Đề Xuất 12/2022 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .Công An Tra Vinh / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .Công An Tra Vinh / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .Công An Tra Vinh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ nhất, quy định các khái niệm cơ bản và chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc và biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Đây là cơ sở để xác định phạm vi đấu tranh, biện pháp áp dụng, các hành vi vi phạm và cách thức phòng ngừa, xử lý các hành vi này cũng như triển khai công tác nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về an ninh mạng. Thứ hai, quy định đầy đủ các hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Với các quy định về thẩm định, kiểm tra, đánh giá điều kiện, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng được quy định tại Chương II, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ chặt chẽ từ bên trong. Với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, xử lý các hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt thông tin thuộc bí mật nhà nước, các hành vi chống, phá Nhà nước được quy định tại Chương I, Chương III, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ từ bên ngoài. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện sự bảo vệ tương xứng với vai trò của hệ thống thông tin an ninh quốc gia. Thứ ba, đưa ra các quy định nhằm tạo nền tảng pháp lý trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân trên không gian mạng, như soạn thảo, đăng tải thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng, làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; sử dụng không gian mạng để tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tấn công mạng… Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm kết bạn, trao đổi, buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng. Thứ tư, tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Kết cấu hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ cùng sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử lý nghiêm minh; hành vi xâm phạm an ninh mạng sẽ được phát hiện, cảnh báo kịp thời. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết, là nền tảng pháp lý quan trọng triển khai công tác an ninh mạng hiện tại và tương lai. Thứ năm, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực thi chính sách của Nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia trên không gian mạng. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tội phạm trước các diễn biến phức tạp của hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo, tiền điện tử thời gian qua. Thứ sáu, tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xây dựng và hình thành lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân với mục tiêu tham gia không gian mạng an toàn, lành mạnh, hạn chế tối đa nguy cơ, tác động tiêu cực, phát huy tối đa hiệu quả. Thứ bảy, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động trên không gian mạng, tập trung vào việc xác định trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.  

Phan Minh Thuận

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quản Lý Ngoại Thương Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023

Cổng TTĐT Công an Quảng Bình xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Luật Quản lý ngoại thương gồm 08 chương, 113 điều, cụ thể như sau:

Những quy định chung

1.1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1, Điều 2), Luật quy định: 

– Về phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương; giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương.

Như vậy, Luật không điều chỉnh, can thiệp vào các hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau mà điều chỉnh các quan hệ giữa nhà nước và thương nhân.

1.2. Về nguyên tắc quản lý nhà nước về ngoại thương

Thực hiện quan điểm chỉ đạo, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước cũng như bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với xu thế hội nhập sâu rộng của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Điều 4 của Luật quy định nguyên tắc quản lý nhà nước về ngoại thương như sau: 

“1. Nhà nước quản lý ngoại thương theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bảo đảm minh bạch, công khai, bình đẳng, đơn giản hóa thủ tục hành chính; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, thương nhân thuộc các thành phần kinh tế; thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước và xuất khẩu, gắn với quản lý nhập khẩu.

Bảo đảm thực hiện đầy đủ các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia trong hoạt động ngoại thương theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

1.3. Về quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu

Riêng đối với đối tượng thương nhân là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 5).

Việc quy định quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu như trên phù hợp với tinh thần Hiến pháp, phù hợp với tinh thần tiến bộ của Luật Đầu tư và Điều 7 Luật Doanh nghiệp.

1.4. Về trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương

Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ngoại thương, Bộ Công thương là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ngoại thương. Luật cũng quy định nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về ngoại thương của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Việc quy định, giao nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho Bộ Công thương, các bộ, chính quyền địa phương phù hợp với các biện pháp quản lý quy định trong Luật và theo nguyên tắc “một biện pháp do một cơ quan đầu mối phụ trách”.

1.5. Về các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý ngoại thương

Luật quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm thực hiện trong quản lý ngoại thương tại Điều 7, cụ thể như sau:

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương, cản trở hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp, xâm phạm quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân quy định tại Điều 5 của Luật này.

– Áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương không đúng thẩm quyền; không đúng trình tự, thủ tục.

– Tiết lộ thông tin bảo mật của thương nhân trái pháp luật.

– Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 10 và khoản 1 Điều 14 của Luật này; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện mà không có giấy phép, không đáp ứng đủ điều kiện; hàng hóa không đi qua đúng cửa khẩu quy định; hàng hóa không làm thủ tục hải quan hoặc có gian lận về số lượng, khối lượng, chủng loại, xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan; hàng hóa theo quy định của pháp luật phải có tem nhưng không dán tem.

– Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 của Luật này.

Các biện pháp hành chính

2.1. Biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu (Mục 1).

– Về cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu (Tiểu mục 1).

– Về biện pháp tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu (Tiểu mục 2).

2.2. Hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu (Mục 2)

Luật quy định chi tiết các biện pháp hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu bao gồm hạn chế về số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa, thương nhân và cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thông qua việc thực hiện chế độ hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, chỉ định cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu, chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

– Hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu (Tiểu mục 2)

Khoản 1 Điều 18 quy định biện pháp hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu khi hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau: theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đối với hàng hóa bảo đảm cân đối vĩ mô, tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ; khi nước nhập khẩu áp dụng biện pháp hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

– Hạn ngạch thuế quan (Tiểu mục 3)

Việc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan được quy định tại Điều 21 như sau:

“1. Áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan xuất khẩu, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Không áp dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đối với số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa được dùng để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu.

Việc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan xuất khẩu, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu phải bảo đảm công khai, minh bạch về số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa; công khai, minh bạch, khách quan về phương thức phân giao hạn ngạch thuế quan xuất khẩu, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu”.

 Đây là biện pháp Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO, theo đó, có 04 mặt hàng sẽ được Việt Nam duy trì cơ chế hạn ngạch thuế quan, bao gồm: trứng gia cầm, muối, đường, lá thuốc lá. Ngoài ra, Việt Nam còn áp dụng trong trường hợp có ưu đãi đặc biệt đối với một số đối tác thương mại đặc biệt như Lào, Campuchia hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

– Chỉ định cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu (Tiểu mục 4): đây là biện pháp được áp dụng với mục đích quản lý, kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chống chuyển tải bất hợp pháp, chống gian lận thương mại, bảo vệ uy tín hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam; phù hợp với điều kiện hạ tầng vật chất, kỹ thuật của từng cửa khẩu, bảo đảm quốc phòng, an ninh (khoản 1 Điều 24). Thương nhân có quyền tự do lựa chọn cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong các cửa khẩu đã được chỉ định (khoản 3 Điều 24).

– Chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu (Tiểu mục 5): là biện pháp được áp dụng khi hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau: theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hàng hóa độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật về thương mại; hàng hóa phải áp dụng biện pháp kiểm soát khẩn cấp quy định tại Chương V của Luật này (khoản 1 Điều 27).

Đây là biện pháp Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO theo đó biện pháp này chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp thương mại nhà nước đối với một số mặt hàng như thuốc lá điếu, xuất bản phẩm… được cam kết tại Bảng 5 Đoạn 72 Báo cáo Ban Công tác gia nhập WTO của Việt Nam. 

2.3. Quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu (Mục 3)

Luật quy định, quản lý theo giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương cho thương nhân để thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa (khoản 1 Điều 29).

Quản lý theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để quy định điều kiện về chủ thể kinh doanh, chủng loại, số lượng, khối lượng, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, địa bàn mà thương nhân phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không cần phải cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (khoản 2 Điều 29).

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định: chỉ áp dụng biện pháp quản lý theo điều kiện trong các trường hợp cần thiết vì lý do trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, thuần phong mỹ tục, bảo vệ môi trường (khoản 1 Điều 30).

2.4. Chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Mục 4)

– Pháp luật quy định việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phải có chứng nhận xuất xứ hàng hóa;

– Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo đề nghị của thương nhân hoặc do thương nhân tự chứng nhận đối với các trường hợp không thuộc 2 trường hợp nêu trên.

2.5. Chứng nhận lưu hành tự do (Mục 5)

2.6. Các biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương khác (Mục 6)

Luật quy định các biện pháp quản lý hàng hóa tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh; đại lý mua bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài; ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu; gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài (Điều 39 đến Điều 52). 

– Về tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu (Tiểu mục 1)

Kinh doanh tạm nhập, tái xuất được hiểu là việc thương nhân mua hàng hóa từ một nước đưa vào lãnh thổ Việt Nam hoặc từ khu vực hải quan riêng đưa vào nội địa và bán chính hàng hóa đó sang nước, khu vực hải quan riêng khác. Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn nhất định.

