Đề Xuất 11/2022 # Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654 / 2023 # Top 17 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654 / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguyễn Du đã từng đúc kết rằng:

Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Quả thực điều ấy đã ứng vào cuộc đời nàng Kiều, tài mệnh tương đố, nàng Kiều đẹp cả ở ngoại hình và nhân cách nhưng lại phải chịu nhiều cảnh tang thương, bất hạnh. Đau đớn nhất có lẽ là khi cô đơn ở lầu Ngưng Bích, bị giam lỏng, cầm tù và mường tượng về tương lai sóng gió sau này của chính mình. Tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là minh chứng đầy đủ nhất cho điều ấy.

Tám câu thơ cuối cũng cho thấy tài năng phân tích, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy của Nguyễn Du. Ông lấy bức tranh phong cảnh không chỉ đơn thuần là phong cảnh mà đó còn là bức tranh tâm trạng. Nguyễn Du đã biến khung cảnh thiên nhiên là phương tiện để miêu tả tâm trạng của con người. Có thể thấy tám câu thơ đã đạt đến mẫu mực của bút pháp tả cảnh ngụ tình. Bi kịch nội tâm của nàng Kiều đã được Nguyễn Du diễn tả qua bức tranh thiên nhiên phong phú khi nàng ở lầu Ngưng Bích.

Đoạn thơ chia ra làm bốn cặp lục bát, mở đầu mỗi cảnh là điệp từ “buồn trông” xuất hiện với âm hưởng trầm buồn, báo hiệu biết bao sóng gió, khó khăn phía trước. Đồng thời mỗi cặp lục bát cũng tương ứng với một nét tâm trạng của Thúy Kiều. Mở đầu là khung cảnh biển nước mênh mông:

Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Nguyễn Du sử dụng linh hoạt hai từ láy thấp thoáng, xa xa và kết hợp với đại từ phiếm chỉ “ai” cho thấy nỗi chờ đợi, trống ngóng trong vô vọng của nàng. Không chỉ vậy, Nguyễn Du cũng rất tinh tế khi lựa chọn khoảng thời gian để bộc lộ tâm trạng, đó là thời gian buổi chiều, gợi nhắc gợi nhớ về hơi ấm gia đình. Đúng lúc ấy lại xuất hiện hình ảnh cánh buồm nhỏ bé trước cửa bể rộng lớn, làm cho nỗi hoang vắng mênh mông càng lớn hơn. Đồng thời cánh buồn đó cũng chính là ẩn dụ cho thân phận bé nhỏ, lẻ loi của nàng.

Thu hẹp khoảng không gian, để tìm sự đồng điệu, thì trước mắt nàng lại hiện lên cảnh tan tác, chia lìa:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Nàng Kiều tự ví bản thân mình với những cánh hoa mỏng manh, yếu đuối, thân phận nổi nênh không biết đi đâu về đâu. Kết hợp với câu hỏi tu từ “biết là về đâu?” càng cho thấy rõ hơn nữa thân phận bọt bèo, bấp bênh, vô định của nàng. Nàng lênh đênh giữa dòng đời xuôi ngược, không biết đâu là bến bờ.

Hình ảnh cỏ, đã nhiều lần xuất hiện trong thơ Nguyễn Du, là sắc xanh non mơn mởn trong ngày hội xuân, đầy sức sống: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Nhưng đến đây sắc xanh ấy đâu còn nữa, mà thay vào đó là màu sắc của sự tàn tạ, héo úa: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu/ Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”. Cỏ trong đôi mắt thấm đẫm tâm trạng của nàng Kiều “rầu rầu” tàn lụi, héo úa. Tác giả tả màu xanh của cỏ nối tiếp nhau đến tận chân trời, nhưng màu xanh ấy không sắc nét mà nhòe mờ, pha lẫn vào nhau, có phần đơn điệu. Phải chăng trong dòng nước mắt cô đơn và tủi cực mà cái nhìn của nàng đã khiến những màu xanh kia càng trở nên sầu bi, héo tàn hơn.

Một lần nữa nàng Kiều lắng lòng mình, để nghe những vang vọng của cuộc sống. Nhưng những thứ nàng nghe được chỉ là chuỗi âm thanh khủng khiếp

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Mặt biển đổ ập sóng gió đến bủa vây lấy nàng Kiều nhỏ bé. Đó cũng chính là dự cảm của nàng về số phận đầy bất hạnh, những giông tố đang đợi nàng phía trước. Kiều rơi vào trạng thái sợ hãi, âu lo đến tột cùng.

