Đề Xuất 12/2022 # Phát Triển Dịch Vụ Thẻ Tại Agribank Chi Nhánh Bắc Kạn / 2023 # Top 21 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Phát Triển Dịch Vụ Thẻ Tại Agribank Chi Nhánh Bắc Kạn / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Dịch Vụ Thẻ Tại Agribank Chi Nhánh Bắc Kạn / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực chất sự phát triển dịch vụ thẻ có đạt được cân bằng giữa số lượng và chất lượng không?… Bài viết phân tích tình hình phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Kạn (Agribank Bắc Kạn) và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng.

Thực trạng cung ứng dịch vụ thẻ tại Agribank Bắc Kạn

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán hiện đại nhất trong thế giới ngày nay, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.Đối với nền kinh tế, thẻ là một phương tiện thanh toán trong đó hạn chế tối đa việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch mua bán, trao đổi.

Việc sử dụng các dịch vụ thẻ mang lại lợi ích to lớn như: Tăng cường hiệu quả trong thanh toán, luân chuyển vốn là một vai trò lớn của phương tiện thanh toán thẻ; Thẻ còn góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá, kích thích nhu cầu tiêu dùng của dân cư, thu hút khách du lịch nước ngoài; Tăng cường khả năng kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước; Tạo môi trường kinh tế văn minh, hiện đại, thu hút đầu tư nước ngoài là một hệ quả tất yếu khi mà thẻ đã cung ứng cho nền kinh tế phương tiện thanh toán nhanh chóng và tiện lợi.

Agribank Bắc Kạn được chia tách, tái lập từ Agribank Bắc Thái và 2 Chi nhánh huyện Ngân Sơn và huyện Ba Bể của Agribank Cao Bằng vào ngày 16/12/1996. Năm 1998 thành lập thêm Agribank – Chi nhánh huyện Chợ Mới, năm 2004 thành lập thêm Agribank chi nhánh huyện Pác Nặm. Trải qua quá trình phát triển, đến nay, Agribank Bắc Kạn là chi nhánh cấp I hạng II trực thuộc Agribank Việt Nam gồm 1 chi nhánh hội sở tỉnh có trụ sở đóng tại Trung tâm TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, 7 chi nhánh loại 3 và 9 phòng giao dịch trực thuộc đóng tại trung tâm huyện trong toàn Tỉnh.

Trong các hoạt động kinh doanh, hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được Agribank Bắc Kạn quan tâm phát triển. Cụ thể:

Các loại dịch vụ thẻ do ngân hàng phát hành

Nhóm dịch vụ thẻ của Agribank gồm 17 sản phẩm thẻ, tuy nhiên với môi trường hoạt động của Chi nhánh trên địa bàn miền núi, môi trường hoạt động còn kinh doanh khó khăn, nhu cầu thị hiếu của mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn sử dụng các sản phẩm thẻ quốc tế hầu như không có nên hiện tại Chi nhánh chỉ phát hành được 4/17 sản phẩm thẻ do Agribank ban hành như: Thẻ Success, thẻ pluss success, thẻ visa, Thẻ master nhưng Agribank Bắc Kạn có mạng lưới lớn nhất so với các ngân hàng thương mại (NHTM) khác đóng trên địa bàn Tỉnh.

Tình hình phát hành thẻ

Tính đến nay, Agribank Bắc Kạn có 10 máy ATM. Bên cạnh đó, với việc gia nhập Liên minh thẻ Banknetvn, Smartlink, thẻ Agribank có thể thực hiện giao dịch tại 42 NHTM khác trên cả nước có kết nối thanh toán thẻ với Agribank tại ATM.

Trong những năm gần đây, thị phần dịch vụ thẻ của Agribank Bắc Kạn có xu hướng tăng trưởng mạnh và có xu hướng dẫn đầu thị phần thẻ tại Bắc Kạn. So với các NHTM khác trên địa bàn, chủng loại sản phẩm thẻ của Agribank Bắc Kạn còn khá ít, chỉ có 4 sản phẩm và tính năng chỉ dừng lại ở một số tính năng cơ bản. Do đó, trong thời gian tới, ngân hàng cần tiến hành nghiên cứu thị trường để cho ra đời các sản phẩm thẻ mới có tính cạnh tranh, gia tăng tiện ích, phù hợp với nhu cầu đa dạng của khách hàng, thu hút khách hàng mới sử dụng.

Qua nghiên cứu thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Agribank Bắc Kạn cho thấy, thị phần thẻ của Agribank Bắc Kạn giai đoạn 2013 – 2017 duy trì ổn định và dẫn đầu trong số ngân hàng cạnh tranh trên địa bàn Tỉnh; Số lượng thẻ phát hành (chiếm gần 50% thị phần thẻ toàn thị trường), đến năm 2017 thị phần của Chi nhánh có giảm xuống 47,01% so với năm 2016.

