Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Diện tích đất ven biển của tỉnh có số lượng dự án đầu tư các resort, khách sạn, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng ngày càng gia tăng. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch đang được triển khai với nhiều công trình, dự án; các tuyến đường giao thông tạo sự kết nối với trung tâm du lịch trong khu vực đang được đầu tư; các chính sách thu hút đầu tư đang được tỉnh quan tâm thực hiện; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành Du lịch, mà đặc biệt là du lịch biển tại tỉnh nhà.

Thắng cảnh vịnh Vĩnh Hy. Ảnh: Duy Anh

Mặc dù vậy, xét trong bối cảnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong khu vực; so với các tỉnh khác thì cơ cấu du lịch biển của tỉnh được chi phối bởi các doanh nghiệp nhỏ và cơ cấu chất lượng thấp, cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở giá cả. Quy mô, thương hiệu ngành du lịch biển của tỉnh còn thấp kém, thua xa các khu vực lân cận như Khánh Hòa, Bình Thuận, Lâm Đồng. Cả tỉnh cho đến nay mới chỉ có 1 khách sạn tiêu chuẩn 4 sao, còn lại là từ 3 sao trở xuống; các khu du lịch, khách sạn quy mô nhỏ, phân tán, chất lượng dịch vụ còn nhiều hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, trong giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh đã có nhiều biện pháp thu hút đầu tư, tăng cường hợp tác phát triển các khu du lịch biển có chất lượng cao, tăng tính cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Du lịch, khai thác hiệu quả tiềm năng của tỉnh. Để thỏa mãn yêu cầu nâng cao chất lượng các khu du lịch, dịch vụ ven biển đáp ứng tiêu chuẩn ngang tầm quốc tế đòi hỏi phải tăng diện tích đất và mặt nước biển cho mỗi dự án. Từ đó, đã có một số vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai các dự án, cần phải được xem xét để giải quyết một cách căn cơ, đề ra các giải pháp mang tính bền vững, tạo sự đồng thuận cao. Đó là cần phải có biện pháp quản lý nhà nước nhằm giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên biển và tài nguyên đất ven biển; đảm bảo sử dụng hiệu quả đồng thời bảo vệ bền vững tài nguyên – môi trường biển.

Thực tế đã xảy ra mâu thuẫn về lợi ích giữa cư dân vùng dự án và chủ đầu tư trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên như: tranh chấp trong việc sử dụng mặt nước biển để tổ chức các hoạt động thể thao, giải trí với nuôi tôm hùm lồng trên biển, kinh doanh, khai thác thủy sản… tranh chấp trong việc sử dụng bờ biển, bãi tắm để kinh doanh, buôn bán…Thậm chí có dự án phải cần đến sự can thiệp, hòa giải của chính quyền cấp xã, cấp huyện.

Biển Cà Ná – điểm đến của du khách trong các dịp lễ tết. Ảnh: Lê Pháp

Có nhiều nguyên nhân để xem xét tình trạng mâu thuẫn trên, có thể là yếu tố lịch sử, truyền thống về sử dụng tài nguyên của cư dân vùng dự án; cũng có thể là yếu tố lợi ích kinh tế; cũng có thể do chưa có quy định rõ ràng về phân định ranh giới trên biển; sự quản lý sử dụng mặt nước biển còn chưa được quan tâm đúng mức…. Nhưng có thể nói, nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do giá trị sử dụng bờ biển và mặt nước biển ngày càng tăng cao, trong khi đó đa phần cư dân vùng ven biển là ngư dân và các sinh kế chủ yếu gắn liền với các bãi biển, vùng biển gần bờ… khi triển khai các dự án du lịch đã đụng chạm trực tiếp đến lợi ích và vùng sinh kế của họ.

