Đề Xuất 11/2022 # Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023 # Top 19 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NỘI DUNG

QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ 22, NHIỆM KỲ 2020- 2025

Thực hiện Chỉ thị số 35- CT/TW của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 73- KH/TU, ngày 08/7/2019 của Tỉnh ủy Bắc Giang và các văn bản, hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh ủy về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng; Huyện ủy đã ban hành Kế hoạch số 116- KH/HU về đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ huyện tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng để triển khai thực hiện; trong đó lựa chọn đơn vị xã Tân Hưng để chỉ đạo tổ chức đại hội điểm cấp cơ sở.

– Trong quý 1/2020, Huyện ủy đã chỉ đạo đảng ủy các xã, thị trấn tập trung chỉ đạo, đôn đốc hoàn thành việc tổ chức đại hội chi bộ trực thuộc nhiệm kỳ 2020-2022.

– Trong quý 2, huyện đã tập trung chỉ đạo đại hội các chi, đảng ủy cơ sở nhiệm kỳ 2020-2025. Trong đó đại hội điểm được tổ chức trong tháng 4/2020; các đơn vị còn lại tổ chức trong tháng 5, 6/2020. Và đến hết ngày 16/6/2020, huyện đã hoàn thành việc chỉ đạo đại hội các chi, đảng ủy cơ sở, đảm bảo theo đúng chương trình, kế hoạch, phương án đề ra. Tổng số cấp ủy viên cấp cơ sở được đại hội bầu là 401 đồng chí, trong đó: Đảng bộ xã, thị trấn 310, đảng bộ cơ quan 51, chi bộ cơ sở 40. Nữ có 102 đồng chí, chiếm 24,7% (trong đó xã, thị trấn 78 đồng chí, chiếm 25,2%, vượt 10,2% so với quy định). Trẻ dưới 40 tuổi: 154 đồng chí, chiếm 38,2% (xã, thị trấn 128 đồng chí, chiếm 41,3%, vượt 26,3% so với quy định). Có 16/21 đảng bộ xã, thị trấn bầu đủ số lượng cấp ủy viên được đại hội biểu quyết thông qua; 05/21 đảng bộ bầu thiếu số lượng (01) cấp ủy viên do chủ trương luân chuyển cán bộ huyện về giữ chức danh chủ chốt. Nhìn chung, cấp ủy cơ sở nhiệm kỳ 2020-2025 đảm bảo về trình độ, cơ cấu, độ tuổi, có tính kế thừa và phát triển.

Đại hội cấp cơ sở đã bầu 247 đại biểu chính thức đi dự đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 22.

             Đối với Đại hội Đảng bộ huyện, Huyện ủy đã thành lập 03 tiểu ban đại hội; chuẩn bị chu đáo các nội dung, điều kiện phục vụ tổ chức đại hội; được Ban Thường vụ Tỉnh ủy thẩm định về văn kiện, đề án nhân sự và phê duyệt phương án nhân sự đại hội. Trên cơ sở công tác chuẩn bị được tỉnh thẩm định, huyện đã lựa chọn ngày tổ chức đại hội Đảng bộ huyện là từ ngày 03 đến ngày 05/8/2020.

    

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 22, nhiệm kỳ 2020- 2025 được tiến hành từ ngày 03 đến ngày 05/8/2020, tại Trung tâm Hội nghị huyện, với sự có mặt của 284/285 đại biểu được triệu tập. Đại hội được tổ chức thành công, đảm bảo đúng chương trình, kế hoạch, phương án đề ra.

– Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá 22 gồm 41 đồng chí. Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ huyện phiên thứ nhất đã bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 13 đồng chí; bầu đồng chí Tạ Huy Cần- Tiếp tục giữ chức Bí thư Huyện ủy; bầu 02 đồng chí giữ chức phó Bí thư Huyện ủy; bầu UBKT và Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy. Tất cả nhân sự trúng cử đều đúng phương án được Ban Thường vụ Tỉnh ủy phê duyệt.

– Bầu Đoàn đại biểu của Đảng bộ đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 19 gồm 25 đồng chí. Và vừa qua ngày 13-15/10/2020, đoàn đại biểu của huyện đã tham tốt Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 19.

– Đại hội cũng đã biểu quyết thông qua Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 22, nhiệm kỳ 2020-2025 với sự tán thành của 100% các đại biểu.

* Về phương châm của đại hội: được xác định là“Đoàn kết- Dân chủ- Sáng tạo- Phát triển”.

I. NHỮNG KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN, NHIỆM KỲ 2015-2020

Đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ 2015-2020, Đại hội đã khẳng định: Nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện luôn đoàn kết, thống nhất, đổi mới, sáng tạo, phát huy nội lực, khắc phục khó khăn; lãnh đạo hoàn thành và hoàn thành vượt mức 16/16 mục tiêu chủ yếu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đã đề ra (09 chỉ tiêu vượt, 07 chỉ tiêu đạt); đặc biệt đã hoàn thành về đích huyện nông thôn mới năm 2019, sớm hơn 01 năm so với MTĐH.  

1. Lĩnh vực phát triển Kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh:

– Kinh tế của huyện tiếp tục tăng trưởng nhanh; giá trị sản xuất các ngành kinh tế tăng bình quân 17,4%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.

– Cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được tăng cường đầu tư khá đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông (trong 05 năm, toàn huyện đã cứng hóa gần 800km đường giao thông nông thôn với kinh phí trên 755,5 tỷ đồng, trong đó Nhân dân đóng góp trên 230 tỷ đồng); tổng nguồn vốn huy động đầu tư phát triển toàn xã hội 05 năm ước đạt 32.950 tỷ đồng.

– Thu ngân sách đạt kết quả vượt bậc: Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 05 năm đạt 2.568 tỷ đồng; trong đó, thu ngân sách không tính thu tiền sử dụng đất đạt 1.146 tỷ đồng, tăng bình quân 16,3%/năm; thu tiền sử dụng đất bình quân đạt trên 280 tỷ đồng/năm.

– Công tác quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường; công tác đảm bảo vệ sinh môi trường được quan tâm.

– Thu nhập bình quân đầu người của huyện năm 2020 ước đạt 69,5 triệu đồng/người/năm; tăng 40 triệu đồng so với đầu nhiệm kỳ.

– Sự nghiệp giáo dục- đào tạo, văn hóa- thể thao được tăng cường đầu tư; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao; tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2019 giảm còn 3,12%.

– Chính trị ổn định, an ninh- quốc phòng được giữ vững; hệ thống chính trị được củng cố, đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình mới.

2. Về công tác xây dựng Đảng

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ huyện trong nhiệm kỳ 2015-2020 được tăng cường trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Với nhiều kết quả rất quan trọng.

* Về công tác chính trị tư tưởng: Huyện ủy và các cấp ủy quan tâm chỉ đạo thực hiện hiệu quả; tạo sự đồng thuận, thống nhất trong tư tưởng và hành động của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, sự đồng thuận trong xã hội; góp phần quan trọng vào thực hiện Nghị quyết đại hội, các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

– Ngay sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 21, Ban Thường vụ Huyện ủy chủ động ban hành Kế hoạch số 16-KH/HU, ngày 17/3/2016 về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhiệm kỳ 2016-2020; đồng thời, cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác giáo dục chính trị tư tưởng để làm căn cứ chỉ đạo, định hướng triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện.

– Chỉ đạo nghiêm túc, hiệu quả việc sơ, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin thời sự cho đội ngũ báo cáo viên và đảng viên ở các chi, đảng bộ cơ sở; tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng bản tin nội bộ của huyện để làm tài liệu sinh hoạt chi bộ. Làm tốt công tác nắm tình hình, định hướng dư luận xã hội, kịp thời giải quyết những vấn đề nổi cộm phát sinh. Trong nhiệm kỳ 2015-2020, tình hình tư tưởng trên địa bàn ổn định, không có điểm nóng, vấn đề phức tạp.

– Một kết quả nổi bật trong nhiệm kỳ 2015-2020 là Huyện đã chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nội dung học tập và làm theo Bác vào sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể; chỉ đạo các tập thể, cá nhân đăng ký việc làm cụ thể để làm theo Bác; lựa chọn những việc bức xúc, nổi cộm của cơ quan, đơn vị để tập trung giải quyết (Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo đăng ký, thẩm định, phê duyệt các việc đăng ký của cán bộ diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý; định kỳ hàng quý, 6 tháng, 01 năm kiểm điểm kết quả thực hiện, gắn kết quả thực hiện với đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm). Trong nhiệm kỳ, có trên 2.750 việc đăng ký làm theo của tập thể, trên 34.000 việc làm theo của cá nhân, trên 500 việc bức xúc, nổi cộm được các đơn vị tập trung chỉ đạo giải quyết, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Thông qua việc học tập và làm theo Bác đã có trên 1.600 điển hình tiên tiến được phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng; việc học tập và làm theo Bác đã từng bước đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa, góp phần hạn chế tiêu cực trong xã hội.

* Về công tác tổ chức xây dựng Đảng

– Huyện ủy đã chủ động ban hành Đề án số 01-ĐA/HU về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng giai đoạn 2016-2020; ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện các nhiệm vụ về công tác tổ chức xây dựng Đảng. Kịp thời củng cố, kiện toàn, phát triển tổ chức đảng, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, đúng tinh thần chỉ đạo của cấp trên. Đến nay, toàn Đảng bộ huyện có 42 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó 21 đảng bộ xã, thị trấn, 06 đảng bộ cơ quan, đơn vị sự nghiệp và 15 chi bộ cơ sở (giảm 01 đảng bộ, 07 chi bộ cơ sở so với đầu nhiệm kỳ); có 401 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở (giảm 13 chi bộ), không còn chi bộ thôn sinh hoạt ghép.

– Tăng cường chỉ đạo thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Tiếp tục duy trì nghiêm túc chế độ đồng chí Huyện ủy viên dự sinh hoạt với cấp ủy, chi bộ đối với các xã, thị trấn được phân công phụ trách; chế độ cán bộ, chuyên viên các cơ quan Đảng, đoàn thể huyện hàng tháng về dự sinh hoạt với chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, thị trấn. Qua đó đã góp phần duy trì nền nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.

– Chỉ đạo nghiêm túc việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức, cán bộ, đảng viên theo quy định; thực hiện đánh giá liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm cụ thể; thẩm định chặt chẽ kết quả đánh giá, xếp loại, đảm bảo khách quan, thực chất. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm trung bình đạt 96,4%, không có tổ chức đảng yếu kém; 88% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên vượt mục tiêu đại hội (mục tiêu đại hội lần thứ 21 đề ra là 90% tổ chức đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên).

– Chú trọng công tác phát triển đảng viên; kết nạp đảng hàng năm đều vượt kế hoạch đề ra, chất lượng được nâng lên. Trong nhiệm kỳ, đã kết nạp 964 đảng viên mới, tỷ lệ trưởng thôn là đảng viên hiện nay đạt 86,2% (vượt mục tiêu đề ra, cao hơn bình quân chung của tỉnh. Lạng Giang là đơn vị dẫn đầu tỉnh trong nội dung này). Công tác quản lý đảng viên từng bước chặt chẽ; trong đó đã tăng cường rà soát, sàng lọc đảng viên, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng (xóa tên 76 đảng viên, cho ra khỏi đảng 39 đảng viên).

– Nhiệm kỳ qua, Ban Thường vụ Huyện ủy đã đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ các khâu trong công tác cán bộ; tăng cường luân chuyển cán bộ về cơ sở để rèn luyện, thử thách; kịp thời điều động, chuyển đổi vị trí công tác, cho thôi giữ chức vụ đối với cán bộ năng lực hạn chế; chính vì vậy, đội ngũ cán bộ của huyện được kiện toàn kịp thời, đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Đã xử lý kỷ luật và cho thôi giữ chức vụ 02 cán bộ chủ chốt xã; chuyển vị trí công tác khác và cho nghỉ công tác đối với 02 cán bộ hai năm liền đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; thực hiện luân chuyển 10 cán bộ huyện về làm bí thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã, thị trấn (hiện nay, toàn huyện có 07 cán bộ huyện luân chuyển về cơ sở, trong đó có 03 bí thư đảng ủy, 04 chủ tịch UBND); các cán bộ được luân chuyển đã phát huy tốt khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

– Ngoài ra, Huyện ủy đã quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức; công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo quy định.

* Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng

– Để tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành Kế hoạch số 13-KH/HU, ngày 02/3/2016 về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát ở cơ sở giai đoạn 2016-2020, với nhiều mục tiêu, giải pháp thực hiện cụ thể. Quan tâm củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát. Ban hành bộ quy trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, xem xét thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng của Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy; đồng thời chỉ đạo UBKT Huyện ủy, đảng ủy cơ sở xây dựng, ban hành Bộ quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng của UBKT Huyện ủy, đảng ủy và UBKT cơ sở; làm cơ sở để cho các đơn vị tổ chức thực hiện.

– Trong nhiệm kỳ, cấp ủy các cấp trong Đảng bộ huyện đã thực hiện kiểm tra đối với trên 400 lượt tổ chức đảng và gần 6.200 đảng viên; thực hiện giám sát đối với 246 tổ chức đảng và trên 4.000 đảng viên. UBKT các cấp đã thực hiện kiểm tra đối với 396 tổ chức đảng; giám sát theo chuyên đề đối với 211 tổ chức đảng và 444 đảng viên. Hoàn thành 100% kế hoạch đề ra. Đặc biệt, UBKT các cấp trong toàn Đảng bộ huyện đã thực hiện kiểm tra 114 cuộc khi có dấu hiệu vi phạm đối với 114 tổ chức đảng và 227 đảng viên. Qua kiểm tra đã kết luận: 114 tổ chức đảng và 227 đảng viên có khuyết điểm vi phạm, trong đó có 04 tổ chức đảng và 77 đảng viên có khuyết điểm vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật của Đảng. Trong nhiệm kỳ, cấp ủy và UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật theo thẩm quyền đối với 04 tổ chức đảng bằng hình thức Khiển trách; kỷ luật 211 đảng viên (trong đó: Khiển trách 157; Cảnh cáo 32; Cách chức 04; Khai trừ 18), tăng 01 tổ chức đảng; giảm 34 đảng viên so với nhiệm kỳ trước. Qua đó, đã góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

* Về công tác dân vận

– Kết quả nổi bật của công tác dân vận nhiệm kỳ 2015-2020 là huyện đã chỉ đạo triển khai thực hiện bài bản, hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị. Từ tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện của chính quyền, sự vào cuộc của MTTQ, các tổ chức chính trị- xã hội; qua đó đã phát huy tốt vai trò trong tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đặc biệt là, trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành phương án bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án; tham gia thực hiện các tiêu chí nông thôn mới; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, đảm bảo an ninh trật tự…

– Một điểm nhấn trong công tác dân vận nhiệm kỳ qua là huyện đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn làm công tác dân vận. Trong 05 năm, đã phối hợp với các đơn vị quân đội tổ chức 51 đợt làm công tác dân vận, với các việc làm rất thiệt thực như giúp Nhân dân tu sửa, nâng cấp, cứng hóa đường giao thông nông thôn; nạo vét, vệ sinh kênh mương; tu sửa trường học, nhà văn hóa, sân thể thao, nghĩa trang liệt sỹ, vệ sinh môi trường… trị giá ngày công trên 5 tỷ đồng.

– Việc nắm tình hình nhân dân; công tác tiếp dân, chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cán bộ, đảng viên và nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền được triển khai thực hiện khá nền nếp, hiệu quả.

* Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Huyện ủy tập trung cao chỉ đạo

Huyện ủy đã chủ động xây dựng chương trình hành động, quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Đã chỉ đạo thực hiện tốt chế độ kiểm điểm, tự phê bình và phê bình với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; tổ chức cho cán bộ, đảng viên ký cam kết rèn luyện, không suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa; hằng năm, thực hiện gợi ý kiểm điểm sâu đối với các tập thể, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ đạt kết quả thấp hoặc có vấn đề phức tạp, dư luận bức xúc.

Trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Huyện ủy gợi ý kiểm điểm sâu đối với 40 tập thể, 75 cá nhân; các cấp ủy cơ sở gợi ý kiểm điểm sâu đối với 75 tập thể, 118 cá nhân về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Sau kiểm điểm, các cấp ủy đã kịp thời xây dựng kế hoạch, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để khắc phục các khuyết điểm, hạn chế được chỉ ra và coi đó là nhiệm vụ xuyên suốt trong cả nhiệm kỳ, gắn với kiểm điểm, đánh giá phân loại tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Thông qua việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) đã góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa; giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

* Trong nhiệm kỳ 2015-2020, các cấp ủy trong Đảng bộ huyện đã tập trung đổi mới lề lối làm việc, tác phong công tác, đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình mới

– Duy trì thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; chế độ tự phê bình và phê bình; nâng cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ.

– Đặc biệt là đã chỉ đạo triển khai thực hiện hiệu quả việc rà soát, đăng ký nhiệm vụ trọng tâm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hàng năm để triển khai thực hiện, gắn vào các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa phương. Hằng năm, Ban Thường vụ Huyện ủy rà soát, đăng ký 10 nhiệm vụ trọng tâm với Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Chỉ đạo đảng ủy các xã, thị trấn rà soát, đăng ký 05 nhiệm vụ trọng tâm hàng năm với Ban Thường vụ Huyện ủy; huyện thẩm định, phê duyệt và giao nhiệm vụ cho các xã; định kỳ kiểm điểm, lấy kết quả thực hiện làm căn cứ đánh giá xếp loại cuối năm. Qua đó đã góp phần giải quyết tốt các vấn đề phức tạp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

3. Về công tác xây dựng chính quyền:

– Đã thực hiện sáp nhập xã Phi Mô và thị trấn Vôi để thành lập thị trấn Vôi, sáp nhập xã Tân Thịnh và thị trấn Kép để thành lập thị trấn Kép. Thực hiện sáp nhập 44 thôn, tổ dân phố của 09 xã, thị trấn để thành lập 21 thôn mới; sáp nhập một số đơn vị sự nghiệp thuộc UBND huyện. Thực hiện hoàn thành việc sắp xếp cán bộ bán chuyên trách cấp xã theo chỉ đạo của Tỉnh. Thực hiện tinh giản được 198 biên chế.

– Đã quan tâm đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước được nâng lên; năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của chính quyền từ huyện đến cơ sở có nhiều tiến bộ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.  

4.  Về hoạt động của MTTQ và các đoàn thể

– Huyện ủy đã quan tâm phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội. Đã ban hành chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng về phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của huyện giai đoạn 2016-2020.

 MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội huyện đã tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở; tăng cường phát động và thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của huyện. Trong đó:

– Liên đoàn Lao động phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân viên chức lao động; vận động thành lập mới 33 tổ chức công đoàn, kết nạp 4.418 đoàn viên mới trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước.

– Đoàn thanh niên tổ chức tốt các hoạt động thanh niên tình nguyện, hoạt động hè trong thanh thiếu nhi; thi công các công trình, phần việc thanh niên tham gia xây dựng nông thôn mới; phối hợp tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng, định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên.

– Hội Nông dân triển khai thực hiện tốt phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”; duy trì hoạt động hiệu quả Quỹ hỗ trợ nông dân; tích cực phối hợp hỗ trợ nông dân vay vốn, cung ứng phân bón trả chậm phục vụ sản xuất.

– Hội Phụ nữ triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hội viên phụ nữ thu gom, phân loại, xử lý rác thải tại hộ gia đình”; tập trung xây dựng, nhân rộng các mô hình “Con đường hoa, sáng- xanh- sạch đẹp” với chiều dài trên 70km.

– Hội Cựu chiến binh triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu quyên góp xi măng tham gia xây dựng nông thôn mới”, vận động được gần 07 tỷ đồng để thực hiện 464 công trình cựu chiến binh; lắp đặt, duy trì hoạt động 257 camera an ninh do hội cựu chiến binh quản lý, góp phần đảm bảo an ninh thôn xóm…

Có thể khẳng định, trong 5 năm qua, MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã chủ động tham gia có hiệu quả, đóng góp tích cực vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đã phối hợp tuyên truyền, vận động vốn đóng góp của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới đạt gần 600 tỷ đồng; hiến 740.000m2 đất; trên 84.000 ngày công để tham gia xây dựng thành công huyện nông thôn mới.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, khuyết điểm

Bên cạnh những thành tựu, kết quả đạt được, đại hội đã chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm trên các lĩnh vực, nhất là:

– Kinh tế của huyện phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh. Phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá chưa cao. Sản phẩm nông nghiệp chưa đa dạng; sản phẩm chủ lực, mang tính thương hiệu ít.

– Một số lĩnh vực văn hóa, xã hội có mặt còn hạn chế. Nhất là chất lượng giáo dục, đào tạo có chiều hướng giảm; kết quả, chất lượng thi học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh của huyện thứ hạng giảm so với nhiệm kỳ trước. Chất lượng khám, chữa bệnh chuyển biến chậm, tỷ lệ bệnh nhân chuyển viện lên tuyến trên cao.

– Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn thiếu sót, chưa chặt chẽ. Nhất là quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản; công tác đảm bảo vệ sinh môi trường…

– Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây phức tạp về an ninh trật tự. Nhất là tình hình trộm cắp, tệ nạn cờ bạc, ma túy; hoạt động của xe quá khổ, quá tải.

– Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn chuyển biến chậm. Một số đơn vị duy trì quy chế, nguyên tắc làm việc chưa nghiêm túc; thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ chưa nền nếp, hiệu quả chưa cao. Chất lượng sinh hoạt chi bộ có mặt còn hạn chế. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; số đảng viên vi phạm phải kỷ luật, xóa tên tăng so với nhiệm kỳ trước. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và UBKT đảng ủy cơ sở còn thấp, chưa đảm bảo yêu cầu.

 - Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội có mặt chưa toàn diện. Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội chưa thật sự chủ động; công tác thu hút, tập hợp, giáo dục đoàn viên, hội viên của một số đoàn thể hiệu quả chưa cao.

2. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm nêu trên

Đại hội chỉ ra nguyên nhân chính của hạn chế, khuyết điểm đó là:

– Việc cụ thể hóa triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh vào thực tế còn thiếu tính toàn diện.

– Trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có việc chưa thật sự quyết liệt, chủ động, sáng tạo. Vai trò trách nhiệm người đứng đầu của một số cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành chưa cao. Sự phối hợp giữa các cơ quan cấp huyện với các xã, thị trấn có lúc, có việc chưa tốt.

– Một số cấp ủy chưa thường xuyên quan tâm đổi mới lề lối, tác phong làm việc; chưa coi trọng công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên.

– Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ; năng lực tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế.

* Tổng kết sau 05 năm thực hiện Nghị quyết Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 21, Đại hội 22 rút ra 03 bài học kinh nghiệm lớn sau:

– Một là, phải chú trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cả về phẩm chất, uy tín và năng lực đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

– Hai là, xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất, dân chủ trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

– Ba là, phải xác định rõ hướng đi, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn; vận dụng linh hoạt, sáng tạo và mạnh dạn đề ra các chủ trương, cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải có quyết tâm chính trị cao, quyết liệt; đề cao trách nhiệm người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội; đẩy mạnh phát động và tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2020- 2025

1. Về phương hướng: Đại hội xác định 4 phương hướng chính, đó là:

– Một là, Phát triển toàn diện các ngành kinh tế; trong đó xác định phát triển công nghiệp là động lực chính tăng trưởng kinh tế.

– Hai là, Quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa- xã hội; kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa- xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.

– Ba là, Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo, bảo đảm đủ năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

– Bốn là, Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân; giữ vững sự ổn định về chính trị- xã hội để tập trung phát triển kinh tế.

2. Về mục tiêu nhiệm kỳ 2020-2025

* Mục tiêu tổng quát

Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ. Phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; cải thiện mạnh mẽ môi trường sống; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Củng cố vững chắc quốc phòng- an ninh. Đưa huyện Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững.

* Về mục tiêu chủ yếu đến năm 2025, gồm 12 chỉ tiêu chủ yếu. Trong đó có 11 chỉ tiêu về kinh tế- xã hội; 01 chỉ tiêu về công tác xây dựng Đảng.

(1) Giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu tăng bình quân hằng năm đạt 18,6%. Cơ cấu giá trị sản xuất: Công nghiệp- xây dựng: 59,8%; dịch vụ: 30,3%; nông, lâm nghiệp, thủy sản: 9,9%.

Chỉ tiêu này đã được huyện tính toán kỹ, trên cơ sở rà soát, đánh giá thực trạng của huyện và định hướng phát triển trong thời gian tới và trên cơ sở xin ý kiến tham vấn của các cơ quan chuyên môn của tỉnh. Mục tiêu Đại hội 19 của tỉnh là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 14-15%; cơ cấu kinh tế: Công nghiệp- xây dựng 68,4%; dịch vụ 20,6% và nông, lâm nghiệp, thủy sản 11%.

(2) Giá trị sản xuất trên 01ha đất canh tác sản xuất nông nghiệp đạt 150 triệu đồng/năm. Hiện nay chúng ta đã đạt 128 triệu đồng; với việc đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa cây con giống có năng suất, chất lượng cao và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì huyện xây dựng lên 150 triệu là phù hợp, khả thi. Trong mục tiêu đại hội của tỉnh không đề ra chỉ tiêu này, nhưng trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh giai đoạn 2021-2025 có đưa ra chỉ tiêu này, ở mức 135-140 triệu đồng/ha.

(3) Có trên 50% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao; 10% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới kiểu mẫu; 35% số thôn đạt thôn nông thôn mới kiểu mẫu. Để đưa ra chỉ tiêu này, huyện đã tiến hành khảo sát trực trạng của 19/19 xã trên địa bàn huyện; tính toán chi tiết đến từng tiêu chí cụ thể, nguồn lực để thực hiện. Năm 2020 huyện xây dựng xã Tiên Lục đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, dự kiến tháng 11 sẽ thẩm định để công nhận. Mục tiêu của tỉnh trong kế hoạch phát triển KT- XH là xây dựng khoảng 40% xã nông thôn mới nâng cao.

(4) Tổng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn đạt 60.000 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2021-2025, huyện sẽ có nhiều điều kiện để thu hút đầu tư, nhất là việc hoàn thành hạ tầng cụm công nghiệp Tân Hưng và Hương Sơn, mở rộng cụm công nghiệp Nghĩa Hòa và thu hút đầu tư hạ tầng khu công nghiệp Nghĩa Hưng; xác định xây dựng một số tuyến đường trọng điểm… chỉ tiêu này là khả thi. Mục tiêu của tỉnh là huy động khoảng 470.000 tỷ đồng. Như vậy, của huyện bằng khoảng 13% mục tiêu của tỉnh là phù hợp.

(5) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 800 tỷ đồng. Với tốc độ tăng thu ngân sách bình quân đạt 16,3%/năm của nhiệm kỳ 2015-2020, năm 2020 dự kiến thu ngân sách của huyện đạt trên 600 tỷ thì mục tiêu này là khả thi. Mục tiêu của tỉnh là thu ngân sách tăng bình quân 14-16%/năm; trong kế hoạch phát triển KT-XH dự kiến đến năm 2025 đạt khoảng 19.500 tỷ đồng.

(6) Tỷ lệ dân số đô thị đạt 18% (mục tiêu của tỉnh là 32,4%). Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch đạt 95% (mục tiêu của tỉnh đạt 94,8%). Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt 90% (mục tiêu của tỉnh đạt trên 80%). Với việc Nhà máy nước sạch DNP trên địa bàn đi vào hoạt động thì chỉ tiêu này là khả thi.

(7) Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 81%; trong đó, tỷ lệ chất thải rắn thu gom được xử lý hợp vệ sinh đạt 98% (mục tiêu của tỉnh là 85%).

(8) Duy trì và giữ vững 100% trường học đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt 35%. Mục tiêu đại hội của tỉnh không đề cập nhưng trong kế hoạch phát triển KT-XH có đặt ra mục tiêu là chuẩn mức độ 1 đạt 96,4%; chuẩn mức độ 2 đạt 21,4%. Chỉ tiêu này chúng ta đặt ra khá cao so với mặt bằng chung của tỉnh; tuy nhiên, hiện nay 100% trường học của huyện đã đạt chuẩn; và huyện đã chỉ đạo rà soát từng trường, trong nhiệm kỳ sẽ tập trung để xây dựng lên đạt chuẩn mức độ 2.

(9) Hằng năm, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt 90%; tỷ lệ thôn, khu phố đạt danh hiệu văn hóa đạt 77%; tỷ lệ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt danh hiệu văn hóa đạt 80%. Mục tiêu đại hội của tỉnh không đề cập nhưng trong kế hoạch phát triển KT-XH có đặt ra mục tiêu là tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa đạt 75%

(10) Giữ vững 100% xã, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 99,5%. Mục tiêu đại hội của tỉnh là tỷ lệ người dân có thẻ BHYT đạt trên 99% dân số. Huyện xây dựng như vậy là phù hợp.

(11) Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn dưới 01% theo chuẩn nghèo tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (mục tiêu đại hội của tỉnh là còn 01%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85% (mục tiêu đại hội của tỉnh là 80%); tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo đạt 32% (mục tiêu đại hội của tỉnh là 25,1%).

(12) Hằng năm, tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt 90% (mục tiêu đại hội của tỉnh là 90%); tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt 85% (Mục tiêu đại hội của tỉnh là 84%).

3. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ 2020-2025

Căn cứ vào phương hướng, mục tiêu đã đề ra, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ 22 xác định một số nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực, cụ thể như sau:

3.1. Về lĩnh vực phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh

– Quy hoạch và phát triển các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao; hỗ trợ phát triển các sản phẩm chủ lực của huyện.

– Huy động các nguồn lực đầu tư nâng cao các tiêu chí nông thôn mới, xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu và thôn nông thôn mới kiểu mẫu.

– Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ mới. Từng bước hình thành chợ đầu mối tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hoá tiêu dùng cho khu vực nông thôn; thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chợ nông thôn.

– Tăng cường các biện pháp tăng thu ngân sách; thực hiện đồng bộ các biện pháp tiết kiệm chi, chống lãng phí.

– Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ; nhất là hạ tầng giao thông, công nghiệp, phát triển đô thị.

– Tăng cường quản lý chặt chẽ đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đẩy mạnh công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý triệt để rác thải ra môi trường.

– Chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa- xã hội. Nâng cao đời sống mọi mặt cho người dân.

– Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; thực hiện các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giảm các tai, tệ nạn xã hội; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

(Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể chuyên đề sau đồng chí Chủ tịch UBND huyện sẽ phân tích, làm rõ).

3.2. Về lĩnh vực công tác xây dựng Đảng

Huyện xác định sẽ tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo, bảo đảm đủ năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị. Xác định đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng.

* Về công tác chính trị, tư tưởng

– Huyện xác định sẽ tiếp tục tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Góp phần nâng cao trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cho tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có lý tưởng, có đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, không dao động trước mọi tình huống; đáp ứng tốt yêu cầu trong tình hình mới.

– Chú trọng nâng cao chất lượng công tác quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết, nhất là việc cụ thể hóa nghị quyết sát thực, phù hợp với thực tiễn của địa  phương; tránh tình trạng dập khuôn máy móc, triển khai hình thức, chiếu lệ. Tiếp tục đầu tư nâng cấp, phát huy hiệu quả của hệ thống đường truyền trực tuyến trong quán triệt, học tập nghị quyết.

– Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Quan tâm làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động thiết thực nhân các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, địa phương; tuyên truyền sâu, rộng về các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Phát huy tốt hiệu quả của hệ thống đài truyền thanh từ huyện đến cơ sở; hiệu quả của cuốn Bản tin nội bộ của huyện.

– Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhất là tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả việc đăng ký việc làm cụ thể theo Bác, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; đăng ký những việc bức xúc, nổi cộm để tập trung giải quyết triệt để. Tránh tình trạng đăng ký hình thức, chung chung, hời hợt. Bên cạnh đó, cần quan tâm xây dựng, phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt trong học tập và làm theo Bác để khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên và Nhân dân làm theo. Từng bước đưa việc học tập và làm theo Bác đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, góp phần hạn chế tiêu cực trong xã hội.

– Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; kiện toàn tổ dư luận xã hội, kịp thời nắm bắt dư luận xã hội, những vấn đề phức tạp nảy sinh, chủ động định hướng dư luận và có biện pháp xử lý, đảm bảo ổn định tình hình.

– Thực hiện nâng cấp Trung tâm Chính trị huyện đạt chuẩn theo quy định. Hiện nay, cơ sở vật chất của Trung tâm Chính trị huyện đã cũ, xuống cấp, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Thời gian tới, huyện có định hướng sẽ chuyển trụ sở Trung tâm sang vị trí mới; đầu tư xây mới Trung tâm, đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học tại Trung tâm.

* Công tác tổ chức xây dựng Đảng: Tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp sau:

– Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp ủy, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Huyện đang lên phương án sẽ thực hiện sắp xếp lại đối với một số chi bộ trực thuộc Huyện ủy có số lượng đảng viên ít, hoạt động còn nhiều bất cập như: Chi bộ Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp, Chi bộ Trung tâm Thương mại dịch vụ; Chi bộ HTX cơ khí Lạng Giang… để tinh gọn đầu mối trực thuộc, đảm bảo hiệu quả.

– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, sinh hoạt chuyên đề đảm bảo sát thực, hiệu quả. Trong nhiệm kỳ tới, Thường trực, Thường vụ Cấp ủy sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát, làm việc đối với đảng ủy các xã, thị trấn để chấn chỉnh đối với những tập thể cấp ủy hoạt động không hiệu quả, thiếu sức chiến đấu, năng lực hạn chế, thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc sinh hoạt đảng không nghiêm túc; gắn trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên đối với đơn vị được phân công phụ trách. Tiếp tục duy trì thực hiện tốt chế độ cán bộ, chuyên viên các cơ quan khối Đảng, đoàn thể huyện về dự, theo dõi sinh hoạt với chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, thị trấn. Tăng cường kiểm tra đột xuất đối với các đơn vị; kịp thời chấn chỉnh đối với các đơn vị chấp hành không nghiêm túc.

 - Quan tâm công tác phát triển đảng viên đảm bảo số lượng, chất lượng; chú trọng kết nạp đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân và ở địa bàn thôn, khu phố; phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ trưởng thôn là đảng viên đạt 90% trở lên. Tiến hành rà soát toàn bộ các chi bộ; đối với các chi bộ nhiều năm liền không kết nạp được đảng viên mới, phải làm rõ nguyên nhân, để có có biện pháp tháo gỡ và cam kết trong nhiệm kỳ ít nhất phải phát triển được 01 đảng viên mới. Trong công tác này phải phát huy vai trò phối hợp của các đoàn thể: Thanh niên, phụ nữ, nông dân, công đoàn trong công tác tạo nguồn, giới thiệu quần chúng ưu tú cho Đảng.

– Song song với công tác phát triển đảng viên là tăng cường công tác quản lý, phân công nhiệm vụ, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Phát huy tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ được giao; trong gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tham gia các phong trào của địa phương nơi cư trú. Kiên quyết sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng; góp phần làm trong sạch Đảng; giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Đối với đảng viên đi làm xa, không có điều kiện sinh hoạt đảng ở địa phương, phải giới thiệu sinh hoạt tạm thời hoặc cho tạm miễn sinh hoạt theo quy định. Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý đảng viên đi công tác, học tập và du lịch ở nước ngoài.

– Chú trọng làm tốt công tác tổ chức cán bộ; thực hiện đầy đủ, chặt chẽ, nghiêm túc các khâu trong công tác cán bộ.

+ Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ; gắn đánh giá cán bộ với đánh giá mức độ hoàn thành chức trách nhiệm vụ, hiệu quả công việc của cá nhân với tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; coi trọng và đề cao trách nhiệm đánh giá của người đứng đầu trực tiếp đánh giá cấp phó của mình và người đứng đầu tổ chức cấp trên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc; kịp thời xem xét đưa ra khỏi quy hoạch, cho thôi giữ chức vụ, bố trí công tác khác phù hợp đối với những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp.

+ Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm đúng quy định, đúng phương châm “động” và “mở”. Đặc biệt quan tâm lựa chọn cán bộ quy hoạch trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ và đánh giá cán bộ, chú trọng về phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn.

+ Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đối với cán bộ cấp cơ sở; tiếp tục bồi dưỡng, tập huấn cán bộ cơ sở trực tiếp tại các phòng, ban, cơ quan của huyện theo hình thức cầm tay, chỉ việc. Xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo đúng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm; đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, trẻ trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị; nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở; kiên quyết cho thôi giữ chức vụ đối với cán bộ năng lực, trách nhiệm hạn chế, uy tín thấp; quan tâm luân chuyển cán bộ gắn với ổn định đội ngũ cán bộ. Tiếp tục đẩy mạnh luân chuyển cán bộ huyện về giữ các chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, nhất là đối với đơn vị trọng điểm, những đơn vị có khó khăn để đào tạo, rèn luyện cán bộ, cũng như tăng cường cán bộ cho cơ sở. Tính toán thực hiện công tác luân chuyển ngang cán bộ các xã, thị trấn.

+ Xem xét không bổ nhiệm lại, điều chuyển công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức 02 năm liên tục phân loại đánh giá ở mức hoàn thành nhiệm vụ; cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp.

+ Quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách cán bộ; thực hiện nghiêm công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo quy định.

* Công tác kiểm tra, giám sát: Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

– Quan tâm củng cố, kiện toàn UBKT các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra có trình độ chuyên môn, bản lĩnh, năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. 

– Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, nhất là cấp cơ sở. Nâng cao chất lượng xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm; thực hiện kiểm tra, giám sát theo đúng quy trình, nguyên tắc; kịp thời phát hiện bất cập trong thực hiện cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước để kiến nghị điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

– Tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm như: công tác quản lý đất đai, tài chính, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, công tác tổ chức cán bộ… Đẩy mạnh kiểm tra chuyên đề, đột xuất đối với các tổ chức đảng, đảng viên; chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

– Tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý kiên quyết, kịp thời các trường hợp vi phạm kỷ luật đảng.

– Đẩy mạnh phối hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra của Nhà nước, hoạt động của các cơ quan tư pháp và công tác giám sát của HĐND, MTTQ và các đoàn thể. Xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể đối với các trường hợp vi phạm, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức, cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý và người đứng đầu để cán bộ, đảng viên sai phạm; thực hiện nghiêm xử lý kỷ luật, buộc thôi việc, điều chuyển công tác khác,… đối với những cán bộ, công chức, viên chức có những hành vi tiêu cực, sách nhiễu, gây khó khăn phiền hà cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện công việc. Giải quyết kịp thời các đơn, thư khiếu nại, tố cáo theo quy định.

* Về công tác dân vận:

– Chỉ đạo triển khai thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; nhất là trong công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan đơn vị theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”; trong lắng nghe, đối thoại với nhân dân.

– Tiếp tục đẩy mạnh phối hợp thực hiện công tác dân vận với các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, gắn với tham gia nâng cao các tiêu chí nông thôn mới; thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

– Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng, nhân rộng mô hình, điển hình “Dân vận khéo”, mô hình đảng bộ xã, thị trấn “Dân vận khéo”, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

– Thường xuyên nắm tình hình Nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo, kịp thời tham mưu giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc trong Nhân dân. Thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của dân, chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với Nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. 

Bên cạnh đó, Huyện ủy xác định tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, thực chất Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quan tâm đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, sâu sát cơ sở; làm việc theo quy chế, chương trình, kế hoạch. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt.

3.3. Về xây dựng chính quyền

– Chỉ đạo thực hiện tốt công tác bầu cử đại biểu HĐND các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV nhiệm kỳ 2021- 2026.

– Tập trung xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện đề án tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức. Đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao thứ hạng chỉ số cải cách hành chính của huyện; xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, năng động, phục vụ Nhân dân.

3.4. Về hoạt động của MTTQ và các đoàn thể

– Đại hội xác định tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền đối với hoạt động của MTTQ và các đoàn thể. Để phát huy tốt vai trò của MTTQ và các đoàn thể thì cần phải có sự tập trung lãnh đạo của cấp ủy, nhất là về công tác tổ chức cán bộ, định hướng nhiệm vụ trọng tâm; cần  phải có sự quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền, nhất là quan tâm về kinh phí, tạo điều kiện về cơ chế hoạt động.

– MTTQ và các đoàn thể phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường các biện pháp nâng tỷ lệ tập hợp quần chúng tham gia sinh hoạt các đoàn thể; hướng mạnh các hoạt động về cơ sở. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giải quyết các vụ việc phức tạp phát sinh ngay từ cơ sở. Phát huy vai trò trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; giám sát, phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất các phong trào thi đua yêu nước, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chí Minh; chú trọng sơ kết, tổng kết các phong trào, cuộc vận động, các mô hình hiệu quả, nhân rộng điển hình tiên tiến; góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

– Từng đoàn thể theo chức năng, nhiệm vụ của mình phải chủ động rà soát, đăng ký đảm nhận một hoặc một vài nội dung công việc phù hợp để thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ huyện; đảm bảo rõ việc, rõ kết quả, mang màu sắc riêng.

– Tăng cường thanh tra công vụ, chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chính sách.

4. Về nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2020-2025

Đại hội đã xác định 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong nhiệm kỳ 2020-2025:

Một là, Tập trung rà soát, cập nhật, điều chỉnh các quy hoạch của huyện để phù hợp với quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông tạo tiền đề phát triển kinh tế- xã hội của huyện. Tăng cường kêu gọi đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp. Hoàn thiện hạ tầng cụm công nghiệp Hương Sơn và Tân Hưng để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch; phát triển các khu dân cư tập trung có tính chất đô thị ở nông thôn; xây dựng thị trấn Vôi đủ tiêu chí đô thị loại IV; thị trấn Kép tiệm cận tiêu chí đô thị loại IV; xã Tân Dĩnh đủ tiêu chí đô thị loại V; các xã Thái Đào, Nghĩa Hòa, Tiên Lục, Tân Hưng, Mỹ Thái, Xương Lâm tiệm cận tiêu chí đô thị loại V.

Hai là, Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch; thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới; xây dựng 50% số xã đạt xã nông thôn mới nâng cao, 10% số xã đạt xã nông thôn mới kiểu mẫu; 35% số thôn đạt thôn nông thôn mới kiểu mẫu.

Ba là, Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; xây dựng bộ máy hành chính trong huyện tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong huyện có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và uy tín để lãnh đạo, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương trong tình hình mới.

* Để sớm triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện, ngay sau đại hội Huyện ủy đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; trong đó đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm và ban hành các văn bản để triển khai thực hiện Nghị quyết; trong đó cấp ủy huyện xác định ban hành 06 văn bản: Lĩnh vực xây dựng Đảng 01 văn bản; đoàn thể 01 văn bản; kinh tế- xã hội 02 văn bản; xây dựng chính quyền 01 văn bản; quốc phòng- an ninh 01 văn bản. Giao UBND huyện ban hành 05 văn bản để triển khai thực hiện Nghị quyết trên các mặt công tác. Dự kiến đến hết tháng 12 năm 2020 sẽ ban hành các văn bản để triển khai thực hiện.

ĐỀ CƯƠNG

QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXII, NHIỆM KỲ 2020- 2025

CHUYÊN ĐỀ 2: KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRÊN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXI, NHIỆM KỲ 2015-2020 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, NHIỆM KỲ 2020-2025

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

– Vừa qua, các đồng chí nghe đồng chí Phó Bí Thường trực Huyện uỷ báo cáo, trao đổi Chuyên đề 1 về kết quả, thành tựu, hạn chế trong nhiệm kỳ 2015-2020 và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 202-2025 trên lĩnh vực xây dựng Đảng, đoàn thể.

– Được sự phân công của Thường trực Huyện uỷ, sau đây xin được báo cáo trao đổi nội dung Chuyên đề 2: “KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRÊN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXI, NHIỆM KỲ 2015-2020 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, NHIỆM KỲ 2020-2025”

Về kết cấu báo cáo gồm 03 phần chính

MỘT SỐ KẾT QUẢ CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI, NHIỆM KỲ 2015-2020

HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025

Phần II. NỘI DUNG:

KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRÊN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXI, NHIỆM KỲ 2015-2020 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, NHIỆM KỲ 2020-2025

I. NHỮNG KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXI, NHIỆM KỲ 2015-2020

05 năm qua, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, thách thức đan xen; kinh tế trong nước và của tỉnh có bước phát triển, nhưng còn nhiều khó khăn; dịch bệnh nảy sinh phức tạp, đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống Nhân dân.

Song, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc huyện Lạng Giang đã phát huy truyền thống quê hương anh hùng, nỗ lực khắc phục khó khăn, không ngừng đổi mới sáng tạo, chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết;

Xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, quyết liệt thực hiện các giải pháp đột phá, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đề ra. Trong 16 chỉ tiêu chủ yếu có 09 chỉ tiêu vượt, 07 chỉ tiêu đạt. Kết quả cụ thể như sau:

1. Lĩnh vực phát triển kinh tế

1.1.Thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng

– Tập trung cao chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường hoạt động quảng bá, xúc tiến, thu hút đầu tư.

– Thực hiện rà soát quỹ đất, đề xuất quy hoạch các khu, cụm công nghiệp (CCN); đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn.Thành lập mới được 02 CCN, toàn huyện có 07 CCN với diện tích 254,2 ha; có 05 CCN cơ bản được lấp đầy; 02 CCN đang đầu tư hạ tầng. Thu hút được 111 dự án đầu tư mới, với số vốn đăng ký 3.297 tỷ đồng, nâng tổng số dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp lên 195 dự án.

– Số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhanh, hoạt động có hiệu quả.Có 290 doanh nghiệp thành lập mới, toàn huyện có 585 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký 2.930 tỷ đồng; tạo việc làm cho trên 16.000 lao động với thu nhập bình quân 06 triệu đồng/người/tháng; đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước273,2 tỷ đồng, tăng 177,6% so với đầu nhiệmkỳ.

1.2. Phát triển sản xuất nông nghiệp

– Tập trung quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp, vùng trồng cây ăn quả có múi tập trung.

– Xây dựng, ban hành các cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.

– Hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với xây dựng chuỗi giá trị trong liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

– Thực hiện hoàn thành kế hoạch dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu.

Trong 5 năm đã dồn điền, đổi thửa được gần 1.000 ha đất nông nghiệp; xây dựng 18 cánh đồng mẫu sản xuất tập trung với diện tích gần 700 ha cho hiệu quả cao hơn so với sản xuất đại trà từ 15-20%.

– Đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch trong sản xuất nông nghiệp. Hàng năm, huyện có cơ chế hỗ trợ xây dựng, nhân rộng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Huyện đã hỗ trợ xây dựng 17 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với số tiền trên 05 tỷ đồng; phối hợp với Tỉnh hỗ trợ xây dựng 11 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với số tiền trên 3,4 tỷ đồng; xây dựng được 07 sản phẩm OCOP 03 sao, mang lại hiệu quả kinh tế cao như: Rau chế biến, nấm, đông trùng hạ thảo…

1.3. Về xây dựng nông thôn mới

– Các cấp ủy tập trung cao lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng nông thôn mới. Chủ động xây dựng kế hoạch, phương án, xác định lộ trình, ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Hỗ trợ kinh phí cho các xã xây dựng nông thôn mới từ 2,5 – 3 tỷ đồng/xã; giai đoạn 2017-2019 hỗ trợ thực hiện cứng hoá đường trục thôn, liên thôn100 triệu đồng/km cho đường có chiều rộng từ 3,5-4,5 m, 200 triệu đồng/km cho đường từ 4,5 m trở lên; hỗ trợ 100% xi măng làm đường ngõ, xóm; hỗ trợ xây dựng, cải tạo nhà văn hoá thôn (xây mới 150 triệu đồng/nhà, nâng cấp cải tạo 100 triệu đồng/nhà)…

–  Tập trung huy động và sử dụng các nguồn lực bảo đảm công khai, dân chủ và có hiệu quả; quan tâm đầu tư thực hiện các tiêu chí khó, đầu tư cho các địa phương khó khăn.