Khoản 1 Điều 40 quy định các hàng hóa bị cấm kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu gồm: hàng hóa là chất thải nguy hại, phế liệu, phế thải; hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hàng hóa là hàng tiêu dùng đã qua sử dụng có nguy cơ gian lận thương mại; hàng hóa có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người.

Đối với tạm xuất, tái nhập hàng hóa, khoản 1 Điều 42 quy định thương nhân được tạm xuất, tái nhập hàng hóa để phục vụ mục đích bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, sản xuất, thi công, thuê, mượn, trưng bày, triển lãm hoặc để sử dụng vì mục đích khác theo hợp đồng với nước ngoài.

– Quá cảnh hàng hóa (Tiểu mục 2)

Luật quy định thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc cho phép quá cảnh hàng hóa tại Điều 44 như sau:

(1). Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cho phép quá cảnh hàng hóa là vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

(3). Hàng hóa không thuộc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được quá cảnh lãnh thổ Việt Nam và chỉ phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập đầu tiên và cửa khẩu xuất cuối cùng theo quy định của pháp luật về hải quan.

Thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam tối đa là 30 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập, trừ trường hợp được gia hạn; trường hợp hàng hóa được lưu kho tại Việt Nam hoặc bị hư hỏng, tổn thất; phương tiện vận tải chở hàng quá cảnh bị hư hỏng trong quá trình quá cảnh (khoản 1 Điều 47).

– Đại lý mua bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài (Tiểu mục 3)

– Ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu (Tiểu mục 4).

– Gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài (Tiểu mục 5)

2.7. Hoạt động ngoại thương với các nước có chung biên giới (Mục 7)

Bên cạnh đó, Luật còn quy định về cơ chế điều hành, phối hợp của các lực lượng tại cửa khẩu cũng như chính sách quản lý, phát triển các hoạt động hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh người, phương tiện giao thông vận tải qua các cửa khẩu biên giới đất liền và phát triển du lịch. 

Quy định như trong Luật là phù hợp với Điều XXIV của Hiệp định GATT 1994 và các điều ước quốc tế giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới; phù hợp với đặc thù từng tuyến, tỉnh biên giới về giao thông, địa hình, dân số…; và là công cụ linh hoạt trong thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước với từng đối tác thương mại cụ thể có chung đường biên giới với nước ta.

Các quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để hoàn thiện chính sách, pháp luật về thương mại biên giới đã được thực hiện tương đối ổn định từ năm 2006 đến nay, theo đề nghị của nhiều Bộ, ngành, cơ quan, hiệp hội, doanh nghiệp và nguyện vọng của chính quyền, nhân dân các tỉnh có chung đường biên giới các với nước Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia cũng như nhằm thực hiện các Điều ước quốc tế về thương mại biên giới mà Việt Nam đã ký kết với các nước này.

2.8. Quản lý hàng hóa đối với khu vực hải quan riêng (Mục 8).

Nội dung quản lý bao gồm việc phân định rõ quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu giữa nội địa với các khu vực hải quan riêng, giữa các khu vực hải quan riêng với nhau cũng như giữa khu vực hải quan riêng với bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là trong cải cách thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để thúc đẩy giao lưu thương mại, đầu tư. 

“Khu hải quan riêng” đã được đề cập tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 và theo khoản 4 Điều 3 của Luật, “khu hải quan riêng” là khu vực địa lý xác định trên lãnh thổ Việt Nam được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnh thổ còn lại và nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.

Luật quy định chỉ áp dụng một lần các biện pháp quản lý ngoại thương hàng hóa đối với khu hải quan riêng (Điều 56, Điều 57, Điều 58), cụ thể:

– Áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa được đưa từ khu hải quan riêng ra nước ngoài như đối với hàng hóa được đưa từ nội địa ra nước ngoài.

– Không áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa đưa từ nội địa vào khu vực hải quan riêng.

– Áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa đưa từ khu hải quan riêng vào nội địa như đối với hàng hóa đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam.

– Không áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương, trừ biện pháp cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, biện pháp kiểm dịch đối với hàng hóa được đưa từ nước ngoài vào khu vực hải quan riêng.

– Không áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa mua bán, vận chuyển giữa các khu hải quan riêng trong lãnh thổ Việt Nam.

Ngoài ra, Luật quy định trong một số trường hợp cần thiết nhằm chống gian lận thương mại và chuyển tải bất hợp pháp, Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng hoặc không áp dụng một hoặc một số biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại các khu này.

