Đề Xuất 11/2022 # Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân Góp Phần Kiểm Soát, Giám Sát Quyền Lực Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân Góp Phần Kiểm Soát, Giám Sát Quyền Lực Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân Góp Phần Kiểm Soát, Giám Sát Quyền Lực Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân góp phần kiểm soát, giám sát quyền lực ở Việt Nam hiện nay

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong kiểm soát, giám sát quyền lực

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân được C. Mác, V.I. Lê-nin đặc biệt quan tâm. V.I. Lê-nin viết: “Không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo hai ý nghĩa sau đây: 1- Giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ; 2- Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà nước, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ”(1). Về cơ chế thực hành dân chủ, V.I. Lê-nin cho rằng, nội dung dân chủ phải được bảo đảm bằng Hiến pháp, bằng toàn bộ hệ thống pháp luật. Người nhấn mạnh, không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho những người đại diện nhân dân là đủ, mà còn phải xây dựng chế độ dân chủ từ cơ sở, dựa vào ý kiến của bản thân quần chúng với sự tham gia thực sự của quần chúng vào đời sống của Nhà nước và phải có sự kiểm tra, giám sát.

Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Cơ Chế Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Hiện Nay / 2023

 

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng với các đại biểu tham dự Hội nghị triển khai công tác năm 2020 của ngành kiểm sát nhân dân, ngày 27-12-2019_Nguồn: vietnamplus.vn

Về nguyên tắc, ở đâu có quyền lực nhà nước thì ở đó cần phải có giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước chính là để thúc đẩy, tăng cường năng lực vận hành các thiết chế thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, cách thức tổ chức các thiết chế giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước lại bị phụ thuộc và chi phối bởi đặc điểm của chế độ chính trị, nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước cũng như các điều kiện cụ thể về văn hóa, kinh tế, xã hội ở quốc gia đó, nhằm tạo ra bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.

Xét trên phương diện tổng thể, trên thế giới hiện nay, cơ bản tồn tại hai mô hình tổ chức nhà nước chủ yếu, hoặc là tam quyền phân lập (như Mỹ, Anh, Pháp…) hoặc là thống nhất quyền lực (Trung Quốc, Việt Nam…). Đối với mô hình quyền lực thống nhất, không phân quyền, được áp dụng trong điều kiện Đảng Cộng sản duy nhất lãnh đạo, tạo ra sự ổn định chính trị và tạo tiền đề quan trọng cho phát triển; đồng thời, có thể huy động tối đa các nguồn lực khi cần thiết. Nhưng hạn chế cơ bản của nó là nguy cơ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực nếu không có cơ chế, thiết chế kiểm soát thích hợp.

Đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước không phải do Nhà nước tự có, mà nhân dân ủy quyền, giao cho Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước với mong muốn Nhà nước nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực giữ gìn độc lập tự chủ, bảo đảm cho nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc.

Tuy nhiên, theo quy luật, quyền lực nhà nước có sự vận động theo xu hướng tự phủ định mình, C.Mác gọi hiện tượng này là “sự tha hóa của quyền lực nhà nước”. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, như lạm quyền, lộng quyền, tùy tiện, thiếu trách nhiệm, lợi dụng quyền lực (trục lợi từ quyền lực), tiếm quyền, tham quyền cố vị, quan liêu, tập trung quyền lực quá mức (độc đoán, chuyên quyền) hoặc phân tán quyền lực… Do đó, để khắc chế việc tha hóa quyền lực, thì việc tổ chức quyền lực nhà nước phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, trong đó quy định rõ sự phân công, phân cấp, trao quyền đi đôi với trách nhiệm và cơ chế giám sát, kiểm soát các quyền đó.

Theo V.I.Lê-nin, pháp chế phải thống nhất, pháp chế không thống nhất thì không thể tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng. Yếu tố cản trở mạnh mẽ, trực tiếp nhất đến sự thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa là bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa - hàng rào tệ hại ngăn cản việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn đấu tranh chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cục bộ địa phương, nhất thiết phải thành lập viện kiểm sát.

