II. Khi các ngân hàng thương mại đều áp dụng chung chuẩn mực quản lý rủi ro, thì mặc dù thanh khoản dư thừa nhưng tín dụng không thể ra ồ ạt (do các khoản cấp tín dụng phải đáp ứng đủ các chuẩn mực mới có thể thực hiện), do đó áp lực lên lạm phát là thấp. Tuy nhiên, môi trường lãi suất thấp sẽ khuyến khích các hoạt động đầu cơ vào thị trường bất động sản, TTCK, nên có thể tạo ra các bong bóng tài sản, tiềm ẩn bất ổn trong tương lai. Do đó, cùng với chính sách duy trì lãi suất thấp, Chính phủ cũng cần có các giải pháp đồng bộ để thực hiện kiểm soát thị trường bất động sản, tránh để thị trường phát triển quá nóng.

Sắp tới, cùng với sự phát triển của năng lực sản xuất trong nước, sự chuyển dịch của chuỗi giá trị sản xuất vào Việt Nam, cán cân vãng lai vẫn tiếp tục xu hướng thặng dư, thậm chí thặng dư lớn. Do đó áp lực lên giá VND là rất lớn, nên đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục mua dự trữ ngoại hối để ổn định đồng tiền, trong khi Mỹ luôn đe dọa sẽ có biện pháp đáp trả đối với những nước bị xem là thao túng tiền tệ. Cân bằng được hai áp lực này là thách thức lớn đối với Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi để cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hơn, chấp nhận một biên độ lên giá nhất định của đồng VND. Việc đồng VND lên giá giúp giảm nợ nước ngoài, giảm áp lực lạm phát, nhưng có tác động tiêu cực nhất định đối với hàng xuất khẩu và hàng trong nước cạnh tranh hàng nhập khẩu. Để trung hòa tác động tiêu cực này, thì việc giảm lãi suất cho vay là cần thiết. Do VND có xu hướng lên giá, nên vấn đề USD hóa tự được giải quyết và không cần thiết duy trì lãi suất VND cao hơn quá nhiều so với lãi suất USD.

Kiểm soát rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn là yêu cầu then chốt đảm bảo phục hồi kinh tế bền vững. Các biện pháp áp dụng trong thông tư 01/2020/TT-NHNN cần được giám sát chặt chẽ tránh tình trạng khi các biện pháp này hết hạn áp dụng thì nợ xấu tăng vọt. Đẩy nhanh lộ trình áp dụng quy tắc Basel II trong toàn hệ thống, vì đây là công cụ then chốt nâng cao năng lực quản lý rủi ro và khả năng chống chịu thua lỗ.

Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, để giúp phát hiện rủi ro tiềm ẩn từ các ngân hàng và thị trường tài chính. Từ đó, xây dựng các phương án điều hành cụ thể về cách thức phản ứng với diễn biến mới. Cùng với sớm xử lý triệt để nợ xấu, tránh nợ xấu tồn đọng kéo dài, cần có cơ chế rõ ràng nhằm xử lý các ngân hàng yếu kém…

“Động lực nâng hạng TTCK chính là các doanh nghiệp đại chúng…”

Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

Theo bộ tiêu chí FTSE Russell (cập nhật tháng 9/2020), TTCK Việt Nam đã thỏa mãn 7/9 tiêu chí nâng hạng. Tiêu chí “Chu kỳ thanh toán-DvP” bị đánh giá “Hạn chế” do nhà đầu tư phải ký quỹ đủ tiền mặt trước khi đặt lệnh. Tiêu chí “Thanh toán – Tỷ lệ hiếm khi giao dịch thất bại” không được đánh giá, do yêu cầu thanh toán (ký quỹ trước) hiện tại dẫn tới việc khả năng giao dịch thất bại gần như không tồn tại.

Về thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, với các quy định tại Luật Đầu tư, Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán, không gian cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mở hơn nữa.

Ngành chứng khoán sẽ tập trung triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK gắn với phát triển bền vững, minh bạch, trong đó một số mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm như: Tập trung nỗ lực đưa các quy định, chính sách mới của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn vào thực tiễn, để hỗ trợ cho doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tổng kết, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021 – 2030 để định hình mục tiêu, giải pháp về lộ trình phát triển TTCK – thị trường vốn về dài hạn, nhằm hiện thực mục tiêu nâng hạng TTCK.