Mặc dù khi lập và phê duyệt phương án đầu tư của mỗi dự án, việc giải quyết sinh kế, đền bù thiệt hại cho cư dân vùng dự án luôn được Nhà nước và nhà đầu tư đề cập đến, thậm chí có dự án còn tính đến các phương án giải quyết việc làm cho lao động trong vùng dự án, tạo điều kiện cho các gia đình chịu thiệt hại do việc thực hiện dự án được tham gia vào hoạt động của dự án, tạo thu nhập ổn định cùng dự án. Tuy vậy, dường như trong quá trình thực hiện các phương án giải quyết việc làm, đền bù các thiệt hại do quá trình thực hiện dự án chưa thực sự làm hài lòng, chưa tạo được sự yên tâm cho cư dân vùng dự án. Từ đó, các hoạt động sản xuất, kinh doanh tự phát, sai quy định vẫn tiếp tục xảy trên các bờ biển, mặt nước biển, nơi đã được đầu tư các dự án. Những hành động đó làm cản trở hoạt động của các dự án; làm giảm sức hút, nản lòng các nhà đầu tư; làm căng thẳng tình hình tại vùng dự án và các hệ lụy kinh tế – xã hội khác; đòi hỏi cần phải có biện pháp can thiệp từ phía Nhà nước, giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và cư dân vùng dự án. Một giải pháp được đề xuất ở đây là: phát triển du lịch biển gắn với tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng dự án.

Phát triển du lịch biển gắn liền với tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng dự án có thể được hiểu là: khi triển khai một dự án nào đó cần phải tính đến việc triển khai các hoạt động, chương trình gắn kết giữa hoạt động của các dự án đầu tư và các hoạt động làm ăn, sinh sống cho cư dân ven biển thuộc vùng dự án; thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động kinh doanh của dự án; tạo ra sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp và người dân. Một số biện pháp cụ thể như: đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ nuôi trồng thủy sản bền vững, xây dựng chương trình du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch; phát triển mô hình du lịch cộng đồng, du lịch giao lưu trao đổi văn hóa … cho cộng đồng dân cư, tạo điều kiện cho người dân “cộng sinh” cùng dự án, gia tăng thu nhập từ các dự án đầu tư, hạn chế được tình trạng khai thác tận diệt các nguồn lợi thủy sản, gây tác động xấu đến môi trường do tập quán cũ, do mất các nguồn lợi hiện có khi thực hiện dự án có thể gây ra.

Hy vọng, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân vùng dự án, các dự án du lịch ven biển của tỉnh sẽ sớm phát huy hiệu quả, khai thác tốt tiềm năng sẵn có của tỉnh, thúc đẩy tăng trưởng cho địa phương, đồng thời đảm bảo nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho người dân sống trong vùng ven biển tỉnh Ninh Thuận.

 Đỗ Phước Vinh

Phát Triển Du Lịch Bền Vững

Chúng ta cần một nền du lịch bền vững – một nền du lịch tốt cho đất nước lúc này và còn bền vững dài lâu mai sau. Trong phần sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu phát triển du lịch bền vững là gì? Tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững? Việt Nam đang gặp những khó khăn gì trong việc tiếp cận mô hình phát triển du lịch bền vững? Và đâu là giải pháp cho những khó khăn này?

I. Khái niệm về du lịch bền vững

Du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinh thái mà du lịch phụ thuộc vào.

Ảnh: Du lịch Vĩnh Long

Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation World Tourism Organization Network – UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải:

1. Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trongphát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên.

2. Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.

3. Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo.

Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.

II. Tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững?

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước. Du lich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hơp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển.

Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống. Vì bảo vệ môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: Không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất. Đảm bảo sự hài hòa về môi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp cho môi trường sống của con người được đảm bảo.

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm đặc trưng của vùng miền, của vùng. Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và người dân địa phương có công ăn việc làm.

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.

Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được 3 yếu tố đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặc biệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như Việt Nam, cùng với việc phát triển dân số,hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thống hành chánh còn nhiều yếu kếm. Nhưng đâu mới là nguyên nhân chính cho việc thực hiện phát triển du lịch bềnvững còn gặp nhiếu khó khăn? Đó là những khó khăn gì?

III. Tại sao việc thực hiện phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn, đó là những khó khăn gì?

Khó khăn thứ nhất có thể nhìn thấy rất rõ đó là Việt Nam chưa có một hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm có đường xá giao thông đi lại, với đủ các tiêu chuẩn an toàn và dễ tiếp cận cho khách du lịch để thực hiện việc di chuyển nhanh chóng, an toàn và thuận tiện.