Khung cảnh được nhìn qua mắt Kiều đẫm màu sắc tâm trạng. Cảnh được Nguyễn Du miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, nỗi buồn diễn tả theo chiều tăng tiến từ man mác buồn, cô đơn cho đến âu lo, kinh sợ. Lúc này, Kiều rơi vào trạng thái tuyệt vọng và yếu đuối nhất, cũng bởi vậy trước những lời ngon ngọt của Sở Khanh nàng dễ dàng bị mắc lừa, để rồi nàng bị đẩy xuống bùn nhơ của cuộc đời: “Thanh y hai lượt thanh lâu hai lần”.

Bằng ngòi bút tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Du đã đem đến cho người đọc những câu thơ xuất sắc nhất diễn tả tâm trạng cô đơn, đâu đớn đến tột cùng của nàng Kiều. Đồng thời ta cũng thấy được tấm lòng nhân đạo, niềm cảm thương sâu sắc mà Nguyễn Du dành cho người con gái hồng nhan bạc mệnh.

Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 8 Câu Thơ Cuối Đoạn Trí / 2023

Nếu những câu thơ đầu trong Kiều ở lầu Ngưng Bích tập trung khắc họa nỗi nhớ của nàng Kiều về gia đình, về Kim Trọng thì những câu thơ cuối Kiều lại bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa khi nhìn về cảnh ngộ đầy bẽ bàng của bản thân. Các em hãy phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, trong đó tập trung Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích để tìm hiểu về diễn biến tâm trạng của nàng Kiều.

Đề bài: Em hãy Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

I. Dàn ý Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

– Giới thiệu tác phẩm, đoạn trích cần phân tích đặc sắc nghệ thuật.

– Nghệ thuật điệp từ ở tất cả những câu lục “buồn trông…”:+ Sự lặp lại đến 4 lần của cụm từ này đã mang đến cho động giả những hình dung chung về tâm trạng của nàng Thúy Kiều buồn tủi, bế tắc và cô độc vô cùng, bộc lộ cảm xúc đau đớn, bất lực.+ Sự lặp lại liên hoàn, chậm rãi của điệp từ này còn tựa như những đợt sóng sầu não trong lòng người thiếu nữ liên tục dập dềnh, trùng điệp và kéo dài mênh mông, vô tận khiến người ta khó nhìn thấu được sự dài rộng và điểm tận cùng của nó.

– Sử dụng nhiều từ láy toàn bộ hoặc láy âm, vần trong đoạn thơ “xa xa”, “xanh xanh”, “rầu rầu”, “thấp thoáng”, “man mác”:+ Mang đến một cảm nhận chung ấy là nỗi buồn rất mờ mịt, xa xăm, lan tràn và trầm lắng đang tỏa ra trong từ tâm hồn của nhân vật trữ tình rồi phủ những cảnh vật chung quanh.+ Tất cả đều mang một sắc thái tủi hổ, chán chường, nhàn nhạt, thiếu đi cái sức sống sinh động.

Nêu cảm nhận chung.

II. Bài văn mẫu Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm văn chương đắt giá của thời đại, được xem là kinh điển trong văn học Việt Nam. Vẻ đẹp của nó không chỉ nằm ở giá trị nội dung sâu sắc, bao gồm hai nhánh lớn là giá trị nhân đạo: ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, tấm lòng thương cảm, cảm thông sâu sắc cho số phận của họ dưới sự chèn ép bất công; và giá trị hiện thực khi phơi bày những sự thối nát, giả dối, lạc hậu của một chế độ phong kiến hà khắc khiến những con người nhỏ bé, không có tiếng nói phải chịu nhiều bất hạnh, đớn đau. Mà bên cạnh đó Truyện Kiều có giá trị và được yêu thích cho đến tận ngày hôm nay còn bởi những giá trị nghệ thuật độc đáo dựa trên ngòi bút tài hoa của đại thi hào Nguyễn Du. Cứ mỗi một trích đoạn người ta lại nhìn ra nét đặc sắc nghệ thuật đáng lưu ý, khiến cho cuộc đời Thúy Kiều, nỗi đau của nàng càng trở nên thấm thía, dễ đồng cảm. Tiêu biểu trong 8 câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, ta cũng thấy cả một hệ thống nghệ thuật đáng lưu tâm và tìm hiểu.

“Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xaBuồn trông ngọn nước mới saHoa rơi man mác biết là về đâuBuồn trông nội cỏ rầu rầu,Chân mây mặt đất một màu xanh xanhBuồn trông gió cuốn mặt duềnhẦm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Trước hết dễ nhận nhất khi đọc cả tám câu thơ chính là sự xuất hiện của nghệ thuật điệp từ, điệp cấu trúc ở tất cả những câu lục “buồn trông…”, sự lặp lại đến 4 lần của cụm từ này đã mang đến cho độc giả những hình dung chung về tâm trạng của nàng Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích ấy là một tâm trạng buồn tủi, bế tắc và cô độc vô cùng. Tất cả những gì nàng có thể làm ấy là hướng ánh mắt sầu thảm của mình vào cảnh vật chung quanh để bộc lộ cảm xúc đau đớn, bất lực. Đặc biệt sự lặp lại liên hoàn, chậm rãi của điệp từ này còn tựa như những đợt sóng sầu não trong lòng người thiếu nữ liên tục dập dềnh, trùng điệp và kéo dài mênh mông, vô tận khiến người ta khó nhìn thấu được sự dài rộng và điểm tận cùng của nó. Đó là một sự bất định đầy tội nghiệp và đớn đau của cô gái mười mấy tuổi xuân.

Nét đặc sắc thứ hai nằm ở sự sắp xếp tầm nhìn của Thúy Kiều, nếu đọc và cảm nhận thật kỹ càng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, bản thân nàng có cái nhìn đầu tiên thật xa xăm bắt đầu từ cửa bể, ngóng những cánh buồm “xa xa”, thấp thoáng mờ mịt, sau đó dần dà thu hẹp khoảng cách không gian Kiều đã nhìn trực tiếp vào hoàn cảnh của mình ấy là sự cảm nhận tiếng sóng ầm ầm, vây quanh ghế ngồi. Ta có thể xem đó là sự nhận thức chậm rãi của Thúy Kiều về nỗi đau thân phận cũng như những dự cảm của nàng về tương lai đầy chông gai phía trước của mình. Trong khi đó “cánh buồm xa xa” là một tương lai mịt mờ, còn “tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” lại là những bất hạnh, khổ sở bản thân nàng đang phải gánh chịu, Nguyễn Du đã để Thúy Kiều cảm nhận rất rõ số phận khốn đốn của mình. Từ đó làm tăng giá trị biểu cảm, làm cho nhân vật Thúy Kiều có sức hút hơn bao giờ hết. Bên cạnh tầm nhìn, thì Nguyễn Du cũng còn tinh tế sắp xếp các chi tiết khác như màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn tiến triển từ man mác, nhẹ nhàng đến lo âu, kinh sợ. Tất cả những điều ấy đều chỉ nằm ở một mục đích chung nhất chính là khiến cho độc giả hiểu rõ và thấm thía hơn tâm trạng của Thúy Kiều, những chuyển biến tinh tế trong tâm hồn non trẻ của người con gái, cũng như những suy tư, ý thức của nàng trước cuộc đời, số phận nhiều trái ngang của mình. Việc xây dựng một nhân vật có sự nhận thức từ từ và chậm rãi như vậy rất thích hợp với tính cách và sự thông minh của Thúy Kiều, người ta sẽ cảm nhận rõ hơn được những vẻ đẹp trong tâm hồn nàng, dĩ nhiên nàng sẽ không tự nhiên mà sợ hãi, hoảng hốt, mà nó phải qua một quá trình tự ý thức hợp lý. Cách viết này khiến cho thơ của Nguyễn Du hay và nhân vật trở nên hàm súc, gần gũi hơn hẳn.

