Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ở Việt Nam Hiện Nay # Top 7 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ở Việt Nam Hiện Nay # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ở Việt Nam Hiện Nay mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những thay đổi hết sức căn bản tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) phát triển. Đến nay, DNNVV chiếm 96,7% tổng số doanh nghiệp cả nước. Sự lớn mạnh cả về số lượng, quy mô hoạt động và cả về nội lực của khu vực DNNVV có tác động to lớn, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

1. Mở đầu

Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định và nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã có nhiều chính sách phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. 

Để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua gần 2 năm thực hiện Nghị quyết, kinh tế tư nhân đã có sự phát triển nhanh chóng và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, nhất là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện an sinh xã hội.

DNNVV là bộ phận quan trọng trong thành phần kinh tế tư nhân và chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Hiện nay, cả nước có khoảng 541.753 DNNVV đang hoạt động trong nền kinh tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng số vốn đăng ký của các DN [3, tr.26]. Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30% và thu hút gần 60% lao động… Mặc dù số lượng DNNVV đông đảo, song quy mô DN nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, số DN quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% tổng số DNNVV. Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực DN này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành DN; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa… Trong thời gian tới, rất cần có những giải pháp hữu hiệu để khu vực DN này, tuy rất năng động, nhưng cũng dễ tổn thương có sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích sự đổi mới cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV; đánh giá làm rõ những thành tựu và hạn chế của khu vực DNNVV hiện nay. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp cơ bản phát triển DNNVV ở Việt Nam.

2. Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã không ngừng triển khai thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hoàn thiện khung pháp lý nhằm đổi mới, tạo động lực cho DN phát triển. Trong năm 2014, Chính phủ trình và Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư và Luật DN (sửa đổi); Luật Chuyển giao công nghệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (năm 2017); Luật Cạnh tranh (năm 2018)… Việc triển khai một số luật quan trọng này nhằm tạo sự thay đổi tích cực môi trường đầu tư kinh doanh. Cùng với đó, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Phá sản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thuế thu nhập DN và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tác động tích cực tới cộng đồng DN.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện việc đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, ban hành Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 4 tháng 2 năm 2016 phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016-2020. Điều đó đã tạo sự chuyển biến, nâng cao chất lượng phục vụ của Chính phủ, chính quyền các cấp đối với người dân và DN, xóa bỏ mọi rào cản, đảm bảo quyền tự do bình đẳng kinh doanh của cá nhân và DN.

Nhằm tăng cường các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và phong trào khởi nghiệp, Chính phủ ban hành các Nghị định số 34/NĐ-CP ngày 8 tháng 3 năm 2018 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018 quy định chi tiết về đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo. Cùng với đó là cụ thể hóa các quy định, chính sách về hỗ trợ DNNVV, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV [1, tr.8]. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ngày càng được hoàn thiện. Cụ thể là, Chính phủ đẩy mạnh vận hành, khai thác và phát triển Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam với quốc tế. Đồng thời, hỗ trợ DN áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng. Khuyến khích hoạt động liên kết ngành, tham gia chuỗi giá trị của các DN trong nước với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.

Chính phủ triển khai việc rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về hải quan để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm việc sửa đổi các quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát hải quan. Trong năm 2018, đa số bộ, ngành đã xây dựng các nghị định về điều kiện kinh doanh, trong đó một số điều kiện kinh doanh không cần thiết, không hợp lý, thiếu rõ ràng đã được cắt bỏ. Đồng thời, chú trọng tới việc cắt giảm chi phí khởi sự kinh doanh và gia nhập thị trường của DNNVV2. Để hỗ trợ các DNNVV khai thác được các cơ hội trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là triển khai các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp cụ thể3 góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý hiện đại.

3. Những thành tựu và hạn chế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 

3.1. Thành tựu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong những năm vừa qua, nhờ có việc ban hành hàng loạt cơ chế, chính sách và triển khai nhiều giải pháp tích cực, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực; khơi dậy tinh thần doanh nhân và sự đăng ký quay trở lại hoạt động mạnh mẽ của các DNNVV. Số lượng DN thành lập mới và số lượng DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên. Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100 nghìn DN thành lập mới. Trong hai năm 2017-2018, cả nước có 258.134 DN đăng ký thành lập mới và 60.458 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện và các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển DN [1, tr.22-23]. Sự gia tăng trở lại này trùng với thời điểm Luật DN 2014 và Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2015. Thực tế, các luật này tạo cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho DN trong quá trình kinh doanh, khi DN có quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; đồng thời, thời gian đăng ký thành lập DN đã được rút ngắn còn 03 ngày. Tính chung trong 9 tháng năm 2018, cả nước có 96.611 DN thành lập mới với số vốn đăng ký là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn đăng ký. Riêng trong quý III/2018, cả nước có 32.080 DN thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2018 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017. Số lao động đăng ký của các DN thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2017. Số DN quay trở lại hoạt động là 22.897 DN, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.845.331 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: 936.411 tỷ đồng của DN đăng ký thành lập mới (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017) và 1.881.920 tỷ đồng (tăng 51,6%) thông qua 32.144 lượt đăng ký tăng vốn của các DN đang hoạt động (tăng 16,6%) [7].

Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực như: xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính, ngân hàng. Hiện nay, có hơn 3.000 công ty khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động, trong đó có nhiều DNNVV thành công [1, tr.23].

Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2017), khối DNNVV thu hút nhiều lao động nhất với 8,69 triệu lao động (chiếm 60,9% tổng lao động toàn bộ khu vực DN trong nền kinh tế) [3, tr.31]. Trong hai năm 2017-2018, số DNNVV thành lập mới cũng đã tạo gần 2,3 triệu việc làm mới.

Khu vực DNNVV đã thể hiện vai trò và những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự chuyển mình và cất cánh của nền kinh tế. Trong giai đoạn 2015-2017, khu vực kinh tế tư nhân (trong đó DNNVV là bộ phận quan trọng) đóng góp khoảng 50% GDP, trên 30% thu ngân sách nhà nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Năm 2018, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 42,1% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên [1, tr.24]. Thu ngân sách nhà nước từ các DN tư nhân liên tục tăng lên trên 16%. Thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân vượt khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và khu vực DN nhà nước. Những tín hiệu này phản ánh sự lớn mạnh về quy mô, số lượng chủ thể và sự cải thiện về hiệu quả của kinh tế tư nhân [1, tr.24]. Tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) của khu vực này tương đối ổn định. Mặc dù những năm gần đây, tốc độ tăng NSLĐ của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng NSLĐ của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là DNNVV vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8% [7]. Tính chung trong 2 năm 2016-2017, các DNNVV tạo ra doanh thu chiếm tỷ lệ chi phối trong toàn bộ khu vực DN, bình quân mỗi năm các DNNVV tạo ra 10,8 triệu tỷ đồng, chiếm 56,4% doanh thu toàn bộ khu vực DN, tăng 64,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015 [3, tr.36].

3.2. Những hạn chế, yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù các năm gần đây, số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ DN không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả. Hiện nay, các  DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như: việc tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và công nghệ. Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2018, dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế. Đến nay vẫn có khoảng 60% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng [7]. Việc tiếp cận đất đai còn nhiều khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu (thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí quá cao làm mất đi cơ hội kinh doanh của DN). Các DNNVV thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu [1, tr.38].

Điểm nổi bật hiện nay là, sự liên kết của các DNNVV Việt Nam yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn. Theo báo cáo triển vọng phát triển Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia [7].

Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô DN gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng DN “đầu tàu” đủ mạnh để có thể dẫn dắt “đoàn tàu” DN Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Do phần lớn DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ nên rất khó tăng NSLĐ nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được. Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay [7].

4. Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống pháp luật về kinh doanh minh bạch, công bằng, lành mạnh nhằm mục đích tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh cho DN, tạo thuận lợi tối đa cho các DN khi tham gia vào thị trường trong nước và ngoài nước. Ban hành hệ thống chính sách đồng bộ, ổn định lâu dài đối với hoạt động của khu vực DNNVV. Phát triển đa dạng các thị trường tài chính và thị trường chứng khoán để hỗ trợ cho DN huy động vốn trên thị trường chứng khoán, vay vốn trên thị trường trái phiếu DN. Đồng thời, hỗ trợ DNNVV bằng cách giải đáp các vấn đề vướng mắc về luật pháp, đăng ký kinh doanh; cũng có thể mở thêm hoạt động tư vấn kinh doanh cho DN hoặc thành lập riêng một cơ quan chuyên trách giúp cho sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện các cơ chế chính sách của Chính phủ trong việc cải cách các mức thuế quan, cắt giảm các thủ tục đăng ký DN cùng với các “chi phí không chính thức”. Các bộ, ngành cần giảm bớt các cuộc thanh, kiểm tra không cần thiết với DNNVV, nhất là phải quyết liệt trong công tác xóa bỏ tệ nạn tham nhũng, nhũng nhiễu DN. Có cơ chế cắt giảm thuế thu nhập DN để hỗ trợ DNNVV giải quyết bài toán tạo việc làm cho xã hội, với quy định cụ thể về sử dụng phần ưu đãi thuế thu nhập DN đó để tái đầu tư, tạo công ăn việc làm mới. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV được tiếp cận các nguồn lực (đất đai, tài chính, lao động, khoa học công nghệ…). Xây dựng và phát triển hạ tầng thông tin dữ liệu về DN hoạt động cùng ngành hàng về thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ… 

Thứ ba, phát huy vai trò của xã hội, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam. Theo đó, cần nâng cao vai trò, năng lực của các Hiệp hội nhằm hỗ trợ DNNVV và tăng cường chức năng tham vấn và phản biện xã hội. Mặt khác, tăng cường tiếp nhận các phản hồi, ý kiến, nhu cầu từ người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của DNNVV để tự hoàn thiện DN trong hoạt động kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng bằng các giải pháp như: nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh doanh của DN đối với người tiêu dùng; cân bằng lợi ích của thương nhân và người tiêu dùng.

Thứ tư, bản thân mỗi DNNVV phải nêu cao ý thức vươn lên, phát huy lợi thế, nâng cao sức cạnh tranh của mình. DNNVV Việt Nam có nhiều lợi thế về kinh doanh, phạm vi thị trường, khách hàng để tham gia vào hoạt động thương mại trong nước, khu vực và quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thì việc tận dụng những lợi thế vốn có của DNNVV sẽ thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh về kinh tế đất nước trong khu vực Đông Nam Á.

Việc nắm bắt nhu cầu, tâm lý của khách hàng hoặc nhóm khách hàng phù hợp với loại hình, ngành nghề kinh doanh của mỗi DN cũng là một giải pháp mà các DNNVV có thể thực hiện được và tạo ra những kết quả khả quan. Bên cạnh đó, DN cần có chiến lược phát triển thông qua các kế hoạch, chiến lược, tầm nhìn, sứ mệnh hoạt động cụ thể. Một giải pháp cũng được áp dụng đối với DNNVV, đó là xây dựng tầm nhìn trong sự phát triển của DN mình bằng việc xác định rõ các vấn đề về kinh tế, khách hàng, sự cạnh tranh, định hướng tương lai, triển vọng của DN, tính chuyên môn hóa cao trong tiếp xúc với khách hàng, uy tín, thương hiệu và giá trị cốt lõi mà mỗi DN cung cấp cho thị trường, xã hội…

Để hạn chế tối đa các thất bại như buộc phải giải thể, tự giải thế, tình trạng kinh doanh bị trì trệ, tạm ngưng hoạt động, các DNNVV cần phải xác định được phạm vi và đối tượng mà mình hướng tới. Nói cách khác, trên cơ sở quy mô, tiềm lực, loại hình hoạt động, các DNNVV cần có chiến lược phù hợp trong việc lựa chọn thị trường, phân khúc thị trường để khai thác, kinh doanh. Chọn lựa phân khúc thị trường phù hợp là một giải pháp và đồng thời cũng là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, an toàn cho sự phát triển ổn định của mỗi DN. Mặt khác, mỗi DN cần khai thác hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ, thúc đẩy cho sự phát triển như: các giải pháp hỗ trợ từ nhà đầu tư trong và ngoài nước; các chính sách, kế hoạch hỗ trợ của Nhà nước về nguồn vốn, tài chính, công nghệ, quản trị, kinh doanh… Đồng thời, sự liên minh, liên kết của nhóm DN kinh doanh, hoạt động cùng ngành nghề dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên danh… cũng là một giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò, thế mạnh của mình.

Thứ năm, trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã ký kết hàng loạt các FTA thế hệ mới, để nâng cao năng lực cạnh tranh, DNNVV cần biết tận dụng tối đa những tiềm lực về vốn, nhân lực, thị trường, văn hóa, kinh nghiệm kinh doanh của các DN… Đây chính là sự tự thân vận động quan trọng của mỗi DNNVV trong kế hoạch thực hiện các chiến lược, mục tiêu kinh doanh của mình cùng với các đối thủ nặng ký trên thị trường. Hiểu về đối thủ và cân bằng hài hòa được các lợi ích với đối thủ trong kinh doanh sẽ tạo những cơ hội phát triển ổn định cho các DNNVV. Điều đó đồng nghĩa rằng, các DNNVV cần biết cách giữ mối quan hệ tốt đẹp với các DN lớn trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt. Đặc biệt, các DNNVV cần minh bạch hoạt động và báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng quản trị DN, quản lý rủi ro.

5. Kết luận

 

Chú thích

1  Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

2  Theo báo cáo của các bộ, ngành, hầu hết cắt giảm điều kiện kinh doanh đạt trên 50%, trong đó đã cắt giảm, đơn giản hóa 61% điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất, nhập khẩu, đạt mục tiêu Nghị quyết số 19/NQ-CP đề ra [3, tr.20]. Từ tháng 1/2018, lệ phí đăng ký DN đã giảm 50% so với quy định trước đây (từ 200.000 đồng còn 100.000 đồng) và miễn 100% nếu DN đăng ký qua mạng điện tử) [7].

3 Cập nhật, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để phục vụ các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các DN; xây dựng và kết nối hệ thống Cơ chế một cửa quốc gia; tích cực, chủ động đàm phán các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các đối tác nước ngoài; tham gia đàm phán nội dung đầu tư trong các FTA, như: Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) đã ký kết, thông qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… [1, tr.14].

Tài liệu tham khảo

[1]     Ban Kinh tế Trung ương (2019), Báo cáo 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội, tháng 4.

[2]     Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển doanh nghiệp (2017), Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Hà Nội.

[3]     Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019, Nxb Thống kê, Hà Nội.  

[4]     Nguyễn Trường Sơn (2014), Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[5]     Ninh Thị Minh Tâm, Lê Ngự Bình (2017), Hiệu quả kinh doanh của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[6]     Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2018), Đổi mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị cho Việt Nam, Hà Nội.

[7]     https://baomoi.com/phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua-trong-boi-canh- moi/c/29562534.epi

[8]     http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/doanh-nghiep-nho-va-vua-chiem-981-144150.html

[9]     http://doanhnghiephoinhap.vn/thach-thuc-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-trong-nam-2019.html

Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trong Bối Cảnh Mới

Tốc độ tăng năng suất lao động của khu vực này tương đối ổn định. Dù có đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất khó tiếp cận các nguồn vốn như: vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ… để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh.

Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Thời gian qua, Chính phủ đã không ngừng triển khai thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hoàn thiện khung pháp lý với những tư tưởng đổi mới mạnh mẽ, tạo động lực cho doanh nghiệp (DN) phát triển. Điển hình, trong năm 2014, Chính phủ trình và Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư và Luật DN (sửa đổi) nhằm tạo sự thay đổi tích cực môi trường đầu tư kinh doanh. Cùng với đó, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Phá sản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật thuế Thu nhập DN và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật/đã được ban hành, tác động tích cực tới cộng đồng DN.

Đồng thời, Chính phủ đã chỉ đạo, đôn đốc triển khai quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh công tác cải cách hành chính tạo sự chuyển biến, nâng cao chất lượng phục vụ của Chính phủ, chính quyền các cấp đối với người dân và DN, xoá bỏ mọi rào cản, đảm bảo quyền tự do bình đẳng kinh doanh của cá nhân và DN. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 và Chỉ thị số 26/CT-TTg về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020; Nghị quyết số 75/NQ-CP về cắt giảm mức phí, chi phí cho DN; Nghị quyết số 98/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân… Đồng thời, Chính phủ cũng đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch cho mọi thành phần kinh tế, chú trọng công tác trợ giúp phát triển DN nhỏ và vừa (DNNVV).