V.I.Lê-nin cho rằng, viện kiểm sát có quyền và bổn phận chỉ làm một công việc là làm thế nào cho trong toàn nước cộng hòa có một sự nhận thức thật sự nhất trí về pháp chế, dù ở các địa phương có những đặc điểm và ảnh hưởng như thế nào đi chăng nữa. Việc tổ chức cơ quan kiểm soát trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là vấn đề cụ thể của riêng nước Nga trong những năm 20 của thế kỷ XX mà đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong điều kiện một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, với trình độ phát triển kinh tế chưa cao, chủ nghĩa cục bộ địa phương có điều kiện nảy nở. Trong điều kiện như vậy, đòi hỏi phải có pháp chế thống nhất, phải tổ chức viện kiểm sát để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Hiến pháp năm 2013 của nước ta tiếp tục ghi nhận nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước “có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây cũng là mục tiêu mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã đặt ra đến năm 2020 là phải “hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực”.

Viện kiểm sát nhân dân ngay từ khi ra đời theo Hiến pháp năm 1959 (tiền thân là Viện Công tố) đã mang một “sứ mệnh đặc biệt” được ghi trong Đề cương báo cáo về Hiến pháp sửa đổi (sửa Hiến pháp 1946), cụ thể: Viện kiểm sát khác với Viện Công tố ở chỗ, Viện Công tố chỉ làm việc công tố trước tòa, mà viện kiểm sát thì còn làm việc kiểm sát chung, tức là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Viện kiểm sát nhân dân chỉ chịu sự lãnh đạo của ngành dọc, chứ không chịu sự lãnh đạo ngang của cơ quan hành chính đồng cấp; viện trưởng viện kiểm sát và kiểm sát viên địa phương đều do cấp trên bổ nhiệm, chứ không do hội đồng nhân dân bầu; nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 5 năm (1). Những tư tưởng trên cũng đã được quy định tại Điều 105 Hiến pháp 1959. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Điều này đánh dấu sự ra đời một hệ thống cơ quan từ Trung ương xuống địa phương theo ngành dọc trực thuộc Quốc hội, không trực thuộc chính quyền địa phương cùng cấp. Quy định này dựa trên cơ sở lý luận của V.I.Lê-nin khi đề xướng thành lập viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong bức thư “Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế” gửi đồng chí Xtalin để chuyển đến Bộ Chính trị, V.I.Lênin cho rằng, để viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng bảo đảm pháp chế thống nhất, chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cục bộ địa phương thì viện kiểm sát chỉ trực thuộc trung ương và có quyền kháng nghị đối với bất cứ quyết định nào của cơ quan chính quyền địa phương về phương diện pháp chế.

Chính vì vậy, ngay sau khi được Hiến pháp năm 1959 ghi nhận và cụ thể hóa bằng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân được quy định là một cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân (Điều 105). Đây chính là nền tảng pháp lý quan trọng thể hiện sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nhằm thực hiện một chức năng mới của Nhà nước là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và công dân theo quy định của pháp luật; đồng thời, cũng đánh dấu sự ra đời của một “thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước” do Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân – giao cho để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất, pháp chế dân chủ được giữ vững.

Để hệ thống Viện kiểm sát nhân dân hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, ngay từ ngày đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến công tác kiểm sát bằng việc chỉ trong thời gian ngắn 2 năm đầu từ tháng 12-1960 đến tháng 2-1963, Ban Bí thư đã tổ chức hội nghị chuyên đề công tác kiểm sát, ban hành Thông báo số 06-TB/TW ngày 6-12-1960 và Thông tri số 13-TT/TW ngày 12-12-1960 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác kiểm sát. Đặc biệt, chỉ một năm sau, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 1-2-1963, về công tác kiểm sát. Nội dung chỉ đạo trọng tâm yêu cầu ngành kiểm sát phải làm tốt công tác kiểm sát tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững… Như vậy, công tác kiểm sát có vị trí và tác dụng trọng yếu trong bộ máy nhà nước.