Ví dụ: Vườn Quốc gia Tràm Chim ở Đồng Tháp là một trong những khu vườn có nhiều loài chim quý hiếm, như sếu đầu đỏ, có khu rừng tràm, có đồng lúa ma, đồng cỏ ống. Vườn Quốc Gia Tràm Chim được ví như một Đồng Tháp Mười thu hẹp với sự đa dạng cả về động thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, để vào được sâu bên trong khu vực và tìm hiểu về sự đa dạng về động thực vật ở vườn, hệ thống đi lại cùng với các tuyến xe bus trong ngày còn chưa thật thuận tiện. Nằm trong dự án về việc phát triển vườn trong những năm tới, vườn Tràm Chim dự tính sẽ có dự án gói kín từ sân bay Tân Sơn Nhất tới thẳng Tràm Chim nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch có thể tiếp cận được Tràm Chim một cách dễ dàng.

Tuy nhiên việc tiếp cận sâu bên trong vườn có thể gây ảnh hưởng đến một số loài chim di cư.

Khó khăn thứ hai là việc người dân khi ở những khu vực du lịch này thường xâm phạm đến các tài sản của khu vực du lịch mà không ý thức được hết ảnh hưởng lâu dài đến vấn đề môi trường sinh thái và những lợi ích lâu dài cho công động.

Cũng là vấn đề về việc người dân khai thác và sử dụng tài nguyên bên trong của vườn Tràm Chim, người dân trong vùng xâm lấn và đánh bắt cá bằng điện, hay đốt tổ ong lấy mật gây ra cháy rừng, đặc biệt trong mùa khô. Điều này cũng diễn ra tương tự với rừng U Minh Thượng gây trở ngại rất nhiều cho việc kiểm soát rừng một cách cẩn thận và gắt gao trong những mùa cao điểm.

Cuộc sống ở Vườn quốc gia Tràm Chim. Ảnh: Báo ảnh Việt Nam

Nhưng đây có phải thực sự là những khó khăn lớn nhất trong việc phát triển du lịch bền vững ở những khu vực vườn quốc gia có nhiều đa dạng sinh học? Việc nâng cao nhận thức đối với người dân và cộng đồng đã được đề cập khá rõ trong tài liệu của tổ chức phi chính phủ như WWF, Care International, Ausaid hay GIZ với những chương trình có mục tiêu thậm chí lớn và cụ thể hơn. Đây cũng là những tổ chức phi chính phủ có nhiều hỗ trợ và đóng góp đối với các vườn quốc gia có sự đặc biệt về đa dạng sinh học trong khu vực đồng bằng sông Mekong.

Nhưng qua tìm hiểu và phỏng vấn của chúng tôi đối với bà con vườn quốc gia Cà Mau cho thấy, người dân hoàn toàn hiểu về điều không nên đánh bắt các loại thủy hải sản và đặc biệt những loài còn nhỏ và quý hiếm. Vấn đề rác thải và môi trường cũng được bà con đề cập tới, đó là để gọn lại từng nơi rồi xử lí. Đối với từng loài cây như cây đước, cây mắm, cây tràm, người dân địa phương đều thể hiện sự hiểu biết về giá trị sử dụng, cách chúng xâm lấn ra biền bằng nguồn phù sa do hệ thống kênh rạch mang đến.

Người dân có ý thức hơn là người ta nghĩ.

Vậy đâu là nguyên nhân chính và chủ yếu khiến cho việc phát triển du lịch bền vững ở những khu vực này còn gặp nhiều khó khăn và thực hiện chậm chạp?

Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham dự hiểu biết của tất cả những nhóm được ảnh hưởng bởi du lịch, cũng như sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ để đảm bảo sự tham gia sâu rộng và xây dựng sự đồng thuận. Đạt được du lịch bền vững là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự giám sát không ngừng của những ảnh hưởng, giới thiệu những biện pháp phòng tránh và/ hoặc sửa chữa bất kì khi nào cần thiết.

Yếu tố lãnh đạo về chính trị dường như là một yếu tố còn khá nhạy cảm và khó đề cập ở đây. Một ví dụ điển hình là số lượng khách du lịch hàng năm đến Cà Mau rất lớn với đặc điểm nổi bật của vườn là có Cột mốc tọa độ ở cực Nam của Tổ quốc và vừa trở thành khu Ramsar thứ 2088 của thế giới. Số lượng vé bán hay cách khai thác về du lịch đem lại nguồn thu rất lớn được Sở Văn Hóa tỉnh Cà Mau nắm và quản lí.