Để tiếp tục nâng cao hiệu lực pháp lý, đẩy mạnh thực hiện các chính sách hỗ trợ DNNVV, tại Kỳ họp thứ 3 Khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV (Luật số 04/2017/QH14). Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018, với hàng loạt chính sách hỗ trợ cơ bản dành cho các DNNVV như: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, thông tin, phát triển nguồn nhân lực, tư vấn, công nghệ… đã tạo bước tiến quan trọng trong công tác hoàn thiện chính sách hỗ trợ tích cực cho DNNVV phát triển mạnh mẽ hơn.

Số lượng doanh nghiệp gia tăng mạnh

Việc ban hành hàng loạt cơ chế, chính sách trên đã tạo sự chuyển biến mạnh trong cộng đồng DNNVV. Tính chung trong giai đoạn 2011-2016, cả nước có 504.073 DN đăng ký thành lập mới. Giai đoạn 2011-2014, số DN đăng ký thành lập mới có suy giảm, tuy nhiên, đến năm 2015 – 2016, số DN thành lập mới, quay trở lại hoạt động gia tăng mạnh mẽ.

Sự gia tăng trở lại này trùng với thời điểm Luật DN 2014 và Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2015. Thực tế, Luật DN và Luật Đầu tư 2014 tạo cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho DN trong quá trình kinh doanh, khi DN có quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; Đồng thời, thời gian đăng ký thành lập DN đã được rút ngắn còn 03 ngày. Năm 2017, số DN đăng ký thành lập mới đạt 126.859 DN; có 26.448 DN quay trở lại hoạt động. Tổng số vốn đăng ký vào nền kinh tế trong năm 2017 đạt 3.165.233 tỷ đồng, gồm: Số vốn đăng ký của DN đăng ký thành lập mới là 1.295.911 tỷ đồng và số vốn đăng ký tăng thêm của các DN thay đổi tăng vốn là 1.869.322 tỷ đồng với 35.276 lượt DN đăng ký bổ sung vốn.

Năm 2017, số DN đăng ký thành lập mới đạt 126.859 DN; có 26.448 DN quay trở lại hoạt động. Tổng số vốn đăng ký vào nền kinh tế trong năm 2017 đạt 3.165.233 tỷ đồng, gồm: Số vốn đăng ký của DN đăng ký thành lập mới là 1.295.911 tỷ đồng và số vốn đăng ký tăng thêm của các DN thay đổi tăng vốn là 1.869.322 tỷ đồng với 35.276 lượt DN đăng ký bổ sung vốn.

Song song với những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, việc cắt giảm chi phí khởi sự kinh doanh cho DN cũng được các bộ, ngành chú trọng. Riêng lĩnh vực đăng ký DN, kể từ ngày 20/1/2018, lệ phí đăng ký DN được giảm 50% so với quy định trước đây và miễn phí 100% lệ phí đối với trường hợp DN đăng ký qua mạng điện tử.

Tính chung trong 9 tháng năm 2018, cả nước có 96.611 DN thành lập mới với số vốn đăng ký là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn đăng ký. Riêng trong quý III/2018, cả nước có 32.080 DN thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2018 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017. Số lao động đăng ký của các DN thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2017. Số DN quay trở lại hoạt động là 22.897 DN, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.845.331 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: 936.411 tỷ đồng của DN đăng ký thành lập mới (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017) và 1.881.920 tỷ đồng (tăng 51,6%) thông qua 32.144 lượt đăng ký tăng vốn của các DN đang hoạt động (tăng 16,6%).

Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. DNNVV đã thể hiện vai trò và những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự chuyển mình và cất cánh của nền kinh tế. Ước tính trong giai đoạn 2015-2017, khu vực kinh tế tư nhân (trong đó DN tư nhân có vai trò chủ đạo) đóng góp gần 50% GDP, trên 30% thu ngân sách nhà nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) của khu vực này tương đối ổn định. Mặc dù những năm gần đây, tốc độ tăng NSLĐ của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng NSLĐ của khu vực kinh tế tư nhân trong đó chủ yếu là DN tư nhân vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8%…

Một số tồn tại, hạn chế

Dù có đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng hiện nay DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn vốn như: vốn tín dụng từ các ngân hàng (NH), nguồn vốn từ các quỹ… để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế. Cùng với đó, 6 tháng đầu năm 2018 (tính đến 30/6/2018), dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế. Đến nay vẫn có khoảng 60% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng.

Bên cạnh đó, sự liên kết của các DN tư nhân Việt Nam còn yếu, đặc biệt là có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn. Theo Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia.

Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô DN gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng DN “đầu tàu” đủ mạnh để có thể dẫn dắt “đoàn tàu” DN Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Do phần lớn DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ nên rất khó tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được. Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong môi trường hội nhập hiện nay.

Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới

Nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DN đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất – kinh doanh cần có nhiều giải pháp đồng bộ hỗ trợ DNNVV. Cụ thể:

Thứ nhất, tiếp tục, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Nhóm giải pháp này nhằm mục đích cải thiện đáng kể môi trường kinh doanh cho DN, tạo thuận lợi tối đa cho các DN khi tham gia vào thị trường trong nước và ngoài nước, đồng thời, đây cũng là nhóm giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam.

Đồng thời, cần triển khai hiệu quả, đồng bộ Luật Hỗ trợ DNNVV và các chính sách hỗ trợ đã ban hành; đẩy mạnh hoạt động của Quỹ Bảo lãnh DNNVV và Quỹ Phát triển DNNVV. Song song với đó, phát triển cân bằng thị trường tài chính (nhất là thị trường chứng khoán, trái phiếu, tài chính vi mô, quỹ đầu tư…) để tạo kênh dẫn vốn đa dạng cho DNNVV…

Thứ hai, phát huy vai trò của xã hội, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam. Theo đó, cần nâng cao vai trò, năng lực của các Hiệp hội nhằm hỗ trợ DNNVV và tăng cường chức năng tham vấn và phản biện xã hội. Mặt khác, tăng cường tiếp nhận các phản hồi, ý kiến, nhu cầu từ người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của DNNVV để tự hoàn thiện DN hơn trong hoạt động kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng bằng các giải pháp như: nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh doanh của DN đối với người tiêu dùng; cân bằng lợi ích của thương nhân và người tiêu dùng.

Thứ ba, bản thân mỗi DNNVV phải nêu cao ý thức vươn lên, phát huy lợi thế, nâng cao sức cạnh tranh của mình. DNNVV Việt Nam có nhiều lợi thế về kinh doanh, phạm vi thị trường, khách hàng để tham gia vào hoạt động thương mại trong nước, khu vực và quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thì việc tận dụng những lợi thế vốn có của DNNVV sẽ thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh về kinh tế đất nước trong khu vực Đông Nam Á.

Sự liên kết của các DN tư nhân Việt Nam còn yếu, đặc biệt là có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn. theo Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia.

Việc nắm bắt nhu cầu, tâm lý của khách hàng hoặc nhóm khách hàng phù hợp với loại hình, ngành nghề kinh doanh của mỗi DN cũng là một giải pháp mà các DNNVV có thể thực hiện được và tạo ra những kết quả khả quan. Bên cạnh đó, DN cần có chiến lược phát triển thông qua các kế hoạch, chiến lược, tầm nhìn, sứ mệnh hoạt động cụ thể. Một giải pháp cũng được áp dụng đối với DNNVV đó là xây dựng tầm nhìn trong sự phát triển của DN mình bằng việc xác định rõ các vấn đề về kinh tế, khách hàng, sự cạnh tranh, định hướng tương lai, triển vọng của DN, tính chuyên môn hóa cao trong tiếp xúc với khách hàng, uy tín, thương hiệu và giá trị cốt lõi mà mỗi DN cung cấp cho thị trường, xã hội…

Để hạn chế tối đa các thất bại như buộc phải giải thể, tự giải thế, tình trạng kinh doanh bị trì trệ, tạm ngưng hoạt động, các DNNVV cần phải xác định được phạm vi và đối tượng mà mình hướng tới. Nói cách khác, trên cơ sở quy mô, tiềm lực, loại hình hoạt động, các DNNVV cần có chiến lược phù hợp trong việc lựa chọn thị trường, phân khúc thị trường để khai thác, kinh doanh. Chọn lựa phân khúc thị trường phù hợp là một giải pháp và đồng thời cũng là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, an toàn cho sự phát triển ổn định của mỗi DN. Mặt khác, mỗi DN cần khai thác hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ, thúc đẩy cho sự phát triển như: các giải pháp hỗ trợ từ nhà đầu tư trong và ngoài nước; các chính sách, kế hoạch hỗ trợ của Nhà nước về nguồn vốn, tài chính, công nghệ, quản trị, kinh doanh… Đồng thời, sự liên minh, liên kết của nhóm DN kinh doanh, hoạt động cùng ngành nghề dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên danh… cũng là một giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò, thế mạnh của mình.