Các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch

Chương III quy định các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch thực vật, động vật, kiểm dịch y tế biên giới và kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể như sau:

3.1.Về áp dụng biện pháp kỹ thuật và kiểm dịch (Mục 1)

 Luật quy định mục tiêu, nguyên tắc áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch; việc áp dụng biện pháp kỹ thuật và kiểm dịch đối với từng loại hàng hóa cũng như các quy định về trình tự, thủ tục được áp dụng.

Theo đó, biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch được áp dụng nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng hàng hóa; bảo vệ an toàn sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học; phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm và bảo đảm an ninh, lợi ích quốc gia, trên cơ sở những nguyên tắc sau (khoản 2 Điều 60): 

– Công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và tránh tạo ra rào cản không cần thiết đối với hoạt động ngoại thương, nhất là đối với hàng hóa xuất khẩu;

– Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong điều kiện cho phép, bảo đảm yêu cầu quản lý và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

– Bảo đảm các nguyên tắc khác theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, đo lường, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, thú y, phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

3.2. Về áp dụng biện pháp kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 65, 66)

Luật quy định cụ thể đối tượng kiểm tra, cơ quan, tổ chức kiểm tra và trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra để thống nhất về cơ sở pháp lý, đối tượng, nguyên tắc, trách nhiệm của các Bộ, ngành trong thực hiện kiểm tra. 

Biện pháp phòng vệ thương mại

– Về quy định chung, khoản 1 Điều 67 quy định: các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ do Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trong những trường hợp cụ thể.

– Về biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, trong đó, biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (khoản 1 Điều 77).

– Về biện pháp chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được trợ cấp khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp chống trợ cấp bao gồm: áp dụng thuế chống trợ cấp; cam kết của tổ chức, cá nhân hoặc của Chính phủ nước sản xuất, xuất khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, giảm mức trợ cấp, cam kết điều chỉnh giá xuất khẩu; các biện pháp chống trợ cấp khác (Điều 83).

– Về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp tự vệ bao gồm: áp dụng thuế tự vệ; áp dụng hạn ngạch nhập khẩu; áp dụng hạn ngạch thuế quan; cấp giấy phép nhập khẩu; các biện pháp tự vệ khác (Điều 91).

Kiểm soát khẩn cấp trong hoạt động ngoại thương

Chương này quy định một số trường hợp áp dụng biện pháp kiểm soát khẩn cấp đối với hàng hóa (Điều 100), cụ thể:

– Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra chiến tranh, tham gia chiến tranh, xung đột hoặc có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam.

– Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc chứng minh được là có đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng hàng hóa đó.

– Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra sự cố, thiếu sót, sai sót kỹ thuật mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc chứng minh được là có ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến an toàn, sức khỏe của người tiêu dùng hàng hóa đó.

– Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học của Việt Nam mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc có cơ sở khoa học chứng minh được sự ảnh hưởng đó.

– Mất cân đối nghiêm trọng của cán cân thanh toán.

– Các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định của pháp luật.

Do việc ban hành các chính sách kiểm soát khẩn cấp có quan hệ mật thiết với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên nên việc áp dụng các biện pháp này cần phải thực hiện minh bạch, có cơ sở khoa học, không lạm dụng và trong những trường hợp thực sự cần thiết.

Chương này cũng quy định nghĩa vụ tham vấn của các cơ quan ban hành biện pháp với các đối tác thương mại chịu tác động của các biện pháp này.

Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương

Chương này quy định về chính sách phát triển hoạt động ngoại thương như là một trong những công cụ quản lý nhà nước quan trọng nhằm hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động ngoại thương theo cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu. Theo đó, chính sách phát triển hoạt động ngoại thương bao gồm một số nội dung như: 

– Chính sách chung về phát triển hoạt động ngoại thương của nhà nước ta hiện nay như sau (Điều 103):

+ Nhà nước có chính sách phát triển hoạt động ngoại thương thông qua các biện pháp như hoạt động tín dụng, xúc tiến thương mại và các hoạt động hỗ trợ phát triển khác nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu; 

+ Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước và nước ngoài được tham gia phát triển hoạt động ngoại thương phù hợp với quy định của pháp luật; 

+ Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương phải phù hợp với định hướng của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược ngoại thương trong từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ ban hành; 

+ Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương được thực hiện hiệu quả, có sự phối hợp với các biện pháp thúc đẩy đầu tư, du lịch. 