Đồng thời, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiện toàn hệ thống viện kiểm sát các cấp và hoàn thiện thể chế chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, nhất là người đứng đầu và đã cử đồng chí Hoàng Quốc Việt, người cán bộ tiền bối dày dạn kinh nghiệm, có uy tín cao, sang làm người đứng đầu ngành kiểm sát. Đến năm 1976, khi đồng chí Hoàng Quốc Việt thôi làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Đảng và Nhà nước cử đồng chí Trần Hữu Dực, Phó Thủ tướng Chính phủ sang làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao. Điều này càng minh chứng cho tầm quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân với tư cách là một thiết chế kiểm sát việc tuân theo pháp luật, hay nói cách khác là thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

Vào đầu những năm 2000, để tạo sự năng động, tự chủ của các thành phần kinh tế, chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (gọi tắt là kiểm sát chung) của viện kiểm sát, vốn được xem là công cụ quan trọng để tham gia kiểm soát quyền lực và bảo đảm pháp chế thống nhất trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa thu hẹp, chỉ còn kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Đến nay, trải qua lịch sử 60 năm hình thành và phát triển, với tư cách là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong bộ máy nhà nước, chỉ có hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm góp phần bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Có thể nói, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là rất rộng, có nhiều cơ quan, thiết chế tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó Viện kiểm sát nhân dân với tư cách là thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay.

Theo quy định tại Điều 107, Điều 108 và Điều 109 Hiến pháp năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế hiến định trong bộ máy nhà nước, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Theo quy định tại Điều 4, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã nhấn mạnh: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”.

 

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân đọc bản luận tội và đề nghị mức án đối với các bị cáo trong một phiên tòa sơ thẩm _Ảnh: TTXVN

Như vậy, thực chất đây là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát đối với các chủ thể thực hiện, tham gia các hoạt động tư pháp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm các yêu cầu sau:

Một là, việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Hai là, việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ.

Ba là, bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh.

Bốn là, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Để bảo đảm bốn yêu cầu trên, Nhà nước đã trao cho Viện kiểm sát nhân dân những nhiệm vụ và quyền hạn: (1) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp. (2) Trực tiếp kiểm sát, xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. (3) Xử lý vi phạm, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. (4) Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp. (5) Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. (6) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

Đặc biệt, để bảo đảm cho hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp cũng như việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố hoạt động hiệu lực và hiệu quả, góp phần bảo đảm cho hoạt động tư pháp trong sạch, nghiêm minh và tuân thủ pháp luật, thì Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã giao cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. So với quy định trước đây, thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay đã được mở rộng tăng thêm (từ 14 tội danh lên 38 tội danh quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015). Theo đó, đối tượng, phạm vi thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tăng lên nhiều, đến cấp xã, phường, thị trấn và những người tiến hành các hoạt động tư pháp phạm tội thuộc 2 chương nêu trên (giám định viên, luật sư…). Như vậy, xét trên phương diện phòng ngừa tội phạm, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực sự là cơ chế hữu hiệu kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp.

Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế đặc trưng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, có vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy nhà nước ta trước đây cũng như hiện nay. Ngoài chức năng công tố, viện kiểm sát còn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Thực chất, đây là thiết chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khi viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, đã tạo ra khoảng trống kiểm sát, nhất là việc nảy sinh hiện tượng cục bộ ngành, cục bộ địa phương trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật, là một trong những nguyên nhân phát sinh vi phạm, tội phạm, cản trở việc thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu để tạo cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu lực và hiệu quả hơn trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta./.

(1) Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát nhân dân, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 29.