Trong bối cảnh hộp nhập, để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngoài các giải pháp trên, DNNVV cũng cần biết tận dụng tối đa những tiềm lực về vốn, nhân lực, thị trường, văn hóa, kinh nghiệm kinh doanh của các DN… Đây chính là sự tự thân vận động quan trọng của mỗi DNNVV trong kế hoạch thực hiện các chiến lược, mục tiêu kinh doanh của mình cùng với các đối thủ nặng ký trên thị trường. Hiểu về đối thủ và cân bằng hài hòa được các lợi ích với đối thủ trong kinh doanh sẽ tạo những cơ hội phát triển ổn định cho các DNNVV. Điều đó đồng nghĩa rằng, các DNNVV cần biết cách giữ mối quan hệ tốt đẹp với các DN lớn trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt. Đặc biệt, các DNNVV cần minh bạch hoạt động và báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng quản trị DN, quản lý rủi ro…

Đẩy Mạnh Và Phát Triển Doanh Nghiệp Logistics Ở Việt Nam

Thực trạng thị trường logistics Việt Nam

Thống kê mới đây của Hiệp hội doanh nghiệp (DN) logistics Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có khoảng trên 1.300 DN logistics đang hoạt động, bao gồm cả DN có vốn nước ngoài. Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hầu hết là những DN nhỏ và vừa (DNNVV).

Một số DN lớn như: Công ty Transimex Saigon, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept, Vietrans, Vietfracht… Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô khoảng 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dịch vụ logistics trong những năm qua là từ 16 – 20%/năm.

Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt từ 16 – 20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất của Việt Nam trong thời gian qua.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, các DN logistics mới chỉ cung cấp một số dịch vụ trong chuỗi logistics. Các dịch vụ logistics chủ yếu mà các DN kinh doanh logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistisc mặc dù cũng có một số DN cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển.

Trong 30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới, hiện đã có tới 25 tập đoàn thâm nhập thị trường Việt Nam, chiếm lĩnh 75% thị phần, chủ yếu là các lĩnh vực mang lại giá trị gia tăng cao. Ngược lại, với khoảng 1/4 nhỏ hẹp và khó khăn còn lại, các DN nội tự “trồi sụt”, “giành giật” từng cơ hội.

Thị phần nhỏ hẹp, giá trị gia tăng thấp, khiến chi phí cho dịch vụ logistics ở Việt Nam được đánh giá đang ở mức độ quá cao. Không chỉ vậy, năng lực của các DN Logistics Việt Nam còn hạn chế bởi chất lượng cán bộ không đáp ứng được nhu cầu. Trong số các DN nội địa, có tới 93 – 95% người lao động không được đào tạo bài bản, chủ yếu làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như giao nhận, kho bãi, xử lý vận đơn…

Đánh giá logistics Việt Nam qua mô hình SWOT

Những điểm mạnh của logistic Việt Nam có thể kể đến gồm:

– Việt Nam có chỉ số LPI (Logistics performance index) theo báo cáo Ngân hàng Thế giới năm 2014 xếp hạng 48/155 nền kinh tế, tăng 5 bậc so với xếp hạng tại 3 báo cáo trước đây (vào các năm 2007, 2010, 2012) và dẫn đầu về hoạt động logistics trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng phát triển mạnh mẽ về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics trong thời gian sắp tới.

– Số DN thành lập và hoạt động trong ngành khá lớn gồm nhiều thành phần, cả nước có khoảng 1.300 DN cung ứng dịch vụ logistics (vượt qua Thái lan, Singapore) tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh – nơi thu hút trên 70% hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam. Các công ty logistics đa quốc gia hàng đầu trên thế giới cũng đã có mặt tại Việt Nam như Fedex, Maersk, DB Schenker, APL, DHL, NYK Logistics… và hoạt động dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ 3PL với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp như tại các nước phát triển.

Các DN Việt Nam sở hữu phần lớn kho bãi, khiến DN nước ngoài phải thuê lại hoặc liên kết, liên doanh để phục vụ dịch vụ logistics.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu thị trường logistics ở mức cao, khoảng 25%/năm. Quy mô thị trường đạt hơn 20 tỷ USD và vẫn chưa được khai thác hết.

Tuy số lượng đông nhưng hầu như các DN logistisc Việt Nam là các DN nhỏ và vừa, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ cơ bản, hoặc cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ, cạnh tranh về giá là chủ yếu, ít giá trị gia tăng, thường chỉ đóng vai trò là nhà thầu phụ hay đại lý cho các công ty nước ngoài.

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn yếu kém, ứng dụng công nghệ thông tin chưa hiệu quả nên chi phí logictics tại Việt Nam khá cao, chiếm 25% GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9 đến 15%) trong đó, chi phí vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác). Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của dịch vụ, hàng hóa của các DN Việt Nam.

Tiềm lực tài chính của các DN logistics Việt Nam yếu (80% DN thành lập có vốn pháp định từ 1,5 – 2 tỷ đồng), chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, khả năng kết nối tổ chức mạng lưới toàn cầu, hệ thống thông tin chưa rõ ràng, quy mô hoạt động chưa vượt ra khỏi quy mô trong nước và khu vực.

Việt Nam còn thiếu các khu kho vận tập trung có vị trí chiến lược, đồng bộ với hệ thống cảng, sân bay, đường quốc lộ, cơ sở sản xuất; Mất cân đối cung cầu tại các cảng biển miền Nam. Khả năng cạnh tranh của các DN nội địa cũng còn thấp so với DN FDI.

Cùng với quá trình phát triển, ngành logistic Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn như sau:

Quy mô thị trường dịch vụ logistics Việt Nam nhỏ (khoảng 2-4% GDP) nhưng tốc độ tăng trưởng cao (20-25% năm). Kim ngạch xuất nhập khẩu và ngành bán lẻ có mức tăng trưởng khá cao. Khối lượng hàng hóa qua cảng biển dự kiến tăng lên đến 900 – 1.000 triệu tấn vào năm 2030 dự kiến 1.600 – 2.100 triệu tấn (năm 2015 đạt khoảng 600 triệu tấn)

– Giá nhiên liệu đang ở mức thấp, giúp giảm chi phí đầu vào của lĩnh vực vận tải.

– 2/3 số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) của thế giới dự báo sẽ phải đi qua vùng biển Đông trong 5-10 năm tới, giúp cải thiện nhu cầu vận tải.

– Chu kỳ suy thoái của vận tải biển bắt đầu từ năm 2008, tính đến hết năm 2015 là khoảng 7 năm. Vì vậy, một chu kỳ tăng trưởng mới của ngành vận tải biển đã bắt đầu trong những năm sắp tới.

– Sự quan tâm từ phía Chính phủ thông qua các quy hoạch chiến lược như Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

– Nhà nước đã có quy hoạch và trên thực tế bằng nhiều nguồn vốn đang và sẽ đầu tư phát triển khu cảng nước sâu Cái Mép, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, Sân bay quốc tế Long Thành, hành lang đường bộ Đông Tây (EWEC), hành lang Hà Nội – Hải Phòng – Hà Khẩu – Côn Minh, hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt xuyên Á… Các thể chế tiếp tục củng cố, tạo thuận lợi như thủ tục hải quan, cải cách hành chính, đẩy nhanh tiến trình hội nhập sâu khu vực và thế giới.

Ngành logistic nói chung, các DN logistic nói riêng của Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức. Trước mắt, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, không đồng bộ, chưa tạo ra hành lang vận tải đa phương thức trong khi nhu cầu trung chuyển chất lượng cao cho hàng hóa giữa các phương thức đang ngày càng lớn. Hệ thống thông tin lại thiếu và chưa hiệu quả. Nguồn nhân lực làm dịch vụ logistics chưa qua đào tạo bài bản và còn thiếu, yếu, chưa đáp ứng, đặc biệt thiếu các chuyên viên logistics giỏi có năng lực ứng dụng và triển khai tại các DN nghiệp.