Điều khiến cho việc quản lí này trở nên khó khăn là vườn và cán bộ vườn không nhận được sự hỗ trợ về vật chất của Sở Văn hóa tỉnh Cà Mau.

Sự bất hợp lí này cũng khiến cho việc cán bộ nhân viên và nhân dân gặp khó khăn trong việc xây dựng vườn trở thành một nơi giữ được vẻ đẹp đa dạng sinh học thu hút khách du lịch từ khắp mọi nơi.

Phát triển du lịch bền vũng là một chính sách lớn, dùng các khu bảo tồn và vườn quốc gia làm chủ lực và mọi nhóm người liên hệ – quản lý các khu bảo tồn và vườn quốc gia, các cơ quan hành chánh và an ninh địa phương, chính quyền trung ương trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các công ty du lịch, các nhân viên làm việc du lịch, đại diện các cộng đồng nhân dân địa phương – tất cả mọi người liên hệ đều phải được huấn luyện và giáo dục kỹ càng, và phải làm việc đồng bộ với nhau.

Đồng thời du lịch bền vững có sức thu hút khách nước ngoài rất cao, vì họ muốn thăm những hệ sinh thái đặc biệt, những nền văn hóa đặc biệt, những động vật và thực vật quý hiếm đặc biệt. Cho nên khả năng liên kết với các cơ quan du lịch và công ty du lịch ở nước ngoài là điều tất yếu.

Chính vì vậy mà vai trò lãnh đạo chính trị mạnh mẽ của nhà nước không thể thiếu sót. Trong ví dụ điển hình của Đất Mũi, Cà Mau, tình trạng thiếu phát triển của vùng Đất Mũi cho thấy lãnh đạo Cà Mau (Ủy ban Nhân dân) và lãnh đạo các khu bảo tồn và vườn quốc gia cần làm việc chung để có một chính sách lớn về phát triển du lịch bền vững tại vùng Đất Mũi – dùng cột mốc tọa độ 0, Vườn Quốc Gia Tràm Chim, Rừng Ramsar, rừng trạm, U Minh Thượng, đồng lúa ma, đồng cỏ ống – và làm việc với mọi nhóm được ảnh hưởng từ du lịch bền vững, đặc biệt là các cộng đồng dân cư địa phương, và với chính quyền trung ương để kêu gọi đầu tư cơ sở hạ tầng và các tiện nghi du lịch. Đất Mũi là vùng có rất nhiều tài nguyên sinh thái và cột mốc tọa độ 0 của nước Việt Nam. Tiềm năng du lịch bền vững thật là lớn nếu chúng ta biết khai thác.

IV. Kết luận

Tất cả các giải pháp về vấn đề phát triển bền vững, được trình bày ở RIO +20 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, thậm chí vấn đề phát triển du lịch bền vững cũng được đề cập khá rõ ràng trong chương trình Nghị Sự 21 từ năm 1997. Nhưng sau rất nhiều năm, tất cả đều còn chưa nhìn thấy một sự thay đổi rõ rệt. Điều này dấy lên một câu hỏi về quyết tâm của các lãnh đạo trung ương và địa phương trong việc phát triển du lịch bền vững.

Đỗ Hồng Thuận

Ứng viên Đại sứ Du Lịch

Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường

Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường

Môi trường tự nhiên xanh – sạch – đẹp và an toàn, là một tiêu chí bảo đảm chất lượng cuộc sống. Điều này càng đúng với du lịch, thậm chí môi trường đang là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh, thương hiệu và chất lượng sản phẩm du lịch.

Thanh niên tham gia dọn vệ sinh môi trường khu vực bãi biển Hải Tiến.