Theo BÙI MẠNH CƯỜNG/Tạp chí Cộng sản

Quyền Con Người Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, so với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 50) cũng như bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực. Xét trên lĩnh vực dân sự, chính trị, trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành mới hoặc bổ sung thêm, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Nội dung đảm bảo quyền dân sự – chính trị ở nước ta được thể hiện một cách cụ thể: – Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân: Bình đẳng trong bầu cử, ứng cử, tự ứng cử; bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và nhiều dạng quan hệ dân sự khác, đặc biệt là bình đẳng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh; bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học – công nghệ như quyền được học tập của công dân, quyền nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của mọi công dân.

– Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, cụ thể: ngăn ngừa những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người (trong đó kể cả những bị can, bị cáo và những phạm nhân đang thi hành án phạt tù)…

– Bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị khác: Quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Bộ Luật Dân sự (1995), Bộ Luật Lao động (1994), Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp lệnh về người tàn tật (1998)…

Nội dung bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được cụ thể trong các quyền tiêu biểu nhất:

– Bảo đảm quyền làm việc: ở nước ta, quyền làm việc được ghi nhận trong các bản Hiến pháp và được Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55).

Bên cạnh việc thiết lập một hành lang pháp lý, từ khi đổi mới đến nay, Nhà nước đã xây dựng và thực hiện hàng loạt chính sách, chương trình kinh tế – xã hội nhằm thúc đẩy việc bảo đảm quyền làm việc, tập trung vào việc mở mang, phát triển các ngành nghề tại các địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp, mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động…

– Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục: Ngay từ khi mới giành được độc lập, Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do Đảng đề ra năm 1991 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Quan điểm này được thể chế hóa trong Điều 35 Hiến pháp năm 1992: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới.

Bên cạnh quy định kể trên, Hiến pháp năm 1992 cũng nêu rõ, học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân (Điều 59), đồng thời xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền này (Điều 36). Trên cơ sở đó, một loạt các văn bản pháp luật khác được ban hành nhằm cụ thể hóa việc bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục, trong đó quan trọng nhất là Luật Giáo dục (năm 1998).

– Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế: Từ khi đổi mới đến nay, cũng giống như các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, có sự chuyển đổi về hướng tiếp cận việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ bao cấp hoàn toàn của Nhà nước sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, thực hiện chế độ BHYT, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe. Sự chuyển đổi này không có nghĩa là Nhà nước giảm bớt sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế của nhân dân, mà ngược lại, Nhà nước vẫn thừa nhận và nỗ lực bảo đảm quyền này, nhưng theo một cách thức phù hợp và hiệu quả hơn.

– Quyền được bảo đảm xã hội: Từ khi đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới chính sách bảo đảm xã hội theo hướng mọi người lao động và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, tách quỹ BHXH với công nhân, viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương ra khỏi ngân sách theo hướng xã hội hóa công tác BHXH. Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động”. Ban hành Luật BHXH (2006), hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 1/1/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 đối với bảo hiểm thất nghiệp.

Nhờ đổi mới hướng tiếp cận trong chính sách, pháp luật về công tác BHXH, việc thực hiện quyền được BHXH ở nước ta từ khi đổi mới đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ: Số lượng đối tượng tham gia và được hưởng BHXH ngày càng được mở rộng, quyền được BHXH có sự phát triển về chất; mức trợ cấp bình quân cho các đối tượng BHXH nói chung và mức tiền lương hưu bình quân nói riêng liên tục tăng. Thành công nổi bật nhất trong việc thực hiện quyền được bảo đảm xã hội ở nước ta từ khi đổi mới đến nay là việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo – một chủ trường và quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Xuất phát từ quan điểm: Vấn đề nghèo khó không được giải quyết thì không có một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện, Nhà nước ta đã coi Chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia và đã có những ưu tiên đặc biệt về nguồn nhân lực, vật lực cho chương trình này.