– Luật cũng quy định một số chính sách đặc thù trong phát triển ngoại thương (Điều 104) bao gồm: 

+ Chính sách phát triển hoạt động ngoại thương đối với sản phẩm có lợi thế cạnh tranh mà trong nước sản xuất được cũng như các sản phẩm công nghệ và nguyên liệu đầu vào cần thiết phục vụ sản xuất trong nước.

+ Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tại các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn tham gia hoạt động ngoại thương.

– Luật còn quy định biện pháp phát triển ngoại thương thông qua hoạt động xúc tiến thương mại của các cơ quan, tổ chức (Điều 105) như:

+ Hoạt động của các cơ quan, tổ chức xúc tiến thương mại trong nước;

+ Hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại tại nước ngoài;

+ Hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam;

+ Hoạt động của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, của cơ quan đại diện thương mại.

Hoạt động xúc tiến thương mại là một trong số ít các biện pháp hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp được WTO cho phép nhằm tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài. Để đạt chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu đã được khẳng định với mức tăng hàng năm là 10% tại các văn kiện của Đảng, Quốc hội, Luật đã quy định việc cấp, sử dụng, quản lý kinh phí này được quyết định phù hợp với pháp luật ngân sách nhà nước và chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu do Quốc hội quyết định.

Giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương

 Cụ thể, cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO và trong các Điều ước quốc tế về thương mại song phương, đa phương khác là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên, theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này. Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này. 

Việt Nam đã là thành viên của WTO và của nhiều FTA song phương và đa phương nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh chấp thương mại có thể có với các thành viên khác. Hiện tại, việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống án lệ phong phú có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các quy định của hiệp định thương mại mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong quá trình thực thi hiệp định thương mại.

Do vậy, Luật đã có những quy định nêu rõ trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc giải quyết tranh chấp trong trường hợp do Chính phủ nước ngoài khởi kiện và cả trường hợp do Chính phủ Việt Nam khởi kiện.

Điều khoản thi hành

Chương này quy định về việc tổ chức thi hành và chuyển tiếp đối với hoạt động quản lý ngoại thương.

– Để không làm ảnh hưởng đến hoạt động của công tác quản lý nhà nước, đảm bảo hoạt động ngoại thương của thương nhân diễn ra bình thường, Luật quy định: các vụ việc phòng vệ thương mại đã được tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, điều tra trước khi Luật này có hiệu lực thi hành, được xem xét, xử lý theo các quy định tại các Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về việc chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam và các văn bản quy định chi tiết các Pháp lệnh trên được tiếp tục thực hiện theo các quy định đó. Các vụ việc được xem xét, xử lý sau khi Luật này có hiệu lực thi hành thực hiện theo các quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành.

– Bên cạnh đó, Luật quy định bãi bỏ 03 Pháp lệnh về các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp và biện pháp tự vệ).

Tiêu Dao

Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Trong Đảng / 2023

1. Khái niệm công tác kiểm tra

Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của nhà nước.

Công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách chủ động, thường xuyên, có chương trình, kế hoạch và hiệu quả.

– Nguyên tắc kiểm tra: Các cấp ủy đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Đảng.

– Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra, tổ chức đảng cấp trên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Đảng viên thực hiện kiểm tra theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Kiểm tra là phải xem xét tình hình thực tế, xem lại hồ sơ tài liệu, cần thiết là phải thẩm tra, xác minh, có kết luận đúng sai cụ thể.

2. Khái niệm công tác giám sát

Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.

– Nguyên tắc giám sát: Tổ chức đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát của Đảng và thực hiện nhiệm vụ giám sát theo sự phân công.

– Việc giám sát phải công khai, dân chủ, khách quan, thận trọng, đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng, đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Giám sát của Đảng có giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp, giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề.

3. Phân biệt giữa kiểm tra và giám sát

– Kiểm tra và giám sát đều là hoạt động của nội bộ Đảng, do cấp ủy, TCĐ và ủy ban kiểm tra thực hiện.

– Nội dung kiểm tra và giám sát: Đều là việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Đối tượng kiểm tra, giám sát: Đều là tổ chức đảng và đảng viên.

– Mục đích kiểm tra, giám sát: Đều nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

– Định kỳ đều có báo cáo với cấp ủy theo quy định về tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

a- Về mục đích:

– Giám sát: Là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới manh nha. Giám sát giúp đối tượng giám sát thực hiện đúng quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phản ánh, đề xuất; giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính. Qua giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì mới tiến hành kiểm tra.