Một đặc sắc nghệ thuật nữa không thể không kể đến đó chính là cách Nguyễn Du sử dụng nhiều từ láy toàn bộ hoặc láy âm, vần trong đoạn thơ. Các từ “xa xa”, “xanh xanh”, “rầu rầu”, “thấp thoáng”, “man mác”, đều mang đến một cảm nhận chung ấy là nỗi buồn rất mờ mịt, xa xăm, lan tràn và trầm lắng đang tỏa ra trong từ tâm hồn của nhân vật trữ tình rồi phủ những cảnh vật chung quanh như một thứ rượu nhẹ, phải từ từ mới thấy mà thấm. Tất cả đều mang một sắc thái tủi hổ, chán chường, nhàn nhạt, thiếu đi cái sức sống sinh động, thay vào đó người ta chỉ thấy một cảm xúc khó tả khiến người ta khó mà vui vẻ, gượng dậy, một sự sự tàn phai, héo úa chậm rãi. Tâm trạng của Thúy Kiều lúc đó chính là vậy, nỗi buồn của nàng không phải kiểu gay gắt, mạnh mẽ mà nó rất thấm thía, nhẹ nhàng, man mác, một nỗi buồn liễu yếu đào tơ đến tội nghiệp.

Cuối cùng, trọng tâm tâm nhất chính là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc trưng cho ngòi bút Nguyễn Du. Với hai câu thơ “Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”, tại sao Thúy Kiều lại có cái nhìn xa xăm thế, tại sao Kiều không nhìn thấy một cảnh vật khác như núi non, hoàng hôn mà lại thấy thuyền. Có thể trả lời rằng bản thân nàng đang có một nỗi nhớ da diết với quê hương, gia đình và cả tình yêu chết yểu của mình, nàng có khao khát tha thiết được thoát khỏi nơi này, nhưng không thể rời khỏi. Thế nên buộc lòng Kiều phải gửi những ước mơ những nỗi niềm ấy và cánh buồm đang thấp thoáng, nhờ sự truân chuyển của nó mang về với những người mà nàng hằng tâm niệm, cũng như mang theo một nửa hồn nàng. Với cặp câu tiếp “Buồn trông ngọn nước mới sa/Hoa trôi man mác biết là về đâu”, câu này lại càng lộ rõ cái ý tứ của Nguyễn Du, Thúy Kiều rõ ràng là một bông hoa tuyệt sắc, nhưng tiếc rằng nàng thiếu đi cái phúc phần được sống bình yên mà lại phải trở thành bông hoa nhẹ bẫng, trôi dạt giữa dòng đời, sống cuộc đời tủi hổm bấp bênh chưa biết sẽ dạt về phương nao. Đó chính là ý thức của Kiều về thân phận đớn đau của mình, một kiếp hồng nhan bạc mệnh đầy xót xo, trách gì nước chảy, hoa trôi. Trong hai câu “Buồn trông nội cỏ rầu rầu/Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” người ta dễ dàng đoán định ra một không gian buồn tẻ, chán ngắt, dẫu rằng rộng lớn đấy nhưng lại đơn sắc, dẫn đến cảm giác ngột ngạt, tù túng cho nhân vật trữ tình, từ đó mang đến sự cô đơn, lẻ loi, trơ trọi của người thiếu nữ trước cái sự lạnh lùng của sắc xanh cây cỏ, sắc xanh trời đất, không một thức gì thân thuộc ấm áp. Trong hai câu thơ cuối cùng “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh/Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”, tức là đã đi sâu hẳn vào nội cảm của nàng Thúy, chính bản thân nàng cảm nhận được “gió cuốn”, “tiếng sóng”, tất cả đều biểu trưng cho những sóng gió cuộc đời mà nàng đã chịu và sắp phải gánh chịu trong tương lai. Từ đó người ta nhận ra được sự hoảng hốt, sợ hãi của Thúy Kiều trước những biến động của thiên nhiên, nàng trở nên ý thức ngày một rõ ràng hơn không chỉ là nỗi đau thân phận mà còn là cả những biến cố, những đau đớn khó mà tưởng tượng được sẽ xảy ra trong tương lai của mình. Từ đó nỗi buồn, tủi nhục của nàng lại càng thêm sâu sắc thấm thía, hình ảnh Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích đầy khốn khổ, bế tắc, cô đơn lại càng ấn tượng trong lòng độc giả, dễ khiến người ta thương cảm và cảm thông vô cùng.