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện quyền con người ở nước ta hiện nay

Mặc dù về cơ bản, pháp luật nước ta không mâu thuẫn với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và việc bảo đảm các quyền con người trên thực tế là phù hợp, thậm chí ở mức tiến bộ, so với thông lệ quốc tế; tuy nhiên, trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại nhất định.

– Về nhận thức của cán bộ, công chức: Thực tế cho thấy, hiểu biết về nhân quyền ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp. Sự hạn chế như vậy có nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền.

– Sự tham gia của các cơ quan thông tin đại chúng trong hoạt động tuyên truyền và đấu tranh chống vi phạm nhân quyền: Các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hiện nay chủ yếu đề cập đến vấn đề nhân quyền dưới dạng phê phán sự xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để chống phá ta của các thế lực phản động, thù địch. Nhân quyền được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn đề nhân quyền trong nước được đề cập một cách trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Cơ chế bảo đảm nhân quyền chưa hiệu quả: Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; chưa có một quy chế chặt chẽ trong việc xử lý các tố cáo và vi phạm nhân quyền.

– Sự thiếu hụt các nguồn vật chất bảo đảm: Mặc dù đòi hỏi ở mức độ khác nhau, song việc bảo đảm bất cứ quyền con người nào cũng không thể tách rời các điều kiện vật chất. Do những khó khăn về kinh tế, ở nước ta hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc, giải quyết việc làm cho các đối tượng: những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người làm mại dâm, những người vi phạm pháp luật sau khi mãn hạn tù…

Các giải pháp bảo đảm phát triển các quyền cơ bản của con người

Bảo đảm thực hiện quyền con người được đặt ra trước hết xuất phát từ mục tiêu, bản chất của chế độ; đó cũng là một trong những nội dung và đặc trưng rất cơ bản và quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng; đồng thời, trước xu thế dân chủ hóa, giao lưu và hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng, đòi hỏi quyền con người và các quyền tự do cơ bản của cá nhân công dân phải được tôn trọng và tăng cường hơn nữa. Trước yêu cầu đó, trong điều kiện nước ta hiện nay, bảo đảm hiện thực hóa quyền con người cần phải áp dụng một hệ thống đồng bộ các nhóm giải pháp.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người, quyền công dân

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X đều xác định: Nhà nước ta định ra các đạo luật quy định quyền con người, quyền công dân, trong đó bên cạnh các luật về kinh tế, Nhà nước cần ưu tiên xây dựng các luật về quyền công dân.’ nước ta, tồn tại một nguyên tắc Hiến định: các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật. Như thế, các quyền được quy định trong Hiến pháp tạo thành hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản có tính nguyên tắc nền tảng. Các quyền được quy định trong luật, một mặt, là cụ thể hóa các quyền trong Hiến pháp, mặt khác, phát triển và bổ sung thêm những quyền mới. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền công dân đòi hỏi tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội như là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người.

Trước mắt, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền con người về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội như quyền trẻ em, quyền phụ nữ; quyền của công dân cao tuổi… Để làm được điều đó, cần có sự nghiên cứu và tổng kết toàn diện và sâu sắc hệ thống pháp luật hiện hành, có sự phân tích, so sánh đối chiếu với các quy định quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Trên cơ sở các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đặt ra trong thời gian tới, các quy phạm pháp luật về các quyền dân sự, chính trị cần được chế định thêm, cụ thể và rõ ràng hơn trong Hiến pháp; tiến tới mỗi quyền trong Hiến pháp cần được quy định trong một đạo luật cụ thể, chẳng hạn như quyền được thông tin (cần có Luật về thông tin); quyền tự do lập hội, hội họp (cần phải sửa đổi luật hiện hành); các quyền tham gia công việc nhà nước như quy định về trưng cầu dân ý (cần có Luật trưng cầu dân ý); các quy định về dân chủ ở cơ sở (cần nâng cấp Quy chế dân chủ ở cơ sở lên thành Luật về dân chủ ở cơ sở…).

Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng cần gấp rút được nghiên cứu và tổng kết thực tiễn; trên cơ sở đó chế định quyền sở hữu cá nhân cần phải được quy định cụ thể hơn. Vì đây là quyền giữ vị trí chi phối các quyền khác. Theo đó, cần hoàn thiện pháp luật cụ thể hóa Điều 58 Hiến pháp 1992, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để cá nhân, công dân tự kiểm soát, bảo vệ tài sản của mình và Nhà nước thông qua công cụ pháp lý và bộ máy chuyên chính có trách nhiệm bảo vệ tài sản của cá nhân, công dân. Chỉ khi quyền sở hữu cá nhân được bảo đảm, công dân mới an tâm đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải làm giàu cho bản thân và xã hội.

Trong nhà nước pháp quyền không chỉ bảo vệ quyền lợi của người dân nói chung mà xuất phát từ đặc thù về thể chất, tâm lý, quyền lợi của trẻ em, phụ nữ, công dân cao tuổi cũng như những người bị khuyết tật… phải được coi là đối tượng ưu tiên trong việc bảo vệ, yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này là: Không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trong các quy định của pháp luật; quyền lợi của họ phải được bảo đảm trên thực tế. Đồng thời, từ chủ nghĩa nhân văn, “uống nước nhớ nguồn”, sớm hoàn thiện nâng lên thành luật định bảo đảm quyền lợi của gia đình cách mạng và người có công với đất nước trước những biến đổi sâu sắc của bối cảnh xã hội và những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường.

Xây dựng chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát bảo đảm nhân dân tham gia thực sự công việc nhà nước

Trước mắt và trong thời gian tới đối với cán bộ, công chức nhà nước trong mối quan hệ với nhân dân (quan hệ cá nhân và Nhà nước) đòi hỏi xây dựng chế độ trách nhiệm bảo đảm mỗi cán bộ, công chức nhà nước có thể phát huy hết năng lực cá nhân; đồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm quyền của công dân. Theo đó, pháp luật phải cụ thể hóa mối quan hệ giữa cá nhân, công dân với Nhà nước. Nhà nước là tổ chức công quyền, nghĩa là người làm công, mang quyền lực được ủy quyền từ nhân dân, do đó xác định cụ thể các quyền của công dân theo hướng công dân có quyền được làm tất cả những gì luật pháp không cấm, còn cán bộ, công chức nhà nước chỉ được phép làm những gì mà luật pháp quy định. Đồng thời, trách nhiệm của Nhà nước là phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người; và công dân cũng phải làm tròn những nghĩa vụ phát sinh từ việc hưởng thụ các quyền do Hiến pháp và pháp luật quy định.

Quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân bảo đảm tính ràng buộc hai chiều, trước hết nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức là phục vụ nhân dân, chứ không phải “làm quan cách mạng”. Trong điều kiện nước ta hiện nay, đòi hỏi chuyển mạnh từ “nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ”.

Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công việc nhà nước, công việc xã hội, trong đó có việc nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước. Kiểm tra và giám sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước – những người phục vụ nhân dân, đòi hỏi Nhà nước phải báo cáo hoạt động trước nhân dân, bảo đảm quyền của công dân được cung cấp thông tin một cách chân thực và chính xác từ phía cơ quan công quyền. Những người trực tiếp do nhân dân bầu ra, phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức nhà nước, tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, nhất là tổ, khu dân phố nơi cán bộ, vợ con của cán bộ, công chức sinh sống và làm việc.

Xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo, nền tảng cho phát triển bền vững

Bảo đảm thực hiện quyền con người trong nhà nước pháp quyền XHCN tự bản thân đã đòi hỏi nghèo đói phải được giải quyết về căn bản. Điều đó cho thấy, bảo đảm quyền kinh tế cho mọi người, quyền bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế, đòi hỏi chiến lược xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội và dần dần giảm sự phân cách giàu nghèo là rất quan trọng.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải là một xã hội người giàu với số lượng ngày càng đông và người nghèo số lượng ngày càng giảm. Để thực hiện được điều đó, vấn đề quan trọng hiện nay là Nhà nước với vai trò điều tiết vĩ mô, quản lý nền kinh tế, dùng công cụ, sức mạnh thông qua chính sách thuế, thực hiện việc điều tiết, phân phối lợi ích và bảo đảm phúc lợi xã hội, trong đó chú trọng đến các đối tượng hưởng chính sách xã hội, đến vùng sâu, vùng xa; đồng thời, có chiến lược phát triển kinh tế vùng miền, bảo đảm vùng sâu, vùng xa dần tiến kịp với các thành phố, đô thị…

Kinh nghiệm chỉ ra rằng, những bất ổn về chính trị, sự phân hóa và ly khai có những nguyên nhân sâu xa của nó, nhưng đều bắt nguồn từ sự phân bổ không công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và sự phân cách giàu nghèo quá lớn trong xã hội. Vì thế, để khắc phục tình trạng trên, cần thực hiện tốt chiến lược xóa đói, giảm nghèo. Trong đó, việc đào tạo nghề, cho vay vốn, ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, trong đầu tư… đối với đối tượng nghèo, gia đình khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách, con em nông dân và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số phải là bước đi đầu tiên trong hoạch định chính sách cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Và phát triển đồng đều phải trở thành một nguyên tắc trong hoạch định chính sách xã hội, chính sách kinh tế.

Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

Bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, đó là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, cải tạo phạm nhân, bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, và suốt quá trình tiến hành tố tụng không được làm oan người vô tội. Người phạm tội phải bị đưa ra xét xử, chịu hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội. Những mục đích của hình phạt lại không phải chỉ là trừng trị mà giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm là mục đích ưu tiên hàng đầu. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền XHCN.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, đòi hỏi xây dựng được một đội ngũ cán bộ tư pháp tận tâm, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời hoàn thiện kể cả về tổ chức với một cơ chế giám sát, chỉ đạo điều hành chặt chẽ từ phía Đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể, nhân dân là rất cần thiết.

– Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng không phải là can thiệp vào hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, mà bảo đảm sự lãnh đạo chỉ đạo bằng đường lối, chủ trương lớn ở tầm vĩ mô; về xây dựng tổ chức, bộ máy, về công tác cán bộ…

– Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp.

– Tăng cường sự giám sát của đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm sự tham gia trong lĩnh vực đấu tranh phát giác tội phạm và tham gia hoạt động xét xử (cơ chế hội thẩm).

– Cuối cùng, nhưng chiếm vị trí quan trọng là nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp. Luật sư phải là người đại diện thực sự cho thân chủ. Sự tham gia của luật sư là để giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình tiến hành tố tụng, nhanh chóng làm sáng tỏ bản chất thật sự của vụ án, tránh và giảm thiểu đến mức thấp nhất oan sai, không vô tư, khách quan trong hoạt động tố tụng.

Kiểm Tra, Giám Sát Góp Phần Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Của Đảng / 2023

– Thời gian này, các cấp ủy đã tiến hành kiểm tra 16.026 đảng viên và 3.877 tổ chức đảng; giám sát chuyên đề 12.261 đảng viên và 1.008 tổ chức đảng. UBKT các cấp kiểm tra 2.235 đảng viên và 124 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm; kiểm tra 4.333 tổ chức đảng về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng 663 tổ chức; giám sát chuyên đề 42.173 đảng viên và 4.347 tổ chức đảng; kiểm tra tài chính đảng 149 tổ chức; giải quyết tố cáo 280 đảng viên và 6 tổ chức đảng; giải quyết 54 trường hợp đảng viên khiếu nại kỷ luật Đảng.