Tuy vậy, việc nâng hạng TTCK không phải là nỗ lực của riêng ngành chứng khoán hay cơ quan quản lý TTCK. Động lực nâng hạng thị trường chính là các doanh nghiệp đại chúng. Chỉ khi doanh nghiệp minh bạch, tuân thủ kỷ luật công bố thông tin; làm quen và thực thi chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), phát triển bền vững, sẽ là hạt nhân để phát triển nội lực TTCK, là cái gốc của nâng hạng thị trường. Cũng còn nhiều yếu tố khác cần cải thiện để phục vụ cho mục tiêu nâng hạng thị trường như: Mức độ tự do trên thị trường ngoại hối; giảm thiểu sự can thiệp hành chính của nhà nước vào hoạt động doanh nghiệp; cải thiện độ mở của thị trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp… Đây là những công việc cần sự nỗ lực và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành…/.

Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Ở Việt Nam

Vai trò của thị trường vốn

Vai trò của thị trường vốn thể hiện ở các yếu tố sau:

Thứ nhất, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Thông qua việc phát hành và mua bán chứng khoán, dòng vốn di chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi sử dụng kém hiệu quả đến nơi sử dụng có hiệu quả hơn. Thị trường vốn giúp các doanh nghiệp (DN), tổ chức kinh tế, cá nhân… có cơ hội để trở thành nhà đầu tư thực hiện nghiệp vụ đầu tư, mua bán chứng khoán và các công cụ tài chính trên thị trường để kiếm lời.

Chính phủ trung ương và địa phương có thể vay nợ các tổ chức, DN, dân cư thông qua việc phát hành trái phiếu trung và dài hạn, thực hiện các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội, cũng như đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển của trung ương/địa phương.

Thứ hai, thị trường vốn tạo tính thanh khoản cho chứng khoán và các công cụ tài chính, khi các nhà đầu tư cần tiền. Nhờ đó, họ có thể tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn để hưởng lợi (thường lãi của các chứng khoán và công cụ tài chính cao hơn lãi tiền gửi tiết kiệm).

Thứ ba, phát triển thị trường vốn để thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài. Đây là kênh đầu tư hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường. Với những thông tin công khai, minh bạch, thị trường vốn là nơi mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể phân tích, nhận định, đánh giá “sức khỏe” của DN, ngân hàng để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý. Họ đầu tư bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường hoặc góp vốn vào DN, ngân hàng để trở thành các cổ đông chiến lược.

Thứ tư, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) là công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh của DN. Thông qua thị trường vốn, những nhà đầu tư có cơ sở đánh giá thực trạng và dự đoán tương lai của nền kinh tế. Cơ quan quản lý thường thông qua thị trường vốn để phân tích, dự báo, ban hành các văn bản pháp lý để điều tiết và quản lý thị trường một cách hiệu quả.

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, phát triển thị trường vốn dễ nảy sinh những hành vi lừa đảo, giao dịch nội gián, hiện tượng đầu cơ chứng khoán, thị trường vốn ngầm…. Do đó, cần nhận thức rõ và có chính sách và biện pháp phù hợp để thị trường vốn luôn phát triển ổn định, an toàn, lành mạnh, phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực trạng thị trường vốn Việt Nam

Thị trường vốn tín dụng ngân hàng: Sau khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã quan tâm đến việc tái cấu trúc thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nói riêng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Các chủ thể tham gia thị trường cũng được cải thiện về năng lực tài chính, quy mô, quản trị rủi ro, để từng bước tham gia vào chuỗi kinh tế toàn cầu. Với độ mở của nền kinh tế và thị trường vốn, đầu tư xã hội đã có sự bứt phá mạnh mẽ, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã đưa Việt Nam lên nhóm các nước có quy mô đầu tư xã hội trên GDP cao nhất thế giới.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng đầu tư xã hội sau 4 năm hội nhập WTO đều ở mức cao; Đầu tư ngoài nhà nước cũng tăng mạnh; Xuất nhập khẩu liên tục ghi nhận các kỷ lục mới; đưa Việt Nam thoát ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp vào năm 2011. Những động thái này đã tạo cung vốn lớn cho nền kinh tế thông qua thị trường vốn. Mặt khác, các chủ thể tham gia trên thị trường (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, DN, các quỹ đầu tư…) cần phải tăng quy mô hoạt động, cải thiện tiềm lực tài chính, mở rộng sản xuất, áp dụng công nghệ trong kinh doanh để nâng cao năng suất lao động.