Như vậy chỉ trong 8 câu thơ ngắn ngủi mà mà chúng ta đã có thể nhận ra được nhiều những bút pháp nghệ thuật đặc sắc được vận dụng xen kẽ, dày đặc và hợp lỹ bên cạnh thể thơ lục bát truyền thống. Khiến cho tổng thể bài thơ trở nên mềm mại, uyển chuyển, hợp lý, tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong cảnh bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích được khai thác rất tinh tế, khéo léo, khiến độc giả dễ dàng tiếp nhận và đồng cảm sâu sắc với nỗi buồn tủi, nỗi đớn đau cho một kiếp người bạc mệnh mang tiếng hồng nhan thuở xưa.

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-net-dac-sac-nghe-thuat-trong-8-cau-tho-cuoi-doan-trich-kieu-o-lau-ngung-bich-56888n.aspx Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích xuất sắc thể hiện tâm trạng đau khổ, xót xa khôn nguôi của nàng Kiều. Một trong những yếu tố làm nên thành công của đoạn trích là nghệ thuật xây dựng xuất sắc được “nhào nặn” bởi bàn tay tài hoa của đại thi hào Nguyễn Du. Tìm hiểu về những cái hay, nét đặc sắc của đoạn trích, các em không nên bỏ qua: Cảm nhận về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm trạng Thuý Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích để thấy rằng: Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tâm tình đầy xúc động.

:Chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ / 2023

[Văn 9]:Chỉ rõ và phân tích ý nghĩa của các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ

Nhắc đến Xuân Quỳnh, người ta thường nghĩ tới những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng của một trái tim phụ nữ đa cảm. Không da diết, khắc khoải như những sáng tác về tình yêu, trong giây phút hướng về tình cảm gia đình gần gũi, như tình mẹ con, tình bà cháu,… tiếng thơ Xuân Quỳnh thường cất lên với giọng trong trẻo nhưng vẫn thể hiện nét đẹp tâm hồn của một phụ nữ giàu yêu thương. Tiếng gà trưa là một bài thơ như vậy.

Trên đường hành quân xa

Dừng chân bên xóm nhỏ

Tiếng gà ai nhảy ổ:

“Cục… cục tác cục ta”

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ

Bài thơ là phút lắng lòng của người chiến sĩ trên chặng đường hành quân mệt mỏi. Lúc dừng chân bên thôn xóm yên bình, vẳng nghe tiếng gà nhảy ổ quen thuộc của làng quê, người chiến sĩ để lòng mình cuốn vào âm thanh ấy và trải ra mênh mông theo sức lan tỏa của nó. Mỗi lần động từ nghe được lặp lại, trường lan tỏa của âm thanh tiếng gà mỗi lúc một rõ nét nhưng đó không phải là sự mở ra theo chiều rộng không gian mà là sự chuyển động theo chiều sâu của cảm xúc. Đầu tiên là sự thay đổi của ngoại cảnh: Nghe xao động nắng trưa, sau đó là sự xâm lấn vào cảm giác: Nghe bàn chân đỡ mỏi và cuối cùng là sự thấm sâu trong tâm hồn: Nghe gọi về tuổi thơ. Điệp từ nghe cùng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đã diễn tả tinh tế diễn biến cảm xúc ấy trong tâm hồn người chiến sĩ. Tiếng gà mở đầu bài thơ là một âm thanh của thực tại, vẳng đến từ nơi nào đó trong xóm nhỏ. Nhưng đến cuối khổ, nó đã trở thành âm thanh vọng về từ kí ức, khi người chiến sĩ chìm trong giây phút trầm lắng để thả hồn miên man theo tiếng gọi tuổi thơ.

Theo dòng hồi tưởng ấy, những kỉ niệm ùa về, sống động như đang hiện ra trước mắt. Điệp ngữ tiếng gà trưa mở đầu các đoạn thơ sau, lặp đi lặp lại bốn lần như một điệp khúc, điểm nhịp cho dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình. Mỗi lần lặp lại, nó mở ra một ô cửa lung linh làm sáng bừng lên cả khung trời kỉ niệm:

nguồn google

Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa / 2023

Đề bài: Phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau trong bài Quê hương:

“Chiếc buồm giương to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió”

Phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong câu thơ Chiếc buồm giương to như mảnh hồn làng

Bài văn mẫu Phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau trong bài Quê hương

Với chất thơ rất đỗi bình dị và gợi cảm, Quê hương của Tế Hanh đã vẽ ra thật chân thực bức tranh khung cảnh sinh hoạt của những người dân làng chài, khỏe khoắn, sôi động và tràn đầy sức sống. Từ đó, ta thấy được tấm lòng gắn bó, yêu quê hương tha thiết của nhà thơ Tế Hanh. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ, có giá trị biểu cảm, làm khơi gợi nên vẻ đẹp của bức tranh quê hương miền biển. Tiêu biểu là trong hai câu thơ “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng / Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.