Thực trạng sử dụng thẻ tại Agribank Bắc Kạn Về doanh số thanh toán thẻ

Tính đến cuối năm 2017, doanh số thanh toán chuyển khoản thẻ đạt 862.027 triệu đồng, tăng 25% so với năm 2016. Tuy nhiên, doanh số rút tiền mặt vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao. Qua phân tích cho thấy, doanh số sử dụng và thanh toán thẻ của Agribank Bắc Kạn có xu hướng tăng qua các năm, đây là tín hiệu lạc quan trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lại có xu hướng giảm, điều này cho thấy, áp lực cạnh tranh đối với ngân hàng ngày càng tăng, do thị phần còn kém và còn tồn tại một số hạn chế về nhân lực, công nghệ… cũng như lợi nhuận chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó, mục tiêu của Agribank Bắc Kạn trong trung hạn là nâng cao chất lượng dịch vụ, dài hạn là phát triển dịch vụ.

Thu nhập từ dịch vụ thẻ thanh toán

Từ năm 2013 – 2017, tổng thu nhập từ dịch vụ thẻ tăng lên đáng kể. Bảng 3 cho thấy, thu nhập từ dịch vụ thẻ của Agribank Bắc Kạn có xu hướng tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 29,35%/năm, tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đang có xu hướng giảm dần qua các năm. Trong thời gian tới Ngân hàng cần đề ra các giải pháp trọng tâm để khắc phục những tồn tại, hạn chế.

Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Agribank Bắc Kạn

Để tiếp tục phát triển dịch vụ thẻ tại Agribank Bắc Kạn, thời gian tới cần quan tâm một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường hoạt động marketing về dịch vụ thẻ. Agribank Bắc Kạn cần thực hiện một số nội dung sau:

– Tổ chức tốt marketing nội bộ. Khi tuyển nhân sự phải lựa chọn khách quan những người có năng lực yêu nghề, có đạo đức. Nếu nhân viên có nhiều thành tích kinh doanh tốt có thể khen thưởng, tạo cơ hội cho họ thăng tiến. Thường xuyên cử cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên ngành marketing. Ban lãnh đạo nên tổ chức cho nhân viên của mình những buổi giao lưu nghề nghiệp, thi nghiệp vụ do ngành Ngân hàng tổ chức.

– Tổ chức tốt marketing quan hệ khách hàng. Nhân viên ngân hàng nhất là những người trực tiếp giao dịch với khách hàng cần có tác phong nhanh nhẹn, cẩn thận, trang phục gọn gàng, nhằm đem lại cho khách hàng sự tin tưởng, thoải mái khi đến giao dịch.

– Tổ chức có hiệu quả chương trình marketing hỗn hợp. Cần đầu tư nhân lực có trình độ, am hiểu thị trường, có khả năng phân tích nhanh chóng, chính xác các thông tin thu thập được để hoạch định chiến lược hiệu quả. Phân tích đối thủ cạnh tranh về phương thức triển khai và hiệu quả kinh doanh, dự báo được kế hoạch phát triển dịch vụ thẻ của đối thủ; Chủ động tìm kiếm khách hàng, đối tác để hợp tác phát triển dịch vụ thẻ tại địa bàn hoạt động.

Đẩy mạnh thực hiện việc “bán chéo” sản phẩm cho khách hàng; Mở rộng và khai thác triệt để các sản phẩm thẻ hiện có và nghiên cứu phát triển các sản phẩm thẻ mới như: Nghiên cứu phát triển sản phẩm thẻ dành riêng cho khách hàng nữ; Chuyển đổi sản phẩm thẻ từ sang thẻ chip, các khóa bảo mật số liệu về chủ thẻ để tăng tính bảo mật, an toàn cho cả khách hàng và ngân hàng…

Ngân hàng nên miễn, giảm phí phát hành thẻ cho khách hàng, đặc biệt chú trọng đến nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng, nhóm khách thân thiết và nhóm khách hàng có khả năng bán chéo sản phẩm…Tăng cường lắp đặt các máy POS thẻ tại các khách sạn, nhà nghỉ, khu du lịch sinh thái, nhà hàng, các điểm bán hàng, trung tâm mua sắm, siêu thị, khu vui chơi giải trí.