Điều này đã tạo ra những cơ hội phát triển mới về phía cầu. Tuy nhiên, do thị trường vốn Việt Nam lệ thuộc lớn vào chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, khi kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát tăng cao, chính sách tài chính – tiền tệ điều hành theo hướng thắt chặt để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô nên mặt bất lợi của chính sách thắt chặt đã tác động tiêu cực đến thị trường vốn. Có thể thấy rõ sự biến động thất thường của TTCK cũng như thị trường vốn tín dụng ngân hàng, những rủi ro tiềm ẩn từ nội tại các chủ thể tham gia thị trường, tình trạng sở hữu chéo giữa DN với ngân hàng, giữa ngân hàng với công ty bảo hiểm, chứng khoán, giữa các ngân hàng với nhau…

Đến nay, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò chi phối trên thị trường vốn. Thị trường cổ phiếu tuy đã được chú ý phát triển song song với tiến trình cổ phần hóa DN nhà nước (DNNN), nhưng quy mô thị trường cổ phiếu vẫn nhỏ. Mức độ vốn hóa trên thị trường (của các công ty niêm yết) so với GDP đã được cải thiện và đạt 39%/GDP vào năm 2010 nhưng lại giảm mạnh xuống còn 26% vào năm 2012 (cho dù TTCK Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong số các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới). Vì thế, khi tín dụng cho nền kinh tế giảm, hệ số giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế giảm (năm 2010 là 4,8 lần, năm 2012 giảm còn 1,76 lần, 9 tháng năm 2013 chỉ còn 1,2 lần), điều này đã ảnh hưởng lớn đến công việc làm của người lao động.

Mặc dù là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho DN nhưng do khó khăn từ nền kinh tế, khó khăn từ nội tại các DN và ngân hàng, những điểm nghẽn của nền kinh tế (nợ xấu, hàng tồn kho) không được giải quyết rốt ráo, trong khi giá vốn rất cao (lãi suất cho vay bình quân năm 2012 ở mức 13-15%/năm, năm 2013 ở mức 10 -12%/năm), quá sức chịu đựng của DN.

Tình trạng nhiều DN không tiếp cận được vốn, trong khi hàng tồn kho tăng cao (năm 2012 bình quân khoảng 28-30%; 9 tháng năm 2013 tăng bình quân 9,3%), năng lực cạnh tranh thấp, kinh doanh thua lỗ (tính đến 30/9/2013, số DN kê khai lỗ chiếm gần 66%)… dẫn đến nhiều DN phá sản, ngừng hoạt động, giải thể, kéo theo cầu về vốn giảm mạnh, khiến tăng trưởng tín dụng năm 2012 chỉ dừng lại ở con số 8,91% so với mục tiêu được

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra là 15-17%, 9 tháng đầu năm 2013 tăng 6,14% so với chỉ tiêu 12%/năm. Nợ xấu và tốc độ tăng nợ xấu. Điều này không có nghĩa là chất lượng nợ tốt lên mà do hệ thống ngân hàng đã cơ cấu lại nợ, chiếm khoảng 10% tổng dư nợ, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý khoảng 3%, bán nợ xấu qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khoảng 0,3%. Với những giải pháp xử lý này, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã giảm xuống còn 4,64%.

Thị trường chứng khoán: Mặc dù nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với không ít khó khăn nhưng kinh tế vĩ mô dần ổn định đã góp phần tác động tích cực hơn đến tâm lý nhà đầu tư và sự phát triển của TTCK. Kết thúc quý II/2013, thị trường cổ phiếu đã tăng khá mạnh. Chỉ số VN-Index tăng lên mức 524,5 điểm với khối lượng giao dịch lên tới hơn 94 triệu cổ phiếu, tương đương gần 1.661 tỷ đồng/phiên.