Tổng kinh phí đầu tư xây dựng NTM khoảng 1.900 tỷ đồng (trong đó vốn đóng góp của cộng đồng dân cư gần 600 tỷ đồng, 740.000 m2 đất, trên 84.000 ngày công; vốn doanh nghiệp và các vốn khác đạt gần 200 tỷ đồng).

– Đánh giá chuyển biến từ đầu nhiệm kỳ đến Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII.

Trong nhiệm kỳ, đã chỉ đạo xây dựng thêm 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn lên 21/21 xã, đạt 100% kế hoạch; thực hiện hoàn thành 9/9 tiêu chí huyện nông thôn mới, được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019 (về đích sớm hơn 01 năm so với MTĐH).

1.4. Phát triển dịch vụ

– Đẩy mạnh thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng dịch vụ theo hướng đồng bộ, hiện đại theo quy hoạch; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ.

– Hoạt động dịch vụ phát triển ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân.

Thu hút 03 trung tâm thương mại, 01 siêu thị; cải tạo, nâng cấp và xây mới 13 chợ với tổng kinh phí trên 75 tỷ đồng; toàn huyện có 63 cửa hàng tự chọn và trên 7.500 hộ kinh doanh dịch vụ- thương mại, tăng 19% so với đầu nhiệm kỳ; có trên 2.000 phương tiện dịch vụ vận tải, tăng 18% so với đầu nhiệm kỳ.

– Công tác xúc tiến thương mại được quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện. Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng được tăng cường.

Kiểm tra, phát hiện và xử lý 826 vụ vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách Nhà nước trên 7 tỷ đồng.

1.5. Thu ngân, chi ngân sách

– Tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách; quản lý, khai thác tốt các nguồn thu trên địa bàn; hằng năm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 05 năm đạt 2.568 tỷ đồng, cân đối được 47,4% tổng chi ngân sách địa phương; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn (không tính thu tiền sử dụng đất) đạt 1.146 tỷ đồng, tăng bình quân 16,3%/năm, vượt 1,3% MTĐH; thu tiền sử dụng đất bình quân đạt 284,4 tỷ đồng/năm, tăng 240 tỷ/năm so với MTĐH.

– Tổng chi ngân sách địa phương bảo đảm nghiêm túc theo quy định.

1.6. Đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và phát triển đô thị

– Tập trung triển khai các quy hoạch của huyện.

Quy hoạch vùng huyện, quy hoạch giao thông, vùng cây ăn quả; quy hoạch 21 khu đô thị, khu dân cư tập trung… với tổng kinh phí gần 24 tỷ đồng.

– Chủ động ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ, tranh thủ các nguồn vốn của cấp trên, huy động các nguồn lực để đầu tưxây dựng, nâng cấp, cải tạo hệ thống đường giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, hệ thống đường điện, kênh mương… đảm bảo tính đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển.

Thực hiện đầu tư 452 công trình với tổng kinh phí trên 1.300 tỷ đồng; thu hút 04 dự án đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách với tổng kinh phí đầu tư trên 1.400 tỷ đồng (Dự án khu đô thị phía Tây thị trấn Vôi; Dự án xây dựng đường trục thị trấn Vôi, Dự án xây dựng đường trục CCN Nghĩa Hòa – Trung tâm thị trấn Kép mở rộng; dự án cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 292,…).

– Công tác quản lý Nhà nước về đô thị được tăng cường. Quan tâm đầu tư chỉnh trang hệ thống vỉa hè, cây xanh, hệ thống cấp, thoát nước, xây dựng hệ thống đèn đường chiếu sáng đô thị với kinh phí trên 17 tỷ đồng; 91% đường phố chính khu vực nội thị và 84% đường ngõ được chiếu sáng.

1.7. Công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường

– Quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản được tăng cường. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 được lập, phê duyệt đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.

– Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện theo đúng quy định. Thực hiện rà soát, quy chủ quỹ đất công ích tại 100% các xã, thị trấn trên địa bàn.

– Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án, nhất là các dự án trọng điểm, các dự án đấu giá quyền sử dụng đất, không có trường hợp nào phải thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

Thực hiện thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư trên địa bàn với diện tích trên 480 ha của hơn 6.000 hộ gia đình, cá nhân với số tiền trên 1.100 tỷ đồng để thực hiện 171 công trình, dự án.

– Công tác quản lý nhà nước về môi trường được quan tâm chỉ đạo. Các hoạt động vệ sinh môi trường được duy trì khá nền nếp; 21/21 xã, thị trấn có khu xử lý rác thải tập trung; 12/21 xã, thị trấn có lò đốt rác.

2. Lĩnh vực văn hóa- xã hội

2.1. Phát triển giáo dục, đào tạo

– Ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường trọng điểm chất lượng cao.

Đã giải quyết cơ bản tình trạng thiếu lớp học, giáo viên mầm non; hiện nay, Lạng Giang là huyện duy nhất của tỉnh có 100% trường học đạt chuẩn quốc gia, vượt 6,8% MTĐH, trong đó chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt 14,7%.

– Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các ngành học, bậc học tiếp tục được củng cố đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đào tạo, đáp ứng tốt yêu cầu.

100% giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên, trong đó: Tỷ lệ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn bậc Mầm non đạt 90%, Tiểu học đạt 98,2%, THCS đạt 83,4%, THPT đạt 15,5%.

-Chất lượng giáo dục đại trà được nâng lênvà có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục mũi nhọn được quan tâm đầu tư.

– Công tác phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh được quan tâm. Các cơ sở đào tạo nghề mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầu thị trường lao động

Sau khi tốt nghiệp, có trên 90% số học sinh được tạo điều kiện giải quyết việc làm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện năm 2020 ước đạt 73%, vượt 1,5% MTĐH.

2.2. Phát triển khoa học, công nghệ

– Nhiều tiến bộ khoa học, kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tạo ra hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao, đem lại hiệu quả về kinh tế và xã hội.

– Công tác quản lý nhà nước về khoa học- công nghệ được tăng cường; công tác chống hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng, xác lập, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp được quan tâm.

– Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan, đơn vị được coi trọng.

Đến nay, toàn huyện cấp được 114 chứng thư số tập thể và 273 chữ ký số cá nhân. 100% các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản, hệ thống thư điện tử công vụ đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu công việc.

2.3. Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân

– Mạng lưới khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân ngày càng phát triển đa dạng.

Toàn huyện có 58 cơ sở khám bệnh, trong đó có 27 cơ sở Nhà nước và 31 cơ sở tư nhân; 133 cơ sở bán thuốc, trung bình có 6,65 điểm bán thuốc/vạn dân.

– Công tác xã hội hóa các dịch vụ y tế được triển khai mạnh mẽ.

Bệnh viện đa khoa huyện được UBND tỉnh cho phép thực thiện 26 loại dịch vụ theo hình thức xã hội hóa; tổng kinh phí xã hội hóa thực hiện đạt gần 10 tỷ đồng.

– Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đạt bình quân 5,8 bác sỹ/vạn dân, tăng 0,5 bác sỹ/vạn dân so với đầu nhiệm kỳ.

– Công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia bảo hiểm y tế được tập trung đẩy mạnh.

Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế của huyện năm 2020 ước đạt 100%, vượt 15% MTĐH.

Quản lý hành nghề y, dược tư nhân và vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Công tác phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh được chú trọng thực hiện hiệu quả, nhất là dịch bệnh Covid-19.

– Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên được duy trì ổn định ở mức bình quân 01%/năm, đạt MTĐH.

2.4. Phát triển văn hoá, thông tin, thể thao và công tác gia đình

– Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được đẩy mạnh; đời sống văn hóa của Nhân dân được nâng lên; nhiều giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, phát huy.

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị dành cho các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân.

Xây mới 54 nhà và sửa chữa 73 nhà văn hóa thôn; sửa chữa và làm mới 28 sân thể thao thôn trị giá gần 83 tỷ đồng; xây mới 06, sửa chữa 15 sân thể thao và 10 nhà văn hóa xã với tổng kính phí trên 29 tỷ đồng.

– Hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của huyện từng bước được hoàn thiện.

Đã có 12 xã, thị trấn xây dựng mới đài truyền thanh; tỷ lệ người dân nghe được đài truyền thanh đạt trên 90%.

2.5. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân

– Phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn được tập trung triển khai thực hiện tốt.

– Công tác giải quyết việc làm cho người dân được quan tâm đẩy mạnh, đạt kết quả tích cực.

Góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập cho người dân và giảm nghèo bền vững. Trong 5 năm, toàn huyện đã tạo việc làm mới cho trên 23.000 lao động, vượt 15% MTĐH, trong đó có 4.480 lao động xuất khẩu có thời hạn ở nước ngoài, vượt 28% MTĐH; tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2019 giảm còn 3,12%, bình quân giảm 1,47%/năm, đạt MTĐH.

3. Công tác nội chính

3.1. Công tác quốc phòng- an ninh

– Các cấp ủy đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng- quân sự địa phương; tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân ngày càng vững chắc; kết hợp chặt chẽ củng cố quốc phòng- an ninh với phát triển kinh tế- xã hội.

– Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có đủ số lượng, đảm bảo chất lượng; thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

– Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ huyện theo chỉ đạo của Quân khu và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh.

– Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc.

– Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tấn công trấn áp tội phạm, đảm bảo an toàn giao thông, kiềm chế tai nạn giao thông;

– Thường xuyên nắm tình hình, quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập cảnh, các đối tượng bất mãn, chống đối chính trị, khiếu kiện; kịp thời ngăn chặn, giải quyết tốt những vấn đề nổi lên không để phức tạp.

3.2. Công tác tư pháp

– Bộ máy các cơ quan tư pháp được củng cố, kiện toàn, chất lượng hoạt động có chuyển biến tiến bộ, phương pháp làm việc được đổi mới.

– Công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách tư pháp, chất lượng hoạt động tư pháp được nâng lên; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng hiệu quả.

– Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan tư  pháp được tăng cường; các hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra đảm bảo tuân thủđúng các quy định của pháp luật, không để xảy ra các trường hợp khởi tố, điều tra, truy tố oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

3.3. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

– Duy trì thực hiện nền nếp hoạt động tiếp công dân theo quy định.

– Chất lượng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được nâng lên; kết quả giải quyết đảm bảo tính khách quan, chính xác.

Tỷ lệ giải quyết đơn hàng năm đạt trên 90%; trên địa bàn không phát sinh điểm nóng về đơn thư.

3.4. Công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

– Tăng cường chỉ đạo thực hiện các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, nhất là công tác quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sử dụng tài sản công, chi tiêu ngân sách, công tác cán bộ…

– Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập đối với cán bộ, công chức theo quy định; tăng cường công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan, đơn vị, gắn với cải cách thủ tục hành chính để ngăn ngừa tiêu cực.

-Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý tài sản công.

Các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước đã thực hiện nghiêm việc tiết kiệm chi thường xuyên, nhất là trong việc tổ chức các hội nghị, tiếp khách, tổ chức kỷ niệm các ngày lễ…

II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, khuyết điểm

1.1. Trên lĩnh vực kinh tế

Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện. Chưa thu hút được nhiều dự án có quy mô lớn đầu tư vào địa bàn. Tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm. Phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa; sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá chưa cao.

Hoạt động của hợp tác xã hiệu quả còn thấp, chưa phát huy được vai trò của kinh tế tập thể trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

Sản phẩm nông nghiệp chưa đa dạng; sản phẩm chủ lực, mang tính thương hiệu ít; sự liên kết giữa các khâu chưa chặt chẽ.

Một số tiêu chí nông thôn mới của xã hoàn thành ở mức trung bình, thiếu tính bền vững.

Thương mại, dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; chưa khai thác được lợi thế các tuyến giao thông huyết mạch của quốc gia, Tỉnh để hình thành các cơ sở dịch vụ có chất lượng cao.

Công tác quản lý các trung tâm thương mại và các chợ nông thôn chưa được quan tâm đúng mức. Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch còn hạn chế, chưa thu hút được nhiều du khách đến địa bàn.

Một số sắc thuế chưa được khai thác triệt để. Tình trạng nợ đọng thuế còn xảy ra.

Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản còn nhiều bất cập; hoạt động khai thác đất, san gạt mặt bằng, hạ cốt nền trái phép còn xảy ra trên địa bàn. Tình trạng vi phạm pháp luật về lĩnh vực đất đai, đê điều chưa được xử lý và khắc phục triệt để. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền, đổi thửa còn chậm.

Công tác quản lý Nhà nước về môi trường còn hạn chế; công nghệ xử lý rác chưa đáp ứng được yêu cầu; tình trạng tồn đọng rác thải chưa qua xử lý còn xảy ra ở nhiều nơi; kết quả thu phí dịch vụ vệ sinh môi trường chưa cao.

Công tác quản lý và giải tỏa hành lang an toàn giao thông, đê điều hiệu quả còn thấp.

1.2. Trên lĩnh vực văn hoá- xã hội

Tình trạng quá tải trường, lớp học còn xảy ra, nhất là ở bậc học tiểu học; kết quả, chất lượng thi học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh của huyện thứ hạng giảm so với nhiệm kỳ trước.

Trang thiết bị văn hóa, thể thao chưa đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, thụ hưởng văn hóa của người dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, chất lượng làng văn hoá thiếu tính ổn định. Việc tu bổ, tôn tạo di tích văn hóa có nơi còn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế còn thiếu và chưa đồng bộ. Chất lượng khám, chữa bệnh chuyển biến chậm, tỷ lệ bệnh nhân chuyển viện lên tuyến trên cao. Công tác quản lý nhà nước về hành nghề y, dược tư nhân và vệ sinh an toàn thực phẩm có mặt chưa chặt chẽ. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên và mất cân bằng giới tính khi sinh còn ở mức cao.

Tình trạng nợ bảo hiểm xã hội còn diễn ra ở một số doanh nghiệp. Công tác đào tạo nghề chưa đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường lao động.

1.3. Trên lĩnh vực nội chính

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm có mặt hiệu quả chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân chưa tốt.

Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm trộm cắp tài sản, hoạt động cầm cố tài sản, cho vay, đòi nợ thuê còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây phức tạp về an ninh trật tự.

Tình trạng đốt pháo trái phép còn xảy ra ở nhiều nơi; tai nạn giao thông còn diễn biến phức tạp.

Việc chấp hành Luật Nghĩa vụ quân sự ở một số địa phương chưa tốt, còn xảy ra tình trạng chống, trốn nghĩa vụ quân sự.

2. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm nêu trên, nhất là thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị

2.1. Nguyên nhân khách quan

Kinh tế trong nước, trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh gia tăng ảnh hưởng lớn đến sản xuất.

Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước ban hành chưa kịp thời, còn chồng chéo, thiếu tính ổn định.

Nguồn lực đầu tư cho phát triển của huyện còn hạn chế; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội chưa đồng bộ.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Công tác đánh giá, dự báo tình hình còn chưa sát; tư duy, tầm nhìn, năng lực lãnh đạo còn hạn chế, bất cập; trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có việc chưa thật sự quyết liệt; chưa đề ra được nhiều chủ trương, nghị quyết có tính đột phá để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương.