– Còn mục đích của kiểm tra: Là để làm rõ đúng, sai. Sau khi kiểm tra phải kết luận và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý). Có thể có vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc vi phạm đã qua nhiều năm mới kiểm tra để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm để xử lý (nếu có).

b- Về đối tượng:

– Đối với kiểm tra: Đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra vừa là chủ thể kiểm tra.

– Đối với giám sát: Đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được TCĐ có thẩm quyền phân công.

c- Về phương pháp và hình thức:

– Giám sát: Không cần thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như một cuộc kiểm tra. Thông qua giám sát, theo dõi để phát hiện vấn đề, phản ánh với tổ chức đảng và cá nhân, nhằm kịp thời chấn chỉnh, sữa chữa khuyết điểm, tránh để xảy ra vi phạm.

– Còn phương pháp kiểm tra: Là tiến hành theo quy trình; thành lập tổ (hoặc đoàn) kiểm tra; coi trọng thẩm tra, xác minh; sau khi có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý); công tác kiểm tra có chủ thể là đảng viên vừa có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra và tự kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra.

* Như vậy, giám sát và kiểm tra có mối quan hệ tác động lẫn nhau: Muốn thực hiện tốt việc giám sát thì phải có quan sát theo dõi, xem xét tình hình thực tế của đối tượng được giám sát; muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện việc giám sát.

4. Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy

a. Công tác kiểm tra của cấp ủy (Cấp ủy kiểm tra theo Điều 30, Điều lệ Đảng)

* Công tác kiểm tra của đảng ủy cơ sở:

Hằng năm, UBKT đảng ủy cơ sở và các đồng chí được phân công phụ trách công tác kiểm tra của đảng ủy cơ sở tham mưu cho cấp ủy xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát để thực hiện.

Nội dung kiểm tra:

1. Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình; pháp luật của Nhà nước.

2. Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ.

3. Việc lãnh đạo chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

4. Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí sử dụng cán bộ.

5. Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Đảng viên và nhân dân.

6. Việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao của người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp.

* Công tác kiểm tra của đảng ủy bộ phận:

Đảng ủy bộ phận có trách nhiệm kiểm tra chi bộ và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình như công tác kiểm tra của đảng ủy cơ sở.

* Công tác kiểm tra của chi bộ ( chi bộ cơ sở, chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở và chi bộ thuộc đảng bộ bộ phận)

Chi bộ thực hiện kiểm tra tương tự như đảng ủy cơ sở, nhưng cần tập trung kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo 4 nhiệm vụ đảng viên.

b. Công tác giám sát của cấp ủy cơ sở

* Công tác giám sát của đảng ủy cơ sở:

Hằng năm, UBKT đảng ủy cơ sở và các đồng chí được phân công phụ trách công tác kiểm tra của đảng ủy cơ sở tham mưu cho cấp ủy xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát để thực hiện.

Nội dung giám sát đối với chi bộ trực thuộc:

1. Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình; pháp luật của Nhà nước.

2. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, quy chế làm việc, chế độ công tác và việc bảo đảm quyền của đảng viên.

3. Việc giữ gìn đoàn kết nội bộ, quản lý đảng viên, chỉ đạo thực hiện quy định về những điều cán bộ, đảng viên không được làm và giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú.

Nội dung giám sát đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

* Công tác giám sát của đảng ủy bộ phận:

Đảng ủy bộ phận thực hiện giám sát theo chức năng, nhiệm vụ và do đảng ủy cơ sở giao. Nội dung, đối tượng giám sát như của đảng ủy cơ sở.

* Công tác giám sát của chi bộ ( chi bộ cơ sở, chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở và chi bộ thuộc đảng bộ bộ phận)

Chi bộ giám sát đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

5. Công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra

Ủy ban Kiểm tra của đảng ủy cơ sở thực hiện theo Điều 32 Điều lệ Đảngó 6 nhiệm vụ:

1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của ban chấp hành Trung ương.

4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.

5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng

6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

(Đây là 6 nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp cần phân biệt rõ với nội dung kiểm tra, giám sát của cấp ủy).

* Hướng dẫn thêm về nghiệp vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm:

1. Khái niệm: Dấu hiệu vi phạm là những hiện tượng cho thấy có sự không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định.

– Khi có dấu hiệu vi phạm là khi có biểu hiện việc không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định mà đã phát hiện và nhận biết được.