Tuy nhiên, các giao dịch trên thị trường không ổn định, dòng vốn nội có dấu hiệu chững lại do thiếu thông tin hỗ trợ đủ mạnh, trong khi đó các quỹ đầu tư ngoại có những hoạt động thoái vốn. Chỉ riêng trong tháng 6 và tháng 8/2013, khối ngoại đã bán ròng với giá trị lần lượt là 1.543 tỷ đồng và 881 tỷ đồng, dẫn đến thị trường cổ phiếu bị chững lại với nhịp giảm khá mạnh.

Như vậy, mặc dù vẫn được xem là thị trường có tốc độ tăng trưởng khá so với năm 2012 nhưng TTCK vẫn tiềm ẩn những rủi ro ngắn hạn, tính thanh khoản còn thấp. Thị trường trái phiếu DN vẫn chưa phát triển, ngân hàng vẫn là thành viên chủ chốt tham gia thị trường này. Những bất cập này đã hạn chế việc cung cấp vốn với giá cạnh tranh cho các DN.

Giải pháp phát triển thị trường vốn an toàn và hiệu quả

Thứ nhất, kiện toàn thể chế thị trường vốn: Về khung pháp lý, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống khung pháp lý điều tiết thị trường. Trên cơ sở tham chiếu thông lệ quốc tế vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để có sự điều chỉnh phù hợp, phát triển các thể chế còn đang khuyết, nhằm đảm bảo tính đồng bộ của khung pháp lý, tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia thị trường chủ động hoạt động trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, song vẫn đảm bảo các yêu cầu thận trọng, an toàn đối với khu vực tài chính, với vấn đề ổn định vĩ mô và hỗ trợ phát triển kinh tế.

Hoàn thiện chế tài xử phạt khi có vi phạm, gắn kết được lợi ích với rủi ro ở mức nhất định. Đẩy mạnh việc hợp tác, tư vấn, nghiên cứu để hoàn thiện môi trường pháp lý cho thị trường nói chung và dịch vụ nói riêng như dịch vụ uỷ thác, giao dịch các công cụ phái sinh… thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn theo chiều sâu trên cơ sở đa dạng hóa sự tham gia của các các định chế tài chính trong và ngoài nước.

Rà soát mô hình tổ chức kinh doanh vốn, chứng khoán, các tổ chức tự quản, các quỹ đầu tư; Sửa đổi Luật Chứng Khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, xây dựng Luật Kiểm toán độc lập cũng như các quy định về chào bán, niêm yết, giao dịch, quản lý các giao dịch vốn… cho phù hợp với với lộ trình WTO cũng như tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) về lĩnh vực ngân hàng – chứng khoán.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện tái cấu trúc thị trường vốn gắn với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế: Cơ cấu lại TTCK đảm bảo sự phát triển đồng bộ, cân đối giữa thị trường cổ phiếu, trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh, từng bước nâng cao vai trò của TTCK trong huy động vốn cho đầu tư phát triển. Phát triển về quy mô và hiệu quả hoạt động của thị trường trái phiếu (chính phủ, địa phương và DN), hoàn thiện phương thức phát hành, xây dựng cơ chế khuyến khích các DN thuộc các thành phần kinh tế huy động vốn qua TTCK.

Tăng cung hàng hóa cho thị trường và cải thiện chất lượng nguồn cung thông qua việc đẩy mạnh phát hành mới, sử dụng các công cụ phái sinh để hoàn thiện cấu trúc thị trường. Xây dựng cơ chế công bố thông tin theo chuẩn mực quốc tế, áp dụng các chuẩn mực quản trị công ty, quản trị rủi ro, chuẩn hóa các quy định về giao dịch, mua bán, đăng ký, thanh toán theo thông lệ quốc tế.

Đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc DN gắn với cổ phần hóa DNNN, DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm tăng số lượng và chất lượng hàng hóa cho thị trường. Đa dạng hóa các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trong nước, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường và đầu tư lâu dài vào TTCK Việt Nam.