Việc cụ thể hóa triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị và cơ chế, chính sách của cấp trên vào thực tế còn thiếu tính toàn diện.

Công tác chỉ đạo có lúc, có việc còn chồng chéo, không cụ thể; tổ chức thực hiện thiếu năng động, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Môi trường đầu tư kinh doanh chậm được cải thiện, nhất là cải cách thủ tục hành chính.

Vai trò trách nhiệm người đứng đầu của một số cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành còn thiếu quyết liệt, chưa chủ động; năng lực tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan cấp huyện với các xã, thị trấn có lúc, có việc chưa tốt.

III. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI NHIỆM KỲ 2020- 2025

Các mục tiêu chủ yếu

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 xác định 12 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó, có 11 chỉ tiêu trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, cụ thể như sau:

(1) Giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu tăng bình quân hằng năm đạt 18,6%. Cơ cấu giá trị sản xuất:Công nghiệp- xây dựng: 59,8%; dịch vụ: 30,3%; nông, lâm nghiệp, thủy sản: 9,9%.

(2) Giá trị sản xuất trên 01ha đất canh tác sản xuất nông nghiệp đạt 150 triệu đồng/năm.

(3) Có trên 50% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao; 10% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới kiểu mẫu; 35% số thôn đạt thôn nông thôn mới kiểu mẫu.

(4) Tổng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn đạt 60.000 tỷ đồng.

(5) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 800 tỷ đồng.

(6) Tỷ lệ dân số đô thị đạt 18%. Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch đạt 95%. Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt 90%.

(7) Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 81%; trong đó, tỷ lệ chất thải rắn thu gom được xử lý hợp vệ sinh đạt 98%.

(8) Duy trì và giữ vững 100% trường học đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt 35%.

(9) Hằng năm, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt 90%; tỷ lệ thôn, khu phố đạt danh hiệu văn hóa đạt 77%; tỷ lệ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt danh hiệu văn hóa đạt 80%.

(10) Giữ vững 100% xã, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 99,5%.

(11) Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn dưới 01% theo chuẩn nghèo tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo đạt 32%.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh trong nhiệm kỳ 2020-2025

Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn, huy động tiềm năng, lợi thế của huyện nhà, thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 22 đề ra, với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội; quốc phòng, an ninh trong nhiệm kỳ 2020- 2025 như sau:

2.1. Trên lĩnh vực kinh tế

Trước hết, khẩn trương hoàn thiện phương án phát triển của huyện để tích hợp vào Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với tầm nhìn chiến lược, đồng bộ gắn với lộ trình thực hiện phù hợp, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các quy hoạch, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh nhưng phải bền vững.

Xác định rõ các nội dung, nhiệm vụ cần triển khai ngay sau khi Quy hoạch tỉnh được phê duyệt, cập nhật, điều chỉnh quy hoạch xây dụng nông thôn mới, quy hoạch chung xây dựng thị trấn Vôi, thị trấn Kép đảm bảo phù hợp với Quy hoạch, quy hoạch phân vùng thoát nước trên toàn huyện.

Đồng thời, chú trọng nâng cao chất lượng các đồ án quy hoạch chi tiết gắn với công khai và quản lý chặt chẽ theo quy hoạch để biến “nút thắt” thành “động lực” định hướng cho phát triển của huyện trong trước mắt cũng như lâu dài.

Tiếp tục tập trung nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, công nghiệp, đô thị – coi đây là một trong những khâu đột phá quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội huyện nhà. Trong đó chú trọng đầu tư mới các tuyến đường kết nối đối ngoại với các tuyến cao tốc, quốc lộ huyết mạch.

Và các vùng trọng điểm kinh tế như: Đường nối Đường tỉnh 292 đi Đường Vành đai 4 (Vùng thủ đô Hà Nội), đường nối KCN An Hà với đường Vành đai Đông Bắc thành phố Bắc Giang, Nâng cấp Đường tỉnh 292, Đường tỉnh 295B và các tuyến kết nối ngang giữa cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn với Quốc lộ 1 và Đường tỉnh 292, Đường tỉnh 295,…

Quy hoạch quỹ đất khoảng 1.600 ha cho nhiệm vụ phát triển công nghiệp với 06 khu công nghiệp và 05 cụm công nghiệp mới hoặc mở rộng. Mở rộng CCN Tân Hưng thành KCN; thu hút các nhà đầu tư có đủ năng lực, kinh nghiệm đầu tư vào các KCN, CCN khác trên địa bàn huyện như: Các KCN Thái Đào, Mỹ Thái; Mỹ Thái – Xuân Hương, Nghĩa Hưng, An Hà; các CCN Đào Mỹ – Tiên Lục, Xương Lâm… Phấn đấu đến năm 2025, tỷ trọng công nghiệp- xây dựng chiếm 60% tổng cơ cấu kinh tế.

Xác định phát triển đô thị có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội, vừa xây dựng diện mạo mới khang trang, hiện đại với tỷ lệ dân số đô thị năm 2025 đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu này, UBND huyện đã chỉ đạo triển khai lập quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/500) và từng bước đầu tư xây dựng 31 khu đô thị, khu dân cư mới gắn với di chuyển trung tâm hành chính tại 11 xã, thị trấn; đầu tư chỉnh trang hệ thống vỉa hè, hành lang giao thông đô thị; bổ sung hệ thống đèn đường chiếu sáng đô thị đảm bảo 100% đường phố chính khu vực nội thị, 80% đường ngõ được chiếu sáng.

Xây dựng thị trấn Vôi đạt tiêu chí đô thị loại 4; thị trấn Kép cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại 4; xã Tân Dĩnh đạt tiêu chí đô thị loại 5; các xã: Mỹ Thái, Thái Đào, Tiên Lục, Nghĩa Hòa, Xương Lâm, Tân Hưng cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại 5.

Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đảm bảo trật tự đô thị: Yêu cầu các tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm các quy định về cấp phép xây dựng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về hành lang an toàn giao thông; lấn chiếm vỉa hè, lòng đường; các trường hợp dừng, đỗ xe không đúng nơi quy định, nhằm đảm bảo văn minh đô thị.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp: Nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp; thực hiện cải cách hành chính.

Tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhất là khâu tiếp cận mặt bằng cho các nhà đầu tư đã và đang đầu tư trên địa bàn. Thu hút nhà đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường, sử dụng đất đai tiết kiệm, đóng góp ngân sách lớn cho huyện.

Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sạch và sản xuất hàng hóa tập trung: Lạng Giang là huyện nông nghiệp, với gần 90% dân số sống ở khu vực nông thôn. Vì vậy, phát triển nông nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp ổn định xã hội và là tiền đề phát triển các ngành kinh tế khác.

Nhiệm kỳ tới, huyện vẫn xác định nông nghiệp là rất quan trọng và sẽ quan tâm đầu tư hạ tầng (cứng hoá giao thông, kênh mương nội đồng); quan tâm chỉ đạo tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành các vùng sản xuất lớn; đẩy mạnh mối liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân).

Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào 05 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gắn với liên kết, bao tiêu sản phẩm, với diện tích từ 100-150 ha ở các xã:Mỹ Thái, Hương Sơn, Quang Thịnh, Hương Lạc và thị trấn Vôi, thị trấn Kép.

Triển khai quy hoạch và xây dựng các vùng cây ăn quả, hoa và rau sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap với quy mô 800 ha. Xây dựng 5 nhãn hiệu sản phẩm nông nghiệp tập trung, 20-30 sản phẩm ô cốp, trong đó có 10 sản phẩm ô cốp đạt 3 sao trở lên.

Nâng cao các tiêu chí huyện nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa, xây dựng15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (xã Tiên Lục, Tân Hưng); 95 thôn đạt chuẩn thôn nông thôn mới kiểu mẫu.

Tập trung chỉ đạo rà soát, đánh giá chính xác số tiêu chí đã hoàn thành, mức độ hoàn thành để làm căn cứ xây dựng kế hoạch thực hiện cho phù hợp, tạo điểm nhấn giữa xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao hoặc kiểu mẫu với các xã, thôn khác.

Trong quá trình thực hiện, các xã cần tích cực tuyên truyền, làm thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề xây dựng nông thôn mới, để người dân xác định được họ là chủ thể, có vai trò quyết định thực hiện thắng lợi việc xây dựng nông thôn mới; cần tập trung khai thác, huy động tối đa, tổng hợp các nguồn lực để đầu tư xây dựng nông thôn mới.

Tăng cường công tác quản lý tài nguyên và môi trường:

Tập trung cao triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường kiểm tra, thanh tra để xử lý các vi phạm trong quản lý đất đai; hoàn thiện Hồ sơ quản lý đất công ích; tăng cườngquản lýđất đai tại các xã, thị trấn; kịp thời ngăn chặn việc lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích.

Chỉ đạo các xã, thị trấn tập trung khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý đất đai. Rà soát lại hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính để chỉnh lý hoặc đo đạc lại đảm bảo tính chính xác và phù hợp với thực tế sử dụng đất trên địa bàn từng xã để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu đất đai theo dự án của Sở Tài nguyên và Môi trường đang triển khai, nhằm tạo cơ sở dữ liệu đồng bộ được số hóa phục vụ công tác quản lý đất đai cũng như cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân.

Chấn chỉnh công tác quản lý tài nguyên khoáng sản theo tinh thần Chỉ thị số 09 của Chủ tịch UBND tỉnh; rà soát quy hoạch các mỏ đất, đáp ứng nhu cầu các dự án khu, cụm công nghiệp, giao thông, đô thị… trên địa bàn huyện và các địa bàn khác trong tỉnh để đưa vào quản lý, đấu giá theo quy định.

Về bảo vệ môi trường: Đây là vấn đề đang ngày càng nổi lên, trở thành bức xúc ở nhiều nơi, vấn đề rác thải đổ ra đường giao thông, kênh mương chưa được giải quyết triệt để; thời gian tới phải có giải pháp thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 17-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về huy động toàn dân tập trung thu gom, xử lý triệt để rác thải ra môi trường và tăng cường đầu tư hơn nữa các nguồn lực cho nhiệm vụ này. Trước hết, cần duy trì hoạt động của hợp tác xã, tổ vệ sinh môi trường; từng bước bố trí lò đốt rác tại khu xử lý rác thải tập trung của các xã, thị trấn;

phấn đấu 100% rác thải sinh hoạt được xử lý bằng phương pháp đốt; tỷ lệ thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển xử lý rác thải đạt 100%; tích cực tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động nguồn lực, thu ngân sách: Trong nhiệm kỳ tới, dự báo thu ngân sách sẽ gặp nhiều khó khăn, trong khi đó nhu cầu chi cho đầu tư, đặc biệt là chi cho xây dựng nông thôn mới, làm đường giao thông,… là rất lớn. Để thu ngân sách đạt kết quả cao, phải tiếp tục chỉ đạo nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu, nợ đọng thuế; thu hút đầu tư và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng khu đô thị, khu dân cư; chỉ đạo quyết liệt thu ngoài quốc doanh, phí, lệ phí. Phấn đấu đến năm 2025, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 800 tỷ đồng. Thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo đảm thu, chi đúng Luật Ngân sách.

2.2. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa – xã hội

Duy trì và nâng cao chất lượng của 100% trường học đạt chuẩn quốc gia. Quan tâm chỉ đạo và có cơ chế hỗ trợ xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, trường trọng điểm chất lượng cao, phấn đấu đến năm 2025 có thêm 16 trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2.

Khuyến khích, tạo điều kiện cho tư nhân mở các trường tư thục, nhất là ở các đô thị, địa bàn có khu, cụm công nghiệp. Quan tâm bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục “mũi nhọn”.

Tập trung huy động các nguồn lực để xây dựng các thiết chế văn hoá. Phấn đấu đến năm 2025: Quy hoạch, xây dựng11 nhà văn hóa xã, 08 sân thể thao xã, thị trấn; 61 nhà văn hóa, 52 sân thể thao của thôn, tổ dân phố.

Hoàn thiện các hạng mục của Đề án phát triển du lịch cây Dã Hương nghìn năm tuổi gắn với cụm di tích đình, chùa xã Tiên Lục; xây dựng kế hoạch, lộ trình để nâng cấp cụm di tích và cây Dã Hương, xã Tiên Lục lên di tích cấp quốc gia đặc biệt.

Triển khai lập Quy hoạch tổng thể khu vực đền chí Mìu, đền bà Chúa Then, xã Hương Sơn, với quy mô khoảng 15 ha để phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn.

Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân; quản lý tốt hoạt động và phát huy vai trò của các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân. Phấn đấu đến năm 2025 có trên 99% dân số trên địa bàn huyện tham gia bảo hiểm y tế.

2.3. Trên lĩnh vực nội chính

Cần đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện nghiêm kỷ cương trong thực thi công vụ.Chỉ đạo chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Thường xuyên kiểm tra đột xuất việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đồng thời xử lý nghiêm các hành vi kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, tiêu cực, nhũng nhiễu, có thái độ cửa quyền đối với người dân và doanh nghiệp.

Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo, trong đó đặc biệt chú trọng đối thoại trực tiếp với công dân và làm tốt công tác hoà giải ở cơ sở trong quá trình giải quyết đơn thư.

Kịp thời nắm bắt tình hình, có biện pháp giải quyết ngay khi vụ việc mới phát sinh ở cơ sở, không để xảy ra “điểm nóng”. Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

BBT

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Bình Chánh Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023

QUYẾT NGHỊ

I. Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X nhiệm kỳ 2010 – 2015 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 05 năm 2015 – 2020 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội

Năm năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Bình Chánh tập trung, nỗ lực vượt khó khăn, phát huy nguồn lực, khai thác tiềm năng đất đai, vị trí cửa ngõ phía Tây thành phố; kinh tế tiếp tục phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng; đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung mạnh mẽ; công tác quy hoạch có nhiều tiến bộ; hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới. Đời sống vật chất, tinh thần cho người dân được nâng lên, chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế có bước phát triển tích cực. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tiếp tục giữ vững; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo chặt chẽ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có nhiều kết quả tốt; phát huy vai trò của mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ huyện đề ra.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X vẫn còn một số nội dung chưa đạt, tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại. Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, đất đai, xây dựng, môi trường, trật tự an toàn xã hội có tập trung nhưng vẫn còn nhiều hạn chế; việc triển khai, thực hiện một số chương trình, công trình trọng điểm còn chậm. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa thực hiện tốt. Hoạt động các loại hình ở lĩnh vực văn hóa và dịch vụ văn hóa còn diễn biến phức tạp. Tai nạn giao thông, nguy cơ cháy nổ có chiều hướng gia tăng. Tình trạng mua bán lấn chiếm lòng lề đường, chợ tự phát còn tồn tại. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhiều mặt còn hạn chế. Công tác vận động nhân dân có đổi mới nhưng chưa theo kịp yêu cầu, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận và đoàn thể có nơi chưa phù hợp, chưa phát huy hết sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém trên là do một số nguyên nhân

Nguyên nhân hạn chế: (1) Nguyên nhân chính của những yếu kém là do sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Thường vụ Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện có lúc, có nơi chưa theo kịp thực tiễn. Năng lực lãnh đạo, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thiếu kiên quyết, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tình hình quản lý đất đai, xây dựng, đặc biệt ở một số xã chăn nuôi heo tự phát gây ô nhiễm môi trường, giải tỏa mua bán lấn chiếm lề đường…, các cơ quan chuyên môn chưa kiên trì phối hợp và hỗ trợ của các sở, ngành thành phố để giải quyết những khó khăn của huyện. (2) Kỷ luật hành chính trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế. Mối quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa thực sự gắn bó chặt chẽ, thiếu sự thống nhất cao, lúng túng trong xử lý, đặc biệt là đối với những vấn đề có tính chất phức tạp còn bị động. Sự phối hợp giữa một số cơ quan chức năng trong tham mưu, đề xuất, đeo bám xử lý công việc chưa hiệu quả, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. (3) Trong chỉ đạo hoạt động của một số cơ quan, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện còn thiếu sự đầu tư, hỗ trợ cho cơ sở; nội dung thiếu tính sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tình hình và nhu cầu của từng đoàn viên, hội viên. Chưa có nhiều giải pháp và mô hình mới trong bồi dưỡng, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt phong trào ở cơ sở còn hạn chế về kỹ năng tập hợp lực lượng và thiếu về số lượng nên công tác phát triển đảng viên ở địa bàn dân cư còn gặp nhiều khó khăn. (4) Ban Thường vụ Huyện ủy chưa kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, quản lý đất đai, xây dựng, còn để xảy ra bùng phát xây dựng không phép, sai phép; chưa quyết liệt trong điều hành triển khai các dự án trọng điểm. (5) Công tác tuyên truyền, vận động chưa thực sự sâu rộng, nội dung và hình thức tuyên tuyền chưa phong phú, đa dạng; việc nhân rộng điển hình tiên tiến trong các phong trào ở cộng đồng dân cư chưa thường xuyên, chưa kịp thời.