Hoạt động của chính các DN logistics còn nhiều hạn chế cả về quy mô hoạt động, vốn, nguồn nhân lực… Bên cạnh đó, còn thiếu sự kết nối giữa DN xuất khẩu và DN Logistics do thói quen nhập khẩu CIF và xuất khẩu theo FOB. Mặt khác, thể chế, chính sách nhà nước với ngành logistics chưa rõ ràng, không đồng bộ, bất cập, chưa tạo điều kiện hỗ trợ logistics non trẻ phát triển; Chi phí kinh doanh không chính thức cao…

Giải pháp phát triển doanh nghiệp logistic Việt Nam

Với những thách thức trên, các DN logistic cần có giải pháp nhằm đẩy mạnh và phát triển hơn ngành dịch vụ tiềm năng này.

Thứ nhất, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các DN cung cấp dịch vụ logistics.

Chất lượng và giá dịch vụ quyết định khả năng cạnh tranh của DN cung cấp dịch vụ logistics. Nếu chất lượng dịch vụ tốt, giá cả hợp lý, chắc chắn DN nội địa sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các DN nước ngoài. Hai tiêu chí này là tiêu chí hàng đầu để khách hàng lựa chọn nhà cung ứng logistics cho mình. DN phải nâng cao khả năng của mình trong việc đáp ứng yêu cầu của các chủ hàng về thời gian, chất lượng và giá dịch vụ.

Nhằm hướng tới mục tiêu tham gia vào hệ thống logistics toàn cầu, đối với các DN cung cấp logistics nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực hàng hải nói riêng, để có thể cung cấp logistics theo đúng nghĩa, các DN Việt Nam cần phải: Hiểu rõ và nhận thức đúng về quy trình cung cấp các dịch vụ logistics, đặc biệt là trong quá trình vận tải; Đào tạo có hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế.

Ngoài ra, nguồn nhân lực cần được nâng cao trình độ ngoại ngữ để đáp ứng với việc hội nhập các DN cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp và mở rộng hệ thống kho bãi, các trang thiết bị bốc xếp, vận chuyển chuyên dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác; Liên doanh, liên kết với các DN trong và ngoài nước để kết nối, mở rộng mạng lưới dịch vụ trong cả nước và trên thế giới để tạo đầu ra thị trường ngoài nước và nâng cao khả năng chuyên môn của cán bộ để từ đó nâng cao tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.

Đến hết năm 2020, kim ngạch XNK của Việt Nam được dự báo sẽ đạt mức khoảng 300 tỷ USD, hàng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam là rất lớn. Dự đoán, trong tương lai không xa, dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.

Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động kinh doanh của DN.

DN cung ứng logistics cần nhanh chóng thúc đẩy và áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động kinh doanh của mình, trao đổi thông tin và các dữ liệu điện tử trong thương mại, khai hải quan điện tử để tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin nhằm mang lại năng suất lao động cao, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tình trạng tiêu cực, gian lận trong thương mại, XNK và hải quan; Áp dụng thành tựu của công nghệ thông tin, trao đổi dữ liệu bằng hệ thống máy tính với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng sống còn đối với việc quản lý cả quá trình hoạt động logistics, đặc biệt là quản lý sự di chuyển của hàng hóa và các chứng từ.

Cơ quan quản lý cần khuyến khích các DN áp dụng và phát triển các hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng liên kết trong ASEAN nhằm tạo nên sự gắn kết các giải pháp đặt kế hoạch, hệ thống lưu giữ, lấy hàng hóa bằng phương tiện không dây. Ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động logistics sẽ tiết kiệm được các chi phí, thông tin thông suốt đảm bảo cho quá trình hoạt động thuận lợi, nhanh chóng, đạt hiệu quả cao.

Thứ ba, đẩy mạnh liên kết và cổ phần hóa.

Để đảm bảo cung ứng một chuỗi logistics trọn vẹn như các DN nước ngoài, đã đến lúc các DN cung cấp dịch vụ logisitcs cần hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin – hai thế mạnh nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài.

Xu hướng cổ phần hóa mạnh mẽ các DN nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở nên rất khả thi. Hoạt động liên kết hợp tác là một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu. Quá trình ấy đòi hỏi DN thực hiện việc tái lập đến tận gốc rễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết, họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công.

Thứ tư, xây dựng thương hiệu và chiến lược marketing.

Mỗi DN cũng cần khẳng định vị trí của mình một cách rõ ràng trong tâm tưởng người mua, người sử dụng để nhằm thu hút khách hàng trong thời buổi cạnh tranh. Một thương hiệu tốt, marketing tốt sẽ tạo thuận lợi cho việc mở rộng hoạt động cho DN không chỉ trong nước mà còn với thị trường nước ngoài. Để xây dựng thương hiệu và chiến lược marketing, các DN logistics cần tập trung chú trọng một số vấn đề sau:

– Xác định phân khúc thị trường: Mỗi chủng loại mặt hàng khác nhau thì lại cần phải thiết kế một chuỗi cung ứng dịch vụ logistics khác nhau, có như vậy mới tối ưu hóa được quy trình, tiết kiệm chi phí và thời gian;

– Đa dạng hóa dịch vụ cung cấp;

– Mở rộng mối quan hệ với các văn phòng đại diện và tổ chức kinh tế nước ngoài tại Việt Nam để dễ dàng hơn trong việc quảng bá hình ảnh với các đối tác nước ngoài;

– Mở rộng địa bàn hoạt động từng bước một từ quốc gia cho đến quốc tế bằng việc nghiên cứu thị trường, khảo sát tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm nhằm xây dựng mạng lưới đại lý của DN;

– Bất cứ chính sách marketing nào của DN cũng phải được để củng cố và xây dựng thương hiệu của DN lớn mạnh hơn. Để gắn bó được với khách hàng, sản phẩm của DN phải thỏa mãn hoặc vượt hơn sự mong đợi (chứ không chỉ là nhu cầu) của khách hàng trong lĩnh vực logistics.

Đồng thời, cần tăng cường hợp tác trong việc bảo đảm an ninh hàng hóa và cảng biển; Hợp tác trong vấn đề đào tạo về dịch vụ logistics. Sự hợp tác có hiệu quả giữa hai Hiệp hội và đặc biệt là từng hội viên đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển logistics trong thời gian tới, góp phần vào việc giúp các DN Việt Nam tham gia vào hệ thống logistics toàn cầu.

1. GS., TS. Đặng Đình Đào, Dịch vụ logistics Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế (2011); Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (2011), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; 2. GS., TS. Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị logistics (2006), NXB Thống kê; Logistics – Những vấn đề cơ bản (2010), NXB Lao Động Xã Hội, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh; 3. “Báo cáo Logistics”, FPT, 07/2015 của 2 tác giả Lâm Trần Tấn Sĩ và Phan Nguyễn Trung Hưng; 4. PGS., TS. Nguyễn Như Tiến, 2006, Logistics khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải và giao nhận Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội; 5. Các trang điện tử: chúng tôi thongkeitnternet.vn; chúng tôi caphesach.wordpress.com.

Kiến Nghị Và Đề Xuất Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa

Kiến nghị và đề xuất hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

  

Nhà nước cần có chính sách tập trung, tạo hành lang pháp lý ưu tiên hỗ trợ lao động thuộc loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua tư vấn, đào tạo nghề và cập nhật kiến thức cho đội ngũ lao động có trình độ hết cấp ba, kể cả đội ngũ có trình độ cao đẳng nhằm đáp ứng trình độ nghề.

Kết quả khảo sát cho thấy loại hình DN nhỏ thuộc loại hình Công ty TNHH với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, và dịch vụ thương mại chiếm tỷ trọng cao. Nhà nước cần có chính sách tập trung, tạo hành lang pháp lý ưu tiên hỗ trợ lao động thuộc loại hình DN TNHH thông qua tư vấn, đào tạo nghề và cập nhật kiến thức cho đội ngũ lao động có trình độ hết cấp ba, kể cả đội ngũ có trình độ cao đẳng nhằm đáp ứng trình độ nghề.

1.       Kiến nghị hỗ trợ lượng lao động trong các DN tham gia chuỗi

 Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên DN chuỗi NLTS bằng hỗ trợ lao động phổ thông thông qua hoạt động dạy nghề, nâng cao kỹ năng nghề, đồng thời tăng cường đào tạo và tập huấn cho lực lượng cán bộ quản lý trong DN thuộc chuỗi tham gia các chương trình quản trị doanh nghiệp do các cơ quan trung ương và địa phương, các hiệp hội, trung tâm xúc tiến thương mại, các trung tâm hỗ trợ phát triển DNNVV tổ chức.