Đảm bảo tốc độ và tính ổn định của hệ thống máy POS. Tập trung nguồn vốn đầu tư vào công nghệ thanh toán thẻ (máy POS, máy EDC). Tăng cường trang bị, lắp đặt hệ thống ATM tại những nơi thuận tiện cho khách hàng, những nơi tập trung đông dân cư. Rà soát lại hệ thống mạng lưới kênh phân phối hiện tại để điều chỉnh mật độ cho phù hợp và nâng cao hiệu quả sử dụng.

Thứ hai, tăng cường quản trị rủi ro dịch vụ thẻ thanh toán. Để thực hiện được điều này, Agribank Bắc Kạn cần thay đổi điều kiện phát hành; Cập nhật và lưu hành rộng rãi danh sách; Phòng chống tội phạm; Hạn chế rủi ro trong phát hành và sử dụng thẻ.

Cùng với đó, hướng dẫn các đơn vị kiểm tra và phát hiện thẻ giả mạo, tập huấn và cập nhật thường xuyên kiến thức nghiệp vụ, các quy định của từng tổ chức thẻ quốc tế cho cán bộ của mình. Theo dõi chặt chẽ hoạt động sử dụng thẻ cũng như tình hình chi tiêu của các chủ thẻ. Tăng cường phối hợp với cơ quan an ninh trong việc điều tra nhân thân của chủ thẻ khi cần thiết hoặc thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo luật pháp.

Huỳnh Nguyễn Châu Anh (2013), Phát triển dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu long-chi nhánh Long An, Luận văn Thạc sỹ Tài chính-Ngân hàng, Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh;

Phan Thị Thu Hà (2007), Giáo trình Ngân hàng Thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư số 19/2016/TT-NHNN về quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;

Nguyễn Hữu Tài (2002), Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, NXB Thống kê.

Khóa Luận Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Ngân Hàng Bán Lẻ Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Hải Dương / 2023

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 4

1.1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 4

1.1.1. Khái niệm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ 4

1.1.2. Đặc điểm 5

1.1.3. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ 7

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL 14

1.2.1. Những tiêu chí đánh giá sự phát triển của dịch vụ NHBL 14

1.2.2. Các nhân tố tác động tới sự phát triển của dịch vụ NHBL 16

1.2.3. Vai trò của việc phát triển dịch vụ NHBL 20

1.3. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 23

1.3.1. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ NHBL ở một số nước 23

1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam 25

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HẢI DƯƠNG 29

2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH GIAI ĐOẠN 2007-2009 29

2.1.1. Hoạt động huy động vốn 29

2.1.2. Hoạt động tín dụng 31

2.1.3. Các hoạt động khác 34

2.1.4. Kết quả kinh doanh của chi nhánh 36

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TẠI BIDV HẢI DƯƠNG 36

2.2.1. Môi trường kinh doanh 36

2.2.2. Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL 38

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL CỦA BIDV HẢI DƯƠNG 57

2.3.1. Những kết quả đạt được 57

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân 61

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CHI NHÁNH BIDV HẢI DƯƠNG 72

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TẠI BIDV HẢI DƯƠNG 72

3.1.1. Định hướng chung của NHĐT&PT Việt Nam về dịch vụ NHBL 72

3.1.2. Định hướng cụ thể của Chi nhánh BIDV Hải Dương 74

3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TẠI BIDV HẢI DƯƠNG 75

3.2.1. Nâng cao năng lực quản trị điều hành hoạt động NHBL 75

3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện và phát triển các dịch vụ NHBL mới 76

3.2.3. Nâng cao năng lực tài chính, tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ 81

3.2.4. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ NHBL 83

3.2.5. Tăng cường hoạt động marketing 85

3.2.6. Đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực 86

3.2.7. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối hiệu quả 88

3.3. KIẾN NGHỊ 89

3.3.1. Kiến nghị với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 89

3.3.2. Kiến nghị với các cấp lãnh đạo tỉnh Hải Dương 91

3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Cấp Tỉnh Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tại Bắc Kạn / 2023

TÓM TẮT:Bắc Kạn là một tỉnh nghèo nằm ở khu vực miền núi phía Bắc, có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất khó khăn. Trong những năm vừa qua, tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn mặc dù có nhiều điểm khởi sắc, nhưng so sánh với tiềm năng, cơ hội vẫn còn hạn chế . Để thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2018-2023, một trong các giải pháp quan trọng được xác định là cải thiện công tác quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) cấp tỉnh, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của tỉnh, tạo động lực cho tỉnh phát triển mạnh mẽ, thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đối với phát triển kinh tế của tỉnh. Bài viết bàn về công tác QLHCNN cấp tỉnh gắn với phát triển kinh tế tại tỉnh Bắc Kạn.Từ khóa: Quản lý hành chính, tỉnh Bắc Kạn, hành chính nhà nước, kinh tế, hành chính cấp tỉnh.