Tế Hanh (1921-2009), quê ở Quảng Bình, là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, cảm hứng sáng tác của ông thường là những đề tài về quê hương, đất nước. Quê hương (1929) được rút ra từ tập thơ Nghẹn ngào, phương thức biểu đạt chủ yếu là miêu tả, biểu cảm.

Với hai câu thơ “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng/Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”, Tế Hanh đã sử dụng các biện pháp tu từ thật ý vị và nhiều sức gợi cảm. Nếu như trước đó trong hai câu thơ “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã/Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt thời gian”, con thuyền đứng trong môt tâm thế rất chủ động, mạnh mẽ sẵn sàng vượt mọi khó khăn, sóng to gió lớn, vượt cả trường giang, biển cả dường như trở thành bức phông nền làm bật lên vẻ mạnh mẽ của con thuyền. Thì chi tiết cánh buồm giương to đó lại là sự miêu tả tỉ mỉ và sâu sắc của tác giả về con thuyền đó. Tế Hanh đã sử dụng một biện pháp tu từ rất quen thuộc trong thơ ca đó là biện pháp so sánh, nhưng có một điểm rất khác biệt ở thơ ông ấy là nếu nhiều tác giả khác thường so sánh cái trừu tượng với cái cụ thể, ví như câu “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Thì ngược lại Tế Hanh lại lấy cái cụ thể là “cánh buồm” đem so với “mảnh hồn làng”. Cánh buồm trắng ấy, vươn rộng ra như mảnh hồn, mảnh tình của quê hương theo sát con thuyền, dù thuyền có về đâu, mảnh hồn làng vẫn vương vấn, đó cũng là nỗi mong đợi của người ở lại, vừa là nỗi khao khát nhớ về làng chài của người ra biển. Hình ảnh so sánh này mang đậm nét lãng mạn, bay bổng rất đặc trưng cho bút pháp lãng mạn hóa, làm đẹp mọi thứ của Tế Hanh.

Ở câu thơ thứ hai “Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”, Tế Hanh tiếp tục tinh tế sử dụng biện pháp nhân hóa, vốn cũng là một biện pháp tu từ quen thuộc, bằng việc sử dụng động từ rất đặc biệt đó là động từ “rướn”, “thâu”. Tưởng như cánh buồm đang cố hết sức làm việc gom được nhiều gió để đẩy thuyền ra xa ngoài biển lớn. Cánh buồm giờ đây cũng đang góp sức, góp công cho công việc đánh bắt của người ngư dân vậy, nó chẳng khác nào một nhân lực chính trong công cuộc vươn ra biển lớn của con thuyền. Nếu chỉ đọc sơ, ta những tưởng đây là hình ảnh thật vĩ đại to lớn làm sao, nhưng phân tích kỹ thì, ôi hóa ra hình ảnh tráng lệ ấy cũng là lấy những chất liệu thật dung dị, giản đơn từ cuộc sống mà thâu góp lên những hình ảnh hùng vĩ như vậy, tất cả đều góp một phần nhỏ, cống hiến để cho công việc của tập thể được thuận lợi hơn. Đó là cái hay trong thơ Tế Hanh.

Như vậy chỉ với hai câu thơ thật ngắn ngủi, nhưng chúng ta cũng đã phần nào thấy được sự tinh tế trong thơ của Tế Hanh. Dù chỉ là những chất liệu thật dung dị đời thường, nhưng bằng bút pháp đặc tả, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa sự vật bỗng như có linh hồn, có tinh thần, làm bạn với con người trong công cuộc lao động thường ngày.

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-gia-tri-cua-cac-bien-phap-tu-tu-trong-hai-cau-tho-sau-trong-bai-que-huong-41630n.aspx

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!