 2.       Kiến nghị chính sách nhằm nâng cao năng suất của người lao động trong DN

 DN chuỗi NLTS hiện nay hoạt động theo cơ chế thị trường nên việc tuyển dụng và sử dụng lao động hiệu quả là thước đo sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của từng DN.

 Đối với những lao động chỉ đáp ứng 2/3 yêu cầu của DN khảo sát, tùy theo mục tiêu, mỗi DN cần định hướng phát triển nghề nghiệp cho lao động, ví dụ, lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc trên đại học thì DN nên đào tạo tập huấn cho những đối tượng này thông qua các chương trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ quản lý theo Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC về định hướng công tác đào tạo cho DNNVV theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; đối với lực lượng lao động phổ thông (trình độ hết cấp 2 cấp 3) thì DN nên tập trung đào tạo nâng cao tay nghề dựa trên các chương trình đào tạo nghề quốc gia (Bộ LĐTB&XH, Bộ Nông nghiệp & PTNT) gắn với nhu cầu thực tiễn của từng DN.

 3.       Đề xuất nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM

 Số DN nhỏ và siêu nhỏ năm 2015-2016 sẽ giảm khoảng 11% ở giai đoạn 2016-2017; các DN cùng loại này có doanh thu từ (5,0-10,0 tỷ) sẽ tăng 7% trong ky 2016-2017. Như vậy, xét theo giá trị trung bình, tốc độ tăng số DN nhỏ và siêu nhỏ (có doanh thu từ 1,0-10,0 tỷ) sẽ tăng khoảng 9,0% ở giai đoạn 2016-2017. Nhà nước cần có chính sách đồng bộ, tập trung hỗ trợ nhiều hơn về mọi mặt cho các DN thuộc loại hình nhỏ (xét theo cấp độ doanh thu) và DN vừa tham gia chuỗi ngành hàng NLTS, và DVTM. Tuy nhiên, cần lưu ý đến số DN giảm qui mô kinh doanh hoặc giải thể.

 Nhà nước cần có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN tham gia chuỗi NLTS đang trong quá trình giải thể hoặc ngừng kinh doanh vì kinh doanh thua lỗ kéo dài, nguyên nhân chính là (i) thiếu vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh; (ii) thiết bị công nghệ lạc hậu; (iii) giá đầu vào (vật tư nguyên liệu, giống, v.v.) tăng cao; (iv) thiếu nhân công lành nghề, tăng lương; (v) Cạnh tranh thị trường khốc liệt (giá bán, chủng loại, chất lượng sản phẩm, v.v.).

 4.       Đề xuất biện pháp tăng năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của các DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM

 Khi tham gia vào chuỗi giá trị NLTS nói riêng, toàn cầu nói chung thì khó khăn lớn nhất của DN NLTS vẫn là vốn, trình độ nguồn nhân lực và công nghệ. Hiện, chỉ có 30% các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn qua kênh ngân hàng. Nguyên nhân chính được xác định là hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm, không đủ tài sản đảm bảo, báo cáo tài chính không minh bạch, đầy đủ.

 Trong bối cảnh hội nhập, các DN NLTS cần phải xác định được thế mạnh để lựa chọn chuỗi cung ứng sao cho phù hợp với xu hướng, đồng thời phải nắm bắt những gì thị trường trong nước và quốc tế mang lại. Từ đó, đặt ra những kế hoạch để phát triển của riêng DN mình.  

 Việc cần làm thời điểm này là phải tạo chuỗi liên kết ngành NLTS để phát triển, cải thiện các yếu tố đầu vào sản xuất đối với các DN. Cùng với đó, các bộ, ngành, hiệp hội nghề cũng cần đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

 Kết quả khảo sát gợi ý nhà nước nên tập trung hỗ trợ ưu tiên theo thứ tự giảm dần là (i) DN tham gia chuỗi thuộc khu vực nông nghiệp, tiếp theo là (ii) DN thuộc chuỗi lâm nghiệp và dịch vụ; (iii) cuối cùng là các DN thuộc chuỗi thủy sản (do loại hình DN thủy sản có cấu trúc liên kết chuỗi chặt, đa phần đầu tư chiều sâu công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lý hơn so với các ngành khác). 

 5.       Giải pháp hạn chế khó khăn của DN khi tham gia và duy trì hoạt động chuỗi giá trị

 Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ các DN tham gia chuỗi NLTS do gặp nhiều khó khăn nhất: Những yếu tố chính các DN cần hỗ trợ là: (i) Tạo sự liên kết chặt chẽ từ khâu hoàn thiện sản phẩm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm; (ii) Tư vấn cho DN về chính sách định giá sản phẩm phù hợp với tình hình biến động thị trường thủy sản; (iii) Hỗ trợ DN về giống, phòng dịch bệnh, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai…); (iv) Hỗ trợ DN thuê kho bãi, nơi bảo quản sản phẩm; (v) Phối hợp với DN tổ chức tốt chiến dịch tuyên truyền quản bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, trong nước và quốc tế.

 6.       Kiến nghị chính sách và biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các NHTM đối với DN

 Việc tiếp cận nguồn vốn của các DN siêu nhỏ và nhỏ trong lĩnh vực NLTS, và DVTM còn gặp nhiều khó khăn. Nhà nước và các NHTM nên hỗ trợ DN thông qua việc gở bỏ hợp lý rào cản, đặc biệt là (i) tăng thời hạn vay vốn cho các DN có kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh dài hạn; (ii) tăng hạn mức cho vay phù hợp với với nhu cầu của DN; (iii) Linh hoạt mức lãi suất cho DN vay vốn; (iv) giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn.

 Cần thiết phải triển khai các hoạt động tư vấn, hỗ trợ vay vốn và điều chỉnh lại điều kiện tín dụng phù hợp với các DN. Mặt khác, cần phối hợp đồng bộ giữa cơ chế quản lý và tín dụng nhằm hợp lý hóa thủ tục cho vay, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, xây dựng quy trình cho vay phù hợp với DN, áp dụng điều kiện cho vay phù hợp, cắt giảm các chi phí giao dịch không chính thức.

 7.       Kiến nghị chính sách và biện pháp về miễn, giảm, dãn thuế của nhà nước đối với DN

 Nhà nước đã và đang áp dụng nhiều chính sách miễn, giảm, dãn thuế cho các DN NLTS. Theo đó, các mặt hàng NLTS thô hoặc sơ chế của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt đem bán ra sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế.

 Thực tế khảo sát cho thấy, chỉ có khoảng 1/4 DN thuộc chuỗi được hưởng sự hỗ trợ này của nhà nước. Khoảng 3/4 DN còn lại vẫn chưa thể tiếp cận hoặc không biết rõ các chính sách này, và số DN này cho rằng hồ sơ thủ tục rườm rà, mất thời gian, ưu đãi thuế là không hấp dẫn nên không quan tâm đến chính sách hỗ trợ thuế của CP.

 8.       Đề xuất chính sách hỗ trợ của nhà nước để nâng cao năng lực công nghệ cho DN

 Mặc dù đối tượng hỗ trợ là các DN thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Phạm vi hỗ trợ thuộc lĩnh vực nghiên cứu KHCN được nhà nước ưu tiên khuyến khích DN thực hiện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, vì vậy, Chính phủ cần có những điều chỉnh để nâng cao hiệu quả các hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao trình độ công nghệ cho các DN có chỉ số “phù hợp” với nhu cầu của các DN.

 Phần lớn các DN tham gia khảo sát không nhiệt tình tiếp nhận những hỗ trợ này vì DN thường không muốn đầu tư nhiều thời gian vào nghiên cứu KHCN, mức hỗ trợ không hấp dẫn, phương thức hỗ trợ và hồ sơ đăng ký rườm rà. Để tăng cường tính hữu ích của họat động này cần thực hiện các hoạt động sau đây: (i) Hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới công nghệ; (ii) Hỗ trợ tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện và làm chủ công nghệ; (iii) Hỗ trợ xây dựng và đạt các tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, quản lý quy trình sản xuất, môi trường; (iv) Hỗ trợ phân tích, đánh giá, định giá, kết nối cung cầu, phát triển thị trường công nghệ; (v) Hỗ trợ xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của DN; (vi) Hỗ trợ DN liên kết với các tổ chức KHCN, và các DN khác; (vii) DN được ưu tiên lựa chọn và hỗ trợ kinh phí để chuyển giao, hoàn thiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm thành lập DN KHCN.

 9.       Kiến nghị chính sách hỗ trợ mặt bằng kinh doanh cho DN

 Chính sách hỗ trợ mặt bằng của nhà nước đã có những tác động tích cực, mặc dù vậy phạm vi tác động của chính sách này còn hạn chế do các nguyên nhân khác nhau.