– Đảng viên có dấu hiệu vi phạm là đảng viên có những hiện tượng cho thấy có sự không tuân theo hoặc làm trái tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

– Dấu hiệu vi phạm mới chỉ là hiện tượng, chưa phải là bản chất nên đảng viên có dấu hiệu vi phạm chưa phải là đảng viên sai phạm. Chỉ khi nào kết quả kiểm tra kết luận có sai phạm thì đảng viên đó mới là đảng viên sai phạm cần xem xét để có hình thức xử lý kỷ luật.

Tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên; nhiệm vụ đảng viên được quy định ở Điều 1, Điều 2 và Điều 12 Điều lệ Đảng. Phải căn cứ đảng viên có dấu hiệu vi phạm vấn đề gì trong các nội dung trên thì xác định đó là nội dung cần kiểm tra, kết luận.

Chú ý: Cần kiểm tra các dấu hiệu vi phạm chủ yếu sau:

– Việc chấp hành nghi quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Việc chấp hành nhiệm vụ được giao.

– Việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về những việc mà đảng viên, cán bộ, công chức không được làm.

– Việc giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng chống tham nhũng.

– Việc giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ.

6. Quy trình thực hiện một cuộc kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra

Cấp ủy và ủy ban kiểm tra cơ sở tiến hành một cuộc kiểm tra (hoặc giám sát) theo quy trình sau:

1- Căn cứ chương trình kiểm tra, giám sát từ đầu năm (của cấp ủy và UBKT)

2- Có quyết định của một cuộc kiểm tra (hoặc giám sát)

3- Kế hoạch 1 cuộc kiểm tra (hoặc giám sát)

– Mục đích, yêu cầu

– Nội dung kiểm tra

– Đối tượng kiểm tra

– Thời gian kiểm tra

– Cách thức tiến hành

(Kèm theo lịch làm việc cụ thể)

4- Nhận báo cáo của đơn vị được kiểm tra (tổ chức đảng cấp dưới xây dựng báo cáo)

5- Biên bản làm việc giữa đoàn (tổ) kiểm tra (hoặc giám sát) và đơn vị được kiểm tra (hoặc giám sát).

6- Đoàn (tổ) có báo cáo kết quả 1 cuộc kiểm tra (hoặc giám sát)

7- Cấp ủy hoặc UBKT báo cáo kết quả kiểm tra (hoặc giám sát)

8- Thông báo kết luận của cuộc kiểm tra (hoặc thông báo kết quả của cuộc giám sát)

II. Một số văn bản của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng

– Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

– Hướng dẫn số 01-HD/UBKTTW ngày 21/11/2016 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện một số điều trong Quy định số 30-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

– Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị “Về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”.

– Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW ngày 22/3/2018 của Uỷ ban kiểm tra Trung ương “Thực hiện một số điều của Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”.

Quy định 102 bổ sung mới

Điều 3. Thời hiệu xử lý kỷ luậ t

1- Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật.

a) Thời hiệu xử lý kỷ luật đảng được quy định như sau:

– 5 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách.

– 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

b) Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a Khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới.

2- Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

Nội Dung Cơ Bản Của Bảo Hiểm Y Tế / 2023

Đối tượng tham gia BHYT.

Đối tượng của BHYT là sức khoẻ của con người, bất kỳ ai có sức khoẻ và có nhu cầu bảo vệ sức khoẻ cho mình đều có quyền tham gia BHYT. Như vậy đối tượng tham gia BHYT là tất cả mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khoẻ của mình hoặc một người đại diện cho một tập thể, một cơ quan …đứng ra ký kết hợp đồng BHYT cho tập thể, cơ quan ấy.

Trong thời kỳ đầu mới triển khai BHYT , thông thường các nước đều có hai nhóm đối tượng tham gia BHYT là bắt buộc và tự nguyện. Hình thức bắt buộc áp dụng đối với công nhân viên chức nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có hưởng lương hưu,những người thuộc diện chính sách xã hội theo qui định của pháp luật … hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ theo từng quốc gia.

Phạm vi BHYT.

Mọi đối tượng tham gia BHYT khi không may gặp rủi ro về ốm đau, bệnh tật đi KCB đều được cơ quan BHYT xem xét chi trả bồi thường nhưng không phải mọi trường hợp đều được chi trả và chi trả hoàn toàn chi phí KCB, BHYT chỉ chi trả trong một phạm vi nhất định tuỳ điều kiện từng nước.