1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nướcQuản lý hành chính nhà nước là một khái niệm có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, tùy theo mục đích và cách tiếp cận nghiên cứu.Tiếp cận từ khái niệm và cách phân loại của quản lý nhà nước, QLHCNN được coi là một bộ phận của quản lý nhà nước. Theo Mai Văn Bưu: quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ) và do vậy “quản lý Nhà nước về kinh tế được gọi là quản lý hành chính – kinh tế”. Điều này cho thấy, quản lý hành chính, hay QLHCNN là một bộ phận của quản lý nhà nước và QLHCNN được xem xét dưới sự tác động lên nền kinh tế, là sự thực thi quản lý nhà nước về kinh tế bởi cơ quan hành pháp của Nhà nước.Theo Diệp Văn Sơn: “Trong thuật ngữ quốc tế, hành chính nhà nước còn được gọi là hành chính công hoặc hành chính công quyền” và hành chính công có thể được hiểu là “hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước mang tính quyền lực nhà nước để quản lý công việc của Nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân”. Như vậy, nói đến QLHCNN hay HCNN hoặc hành chính công đều có thể hiểu là đề cập đến việc thực thi trực tiếp vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chung của xã hội cũng như phục vụ người dân.2. Mối quan hệ giữa quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh với phát triển kinh tếQuản lý hành chính nhà nước nói chung và cụ thể ở cấp quốc gia có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, QLHCNN tốt sẽ có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo ra các kết quả tốt cho phát triển kinh tế. Từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy, QLHCNN nói chung có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, ảnh hưởng này có tính thuận chiều, nghĩa là, khi tổ chức quản lý hành chính tốt sẽ có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển kinh tế, ảnh hưởng này thông qua việc thực thi các chức năng của QLHCNN sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc thúc đẩy kinh tế phát triển.Sự phân cấp về quản lý nhà nước nói chung và QLHCNN nói riêng từ chính quyền trung ương tới chính quyền địa phương, trực tiếp là chính quyền cấp tỉnh đã trao cho chính quyền cấp tỉnh những quyền nhất định, quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh ảnh hưởng tới phát triển kinh tế ở địa phương thông qua các chức năng cơ bản: – Thứ nhất, đối với chức năng tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh: Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh và các sở, ban ngành, các cơ quan QLHCNN (sở) thông qua triển khai thực thi các văn bản pháp luật, các quy định của Chính phủ tại địa phương; đồng thời ban hành các chính sách, quy định để quản lý nền kinh tế theo thẩm quyền được phân cấp đã thực hiện chức năng tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh. Các quy định, chính sách của Chính phủ khi được cụ thể hóa ở địa phương cần được thực thi một cách triệt để, thống nhất, rõ ràng và bình đẳng giữa tất cả các chủ thể, các doanh nghiệp và mọi người dân. Các quy định này tạo ra khuôn khổ pháp lý và sự hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh, cho hoạt động của các doanh nghiệp và người dân. UBND tỉnh và các sở tại địa phương cấp tỉnh tham gia xây dựng, ban hành các quy định, triển khai thực hiện các quy định của cấp trên và thực hiện việc kiểm tra, hướng dẫn để đảm bảo các quy định đó được thực hiện đúng và đạt mục tiêu đề ra. Quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên của UBND tỉnh và các sở sẽ là tiền đề tạo sự tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến doanh nghiệp, người dân trong hoạt động kinh doanh. Kết quả thực hiện nhiệm vụ là tốt, sẽ tác động tới doanh nghiệp và người dân tích cực, tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp và người dân trong kinh doanh, từ đó tạo ra kết quả tốt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và người dân, góp phần vào phát triển kinh tế của địa phương. Mặt khác, kết quả thực hiện các nhiệm vụ tốt sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, có tính cạnh tranh với các tỉnh khác, từ đó tạo ra tác dụng thu hút các doanh nghiệp và nhà đầu tư từ địa phương khác và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn, thông qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.– Thứ hai, đối với chức năng cung cấp dịch vụ công: Dịch vụ công bao gồm dịch vụ hành chính công, dịch vụ công cộng và dịch vụ công ích. Trong phạm vi chức năng trực tiếp của các cơ quan QLHCNN cấp tỉnh, dịch vụ công được cung cấp bao gồm hai nhóm dịch vụ là hành chính công và dịch vụ công. Dịch vụ công ích đa số được phân cấp cho các cấp thấp hơn (quận huyện/xã phường) triển khai thực hiện cung cấp. Đối với dịch vụ hành chính công, UBND tỉnh thông qua các sở quản lý chuyên ngành thực hiện các thủ tục hành chính công như: cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, cấp phép xây dựng, cấp chứng nhận về môi trường… Việc thực hiện các thủ tục này sẽ cung cấp cho doanh nghiệp và người dân những thủ tục hành chính cần thiết để tổ chức hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các chủ thể. Các dịch vụ hành chính công được cung cấp thuận lợi và với ít các chi phí phát sinh sẽ giúp cho các doanh nghiệp và người dân giảm thiểu chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc, qua đó nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh của bản thân họ, từ đó nâng cao kết quả kinh doanh. Đối với dịch vụ công cộng (hay sự nghiệp công), thông qua hoạt động quản lý của các sở quản lý chuyên ngành như giáo dục, y tế, văn hóa thể thao, tài nguyên môi trường… sẽ cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như: tổ chức công tác giáo dục đào tạo, tổ chức hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân, tổ chức các hoạt động thể thao văn hóa để nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người dân… Chức năng cung cấp dịch vụ công cộng của QLHCNN cấp tỉnh ảnh hưởng tới người dân để nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy các tác động đến những vấn đề xã hội và qua đó tạo ra các tác động tới phát triển kinh tế. Công tác giáo dục đào tạo được thực hiện tốt sẽ góp phần tạo ra nguồn lao động dồi dào với chất lượng đảm bảo tốt hơn cho nhu cầu của doanh nghiệp, từ đó giúp giảm chi phí của doanh nghiệp đồng thời thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tương tự, người dân được chăm sóc y tế tốt sẽ giúp tăng cường sức khỏe, giảm sự tác động của các bệnh dịch, qua đó giảm chi phí xã hội cho việc khắc phục những hậu quả về y tế có thể gây ra nếu các vấn đề đó không được xử lý kịp thời, cả về chi phí tài chính cũng như chi phí về thời gian. Do vậy, cung cấp dịch vụ công cộng của cơ quan hành chính cấp tỉnh có ảnh hưởng gián tiếp đến phát triển kinh tế, thông qua tác động đến đối tượng thụ hưởng các dịch vụ đó, trong đó chủ yếu là những người dân tại địa phương.3. Thực trạng công tác quản lý hành chính nhà nước gắn với phát triển kinh tế ở Bắc Kạn trong thời gian quaHiện nay, cơ cấu tổ chức hành chính nhà nước cấp tỉnh của Bắc Kạn bao gồm 24 sở, ban ngành và 8 huyện, thành phố. (Hình 3.1)