 Nhà nước cần tổ chức nhiều kênh hỗ trợ thông tin (trên truyền hình, internet, phổ biến qua hội nghị hội thảo, qua tập huấn nghiệp vụ, ở các Trung tâm địa chính thuộc Sở tài nguyên và môi trường, v.v.) về điều kiện cho thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh trong và ngoài khu/cụm CN; đơn giản hóa thủ tục về điều kiện cho thuê mặt bằng khu/ cụm công nghiệp; hỗ trợ giải pháp, biện pháp tiếp cận vốn, giá và thuế thuê mặt bằng hợp lý, có quy định rõ ràng về các loại phí, thuế, và có lộ trình cho thuê cụ thể.

 10.     Kiến nghị chính sách hỗ trợ DN chuỗi NLTS, và DVTM tham gia các chương trình xúc tiến thương mại

 Các hoạt động hỗ trợ kết nối và tham gia vào các chuỗi giá trị đã có những tác động tích cực đến cộng đồng DN nói chung, XTTM trong nước được đầy mạnh, DN nhiệt tình tham gia (80,4%). Tuy nhiên, hoạt động này cần được cải tiến để phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của DN NLTS: Kết quả ở trên cho thấy còn một bộ phận lớn (92,5%) các DN chưa chú trọng vào hoạt động xúc tiến thương mại ngoài nước.

 Vì vậy, Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ XTTM giai đoạn 2016-2017 đối với các DN NLTS những nội dung sau đây:

 - Hỗ trợ thông tin thị trường, tổ chức nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọng điểm theo ngành hàng truyền thống NLTS. Hỗ trợ điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; nghiên cứu phát triển hệ thống phân phối, cơ sở hạ tầng thương mại.

 - Hỗ trợ DN NLTS quảng bá hình ảnh ngành hàng, chỉ dẫn địa lý nổi tiếng của vùng, miền ra thị trường nước ngoài. Hỗ trợ các chi phí thuê chuyên gia trong và ngoài nước để tư vấn phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, thâm nhập thị trường nước ngoài.

 - Hỗ trợ đào tạo, tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ xúc tiến thương mại; Quảng bá, tổ chức cho các DN chuỗi tham gia hội chợ triển lãm thương mại trong và ngoài nước đối với sản phẩm NLTS, vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, giới thiệu các sản phẩm của DN Việt Nam đến người tiêu dùng theo quy mô thích hợp cho từng địa phương.

 11.     Kiến nghị chính sách hỗ trợ của nhà nước về dịch vụ công và hạ tầng đối với các DN tham gia chuỗi                                             

           – Chính sách dịch vụ công nhằm hỗ trợ các DN tăng cường liên kết và tham gia vào các chuỗi giá trị: Việc xây dựng và duy trì hệ thống hỗ trợ các dịch vụ công cho DN chuỗi NLTS nên được coi là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách công hỗ trợ DN nói chung.           Kết quả khảo sát gợi ý Chính phủ nên phân cấp, giao quyền hơn nữa cho các cơ quan quản lý, các đơn vị trợ giúp DNNVV ở địa phương trực tiếp triển khai thực hiện các đề án hỗ trợ DNNVV của trung ương.

           – Chính sách hỗ trợ của nhà nước về cơ sở hạ tầng đối với DN tham gia chuỗi giá trị NLTS: Cần cải thiện năng lực vận tải của các DN thuộc chuỗi dựa trên sự hỗ trợ của nhà nước về cơ chế lưu thông phân phối sử dụng đường sắt, tận dụng lợi thế giao thông đường bộ. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ các dịch vụ theo thứ tự ưu tiên giảm dần như: điện thoại-viễn thông, điện, nước sạch, cầu- cảng, hệ thống sử lý chất thải, nối cảng và đường bộ, nối đường sắt và đường bộ; đường kết nối giữa cảng và đường sắt. 

 12.     Kiến nghị Chính phủ tăng cường hỗ trợ hoạt động phân phối tiêu thụ vật tư và sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị

           Kết quả phân tích trên cho thấy vai trò chủ đạo trong cung cấp vật tư và tiêu thụ sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị là các DN tư nhân, cá nhân, và DN xuất khẩu. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực NLTS tập trung chủ yếu kinh doanh cung cấp dịch vụ vật tư đầu vào và làm trung gian phân phối tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy, việc thúc đẩy DN tham gia chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất và người tiêu dùng cần được Chính phủ quan tâm hơn nữa.

  13.     Hỗ trợ của Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả các tác nhân trong chuỗi cung ứng

           DN tham gia chuỗi cung ứng sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tiếp nhận thông tin giữa các khâu trong chuỗi, đồng thời giảm chi phí giao dịch giữa các đối tác tham gia chuỗi, do vậy, lựa chọn giải pháp công nghệ tối ưu nhằm gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; cải thiện tỷ lệ đáp ứng sở thích và thị hiếu người tiêu dùng để thu được lợi nhuận đặc biệt.                

 Khâu chế biến, sơ chế là tác nhân chính góp phần thành công cho các DN thuộc chuỗi, vì thế, DN không chỉ chủ động tìm giải pháp khắc phục những hạn chế mà Chính phủ cũng cần có giải pháp nới lỏng điều kiện, mở rộng đối tượng được hưởng những ưu tiên hỗ trợ KHCN, ứng dụng sản phẩm công nghệ mới của các chương trình quốc gia.

 DVTM chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Vì thế, DVTM cũng không thể xem nhẹ, cần được quan tâm đúng mức.

 14.               Những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản, chế biến trong chuỗi giá trị

           Việt Nam đã là nước xuất khẩu nguyên liệu hàng đầu thế giới, như: cà phê, gạo, hạt tiêu… tuy nhiên, chúng ta lại rất thiếu các sản phẩm thành phẩm. Có rất nhiều thứ chúng ta nhập khẩu, cũng có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam tổ chức sản xuất và bán cho người Việt những sản phẩm mà nguyên liệu xuất xứ từ Việt Nam. 

 Điển hình như ngành cà phê, cả nước hiện có trên 641.700ha, sản lượng gần 1,4 triệu tấn cà phê nhân/năm. Hàng năm, 90% sản lượng cà phê của Việt Nam được xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn là cà phê nhân, với đa phần là chế biến thô, chất lượng không đồng đều, tỷ lệ hạt vỡ cao nên giá bán thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước khác. Theo chuyên gia Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, khi bán 1kg cà phê với giá thành như hiện nay, các nông hộ, DN thu được gần 2 USD, tương đương với giá trung bình của 1 ly cà phê (đã được pha chế), giá trị giá tăng thấp (trong khi đó, 1kg cà phê thì pha chế được 50 ly cà phê).

 Chính phủ cần ưu tiên đầu tư, tạo cơ chế cho vay, bảo lãnh tín dụng mở rộng sản xuất, cho thuê ưu đãi mặt bằng kinh doanh, v.v. để tạo đà phát triển các DN NLTS sản xuất chế biến sâu mang lại giá trị gia tăng cao hơn gấp nhiều lần so với xuất khẩu nguyên liệu thô.

 15.     Khắc phục những yếu tố hạn chế bên ngoài tác động đến khâu phân phối

           – Bên cạnh những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản và chế biến, DN cần hạn chế một số yếu tố khác như: (i) Năng lực thu mua sản phẩm của các nhà phân phối (như tài chính, phương tiện, tiếp cận bên thu mua/ phân phối, giải quyết rủi ro và chịu các tổn thất do tồn kho, hư hỏng trong khâu phân phối, thông tin sản phẩm và thị trường, v.v.); (ii) Yếu tố luật pháp, tình hình kinh tế xã hội; (iii) Đặc điểm địa lý; (iv) Chủng loại sản phẩm, v.v. Cụ thể:

           – Mặt khác, những tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng chất kháng sinh, v.v. khiến cho những nhà phân phối phải tìm hiểu rất kỹ những quy định về hàng hóa xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu, lệ phí có thể vừa tạo cơ hội cũng có thể vừa là phanh hãm cho dịch vụ phân phối. Ngoài ra, văn bản qui phạm pháp luật và tình hình kinh tế xã hội cũng luôn là nhân tố nhạy cảm tác động đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và nền kinh tế nói chung, trong đó có hệ thống phân phối.