Môi trường đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành du lịch. Do vậy, trong “Chương trình phát triển du lịch Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020”, nhiệm vụ cải thiện môi trường du lịch được đặc biệt nhấn mạnh. Trong đó, gắn trách nhiệm của chính quyền địa phương trong cải thiện môi trường du lịch; nâng cao nhận thức cho cộng đồng về du lịch bền vững, bảo vệ môi trường du lịch. Đồng thời, huy động các nguồn kinh phí xã hội hóa, cùng với nguồn ngân sách hỗ trợ để xây dựng nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch tại các khu, điểm du lịch. Cùng với đó, tổ chức thu gom và xử lý hợp vệ sinh chất thải rắn tại tất cả các khu, điểm du lịch, đặc biệt là vào mùa cao điểm của du lịch biển; tiến hành san lấp cát và sàng lọc rác trên cát tại các khu du lịch biển của Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Nghi Sơn nhằm bảo đảm mỹ quan, vệ sinh môi trường và an toàn tắm biển…

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, UBND tỉnh đã ban hành Quy chế phối hợp bảo vệ môi trường trong hoạt động văn hóa, lễ hội, thể thao và du lịch; phê duyệt đề án xây dựng hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn phục vụ khách du lịch trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 và mẫu nhà vệ sinh phù hợp với từng loại hình du lịch. Trên cơ sở đó, hàng năm UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh bố trí kinh phí xây dựng. Kết quả, trong giai đoạn 2016-2020, có 59 khu nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn phục vụ khách du lịch, được hỗ trợ kinh phí xây dựng tại các khu, điểm du lịch (đạt 92,19% kế hoạch). Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 94 nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, bước đầu đã góp phần cải thiện công tác vệ sinh môi trường và đáp ứng nhu cầu dịch vụ tối thiểu của khách du lịch.

Bên cạnh đó, các khu, điểm du lịch lớn đều được hỗ trợ kinh phí trang bị thùng đựng rác, máy sàng cát, lắp biển báo chỉ dẫn. Đồng thời, UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban hành và thực hiện tương đối tốt quy chế bảo vệ môi trường tại hầu hết các khu, điểm du lịch, các di tích; xây dựng được nhiều mô hình quần chúng tham gia bảo vệ môi trường tại các xã, phường, thị trấn. Hoạt động thu gom chất thải rắn ở các khu, điểm du lịch cũng được chú trọng và đi vào nền nếp. Đặc biệt, có 90% cơ sở kinh doanh dịch vụ đã xây dựng và thực hiện quy chế bảo vệ môi trường, trong đó có việc thu gom và xử lý chất thải rắn; 100% cơ sở lưu trú và kinh doanh ăn uống cam kết bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô lớn đã đầu tư các công trình vệ sinh công cộng, hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn; áp dụng mô hình giảm thiểu chất thải, tái sử dụng và tái chế chất thải; sử dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, góp phần giảm cường độ phát thải khí nhà kính…

Mặc dù đã đạt nhiều kết quả, song, với tốc độ tăng trưởng ngành du lịch như hiện nay, có lúc có nơi, môi trường đang phải “gánh” không ít hệ lụy. Cứ vào những đợt cao điểm du lịch, không khó để bắt gặp cảnh các bãi tắm lềnh bềnh rác. Mặc dù vấn đề thu gom rác thải ở các bãi biển đã được các địa phương quan tâm và có cải thiện. Song, vấn đề này rõ ràng là chưa được giải quyết dứt điểm. Nhiều bãi biển như Hải Tiến, Hải Hòa hay của huyện Quảng Xương, chưa có nhân công vệ sinh môi trường thu gom rác và sàng cát làm sạch môi trường. Bên cạnh đó, việc thu gom xử lý nước thải tại các khu, điểm du lịch vẫn còn nhiều bất cập. Hiện chỉ có Khu Du lịch sinh thái biển Hải Tiến và Khu nghỉ dưỡng FLC Sầm Sơn đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong khi, công trình xử lý nước thải tập trung của TP Sầm Sơn đã xuống cấp, một số tuyến chưa được thu gom triệt để, công suất xử lý thấp nên chưa đáp ứng yêu cầu và thường xuyên quá tải vào các đợt cao điểm khách du lịch. Ngoài ra, một số doanh nghiệp không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc hồ sơ môi trường tương đương…

Để xây dựng hình ảnh du lịch Thanh Hóa an toàn, thân thiện, văn minh, thiết nghĩ, cần tổng hòa của nhiều yếu tố. Trong đó không thể không nhấn mạnh đến công tác bảo vệ môi trường, để du khách không quay lưng và cũng để bảo đảm cho du lịch phát triển bền vững.