Thứ nhất, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, truyền thống cách mạng kiên cường, năng động sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, đoàn kết, thống nhất tạo được sự tin tưởng và đồng thuận trong Nhân dân. Tăng cường công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh, triển khai thực hiện tốt các giải pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4; tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết, tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động; thường xuyên chăm lo công tác cán bộ.

Thứ hai, cán bộ lãnh đạo quản lý, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, có uy tín trong vận động quần chúng, thường xuyên lắng nghe ý kiến của Nhân dân, vận động Nhân dân đồng thuận, tích cực tham gia các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đồng thời, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng bộ về chủ trương, giải pháp để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị.

Thứ ba, kinh nghiệm thực tiễn trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành phải nhạy bén, nắm bắt thực tiễn từ cơ sở và mạnh dạn, kiên trì đề xuất những giải pháp đột phá tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh.

Thứ tư, huy động mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới, chăm lo tốt cho an sinh xã hội, chăm lo cho cơ sở; từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân.

Thứ năm, tổ chức sơ, tổng kết thực tiễn, nhân rộng điển hình, mô hình, kinh nghiệm. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời điều chỉnh, khắc phục những mặt còn hạn chế, thiếu sót, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

(1) Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành kinh tế bình quân giai đoạn 2015 – 2020 đạt 20%/năm (theo giá so sánh năm 2010), trong đó ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 21%/năm; ngành dịch vụ, thương mại tăng 20%/năm, ngành nông nghiệp tăng 5%/năm. Đến năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ 80%, dịch vụ, thương mại 17,5% và nông nghiệp 2,5%.

(2) Phấn đấu giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên 5.000 tỷ đồng.

(3) Tốc độ tăng thu ngân sách Nhà nước bình quân đạt 7%/năm, trong đó tốc độ tăng thu thuế công thương nghiệp đạt 12%/năm.

(4) Đến năm 2020, tổng diện tích nhà ở xây dựng mới đạt 2,568 triệu m2, diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 19,8m2/người.

(5) Phấn đấu giải quyết việc làm tại chỗ ít nhất 30.000 lao động; đến cuối năm 2020 kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp dưới 4%. Tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo nghề đạt 85%.

(6) Đến năm 2020, phấn đấu ít nhất 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế và 90% người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; 100% trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia. Tốc độ tăng dân số tự nhiên hàng năm giai đoạn 2016 – 2020 tiếp tục duy trì dưới 1,17%.

(7) Đến năm 2020, nâng thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng 3,5 lần so năm 2011; giảm tỷ lệ hộ nghèo ít nhất từ 3 – 4%/năm.

(8) Trong nhiệm kỳ phấn đấu cung cấp nước sạch cho các hộ dân đạt 100%. Xử lý dứt điểm các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường; di dời các cơ sở sản xuất, các điểm chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường xen cài trong khu dân cư. Nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư hiện hữu có hệ thống thoát nước đạt 55%, khu dân cư đầu tư mới đạt 100%; các khu, cụm công nghiệp đạt 100%.

(9) Hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân và các tiêu chuẩn giáo dục quốc phòng, an ninh cho đảng viên, hệ thống chính trị, doanh nghiệp, cán bộ và các thành viên ở ấp – khu phố, tổ dân phố, tổ nhân dân; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 0,9% so với tổng dân số; tổ chức diễn tập trị an hàng năm cấp xã – thị trấn đạt chỉ tiêu theo quy định.

(10) Phấn đấu kiềm chế sự gia tăng phạm pháp hình sự và kéo giảm tội phạm hình sự trên số dân. Phấn đấu điều tra khám phá án hình sự đạt 75% trở lên, khám phá án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90%; kéo giảm tai nạn giao thông 5%/năm trên cả 3 mặt; giải quyết dứt điểm và không để phát sinh các tụ điểm phức tạp về ma túy và tệ nạn xã hội; tất cả người nghiện đều được lập hồ sơ quản lý theo quy định. Phấn đấu xây dựng 100 % xã – thị trấn đạt loại khá về phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; có trên 80% khu dân cư, xã – thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn “an toàn về an ninh trật tự”. Kiềm chế kéo giảm số vụ cháy xảy ra hàng năm, không để xảy ra cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.

(11) Trong nhiệm kỳ, phấn đấu xây dựng tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém 2 năm liên tục. Kết nạp ít nhất 1.500 đảng viên, trong đó có 20% đảng viên khu vực doanh nghiệp và địa bàn dân cư. Có từ 98% đảng viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Thành lập tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có 500 lao động trở lên sản xuất kinh doanh ổn định; thành lập ít nhất 12 chi bộ trong các doanh nghiệp có trên 100 lao động; 16 chi bộ trong các doanh nghiệp dưới 100 lao động. Hàng năm các tổ chức Mặt trận, đoàn thể, Hội quần chúng cấp huyện phải có sáng kiến về đổi mới phương thức hoạt động được Hội đồng thi đua huyện công nhận kết quả thi đua hàng năm đều đạt từ xuất sắc trở lên.

(1) Hoàn thiện đề án: Nâng cấp huyện Bình Chánh thành quận hoặc thị xã (Theo kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố tại Thông báo số 417/TB-VP ngày 06 tháng 6 năm 2015) trình cơ quan chức năng phê duyệt và triển khai thực hiện.

(2) Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2015 – 2020.

(3) Chương trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2015 – 2020.

(4) Chương trình nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng huyện nông thôn mới, trong đó tập trung xây dựng xã Bình Hưng, thị trấn Tân Túc phù hợp với các tiêu chí nông thôn mới.

(5) Chương trình cung cấp nước sạch cho nhân dân.

(1) Xây dựng Khu di tích Vườn Thơm, xây dựng mới nhà bia tưởng niệm Tiểu đoàn 6 Bình Tân, xã Bình Lợi, nhà bia Bộ đội An Điền, xã Vĩnh Lộc A.

(2) Hoàn thành các công trình giao thông: Đường Vĩnh Lộc, đường Trần Đại Nghĩa (giai đoạn 2), đường nối Võ Văn Kiệt, thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, cầu Tân Bửu, cầu Rạch Rô (xã Đa Phước).

Tập trung việc thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp; chú trọng việc kêu gọi đầu tư, tạo điều kiện phát triển những ngành công nghiệp trọng yếu có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị cao. Đẩy mạnh việc rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phát triển nhóm ngành dịch vụ chủ yếu có tiềm năng và là thế mạnh theo chủ trương của thành phố. Phát huy hiệu quả chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững. Nâng chất kết quả đạt được của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Đảm bảo cân đối các khoản thu, chi ngân sách, thực hiện tốt công tác bồi dưỡng nguồn thu, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu quả đầu tư công; công khai minh bạch thu, chi ngân sách Nhà nước, đầu tư công. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; rà soát, sắp xếp bố trí vốn đảm bảo đúng mục tiêu, thời gian hoàn thành dự án theo quy định.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đô thị và qui hoạch. Tiếp tục kiến nghị hủy bỏ các quyết định, các dự án chậm triển khai, thu hồi các diện tích mặt đất, mặt nước đã giao cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả để tạo nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng khai thác, sử dụng có hiệu quả. Thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng, thu hồi đất theo quy định.

Rà soát, điều chỉnh lại các quy hoạch đã được phê duyệt, đảm bảo quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng phải đồng bộ với các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2025. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo đúng tiến độ. Triển khai thực hiện các đồ án quy hoạch về phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, có hiệu quả.

Thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức, trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp; tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học; tiếp tục triển khai chương trình xã hội hóa giáo dục. Đa dạng hóa các hình thức học tập, tạo điều kiện cho mọi người tiếp cận giáo dục. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, tăng số lượng tuyển sinh đào tạo. Nâng hiệu quả đào tạo, tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, gắn đào tạo với giải quyết việc làm.

Tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” kết hợp với tổ chức thực hiện “Nếp sống văn minh, mỹ quan đô thị”. Tuyên tuyền tạo bước chuyển căn bản trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng ý thức giữ gìn môi trường và văn minh nơi công cộng. Huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa và các công trình di tích lịch sử, nhằm phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, giáo dục truyền thống cho Nhân dân.

Tuyên truyền, vận động và giáo dục về dân số, kế hoạch hóa gia đình. Phát triển mô hình khoa vệ tinh, phòng khám vệ tinh; triển khai mô hình bác sĩ gia đình; thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế. Triển khai đề án Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành y tế thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020; đẩy nhanh tiến độ xây dựng mới bệnh viện Bình Chánh; đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế. Tiếp tục thực hiện các mục tiêu an toàn thực phẩm theo đề án an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.

Đẩy mạnh các giải pháp giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng lao động, đặc biệt là người nghèo. Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện Chương trình giảm nghèo. Tăng cường vận động nguồn lực để đảm bảo thực hiện các chương trình an sinh xã hội cho trẻ em đến năm 2020. Chú trọng dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ, người nghèo, người sau cai nghiện.

Tổ chức diễn tập phòng, chống biểu tình, bạo loạn, khủng bố, diễn tập khu vực phòng thủ theo định kỳ. Đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu về giáo dục quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và tổ chức diễn tập phòng thủ hàng năm. Hoàn thành tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên bảo đảm chất lượng.

Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị thực hiện chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm ma túy đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội theo chương trình mục tiêu 03 giảm. Chú trọng công tác phòng ngừa và ngăn chặn các hình thức phạm tội mới, lợi dụng công nghệ cao để phạm tội. Phát động sâu rộng phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng, chống tội phạm; phối hợp công tác giữa Công an các tỉnh giáp ranh và các quận – huyện trong việc giữ vững an ninh trật tự. Tăng cường quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, quản lý vũ khí vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải được chú trọng; triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa.

Tập trung thực hiện Chỉ thị số 31-CT/TU ngày 27 tháng 5 năm 2015 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường lãnh đạo công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Tập trung tuyên tuyền, giám sát thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; mỗi khu phố, ấp phải có lực lượng và phương tiện chữa cháy đủ mạnh để chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ kịp thời. Xử lý nghiêm các vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy. Thành lập 02 đội chữa cháy khu vực thuộc Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy huyện.

Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; phối hợp chặt chẽ cơ quan ngành dọc để củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong giải quyết án tạm đình chỉ, công tác thi hành án dân sự, không để quá hạn theo luật định.

Thực hiện tốt Luật phòng, chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, đảm bảo công khai, minh bạch khi thực thi chính sách pháp luật. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, phối hợp tốt giữa các cơ quan chuyên môn và vai trò của nhân dân tập trung ở các lĩnh vực: quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài sản Nhà nước. Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03 tháng 01 năm 2014 của Bộ Chính trị.

Nâng cao chất lượng thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Chỉ đạo chặt chẽ công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đảm bảo đúng thực chất, cải tiến về nội dung, phương pháp. Tập trung đổi mới đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ.

Chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát từ huyện đến cơ sở, bám sát thực tiễn; ngăn chặn và xử lý kịp thời các sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy hợp lý từ huyện đến xã – thị trấn; tiếp tục thực hiện khoán định biên và kinh phí quản lý hành chính. Bổ sung cán bộ trẻ có trình độ, năng lực cho chính quyền cấp huyện, xã – thị trấn. Tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức; công khai, minh bạch công tác tuyển dụng công chức. Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng quản lý điều hành, thực hiện công vụ và giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị.

Hiện đại hóa nền hành chính, kiện toàn phương thức điều hành, ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008. Cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, thực hiện “4 công khai”, chế tài nghiêm các cơ quan, đơn vị, cá nhân gây phiền hà dân. Cải tiến lề lối, tác phong làm việc theo hướng hiệu quả và thiết thực, tăng cường đi cơ sở, bám sát thực tế; giảm hội họp, giảm các hoạt động hình thức, không thiết thực.

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25 tháng 2 năm 2010 của Bộ Chính trị và Quyết định số 489-QĐ/TU ngày 16 tháng 7 năm 2011 của Ban Thường vụ Thành ủy về quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; các Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Thông tri số 31-TT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về lãnh đạo thực hiện Quy chế giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

Đẩy mạnh các hoạt động thiết thực chăm lo các đối tượng chính sách, hộ nghèo, người khuyết tật, neo đơn, công nhân, nông dân, sinh viên và lực lượng vũ trang có thu nhập thấp. Phát huy vai trò của mặt trận, đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân; tập trung xây dựng Đoàn thanh niên vững mạnh; nâng cao chất lượng và hiệu quả các chương trình phối hợp liên tịch hoạt động giữa mặt trận, đoàn thể, lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng hoạt động lực lượng nòng cốt, vận động, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, tri thức tiêu biểu, chức sắc tôn giáo, người cao tuổi, doanh nhân. Tiếp tục sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra giải pháp thực hiện tốt Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.

II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy khóa X nhiệm kỳ 2010 – 2015. Các kinh nghiệm rút ra, Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy khóa X cần tiếp tục phát huy ưu điểm, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ 2015 – 2020.

IV. Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI gồm 43 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ X gồm 06 đại biểu chính thức và 01 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy để chuẩn y theo quy định.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện đưa nghị quyết đi vào cuộc sống.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân Bình Chánh tiếp tục phát huy truyền thống, đoàn kết khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI đề ra, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của huyện Bình Chánh anh hùng.

Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Huyện Tiên Lãng Lần Thứ Xxviii: Dấu Ấn Một Nhiệm Kỳ / 2023

(Haiphong.gov.vn) – Nhiệm kỳ 2015 – 2020, thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVIII, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Tiên Lãng phát huy những yếu tố thuận lợi, nhất là truyền thống đoàn kết, nhất trí và quyết tâm chính trị cao vượt qua khó khăn, thách thức, đưa nghị quyết vào thực tiễn cuộc sống, giành những thành tựu toàn diện về kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Kết quả đạt được của nhiệm kỳ thể hiện rõ nét, sâu sắc vai trò lãnh đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân. Và cũng là nền tảng, động lực quan trọng cho bước phát triển bứt phá đi lên trong nhiệm kỳ mới, để Tiên Lãng vươn mình phát triển, quyết tâm đạt chuẩn huyện nông thôn mới kiểu mẫu vào năm 2025.

Nhiệm kỳ 2015 – 2020, ùng với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của thành phố, phát huy sức mạnh nội sinh từ ý chí quyết tâm của người đứng đầu, bản lĩnh vượt khó của mỗi cán bộ, đảng viên và tinh thần đoàn kết quân, dân, Đảng bộ huyện kịp thời đề ra nhiều sát đúng, phù hợp với thực tiễn để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XXVIII, nhiệm kỳ 2015

Khâu đột phá thứ 2, huyện Tiên Lãng tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cốt yếu, tạo điều kiện để phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ. 5 năm giai đoạn 2015-2020, tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 6.040 tỷ đồng, huyện Tiên Lãng tập trung, quyết liệt triển khai công tác giải phóng mặt bằng của 12 dự án, với tổng diện tích thu hồi hơn 153 ha, số hộ có đất thu hồi là 3.550 hộ.

Nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư tại Tiên Lãng thu hút hàng nghìn lao động địa phương

Kinh tế phát triển, nhất là các ngành công nghiệp, dịch vụ đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách địa phương hằng năm. Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện các năm đều vượt chỉ tiêu pháp lệnh được giao; bình quân 5 năm đạt 142 tỷ đồng/năm; mức tăng trưởng 13,2%/năm.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong nhiệm kỳ qua mà Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đó là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Trong 5 năm, huyện Tiên Lãng huy động hơn 1.900 tỷ đồng; tiếp nhận 95.000 tấn xi măng do thành phố công trợ; cùng với nguồn vốn đầu tư của huyện và sự tự nguyện đóng góp công sức của nhân dân, toàn huyện tổ chức thi công được 1.061,3 km đường giao thông thôn, xóm và đường giao thông nội đồng. Nhân dân tự nguyện hiến 500ha đất phục vụ xây dựng các công trình hạ tầng theo quy hoạch.

Bên cạnh đó, Đảng bộ huyện Tiên Lãng tăng cường công tác lãnh chỉ đạo phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống tinh thần cho Nhân dân . Chất lượng giáo dục không ngừng nâng cao, Tiên Lãng duy trì 22 năm liên tục có học sinh giỏi cấp quốc gia. Các chương trình Y tế được triển khai kịp thời, đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Đầu năm 2020, cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, nhanh chóng triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp thiết thực phòng chống dịch bệnh COVID-19, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng cao của nhân dân.

Thương hiệu gạo nếp cái hoa vàng đã và đang được người tiêu dùng ưa chuộng

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các hội quần chúng từ huyện đến cơ sở được quan tâm củng cố; phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Tiên Lãng hôm nay đang bừng lên một sức sống mới, diện mạo nông thôn đổi thay từng ngày, những công trình kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm dần hoàn thành cho chúng ta cảm nhận khát vọng của Tiên Lãng trước sóng vươn mình mạnh mẽ đón chào vận hội mới. Dẫu hành trình về phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, song với truyền thống đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng bộ, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Tiên Lãng sẽ chủ động khai thác những thuận lợi, thời cơ, tiềm năng sẵn có, đồng thời nỗ lực vượt qua khó khăn, quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng đổi mới, giàu đẹp, phấn đấu đến năm 2025 đạt huyện nông thôn mới kiểu mẫu.

Tài Liệu Hỏi Đáp Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023

LỜI GIỚI THIỆU

Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020 – 2025 diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng 10 năm 2020 tại thành phố Bến Tre và đã thành công tốt đẹp.

Đại hội thống nhất thông qua Nghị quyết với mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản và những nhiệm vụ giải pháp chủ yếu để lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phát triển kinh tế – xã hội trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân tỉnh nhà tiếp tục phát huy mạnh mẽ tinh thần “Đồng khởi”, đoàn kết, nhất trí, quyết tâm hành động, đổi mới, sáng tạo, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chủ động nắm bắt thời cơ, đẩy mạnh Phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Để Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh biên soạn tài liệu tuyên truyền trong đoàn viên, hội viên và Nhân dân dưới dạng Hỏi – Đáp.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trân trọng giới thiệu.

Câu 1. Đại hội XI Đảng bộ tỉnh diễn ra vào ngày tháng năm nào? Có bao nhiêu đại biểu tham dự? Ban Chấp hành Đảng bộ khoá XI có bao nhiêu người?

Đáp

– Đại hội XI Đảng bộ tỉnh Bến Tre diễn ra từ ngày 14 tháng 10 năm 2020 đến ngày 16 tháng 10 năm 2020, tại thành phố Bến Tre. Đồng chí Trương Hoà Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ về dự và chỉ đạo Đại hội.

– Đại hội XI Đảng bộ tỉnh Bến Tre có 350 đại biểu đại diện cho gần 57 ngàn đảng viên của Đảng bộ tham dự. Trong số đó, có 66 nữ; 38 đại biểu trong lực lượng vũ trang; 06 đại biểu là Thầy thuốc ưu tú; có 06 Tiến sĩ, 78 Thạc sĩ và 266 Đại học; 347 Cử nhân, cao cấp và 03 Trung cấp lý luận chính trị.

Về độ tuổi: 30 tuổi trở xuống 01 đại biểu; từ 31 – 40 tuổi có 58 đại biểu; từ 41 – 50 tuổi có 142 đại biểu; từ 51 – 60 tuổi có 148 đại biểu; trên 61 tuổi có 01 đại biểu.

Về lĩnh vực công tác: có 128 đại biểu công tác tại các cơ quan Đảng; 130 đại biểu công tác các cơ quan Nhà nước; 38 đại biểu Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; 08 đại biểu đơn vị sự nghiệp; 08 đại biểu đơn vị sản xuất, kinh doanh.

– Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre khóa XI có 49 người. Đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy khóa X được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy khóa XI; đồng chí Hồ Thị Hoàng Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ; đồng chí Trần Ngọc Tam, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh.

Đáp

– Ý nghĩa: Đại hội XI Đảng bộ tỉnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng; tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh và Phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” giai đoạn 2015 – 2020; đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và những quyết sách quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030; đồng thời tiếp tục phát động Phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030, nhằm tạo xung lực chính trị, tinh thần mới, quyết tâm đưa tỉnh phát triển toàn diện, tiếp tục cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân.

– Phương châm chỉ đạo Đại hội: Dân chủ – Kỷ cương – Đồng thuận – Sáng tạo – Phát triển.

– Chủ đề Đại hội: Phát huy sức mạnh đoàn kết Nhân dân, tinh thần Đồng khởi; tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; phát triển Bến Tre về hướng Đông; huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; phấn đấu xây dựng Bến Tre thành tỉnh phát triển khá[1] của khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2025 và cả nước vào năm 2030.

Câu 3. Phương châm: “Dân chủ – Kỷ cương – Đồng thuận – Sáng tạo – Phát triển” nghĩa là gì?

Đáp

Đây là phương châm chỉ đạo Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, đồng thời là phương châm hành động cả nhiệm kỳ 2020 – 2025.

– Dân chủ: Dân là chủ và dân làm chủ. Mọi việc đều từ dân, mọi lợi ích đều thuộc về dân. Người dân là trung tâm, là mục tiêu của phát triển; phát huy vai trò, sức mạnh của dân; dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thụ hưởng thành tựu của phát triển kinh tế – xã hội…

Dân chủ để phát huy trí tuệ và sức mạnh của Nhân dân, nhưng phải giữ kỷ cương, chấp hành và thực hiện đúng chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

– Kỷ cương: Mọi cấp, mọi người phải chấp hành và thực hiện nghiêm chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; cán bộ, đảng viên “Nói, viết, làm theo nghị quyết”, làm những gì pháp luật cho phép; Nhân dân làm những gì pháp luật không cấm.

– Đồng thuận: Đồng lòng, đồng tình, thuận theo, đoàn kết trên dưới, trong ngoài cùng chung sức, chung tay thực hiện các của trương, nghị quyết của Đảng để phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh toàn diện.

– Sáng tạo: Trong thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng phải chủ động, không rập khuôn, máy móc, không trông chờ hướng dẫn của cấp trên; phải có ý tưởng mới, độc đáo sao cho đạt hiệu quả cao nhất, có ích cho bản thân, gia đình, cộng đồng, nhưng đúng theo chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

– Phát triển: Mục tiêu của phát triển là xây dựng tỉnh ta phát triển toàn diện về mọi mặt (kinh tế, văn hoá, xã hội, kết cấu hạ tầng…); thước đo của sự phát triển của tỉnh là xã hội ổn định, làm ăn thuận lợi, thu nhập tăng, đời sống người dân nâng lên; các nhu cầu về học tập, vui chơi, giải trí lành mạnh, khám và điều trị bệnh… của Nhân dân được bảo đảm.

Câu 4. Nội dung mà Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình chỉ đạo tại Đại hội XI Đảng bộ tỉnh là gì?

Đáp

Một là, chủ động nắm bắt thời cơ, khai thác tốt lợi thế triển khai thực hiện tốt 4 trụ cột chiến lược.

Hai là, xây dựng, quản lý quy hoạch không gian phát triển với tầm nhìn mở, liên kết chặt chẽ với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ba là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi thu hút đầu tư phát triển; xây dựng chính quyền điện tử, đô thị thông minh, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp[2].

Bốn là, tiếp tục quan tâm phát triển toàn diện văn hóa – xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử, cách mạng của địa phương, tạo nền tảng tinh thần, động lực của sự phát triển.

Năm là, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tổ chức bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Sáu là, tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh tuyến biển; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bảy là, công tâm, khách quan lựa chọn những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, bầu Ban Chấp hành khóa XI và bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng.

Câu 5. Bốn trụ cột chiến lược của tỉnh Bến Tre thời gian tới mà Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình đề cập đến là gì?

Đáp

– Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, gắn với thị trường, xem đây là nền tảng ổn định kinh tế – xã hội.

– Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng, xem đây là mũi đột phá giúp đẩy nhanh tăng trưởng.

– Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là đột phá tương lai của tỉnh.

– Nâng cao chất lượng cuộc sống, kiến tạo môi trường xanh bền vững, hướng tới xây dựng địa phương đáng sống[3].

Câu 6. Nội dung cơ bản của việc xây dựng, quản lý quy hoạch không gian phát triển với tầm nhìn mở, liên kết chặt chẽ với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mà Phó Thủ tướng đề cập đến là như thế nào?

Đáp

– Hoàn thành quy hoạch tỉnh Bến Tre thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 gắn với định hướng phát triển về phía Đông.

– Triển khai thực hiện quy hoạch, tạo quỹ đất sạch để thu hút các dự án phát triển đô thị, các khu công nghiệp.

– Phát triển giao thông, ưu tiên giao thông ven biển, đường thủy, hệ thống thuỷ lợi, bảo đảm chủ động ngăn mặn, trữ ngọt, chuyển dẫn nước ngọt phục vụ dân sinh và sản xuất, phòng, chống và ứng phó với biến đổi khí hậu, chống xói lở bờ sông, bờ biển….

– Tăng cường liên kết về giao thông, phân công lao động, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu 7. Phát triển về hướng Đông nghĩa là như thế nào?

Đáp

– Phát triển về hướng Đông nghĩa là mở rộng không gian phát triển về 3 huyện biển. Trọng tâm là phát triển hệ thống giao thông ven biển, cảng biển, kết nối tuyến đường ven biển với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong Tiểu vùng duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long; phát triển kinh tế biển, thuỷ sản, năng lượng sạch, công nghiệp, đô thị, du lịch; đảm bảo quốc phòng, an ninh; thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển về hướng Đông đồng bộ với phát triển các huyện dựa trên tiềm năng, lợi thế của mỗi nơi và có sự kết nối, phối hợp chặt chẽ với nhau. Mở rộng không gian phát triển còn là thực hiện chủ trương lấn biển, có thể lấn đến vài chục ngàn héc-ta để hình thành khu kinh tế tổng hợp.

– Mục tiêu phát triển về hướng Đông là để khai thác tiềm năng thế mạnh từ biển, kết nối giao thông thông suốt từ thành phố Bến Tre với các khu vực ven biển, phát triển kinh tế – xã hội khu vực ven biển Bến Tre ngang bằng các khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long; đưa mức sống người dân khu vực ven biển ngang bằng mức trung bình của tỉnh vào năm 2025 và gấp 1,5 lần vào năm 2030.

Câu 8. Những thành tựu nổi bật nhiệm kỳ qua là gì?

Đáp

– Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức chuyển biến tích cực. Kiện toàn tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác dân vận và hoạt động Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhiều đổi mới, phát huy tốt vai trò tuyên truyền, vận động và tập hợp quần chúng.

– Thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và các quy định của Trung ương về vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên.

– Kinh tế tăng trưởng khá (ước đạt 6,41%/năm); thu nhập bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 43,6 triệu đồng; một số lĩnh vực phát triển nhanh (công nghiệp, xây dựng; thương mại, dịch vụ và du lịch). Văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ phát triển, an sinh xã hội được đảm bảo.

– Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được đảm bảo. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách tư pháp và thi hành án đạt kết quả tốt.

 Câu 9. Đạt được những thành tựu trên là do đâu? 

Đáp

– Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã xác định hướng đi đúng, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với xu thế phát triển của cả nước, khu vực và thực tiễn của tỉnh.

– Tỉnh uỷ, các cấp, các ngành chủ động cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh và nghị quyết của Đảng với các khâu trọng tâm, đột phá trên từng lĩnh vực để tập trung lãnh đạo thực hiện.

– Bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng nâng lên; ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực cấp uỷ đoàn kết, thống nhất.

– Luôn bám sát phương châm “Dân chủ – Kỷ cương – Đoàn kết – Năng động – Đổi mới”, quyết tâm chính trị cao, năng động, sáng tạo trong thực hiện, kịp thời sơ kết, tổng kết các chủ trương và tháo gỡ các vướng mắc; phát huy sức mạnh đoàn kết Nhân dân.

Câu 10. Bên cạnh thành tựu đạt được nêu trên, tỉnh ta còn những hạn chế, khuyết điểm nào?

Đáp

– Một số cấp uỷ chưa quan tâm đúng mức công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chậm nâng lên.

– Một số cấp uỷ lãnh đạo thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hoá” trong nội bộ hiệu quả chưa cao.

– Kinh tế phát triển chưa toàn diện; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt chỉ tiêu đề ra; văn hoá, xã hội còn một số mặt hạn chế; đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn.

– Quốc phòng, an ninh, nội chính có mặt hạn chế. Tình hình an ninh, trật tự ở một số địa bàn, có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp, khiếu kiện đông người, vượt cấp vẫn còn. Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa thật sự hiệu quả.

Câu 11. Những nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm đó là gì?

Đáp

– Nguyên nhân khách quan: Nguồn vốn đầu tư phát triển chưa đáp ứng yêu cầu. Liên kết vùng về giao thông, thuỷ lợi, logistics[5] và xây dựng vùng nguyên liệu chưa đồng bộ. Thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng nặng nề (xâm nhập mặn sâu, kéo dài; dịch tả heo Châu Phi, đại dịch Covid-19…).

– Nguyên nhân chủ quan: Tỉnh uỷ chưa có giải pháp đồng bộ để lãnh đạo phát huy thế mạnh, có lúc chưa tập trung đúng mức trong lãnh đạo thực hiện khâu đột phá. Thiếu vốn và quỹ đất sạch để đầu tư và thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp; tỉnh chưa có doanh nghiệp dẫn đầu.  

Sự phối hợp giữa các ngành với địa phương chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Năng lực tổ chức thực hiện của một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị hạn chế. Tinh thần trách nhiệm, tính năng động của một bộ phận cán bộ, đảng viên, có cả người đứng đầu các cấp chưa cao.

Câu 12. Những kinh nghiệm Tỉnh uỷ rút ra sau 5 năm lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh là gì?

Đáp

– Triển khai đồng bộ, đồng loạt tạo sự đồng thuận trong toàn hệ thống chính trị và Nhân dân; chủ động, quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết; các văn bản cụ thể hoá phải xác định trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, kiên trì mục tiêu, huy động tối đa mọi nguồn lực để thực hiện; phân công tập thể, cá nhân phụ trách cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

– Chú trọng xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy dân chủ, củng cố, tăng cường khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, hệ thống chính trị và Nhân dân, đặc biệt là mối quan hệ gắn kết giữa các thế hệ lãnh đạo. Đề cao vai trò nêu gương, sự năng động và truyền cảm hứng hành động của cán bộ lãnh đạo các cấp. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các hội quần chúng, cộng đồng người Bến Tre ngoài tỉnh, tạo sức mạnh tổng hợp trong Phong trào thi đua “Đồng Khởi mới”.

– Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

– Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm phục vụ, tư tưởng tiến công của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng nâng mức hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn. 