3.1. Điều kiện về kinh tế – xã hội của tỉnh Bắc KạnTrong bối cảnh kinh tế nước ta đi vào suy thoái từ đầu năm 2008, Bắc Kạn vẫn giữ được tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của cả nước, đây là một trong những điểm nhấn trong kỳ kế hoạch 5 năm 2011-2016. Bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế đạt khá, các vấn đề xã hội được giải quyết tốt và kịp thời nhất là bảo đảm an sinh xã hội trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, là điểm sáng về phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2011-2016 của tỉnh Bắc Kạn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong những năm gần đây của tỉnh Bắc Kạn là trên 10%/năm với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành Nông, Lâm nghiệp, giảm tỷ trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng (ngành Nông – Lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10,5%, cao hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước, Công nghiệp – Xây dựng tăng 16%, Dịch vụ – Thương mại tăng 16,38%). Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11% năm 20161. Với tốc độ tăng trưởng khá đều trong những năm vừa qua, là một điều kiện khá tốt để Bắc Kạn có nguồn lực để phát triển kinh tế tại địa phương.3.2. Công tác quản lý hành chính nhà nước tại Bắc KạnBên cạnh sự phát triển về kinh tế của tỉnh, trong thời gian qua, QLHCNN tỉnh Bắc Kạn đã có những hoạt động và có sự cải cách mạnh mẽ, đạt những kết quả tích cực, đặc biệt trong cải cách QLHCNN trên các mặt của HCNN cấp tỉnh, cụ thể là:– Về thể chế: Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Trong những năm qua, UBND tỉnh và các sở, ngành, huyện của tỉnh Bắc Kạn đã ban hành rất nhiều văn bản QPPL. Các văn bản ban hành đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương; đồng thời các sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố thường xuyên rà soát văn bản QPPL thuộc thẩm quyền khi có sự thay đổi các văn bản của Trung ương hoặc tình hình kinh tế – xã hội thay đổi, để kịp thời có sự sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ cho phù hợp. – Về tổ chức bộ máy hành chính: UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định quy định về phân cấp quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước của tỉnh; đã phân cấp mạnh và giao quyền nhiều hơn cho cấp dưới trong công tác quản lý tổ chức, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức như: công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương; công tác nâng lương, bổ nhiệm vào ngạch khi hết thời hạn tập sự; công tác kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; các sở, cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh và UBND cấp huyện trong việc thực hiện quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Mặt khác, UBND tỉnh thực hiện ủy quyền quản lý một số công tác thuộc các lĩnh vực trên cho Sở Nội vụ; sở, cơ quan đơn vị trực thuộc UBND tỉnh; UBND cấp huyện, thành phố và một số đơn vị đặc thù của tỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương, đơn vị; tạo điều kiện cho các cơ quan, địa phương, đơn vị chủ động thực hiện nhiệm vụ trong quá trình thực thi côngviệc.Về sắp xếp tổ chức bộ máy, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy một cách hợp lý hơn, giảm nhiều đầu mối trực thuộc các sở. Ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của một số sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh đảm bảo thống nhất với văn bản cấp trên và phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương.Việc quản lý, sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp trong các sở, cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố được thực hiện nghiêm túc, công khai và đúng quy định của Nhà nước. Số lượng biên chế của tỉnh được giao cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Số lượng biên chế được giao tăng chủ yếu ở khối sự nghiệp, nhất là sự nghiệp giáo dục (mầm non) và sự nghiệp y tế (do tăng giường bệnh; tăng trường, lớp học).– Về đội ngũ cán bộ công chức, viên chức: Rà soát, xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức. Đến nay, toàn tỉnh có 1.569 công chức từ cấp huyện trở lên (trong đó có trên 69% có trình độ từ đại học trở lên), có 9.020 viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có trên 30% có trình độ từ đại học trở lên), có 2.212 cán bộ công chức cấp xã (trong đó có trên 9% có trình độ từ đại học trở lên) và 887 cán bộ công chức làm việc tại các cơ quan Đảng, đoàn thể (trong đó có trên 46% có trình độ từ đại học trở lên).UBND tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Kế hoạch xây dựng Đề án vị trí việc làm (VTVL) và cơ cấu công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Đã có 100% đơn vị sự nghiệp đã xây dựng xong Đề án VTVL và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp. Có 80 % các Sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh và UBND huyện, thành phố xây dựng xong Đề án VTVL và cơ cấu ngạch công chức. Ngoài ra, trong những năm qua, Bắc Kạn cũng chú trọng đổi mới chương trình đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, tập trung bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết và xử lý tình huống trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đại biểu HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh. Ưu tiên bồi dưỡng nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn đối với lãnh đạo cấp phòng; bồi dưỡng kiến thức QLHCNN; bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở;… đồng thời đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức thông qua việc xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Mặt khác, Bắc Kạn cũng thực hiện tốt quy chế đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức hàng năm, đề cao trách nhiệm trong hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức và gắn chế độ trách nhiệm cùng kết quả thực thi công vụ với các chế tài về khen thưởng, kỷ luật, thăng tiến, đãi ngộ. Ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan HCNN, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh; chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Một số cơ quan, đơn vị lấy việc thực hiện tốt Quy chế văn hóa công sở làm tiêu chí xếp loại thi đua trong nội bộ cơ quan, đơn vị và giữa các cơ quan, đơn vị với nhau.3.3. Những tồn tại, hạn chế của công tác quản lý hành chính nhà nước gắn với phát triển kinh tế ở Bắc Kạn trong thời gian quaVới những đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý của tỉnh, Bắc Kạn có những điều kiện để phát triển tốt và mạnh mẽ hơn về kinh tế, kết quả phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn qua đã đạt được là khá tích cực, tuy nhiên, những kết quả có thể đạt được tốt hơn nữa nếu như QLHCNN được thực hiện tốt. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong thực hiện chức năng QLHCNN cấp tỉnh tại Bắc Kạn, do đó chưa tạo được sự hỗ trợ hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế địa phương. Đánh giá một cách tổng quát, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nói chung trong thực hiện QLHCNN của tỉnh là: – Một là, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trên một số lĩnh vực còn hạn chế. – Hai là, quản lý HCNN cấp tỉnh chưa thực hiện nghiêm túc chức năng quản lý theo pháp luật đã được quy định. – Ba là, trình độ, năng lực, tính trách nhiệm và tinh thần phục vụ của một bộ phận cán bộ, công chức còn thấp.– Bốn là, việc thực hiện cơ chế “một cửa” ở một số huyện còn hình thức. Kỷ cương, kỷ luật hành chính ở một số cơ quan HCNN của tỉnh còn chưa nghiêm.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn gắn với quản lý hành chính nhà nướcĐể tăng cường chức năng QLHCNN, góp phần vào thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, QLHCNN tỉnh Bắc Kạn cần thực hiện cải cách theo những định hướng như đã được xác định cụ thể trong Kế hoạch cải cách HCNN tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016-2020, trong đó cần chú trọng:– Một là, tập trung cải cách thể chế, thủ tục hành chính và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời, tăng cường chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt quan tâm đến vai trò của người đứng đầu; nghiên cứu ban hành các cơ chế, chính sách định hướng, ban hành quy trình, giải pháp đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; lựa chọn từng khâu để tập trung, đột phá.– Hai là, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của cơ quan HCNN, trong đó, tập trung xây dựng cơ quan điện tử, chính quyền điện tử, phần mềm ứng dụng trong các lĩnh vực, tạo đột phá trong cải cách thủ tục hành chính.– Ba là, hoàn thiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông điện tử” ở tất cả các cơ quan hành chính từ tỉnh đến cơ sở theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo hoạt động thông suốt, minh bạch, hiệu quả; rà soát, đơn giản hóa bộ thủ tục hành chính nhất là các lĩnh vực, thủ tục về lĩnh vực đầu tư, đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, tư pháp, môi trường… nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.– Bốn là, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt tập trung vào việc kiểm tra về trách nhiệm thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, nhằm phát hiện kịp thời và chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, đồng thời, biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể điển hình hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.– Năm là, tiến hành rà soát, ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan, đơn vị đảm bảo hợp lý. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính, tinh thần trách nhiệm; phát huy tư duy chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.– Sáu là, nâng cao chất lượng, hình thức cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức và cơ quan hành chính, góp phần tạo sự tin tưởng, đồng thuận giữa chính quyền và người dân.– Bảy là, cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành, sự phối hợp của các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan, địa phương, đơn vị để tăng cường thực hiện trách nhiệm giải trình, xác định trách nhiệm cá nhân trong thực thi công vụ; tăng cường thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng để nâng cao chất lượng sự phối hợp giữa các cơ quan trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.– Tám là, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của UBND các cấp trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo sự hoạt động, chỉ đạo điều hành được thông suốt từ tỉnh đến cơ sở. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; phát huy tính tự chủ, sáng tạo của cấp dưới trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được phân công, phân cấp. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.– Chín là, phối hợp với các trường đại học trong và ngoài nước tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng, nâng cao năng lực công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong việc áp dụng, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn hóa giao tiếp, văn hóa công sở,…TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:1Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI.TÀI LIỆU THAM KHẢO:1. Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (1998), Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.3. Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI.4. Niên giám Thống kê năm 2017 của Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.5. Mai Văn Bưu (2008), Giáo trình hiệu quả và quản lý dự án nhà nước, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.6. Diệp Văn Sơn (2004), Bàn thêm về dịch vụ hành chính công. Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 02/2004, tr 42-45.