Bài và ảnh: Hoàng Xuân

Phát Triển Du Lịch Hiệu Quả Và Bền Vững

Phát triển du lịch hiệu quả và bền vững

Những năm qua, kinh tế-xã hội Ninh Bình có nhiều khởi sắc, trong đó ngành Du lịch đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, so với tiềm năng và lợi thế, hiệu quả hoạt động du lịch của Ninh Bình vẫn còn ở mức khiêm tốn. Đảng bộ và chính quyền tỉnh Ninh Bình đang quan tâm tìm giải pháp phát triển du lịch Ninh Bình lên tầm cao mới với trọng tâm nâng cao chất lượng, hiệu quả và bền vững.

Phát huy tiềm năng

Từ khóa “du lịch Ninh Bình” những năm gần đây tăng vượt trội trên các công cụ tìm kiếm trên Internet. Bởi nhắc đến Ninh Bình là người ta nghĩ đến một tỉnh với đa dạng các tiềm năng về du lịch như rừng, núi, sông hồ, đất ngập nước, đồng bằng và duyên hải, tạo nên nhiều hình thái cảnh quan, hệ sinh thái độc đáo, đa dạng có giá trị nổi bật thu hút du khách. 

Có thể nói, đặc điểm địa hình và hệ sinh thái của Ninh Bình tạo nên hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên đặc sắc, đa dạng và nổi bật phù hợp với các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng sinh thái rừng, núi, hang động, biển, đất ngập nước, suối khoáng, đồng quê… như Vườn quốc gia Cúc Phương, Danh thắng Tràng An, Tam Cốc-Bích Động, Vân Long, Kênh Gà…

Chiều sâu văn hóa, lịch sử gắn với lối sống, tôn giáo và hệ thống di tích hòa đồng với hệ sinh thái cảnh quan đã hình thành hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn gắn với các địa danh, di tích, lễ hội, ẩm thực, làng nghề… như Bái Đính, Hoa Lư, Phát Diệm… là cơ sở hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh đặc sắc.

Dựa trên thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, du lịch Ninh Bình những năm qua có bước phát triển vượt bậc. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều khu, điểm du lịch mới với nhiều sản phẩm du lịch, dịch vụ giải trí được đưa ra phục vụ du khách. Hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du lịch từng ngày được mở rộng quy mô và nâng dần về chất lượng. Hiệu quả kinh tế về du lịch tăng mạnh những năm gần đây thể hiện ở số lượng khách tham quan và tổng doanh thu từ dịch vụ du lịch. 

Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch, năm 2019, khách du lịch đến Ninh Bình đạt 7,65 triệu lượt khách, tăng 4,79% so với năm 2018. Trong đó, khách nội địa đạt 6,68 triệu lượt khách, tăng 3,9% so với năm 2018; khách quốc tế: 970 nghìn lượt khách, tăng gần 11% so với cùng kỳ năm 2018. 

Doanh thu du lịch đạt 3.600 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2018, vượt mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. Riêng trong 8 tháng đầu năm nay do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 nên ngành Du lịch bị thiệt hại nặng nề, toàn tỉnh ước đón được 1,87 triệu lượt khách, đạt 30,3% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch ước đạt 1.067 tỷ đồng, bằng 38,03% so với cùng kỳ năm 2019. 

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, sự phát triển của du lịch Ninh Bình thời gian qua vẫn đang ở bước tăng trưởng ban đầu. Đó là sự gia tăng về quy mô đáp ứng nhu cầu lượng khách du lịch tăng nhanh. Tăng trưởng du lịch chủ yếu về lượng dựa vào đầu tư mở rộng. Giá trị sản phẩm du lịch chưa cao và chưa phát huy hết giá trị đặc sắc của tài nguyên du lịch, hiệu quả kinh tế du lịch còn chưa xứng với tiềm năng. 