Đối với thị trường vốn tín dụng ngân hàng, cần rà soát các cơ chế chính sách, tạo môi trường cho các tổ chức tín dụng hoạt động. Cụ thể: Sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản cho phù hợp với lộ trình hội nhập; Nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực về phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế; Rà soát vốn thực có của các ngân hàng thương mại để giám sát tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, thực hiện quản trị rủi ro theo Basel II, tiến tới Basel III…

Những văn bản này phải được điều chỉnh phù hợp với lộ trình cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng và phải tương đối ổn định để các tổ chức tín dụng chủ động và tiên liệu được những rủi ro nảy sinh khi thay đổi chính sách.

Mặt khác, thông qua vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trường theo hướng tạo môi trường lành mạnh cho các ngân hàng hoạt động theo luật, không bao cấp cho ngân hàng (cả ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước và NHTM cổ phần), nhưng cũng không nên tạo ra những rủi ro bằng cơ chế chính sách hay các mệnh lệnh hành chính; kết hợp giữa giám sát tuân thủ và giám sát theo rủi ro, có chế tài đủ mạnh để bảo đảm cho các ngân hàng tham gia thị trường tuân thủ “luật chơi” đã quy định.

Thứ ba, tăng cường năng lực hoạt động của các tổ chức tham gia thị trường vốn: Tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán để có tiềm lực tài chính mạnh, uy tín, trình độ nghiệp vụ cao, quản trị hiện đại, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản và tính an toàn hệ thống, đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và khu vực; Tiếp tục phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của các Hiệp hội nghề nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và thị trường vốn.

Về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: Đối với các NHTM cổ phần yếu kém, sau khi tái cấu trúc phải có sự chuyển biến mới về chất (vốn, trình độ quản trị, công nghệ thông tin, mức độ an toàn vốn, tính minh bạch). Đối với các NHTM nhà nước, tiếp tục giảm tỷ trọng phần vốn nhà nước ở mức hợp lý, nâng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài tại mỗi ngân hàng tùy theo quy mô và phạm vi hoạt động của từng ngân hàng; Giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động ngân hàng, buộc các ngân hàng phải minh bạch trong kinh doanh.

Bên cạnh đó, cần hình thành và phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm cho thị trường vốn. Sự phát triển của thị trường vốn khiến cả cơ hội đầu tư và rủi ro đầu tư đều tăng lên. Nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn hơn nhằm thu lợi cao hơn từ khoản đầu tư này, song rủi ro trong đầu tư cũng tăng lên vì họ không hiểu hết những chủ thể sử dụng vốn của mình.

Do đó, để biết được mức độ rủi ro của mỗi khoản đầu tư, cần có hoạt động xếp hạng tín nhiệm mức độ rủi ro của các khoản đầu tư (chủ yếu là các khoản vay nợ) trên thị trường vốn. Những thông tin về chỉ số tín nhiệm của các DN, các ngành trong nền kinh tế sẽ giúp các nhà đầu tư có định hướng tốt hơn mỗi khi ra quyết định đầu tư.

Thứ tư, về công khai thông tin trên thị trường: Để có một thị trường vốn hiệu quả, thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là xây dựng cơ chế công khai thông tin.Trên thị trường vốn, mọi hoạt động đều được thể chế hóa bằng các quy định của pháp luật, quy chế, điều lệ về thị trường nhằm tạo ra một thị trường trung thực, trật tự và có hiệu quả, đồng thời, tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

Thị trường vốn phát triển, đòi hỏi phải quan tâm đến tính minh bạch của thị trường, tạo dựng được lòng tin để thu hút những chủ thể cung cấp vốn và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn tham gia thị trường, làm cho thị trường có thể phát huy tối đa vai trò của nó.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn: Để đạt được những mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, Việt Nam cần có một lượng lớn vốn đầu tư tăng thêm mỗi năm. Tuy nhiên, khi dòng vốn vào không được kiểm soát, sử dụng không hiệu quả, thì bất ổn tài chính sẽ nảy sinh. Vì vậy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách để đối phó với dòng chảy vốn trong giai đoạn đầu hội nhập.