           – Đặc điểm địa lý luôn được các DN quan tâm như môi trường khí hậu, sinh thái và địa hình, là mối hiểm hoạ rình rập cho quá trình phân phối. Địa hình Việt Nam chủ yếu là đồng bằng và trung du nên vận chuyển bằng đường bộ là chiếm đa số. Những bất cập về giao thông, địa hình đi lại khó khăn khiến cho quá trình vận chuyển gặp nhiều bất trắc, đã làm cho quá trình phân phối không được thông suốt và hiệu quả.

 16.               Biện pháp thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết nhà nông, nhà DN, nhà khoa học và tham gia vào chuỗi giá trị NLTS, DNTM toàn cầu

 - Trong những ưu tiên nhằm làm gia tăng sản xuất hàng hóa qui mô lớn chất lượng cao… DN cần trú trọng tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết giữa các bên thông qua ưu tiên đầu tư sâu cho công nghệ sau thu hoạch, phát triển các dịch vụ hỗ trợ ngành hàng, và thúc đẩy tiếp cận và mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước, tạo kết nối tốt giữa các DN cung ứng và phân phối.

 - Một trong những khó khăn lớn nhất để đẩy mạnh việc sản xuất hàng hóa NLTS quy mô lớn  chính là việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền, đổi thửa theo mô hình qui hoạch cánh đồng mẫu lớn, chăn nuôi tập chung. Để từng bước chuyển đổi sản xuất hàng hóa NLTS theo hướng hàng hóa bền vững, công tác nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất cần được đầu tư đồng bộ. Tuy nhiên, hiện giá trị sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đồng bộ đối với các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực có lợi thế còn thấp, chủ yếu là ứng dụng công nghệ cao từng phần, quy mô nhỏ, phân tán, thiếu đồng bộ.

 - Ngoài ra, sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm NLTS ứng dụng công nghệ cao cần có nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, kết quả sản xuất kinh doanh cũng chịu tác động bởi điều kiện khí hậu, thời tiết, dẫn tới hiệu quả thấp. Bên cạnh đó, công tác quảng bá sản phẩm ra thị trường, tăng cường sự kết nối giữa các nhà khoa học với các Hiệp hội DN, các DN, các nhà cung cấp nguyên liệu, các nhà sản xuất chế biến sản phẩm nhằm tạo sự đồng thuận có hệ thống, chia sẻ lợi ích và rủi ro, nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu các loại sản phẩm để bảo đảm đầu ra ổn định cũng cần được quan tâm hơn nữa.         

 17.     Cần có chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ DN NLTS Khởi nghiệp sáng tạo (KNST) [1]

          - Kết quả khảo sát gợi ý rằng các chương trình hỗ trợ KNST nếu được triển khai thì nên triển khai một cách có lựa chọn, đầu tư hiệu quả. Mặt khác, các cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST; các DN KNST và các nhà đầu tư cho KNST không phải luôn luôn là đối tượng phù hợp cho Chương trình hỗ trợ KNST.

 Hoạt động hỗ trợ triển khai theo thứ tự giảm dần là: (i) được miễn thuế môn bài trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu; (ii) DN KNST không bị thanh tra, kiểm tra trong vòng 01 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu nếu không vi phạm pháp luật; (iii) DN được đào tạo miễn phí khởi sự kinh doanh trong vòng 12 tháng kể từ ngày có phương án sản xuất kinh doanh hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu.

 Ngoài ra, (iv) DN được miễn thuế TNDN đối với doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài; (v) DN được hỗ trợ kinh phí quầy trưng bày sản phẩm, dịch vụ, v.v.    

 18.     Cảm nhận của DN thuộc chuỗi NLTS về việc Chính phủ hỗ trợ DN chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực sản xuất

– Kết quả khảo sát cho thấy việc triển khai hỗ trợ chuẩn đoán và nâng cao năng lực sản xuất cho DN là cần thiết.

 - Kết quả gợi ý nhà nước cần xem xét áp dụng các tiêu chuẩn đối với DN NLTS tham gia chương trình: a) Có phương án hoặc đang thực hiện phương án mở rộng hoạt động SXKD, mở rộng thị trường, gia tăng giá trị cho các sản phẩm; và b) Cam kết tuân thủ các quy trình quản lý chất lượng, quản trị sản xuất sau khi được hỗ trợ để lựa chọn đối tượng cho chương trình trợ chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực cho các DN sản xuất.

  Ngoài ra, (i) DN được chuyên gia tư vấn chuẩn đoán thông qua việc xem xét, đánh giá, nhận diện các hạn chế nội tại của DN và đưa ra các tư vấn, khuyến nghị để giải quyết; (ii) Phạm vi chuẩn đoán, tư vấn: Quản trị sản xuất; quản trị tài chính; quản trị nhân lực; năng lực công nghệ; kết nối DN, tiếp cận thông tin; mở rộng thị trường và các lĩnh vực khác thuộc về năng lực nội tại của DN.

 19.     Kiến nghị chính phủ ưu tiên hỗ trợ DN chuỗi NLTS, và DVTM phát triển nâng cao năng lực nội tại

           Như vậy, để đảm bảo phát triển nâng cao năng lực DN tham gia chuỗi thì rất cần nhà nước ưu tiên hỗ trợ theo hướng ưu tiên giảm dần (i) tiếp cận nguồn vốn nhằm mở rộng quy mô, (ii) hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực thông qua một số chương trình tập huấn quản trị kinh doanh theo chuỗi giá trị nội tại DN, và hệ thống chuỗi khép kín từ khâu đầu vào (nguyên liệu, chế biến…) đến đầu ra sản phẩm (hệ thống phân phối, thị trường tiêu thụ sản phẩm); và (iii) hỗ trợ phát triển hệ thống quản trị DN chuỗi dựa trên nền tảng công nghệ thông tin.

 20.     Kiến nghị Chính phủ đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV thuộc chuỗi tham gia, duy trì và phát triển liên kết chuỗi giá trị thị trường

           Khẳng định vai trò của Chính phủ và chính quyền các địa phương là rất quan trọng, cần tiếp tục ưu tiên giải pháp trước mắt là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giúp DN hưởng ưu đãi, giúp DN giảm chi phí và tạo giá trị gia tăng cao, hình thành một số chuỗi giá trị hoàn chỉnh thông qua việc nâng cao năng lực quản lý cho các DN thông qua các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ tư vấn chuỗi NLTS, DVTM về kỹ năng cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh, và tư vấn lập kế hoạch kinh doanh, v.v.

 Cần thiết phải xây dựng một số chuỗi giá trị điển hình NLTS và DVTM thông qua liên kết và phát triển DN trong các khu, cụm, vườn ươm trong chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất đến phân phối và tiêu dùng; Hỗ trợ tiếp cận thị trường cho các DN trong chuỗi giá trị thông qua các phương tiện truyền thông, tham gia hội chợ thương mại trong và ngoài nước.

Ngoài các Sở KHĐT, Sở Công thương thì các hiệp hội ngành hàng, các cơ quan hỗ trợ DN ở mỗi địa phương (Trung tâm XTTM, Trung tâm hỗ trợ DNNVV khu vực Bắc- Trung- Nam, Trung tâm khuyến công, Trung tâm khuyến nông-lâm-ngư, v.v.) là đầu mối rất quan trọng, cần được củng cố thường xuyên. Do vậy, với vai trò là tổ chức đại diện nhà nước ở mỗi địa phương thực hiện hỗ trợ DN dưới nhiều hình thức khác nhau, họ sẽ tập hợp những kiến nghị của DN, các tổ chức, và hiệp hội ngành hàng lên Chính phủ nhằm định hướng, ổn định tình hình kinh tế đất nước.

Trở về đầu trang

Các tin khác

Công bố kết quả Khảo sát thu thập, điều tra thông tin xây dựng Báo cáo tình hình phát triển doanh nghiệp năm 2020

Nhìn lại những chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững tại Việt Nam

Mô hình kinh doanh bền vững và những bài học kinh nghiệm trên thế giới dành cho Doanh nghiệp VIệt

Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2021 – 2025

Báo cáo đánh giá tác động của Covid – 19 đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa ( DNNVV) ở Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV do nữ làm chủ

Báo cáo 5 năm về tình hình triển khai Nghị Quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5//2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020

Ngành Dược Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Thực trạng đổi mới sáng tạo của Doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu các cam kết ngành Dược phẩm trong Hiệp định thương mại thế hệ mới

Cơ hội và thách thức của ngành Dệt may trong thời gian tới

1

23

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ở Việt Nam Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!