– Luôn cầu thị, chân thành lắng nghe và tiếp thu ý kiến góp ý của cán bộ hưu trí, chuyên gia, cơ quan Trung ương, nhà đầu tư và người dân trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Có chính sách phù hợp để huy động, thu hút trí tuệ, kinh nghiệm và các nguồn lực về con người, vốn đầu tư và khoa học công nghệ.

– Quan tâm thực hiện tốt công tác phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương, các cấp, các ngành trong tỉnh; thông tin kịp thời, chính xác để tạo sự thông suốt, hiệu quả và phát huy đúng vai trò cơ quan tham mưu.

Câu 13. Dự báo những thuận lợi, khó khăn trong thời gian tới của tỉnh ta là gì?

Đáp

– Thuận lợi: Thành tựu to lớn của 35 năm đổi mới đất nước; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sức cạnh tranh của nền kinh tế nâng lên; tác động mạnh từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và việc thực hiện các cam kết thương mại thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội phát triển. Trong tỉnh, lợi thế mới về địa kinh tế – chính trị[6]; nội bộ đoàn kết thống nhất, khát vọng vươn lên là động lực cho sự phát triển.

– Khó khăn: Tình hình thế giới, khu vực, tranh chấp trên biển Đông diễn biến phức tạp; sự cạnh tranh của các nước lớn và biến động thị trường tiềm ẩn những yếu tố khó lường; an ninh phi truyền thống[7], thiên tai, dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, nhất là dịch Covid-19 còn tiếp tục ảnh hưởng sẽ thách thức năng lực thích ứng của nước ta. Trong tỉnh, giao thông thiếu đồng bộ, kết nối chưa thông suốt, nguồn vốn đầu tư không đáp ứng nhu cầu phát triển; thiếu liên kết trong sản xuất nông nghiệp; số lượng doanh nghiệp ít, quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu; xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng, là nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh.

Câu 14. Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh uỷ khoá XI là gì?

– Lãnh đạo xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh là then chốt, phát triển kinh tế – xã hội là trung tâm. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực lãnh đạo, quản lý.

– Phát triển nhanh theo hướng bền vững, tăng trưởng xanh, tập trung nguồn lực phát triển toàn diện kinh tế biển, mở rộng không gian phát triển tỉnh về hướng Đông gắn với chiến lược phát triển quốc gia và vùng đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Phát triển hài hoà giữa kinh tế với văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

– Khơi dậy tinh thần Đồng khởi, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên và phát huy các giá trị truyền thống, văn hoá, con người Bến Tre. Chăm lo bồi dưỡng sức dân, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ và sự tham gia đóng góp của người dân; lắng nghe, kịp thời giải quyết những ý kiến, kiến nghị của Nhân dân; tạo sự đồng thuận cao trong Nhân dân. Kết nối và phát huy nguồn lực to lớn của người Bến Tre ngoài tỉnh và bạn bè gần xa. Động viên, hỗ trợ, phát triển đội ngũ doanh nghiệp tỉnh nhà, gắn với thu hút đầu tư bên ngoài một cách hợp lý.

– Phát huy mạnh mẽ vai trò của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số[8]; chủ động, tích cực ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ưu tiên các công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học.

– Đảm bảo quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và ổn định cuộc sống. Lấy sự ổn định xã hội, an dân làm mục tiêu và thước đo cho sự phát triển.

Câu 15. Mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2020-2025 là gì?

Đáp

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần Đồng khởi, ý chí, khát vọng vươn lên của người Bến Tre; tập trung phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng tái tạo và nông nghiệp giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; thúc đẩy khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; phát triển Bến Tre về hướng Đông; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng; xây dựng và phát triển văn hoá, con người Bến Tre đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

 Phấn đấu xây dựng Bến Tre trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2025 và của cả nước vào năm 2030.

Câu 16. Các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế đến năm 2025 là gì?

Đáp

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân đạt từ 8,5-9,5%/năm. Khu vực I tăng 4-4,7%/năm; khu vực II tăng 15-17%/năm; khu vực III tăng 7-8,6%/năm; thuế sản phẩm tăng 14,18%.

– Cơ cấu kinh tế: Khu vực I chiếm 26-28%/năm; khu vực II chiếm 26-28%/năm; khu vực III chiếm 42-45%/năm; thuế sản phẩm chiếm 4%.

– Thu nhập bình quân đầu người phấn đấu tăng gấp đôi năm 2020 (87 triệu đồng).

– Tổng thu ngân sách và tổng đầu tư toàn xã hội lần lượt là: 35-40 ngàn tỷ đồng (tăng 12%/năm) và 130 – 140 ngàn tỷ đồng.

– Tỉnh và thành phố Bến Tre tự cân đối được 70% chi thường xuyên và 03 huyện: Châu Thành, Ba Tri, Bình Đại tự cân đối 80% chi thường xuyên (không kể chi sự nghiệp y tế, giáo dục); 20% đơn vị cấp xã trên địa bàn tỉnh tự cân đối chi thường xuyên.

Câu 17. Các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng Đảng, văn hóa – xã hội, môi trường đến năm 2025 là gì?

Đáp

– Chỉ tiêu về xây dựng Đảng: Phát triển 4.500 đến 5.000 đảng viên, kéo giảm tỷ lệ đảng viên bị kỷ luật ít nhất 10% trong cả nhiệm kỳ. Phấn đấu xây dựng 40% – 50% chi bộ ấp, khu phố đạt danh hiệu chi bộ vững mạnh toàn diện.

– Chỉ tiêu về văn hoá – xã hội:

+ 80% xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 40% xã đạt chuẩn NTM nâng cao, và mỗi huyện có một xã đạt NTM kiểu mẫu, các xã còn lại đạt từ 15 tiêu chí trở lên; có thêm 04 huyện đạt NTM[9], Chợ Lách và thành phố Bến Tre hoàn thành nâng cao chất lượng huyện NTM; tỷ lệ đô thị hoá ít nhất 27%.

+ Mỗi năm giải quyết việc làm cho 18-20 ngàn lao động; trong đó, đưa khoảng 2.000 lao động đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài; tỷ lệ giảm nghèo bình quân 1%-1,5%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ là 35-40%.

– Chỉ tiêu về môi trường: Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt trên 70%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt trên 95%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt nông thôn đạt 80%; tỷ lệ phân loại rác tại nguồn đạt 70% hộ dân; tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 2%. Hoàn thiện hệ thống thủy lợi, hạ tầng cấp nước chính, đảm bảo nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt.

Câu 18. Các chỉ tiêu định hướng tầm nhìn đến năm 2030 là gì?

Đáp

– Phấn đấu xây dựng Bến Tre trở thành tỉnh phát triển khá cả nước (top 30).

– Thu nhập bình quân đầu người đạt mức bình quân của cả nước[10].

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 12-13%.

– Tỉnh và thành phố Bến Tre đảm bảo tự cân đối thu – chi ngân sách.

– Huyện Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành cân đối chi thường xuyên (không kể chi sự nghiệp y tế, giáo dục); 50% xã trên địa bàn tỉnh tự cân đối chi thường xuyên.

– Tỉnh Bến Tre hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; thành phố Bến Tre, Chợ Lách đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; thành phố Bến Tre cơ bản đạt chuẩn đô thị loại I.

Câu 19. Những nhiệm vụ giải pháp công tác xây dựng Đảng giai 2020-2025 và định hướng đến năm 2030 là gì?

Đáp

– Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Kiên định mục tiêu, đường lối đổi mới, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

– Chú trọng xây dựng khối đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò nêu gương, tính tiên phong, gương mẫu và trách nhiệm, tư tưởng tiến công của cán bộ, đảng viên, các cấp uỷ, trước hết là trong Thường trực Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, làm trung tâm đoàn kết toàn Đảng bộ và Nhân dân.

– Tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tập trung lãnh đạo kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết Đại hội, các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

– Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác Dân vận; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Câu 20. Những nhiệm vụ giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh giai 2020-2025 và định hướng đến năm 2030 là gì?

– Tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế:

+ Tập trung thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu; hoàn thiện các chuỗi giá trị nông sản, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới (NTM).

+ Tiếp tục đầu tư phát triển công nghiệp, ưu tiên công nghiệp chế biến, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tỉnh nhà. Phát triển các thành phần kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư thúc đẩy phát triển kinh doanh và khởi nghiệp.

+ Phát triển kết cấu hạ tầng[11] và đô thị; phát triển thương mại, đa dạng dịch vụ. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

+ Tăng khả năng tự cân đối ngân sách, huy động nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đáp ứng yêu cầu vốn, kiến tạo chính sách cho phát triển.

– Tập trung đầu tư phát triển văn hoá – xã hội, trọng tâm là phát huy giá trị văn hoá truyền thống và xây dựng con người Bến Tre đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ.

– Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh và quản lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

– Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu; quản lý tốt nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Câu 21. Những nhiệm vụ giải pháp đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội của tỉnh giai 2020-2025 và định hướng đến năm 2030 là gì?

Đáp

– Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

– Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân vững chắc trong khu vực phòng thủ. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao; chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh, dân quân tự vệ đạt 1,66% dân số; nâng cao năng lực sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

– Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, nhất là khu vực biên giới biển. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục ngư dân nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo; hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng tàu cá, ngư dân đánh bắt thuỷ hải sản vi phạm chủ quyền vùng biển nước ngoài. Hoàn thành tốt công tác tuyển quân hàng năm; diễn tập khu vực phòng thủ các cấp đạt 100% theo kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

– Chủ động nắm tình hình; kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hoá mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tôn giáo, an ninh mạng và ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống. Tập trung đấu tranh đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, ma tuý; hạn chế đến mức thấp nhất phạm pháp hình sự; tăng cường các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kéo giảm số người chết. Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc kéo dài; không để phát sinh điểm nóng; xây dựng môi trường xã hội ổn định, an toàn để phát triển.

Câu 22. Những nhiệm vụ giải pháp tăng cường liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế của tỉnh giai 2020-2025 và định hướng đến năm 2030 là gì?

Đáp

– Tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng, tận dụng tốt cơ hội do các Hiệp định thương mại tạo ra để thúc đẩy mua bán và xuất khẩu hàng hoá của tỉnh.   

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá hình ảnh Bến Tre đến bạn bè trong nước và quốc tế; tăng cường xúc tiến kêu gọi đầu tư, liên kết hợp tác, tận dụng cơ hội thuận lợi, thu hút các nguồn vốn vay (ODA), vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hợp tác và hội nhập quốc tế.

– Tích cực hợp tác, liên kết phát triển kinh tế – xã hội giữa tỉnh Bến Tre với các tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội, các tỉnh trong Tiểu vùng duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long.

– Tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương; sự chia sẻ, hợp tác, giúp đỡ, góp ý của các tỉnh, thành phố bạn trong cả nước, cộng đồng doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sỹ, các tôn giáo, bạn bè quốc tế, người Bến Tre ở ngoài tỉnh,… để huy động nguồn lực phục vụ cho phát triển tỉnh nhà.

Câu 23. Năm nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ tới của tỉnh ta là gì?

Đáp

– Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực và uy tín với Nhân dân. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ; đẩy mạnh cải cách hành chính trong hệ thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

– Xây dựng con người Bến Tre phát triển toàn diện, thân thiện, năng động, gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần Đồng khởi, khát vọng vươn lên làm cuộc “Đồng khởi mới” trong phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân.

– Tập trung phát triển nông nghiệp sạch, hiệu quả làm nền tảng; phát triển công nghiệp chế biến, năng lượng và xây dựng đô thị là động lực tăng trưởng; phát triển thương mại, dịch vụ, ngành du lịch là mũi nhọn. Tập trung phát triển các ngành kinh tế biển gắn với định hướng phát triển về hướng Đông. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và quản lý.

– Hoàn thành Quy hoạch tỉnh Bến Tre thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, gắn với định hướng phát triển tỉnh về hướng Đông, liên kết vùng và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Tập trung xây dựng các cơ chế huy động các nguồn vốn, tiếp tục đầu tư phát triển giao thông, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, cấp nước, tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư phát triển.

– Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh; chủ động nắm bắt và xử lý tốt các vấn đề an ninh phi truyền thống; kiểm soát tình hình ma tu‎‎ý, tín dụng đen, trật tự xã hội, khiếu kiện đông người; xây dựng môi trường xã hội ổn định, an toàn phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội.

Câu 24. Ba nhiệm vụ đột phá trong nhiệm kỳ tới của tỉnh ta là gì?

Đáp

– Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, phát triển các cơ chế, chính sách phù hợp. Phấn đấu đưa chỉ số Cải cách hành chính vào nhóm 20 cả nước.

– Huy động mọi nguồn lực, đầu tư phát triển hạ tầng thuỷ lợi, cấp nước, giao thông, logistics, đô thị. Phấn đấu hình thành giai đoạn 1 tuyến động lực ven biển.

– Phát triển nguồn nhân lực phù hợp Tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 và năm 2045; tập trung xây dựng nhân lực khoa học công nghệ, chuyển đổi số, quản l‎ý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Câu 25. Mười một công trình, dự án trọng điểm nhiệm kỳ 2020-2025 là gì?

Đáp

– Xây dựng hoàn thành cầu Rạch Miễu 2.

– Hoàn thành cơ bản hệ thống thủy lợi, cấp nước chính trên địa bàn tỉnh.

– Triển khai ít nhất 500 ha các dự án đô thị thành phố Bến Tre và các huyện.

– Phát triển 4.000 ha nuôi tôm biển công nghệ cao.

– Triển khai các dự án điện gió, có ít nhất 1500MW đưa vào khai thác; chuẩn bị các điều kiện triển khai dự án điện khí.

– Xây dựng tuyến động lực ven biển (giai đoạn 1).

– Phát triển mới 5.000 doanh nghiệp; xây dựng 100 doanh nghiệp dẫn đầu.

– Thành lập Đại học Bến Tre thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

– Xây dựng làng văn hóa du lịch Chợ Lách.

– Xây dựng Trung tâm cây giống, hoa kiểng Chợ Lách.

– Hoàn thành lấp đầy Khu Công nghiệp Phú Thuận và mỗi huyện 01 cụm công nghiệp (ít nhất 70ha/cụm; riêng huyện Chợ Lách có diện tích phù hợp).

[1] Đứng thứ 5 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và thứ 30 cả nước.

[2] Chính quyền điện tử: Là chính quyền ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

  Đô thị thông minh: Là mô hình thành phố ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để quản lý, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống đô thị, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên (Ví dụ: dùng cảm biến để quản lý đèn đường, giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng…).

  Khởi nghiệp: Là hành động bắt đầu một nghề nghiệp, mà hình thức thường thấy nhất đó là thành lập một doanh nghiệp để kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó, do chính mình sáng lập hoặc đồng sáng lập.

[3] Địa phương đáng sống: là địa phương đáp ứng được những tiêu chí cơ bản như: văn hoá, xã hội, môi trường trong lành; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định; việc làm, thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần người dân được bảo đảm.

[4] Năm 2016 là Khởi động; Năm 2017 là Hành động; Năm 2018 là Tăng tốc; Năm 2019 là Tiếp tục tăng tốc tạo bứt phá; Năm 2020 là Bứt phá – về đích.

[6] Địa kinh tế là các yếu tố không gian và chính trị tác động đến nền kinh tế và đến các loại tài nguyên. Địa chính trị là cách thức sử dụng quyền lực hay ảnh hưởng chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

[7] An ninh phi truyền thống là những vấn đề bức thiết đang nổi lên hiện nay như: cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái, bùng nổ dân số, xung đột tôn giáo, dân tộc, nghèo đói, bệnh tật, buôn người, rửa tiền,…

[8] Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra và ứng dụng các thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. Chuyển đổi số là đưa toàn bộ các hoạt động từ xã hội thực lên không gian mạng, từ môi trường truyền thống lên môi trường số (công nghệ thông tin).

[9] Châu Thành, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú. Phấn đấu thêm huyện Bình Đại.

[10] Tiếp cận dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD/người.

[11] Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các công trình vật chất và kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống Nhân dân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!