Thông qua công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật 3.142 đảng viên với các hình thức: khiển trách 1.179, cảnh cáo 1.213, cách chức 259, khai trừ 491. Trong số đảng viên bị kỷ luật có 705 cấp ủy viên, chiếm 22,44% so với tổng số đảng viên bị kỷ luật. Qua đó, đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tỉnh nhà; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

– Qua hơn 15 năm thành lập, điều tôi tâm đắc nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng bộ tỉnh luôn tuyệt đối trung thành và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; có bản lĩnh, có ý thức tổ chức kỷ luật và lối sống liêm khiết; trong sạch, lành mạnh, khắc phục khó khăn, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng tiêu cực trong Đảng, Nhà nước; bảo vệ đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng…

– Hiện toàn ngành kiểm tra Đảng bộ tỉnh có 742 cán bộ (UBKT Tỉnh ủy 17 đồng chí, UBKT huyện ủy và tương đương 76 đồng chí, UBKT cấp cơ sở 669 đồng chí) và 2.060 cán bộ làm công tác kiểm tra tại các chi bộ.

Trình độ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát ở cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương đáp ứng được yêu cầu vị trí công tác, đã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, qua các lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và tương đương. Cán bộ làm công tác kiểm tra ở cơ sở đa số có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên. Tất cả đã và đang góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh.

– Trước hết, phải làm chuyển biến, nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị về vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, UBKT các cấp, các tổ chức đảng đối với nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; tăng cường chỉ đạo nghiên cứu, nâng tầm lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy tiến hành kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 35 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Xem xét, xử lý và tham mưu cấp ủy xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với đảng viên và tổ chức đảng vi phạm. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định số 205 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật những tập thể, cá nhân vi phạm.

Ông Lữ Văn Hùng (thứ 2 từ trái qua), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, dự Họp mặt kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành kiểm tra Đảng (16/10/1948 – 16/10/2018) và trao bằng khen của UBKT Trung ương cho các cá nhân. Ảnh: Trường Sơn

Tập trung cho công tác dự báo tình hình vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên để chủ động có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả. Cấp ủy, trước hết là người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo, chủ trì sơ kết, tổng kết thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ; chú trọng sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng để rút kinh nghiệm, đề ra những giải pháp cụ thể để lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, nhiệm kỳ 2020-2025 đạt hiệu quả.

– Chúng tôi sẽ tham mưu giúp cấp ủy chuẩn bị nhân sự UBKT các cấp, bảo đảm số lượng, chất lượng cán bộ kiểm tra các cấp để thực hiện tốt nhiệm vụ. Quan tâm đầu tư đúng mức phương tiện, điều kiện làm việc cho cơ quan UBKT; thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với cán bộ kiểm tra.

Thường xuyên chăm lo xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, tận tâm, tận lực với công việc; đổi mới và cải tiến về cách làm, phát huy sáng kiến và ưu điểm, khắc phục khó khăn, nhược điểm; rèn luyện, giữ gìn phẩm chất cách mạng, tư cách của người cán bộ, đảng viên; luôn đề cao cảnh giác, bảo đảm bí mật, giữ vững kỷ luật của Đảng và của Nhà nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ công chức toàn ngành, lập thành tích chào mừng đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…

Những năm qua, UBKT Tỉnh ủy và cá nhân cán bộ công tác trong ngành kiểm tra của Đảng bộ tỉnh vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì; Chính phủ tặng Cờ đơn vị dẫn đầu thi đua; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; UBKT Trung ương tặng nhiều bằng khen; 67 đồng chí vinh dự được nhận Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm tra của Đảng; UBND tỉnh tặng UBKT Tỉnh ủy Cờ đơn vị dẫn đầu xuất sắc phong trào thi đua nhiều năm liền.

Xin cảm ơn ông !

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân Góp Phần Kiểm Soát, Giám Sát Quyền Lực Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!