Kinh nghiệm của một số nước trong việc kết hợp các chính sách để đối phó với dòng chảy vốn, thường là công khai các biện pháp kiểm soát vốn và lộ trình thay đổi nếu có để các nhà đầu tư nắm bắt và có phản ứng thích hợp. Kiểm soát vốn một khi được kết hợp với những chính sách khác sẽ làm thay đổi cấu trúc của dòng vốn chảy vào theo hướng khuyến khích các dòng vốn đầu tư dài hạn, hạn chế dòng tiền nóng mang tính đầu cơ ngắn hạn, từ đó giảm thiểu được rủi ro “đảo ngược dòng vốn” gây khủng hoảng.

Thị Trường Vốn Là Gì? Thực Trạng Thị Trường Vốn Tại Việt Nam

Ai là người có thể tham gia vào thị trường vốn? Đó là các tổ chức tài chính với vị thế là bên cho vay và các đơn vị kinh doanh, tập đoàn là vị thế của người đi vay. Thị trường vốn sẽ cung ứng vốn dài hạn và vốn sở hữu tài chính cho Chính phủ cũng như là các doanh nghiệp.

2. Các công cụ trong thị trường là gì?

Nó bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu công ty, vay thương mại, vay thế chấp, vay tiêu dùng hoặc chứng khoán chính phủ và chứng khoán các cơ quan thuộc chính phủ.

Dựa trên hàng hóa

Thị trường cổ phiếu: Đây là thị trường – nơi mà các bên thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông.

Thị trường trái phiếu: Hàng hóa được mua bán trong thị trường này là trái phiếu.

Dựa vào sự luân chuyển vốn

Thị trường sơ cấp: Ngân hàng đảm nhiệm việc bảo lãnh phát hành chứng khoán, từ đó đảm bảo nguồn vốn trung và dài hạn.

Thị trường thứ cấp: Tại đây, các nhà đầu tư được khuyến khích mua bán lại chứng khoán giúp nâng cao tính thanh khoản cho các chứng khoản được giao dịch.

5. Thị trường vốn tại Việt Nam

Ưu điểm

Tại Việt Nam thì các ngân hàng nắm giữ tỷ trọng lớn nhất trên thị trường vốn, tiếp nối theo là trái phiếu và cổ phiếu. Ngân hàng cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế chủ yếu thông qua các hoạt động tín dụng.

Thị trường vốn những năm gần đây đã có sự dịch chuyển cơ cấu từ khu vực các tổ chức tín dụng sang thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán, theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đang trở thành một kênh huy động vốn mạnh mẽ cho nền kinh tế Việt Nam và đang càng ngày càng vững chắc và hoàn thiện về cơ cấu. Các doanh nghiệp nhà nước đang có xu hướng cổ phần hóa để mở rộng được cơ hội đầu tư lớn hơn từ các nhà đầu tư bên ngoài.

Việt Nam được dự đoán sẽ phát triển mạnh thị trường vốn và sẽ có những kế hoạch tối ưu để có thể đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái hóa vốn nhà nước của Chính phủ.

Như vậy bài viết đã cung cấp cho bạn một số thông tin cơ bản về thị trường vốn là gì và những kiến thức xung quanh nó. Thêm vào đó, thị trường vốn tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận được những tăng trưởng nhất định của kênh cung cấp vốn quan trọng này đối với nền kinh tế.

6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam

Hiện trên thị trường bảo hiểm có 57 doanh nghiệp, trong đó gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 14 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Riêng tổng doanh thu phí bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2012 ước đạt 20.459 tỷ đồng, tăng 17,84% so với cùng kỳ năm 2011.

Nhằm phát triển thị trường bảo hiểm và thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm, ngày 18/9/2012, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 2330/QĐ-BTC phê duyệt 6 nhóm giải pháp chủ đạo làm căn cứ triển khai thực hiện cho giai đoạn 2011-2015 gồm:

Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

– Tổ chức nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ, nhất quán giữa các quy định; hướng dẫn kịp thời các quy định mới tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (có hiệu lực từ 1/7/2012); tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trong quá trình triển khai và phù hợp hơn với thực tiễn; đảm bảo thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm mà Việt Nam là thành viên; từng bước phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quản lý, giám sát bảo hiểm quốc tế.

Nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm

– Trên cơ sở định hướng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về tái cấu trúc thị trường tài chính, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu các doanh nghiệp bảo hiểm theo hướng kiện toàn mô hình tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động yếu kém, không hiệu quả; từng bước nâng cao năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, khả năng quản trị điều hành và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

– Xoá bỏ hiện tượng khép kín, chia cắt thị trường bảo hiểm thông qua việc hoàn thiện cơ chế, chính sách về cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn góp của Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp bảo hiểm khác; tăng cường quản lý, giám sát, xử lý nghiêm các biểu hiện vi phạm cơ chế cạnh tranh bình đẳng. Phối hợp rà soát, đánh giá hiệu quả phần vốn góp của các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm tiếp tục giảm tỷ lệ góp vốn của các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước theo đúng mục tiêu, giải pháp đã được xác định tại Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 và Chương trình hành động để thực hiện các nội dung của Đề án này (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012).

– Tổ chức đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực của thị trường bảo hiểm; hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của từng vị trí. Xây dựng cơ chế kiểm soát hiệu quả công tác tổ chức đào tạo và chất lượng cán bộ được đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn đặt ra.

Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm

– Rà soát sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính, cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm tận dụng kịp thời cơ hội triển khai, bảo đảm mặt bằng chung tối thiểu giữa doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ khi triển khai cùng một loại hình bảo hiểm sức khoẻ và tăng tính hấp dẫn, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bảo hiểm so với các sản phẩm tài chính thay thế khác (đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư).

– Rà soát, sửa đổi, bổ sung các chế độ bảo hiểm bắt buộc về trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và cháy, nổ cho phù hợp hơn với điều kiện và thực tiễn phát triển kinh tế. Xây dựng và ban hành quy tắc, điều khoản, biểu phí về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm nghề nghiệp môi giới bảo hiểm theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm

– Nghiên cứu ban hành các quy định mới nhằm chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; chuẩn hoá chương trình đào tạo và chứng chỉ môi giới phù hợp với đặc thù của loại hình sản phẩm bảo hiểm được thu xếp qua môi giới.

– Hoàn thiện các quy định về chuẩn hoá chương trình đào tạo đại lý bảo hiểm và điều kiện, tiêu chuẩn của các tổ chức đào tạo đại lý bảo hiểm. Tổ chức kiểm soát chặt chẽ công tác đào tạo, thi và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng đại lý của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Tăng cường hiệu quả quản lý của nhà nước về kinh doanh bảo hiểm

– Xây dựng hệ thống quản lý, giám sát từ xa hiệu quả; tăng cường thực hiện quản lý, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu giám sát và việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật.

– Chuẩn hoá trình độ đội ngũ cán bộ của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, bố trí số lượng cán bộ đủ để đáp ứng sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Xây dựng cơ chế thu hút và đãi ngộ cán bộ hợp lý, đặc biệt là các cán bộ làm việc trong các lĩnh vực đặc thù như tính toán bảo hiểm.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm

– Xây dựng lộ trình và phương án đàm phán trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đối với từng Hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương nhằm đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo nguyên tắc cam kết ngang bằng (không vượt quá) các cam kết đã có của Việt Nam trong WTO

– Tăng cường theo dõi, giám sát thực hiện quá trình hội nhập quốc tế, đánh giá tác động của việc hội nhập và kịp thời điều chỉnh cơ chế, chính sách hợp lý, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của quá trình này.

– Chủ động, tích cực tham gia Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm Đông Nam Á và Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý bảo hiểm; rà soát, đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc về quản lý, giám sát do Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý bảo hiểm đề ra, trên cơ sở đó xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách về kinh doanh bảo hiểm nhằm tuân thủ hoàn toàn 50% số lượng các nguyên tắc này.

– Đa dạng hoá nội dung, hình thức và các đối tác hợp tác quốc tế, gắn hợp tác quốc tế với yêu cầu công tác quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm từ các đối tác quốc tế.

Nguồn: chúng tôi

{flike}

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!