STATE ADMINISTRATION MANAGEMENT ON ECONOMIC DEVELOPMENT AT PROVINCIAL LEVEL IN BAC KAN PROVINCE

MA. VU DINH DUNG

Vietnam National University – International School

TRAN THI HUE

Vietnam National University – Office of National program for the Sustainable development of the Northwest of Viet Nam

Assoc. Prof. PhD. TRAN HUU DAO

Vietnam National University of Forestry

ABSTRACT:

Bac Kan is a poor province in the northwest mountainous area with difficult geographic location and natural condition. Over the last few years, despite significant economic growth, Bac Kan Province has still encountered many restrictions, which is not well matched with its potential and opportunities. For the economic development of Bac Kan Province in years 2018-2023, one of the important solutions is to improve the province’s administration management to enhance the provincial competitiveness, encourage the economic development, attract domestic and foreign investors into the provinces economy.

Keywords: Administration management, Bac Kan, administration state, economy, administration at provincial level.

Luận Văn Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Dịch Vụ Ngân Hàng Dành Cho Khách Hàng Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Chi Nhánh Ninh Bình / 2023

Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình được thành lập theo Quyết định số 27/QĐ-NH9 ngày 29/01/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Trước năm 1992, Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình là một chi nhánh khu vực trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hà Nam Ninh ( cũ ). Sau khi tái thành lập tỉnh ( tháng 04/1992), Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình trở thành chi nhánh tỉnh trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Được sự lãnh đạo trực tiếp về nghiệp vụ chuyên môn của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, sự chỉ đạo về chủ chương, đường lối, chính sách đổi mới nền kinh tế của tỉnh ủy, UBND tỉnh, triển khai thực hiện nghị quyết 12 của tỉnh Đảng bộ về việc khôi phục và phát triển kinh tế, trong những năm đầu tái thành lập tỉnh, chi nhánh đã làm tốt công tác cấp phát và cho vay xây dựng cơ bản các dự án kinh tế, hạng mục công trình theo kế hoạch của Nhà nước. Từ năm 1992 tới năm 1994 chi nhánh đã cấp phát 156 tỷ đồng cho 160 công trình và hạng mục công trình như : Lấn biển Cồn thoi, trạm điện 35 KW Yên mô, Rịa- Nho quan, các trạm bơm tưới tiêu cho các xã, các trạm giống cây, con như : Trại lúa Khánh Nhạc, Trại lợn nông trường Đồng Giao, đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng như các hệ thồng mương máng tưới tiêu nội đồng, các trục đường giao thông cầu cống Thông qua công tác cấp phát đã thẩm định dự toán, phiếu giá công trình, đã cắt giảm những chi phí bất hợp lý, tiết kiệm cho Nhà nước hàng tỷ đồng. Từ tháng 4/1992 đến tháng 1/1995 Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình đã cho vay hàng trăm tỷ đồng xây dựng cơ bản theo KHNN đối với các nghành kinh tế mũi nhọn của tỉnh như đầu tư xây dựng dây chuyền xi măng Hệ dưỡng, xi măng X18, công ty bê tông thép, nhà máy gạch Vườn chanh, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nghành dịch vụ du lịch, chế biến thủy sản thực phẩm xuất khẩu Các dự án kinh tế được đầu tư vốn bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo công ăn việc làm và nộp Ngân sách cho Nhà nước Sau những năm làm nhiệm vụ cấp phát và cho vay theo kế hoạch của Nhà nước, đầu năm 1995 cùng với sự thay đổi về chức năng nhiệm vụ của toàn hệ thống, nguồn vốn cấp phát được bàn giao sang cục bàn giao và phát triển cùng 14 cán bộ làm nhiệm vụ cấp phát. Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình với 22 CBCNV còn lại chuyển hẳn sang làm nhiệm vụ mới. Sự đổi mới cả về tổ chức và nghiệp vụ chuyên môn đã nâng tầm Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình trở thành một trong những ngân hàng thương mại có chức năng huy động vốn ngắn, trung, dài hạn để cho vay các dự án xây dựng cơ bản theo kế hoạch của Nhà nước, các dự án đầu tư theo chiều sâu, đổi mới trang thiết bị, cho vay vốn lưu động, kinh doanh tiền tệ tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư phát triển, xây dựng nền kinh tế, củng cố cơ sở hạ tầng, phục vụ việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, năm 1997, Chi nhánh đã cho vay đầu tư theo kế hoạch của Nhà nước dự án ” Khắc phục ô nhiễm nhà máy nhiệt điện Ninh Bình ” tổng số vốn là 23.850 triệu đồng là dự án có ý nghĩa xã hội góp phần chống ô nhiễm môi trường khí quyển. Sự đổi mới toàn diện về nhiệm vụ chuyên môn đã đòi hỏi chi nhánh phải cố gắng nỗ lực vươn lên tự đổi mới để hoàn thiện mình tồn tại trong sự đổi mới của cơ chế thị trường. Cùng với sự đổi mới về chức năng nhiệm vụ là sự đổi mới về con người, cơ sở vật chất, công nghệ trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Được sự hỗ trợ và chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình thực hiện chiến lược kinh doanh tổng hợp theo nguyên tắc ” Đi vay để cho vay ” tự huy động nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh, vay vốn Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam nên đã đảm bảo đủ nguồn vốn để mở rộng các dịch vụ hoạt động tín dụng Ngân hàng. Từ cuối năm 1997 đến nay Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình đã tham gia thanh toán tập trung trong toàn hệ thống, nên đã đáp ứng được yêu cầu chuyển tiền nhanh chóng cho khách hàng, tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm tối đa việc sử dụng vốn trong thanh toán, đảm bảo yêu cầu an toàn, chính xác, nhanh chóng, thuận tiện và được khách hàng tín nhiệm. Công nghệ Ngân hàng cũng dần được hiện đại qua các năm. Các phòng ban được trang bị đầy đủ máy vi tính, cơ sở vật chất kỹ thuật được từng bước nâng cao. Đồng thời mở rộng các nghiệp vụ và hoạt động dịch vụ Ngân hang, số lượng cán bộ nhân viên trong chi nhánh cũng được bổ sung them hạng năm về số lượng và chất lường để đáp ứng yêu cầu hiện tại

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Dịch Vụ Thẻ Tại Agribank Chi Nhánh Bắc Kạn / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!