Ngoài ra, những yếu tố về hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất phục vụ du lịch thiếu đồng bộ và hiện đại cùng với lực lượng lao động du lịch phần đông còn thiếu chuyên nghiệp. Hệ thống doanh nghiệp du lịch được hình thành và mở rộng nhưng chưa có doanh nghiệp lữ hành đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh vươn đến các thị trường xa để thu hút khách. Sự thiếu đồng bộ về chính sách, nguồn lực đầu tư hạn chế, xung đột lợi ích liên ngành với du lịch, nhận thức du lịch chưa thích ứng kịp… đang là những rào cản, thách thức đối với phát triển du lịch Ninh Bình.

Tầm nhìn chiến lược

Mặc dù còn nhiều khó khăn song với sức bật mạnh mẽ trong những năm qua có thể khẳng định rằng, du lịch Ninh Bình đang nổi lên với sức tăng trưởng mạnh mẽ, tương lai sẽ trở thành một trong những điểm đến đặc sắc trong vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông bắc. 

Theo Quy hoạch tổng thể: “Đến năm 2020, Ninh Bình trở thành một trong những trọng điểm du lịch của cả nước; đến năm 2030, ngành Du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo động lực để thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển”. 

Ngành Du lịch cũng phấn đấu đến năm 2025, thu hút khoảng 8-9 triệu lượt khách, trong đó 1,5 triệu lượt khách quốc tế; tổng doanh thu từ du lịch đạt trên 8.000 tỷ đồng; tạo việc làm cho 30.000 lao động, trong đó có 12.000 lao động trực tiếp. 

Phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc; thực hiện tốt công tác quản lý, bảo tồn, phát triển giá trị Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An; nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; áp dụng rộng rãi hệ thống du lịch thông minh, khẳng định Ninh Bình là điểm đến an toàn, thân thiện và mến khách. 

Để thực hiện mục tiêu trên, tỉnh Ninh Bình đã xác định cần đổi mới các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch, xây dựng và nâng cao thương hiệu du lịch Ninh Bình. Theo đó, đẩy mạnh liên kết, mở rộng hợp tác phát huy tiềm năng, thế mạnh và khai thác các cơ hội, nguồn lực để phát triển gắn kết du lịch Ninh Bình với các địa phương trong cả nước và khu vực. 

Cơ cấu lại thị trường khách du lịch đến Ninh Bình, tập trung khai thác thị trường khách du lịch từ Hà Nội và các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và mở rộng thị trường đến các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, khu vực Tây Nguyên. Tăng cường liên kết với thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận để mở rộng phát triển thị trường khách du lịch quốc tế ở các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Mỹ, úc…

Ngành Du lịch cũng phối hợp với các cơ quan chuyên môn bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch theo cơ cấu hợp lý theo hướng tăng số lượng lao động trực tiếp, chú trọng lao động lành nghề qua đào tạo, có tính chuyên nghiệp cao. Đến năm 2025, ngành Du lịch Ninh Bình phấn đấu cơ bản đáp ứng đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng. Đào tạo nguồn nhân lực hướng tới tiêu chuẩn trình độ kỹ năng của khu vực và quốc tế. 

Tỉnh cũng ưu tiên nguồn lực thích hợp đầu tư phát triển hạ tầng giao thông kết nối các khu, điểm du lịch. Đầu tư xây dựng các khu, điểm du lịch một cách đồng bộ, có chất lượng cao với các sản phẩm du lịch đa dạng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư hệ thống khách sạn cao cấp, đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao, 8 đồng bộ về các dịch vụ; các dự án đầu tư dịch vụ vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung, đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế xanh, tỉnh Ninh Bình đang nỗ lực xây dựng môi trường du lịch văn minh, an toàn, thân thiện. Đẩy mạnh triển khai phổ biến quy tắc ứng xử văn minh du lịch tại các địa phương, đơn vị kinh doanh du lịch. 

Đồng thời thực hiện giải pháp lắp camera tại một số địa điểm có đông khách du lịch, tăng cường hiệu quả các đường dây nóng phục vụ khách du lịch, hình thành hệ thống kiểm soát an ninh, an toàn các khu, điểm du lịch kết nối với trung tâm hỗ trợ du khách. 

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động du lịch, quản lý điểm đến, quản lý doanh nghiệp. Đặc biệt, Ninh Bình định hướng phát triển du lịch thông minh gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng công nghệ xanh – sạch – tái tạo.

Nguồn: baoninhbinh.org.vn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!