BHYT là hoạt động thu phí bảo hiẻm và đảm bảo thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm. Mặc dù mọi người dân trong xã hội đều có quyền tham gia BHYT nhưng thực tế BHYT không chấp nhận bảo hiểm thông thường cho người mắc bệnh nan y nếu không có thoả thuận gì thêm.

Những người đã tham gia BHYT khi gặp rủi ro về sức khoẻ đều được thanh toán chi phí KCB với nhiều mức độ khác nhau tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên nếu KCB trong các trường hợp cố tình tự huỷ hoại bản thân trong tình trạng không kiểm soát được hành động của bản thân, vi phạm pháp luật … thì không được cơ quan BHYT chịu trách nhiệm.

Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau. Cơ quan BHYT cũng không có trách nhiệm chi trả đối với người được BHYT nếu họ KCB thuộc chương trình này.

Phương thức BHYT.

Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT thì BHYT có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, cụ thể là:

– BHYT trọn gói là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT.

– BHYT trọn gói trừ các đại phẫu thuật là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT , trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu ( theo quy định của cơ quan y tế).

– BHYT thông thường là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người được BHYT.

Đối với các nước phát triển có mức sống dân cư cao , hoạt động BHYT đã có từ lâu và phát triển có thể thực hiện BHYT theo cả ba phương thức trên. Đối với các nước đang phát triển, mới triển khai hoạt động BHYT thường áp dụng phương thức BHYT thông thường.

Đối với phương thức BHYT thông thường thì BHYT được tổ chức dưới hai hình thức đó là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. BHYT bắt buộc được thực hiện với một số đối tượng nhất định được qui định trong các văn bản pháp luật về BHYT. Dù muốn hay không những người thuộc đối tượng này đều phải tham gia BHYT, số còn lại không thuộc đối tượng bắt buộc tuỳ theo nhu cầu và khả năng kinh tế có thể tham gia BHYT tự nguyện.

Phí BHYT

Phí BHYT là số tiền mà người tham gia BHYT phải đóng góp để hình thành quỹ BHYT.

Phí BHYT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: xác suất mắc bệnh, chi phí y tế, độ tuổi tham gia BHYT …ngoài ra có thể có nhiều mức phí khác nhau cho những người có khả năng tài chính khác nhau trong việc nộp phí lựa chọn…Trong đó chi phí y tế là yếu tố quan trọng nhất và nó phụ thuộc vào các yếu tố sau: tổng số lượt người KCB , số ngày bình quân của một đợt điều trị, chi phí bình quân cho một lần KCB, tần suất xuất hiện các loại bệnh…

Phí BHYT thường được tính trên cơ sở các số liệu thống kê về chi phí y tế và số người tham gia BHYT thực tế trong thời gian liền ngay trước đó. Phí

BHYT bao gồm cả chi phí quản lý cho cơ quan, tổ chức đứng ra thực hiện và thường tính cho một năm. Việc tính phí không hề đơn giản vì nó vừa phải đảm bảo chi trả đủ chi phí KCB của người tham vừa phải đảm bảo quyền lợi tối thiểu với mức phí tương ứng.

Quỹ BHYT.

Tất cả những người tham gia BHYT đều phải đóng phí và Quỹ BHYT được hình thành từ phần đóng góp này.

Quỹ BHYT là một Quỹ tài chính tập trung có quy mô phụ thuộc vào số lượng thành viên đóng góp và mức độ đóng góp vào quỹ của các thành viên đó. Thông thường, với mục đích nhân đạo, không đặt mục đích kinh doanh lên hàng đầu, Quỹ BHYT được hình thành chủ yếu từ hai nguồn chính là do người sử dụng lao động và người lao động đóng góp, hoặc chỉ do sự đóng góp của người tham gia BHYT.

Sau khi hình thành quỹ, quỹ BHYT được sử dụng như sau:

– Chi thanh toán chi phí y tế cho người được BHYT

– Chi dự trữ, dự phòng dao động lớn

– Chi đề phòng hạn chế tổn thất

– Chi quản lý

Tỷ lệ và quy mô các khoản chi này thường được qui định trước bởi cơ quan BHYT và có thể thay đổi theo từng điều kiện cụ thể.

Ở Việt Nam, BHYT được tổ chức thực hiện từ năm 1992 theo Nghị định 299/HĐBT ( nay là Chính phủ) ngày 15/8/1992 ban hành Điều lệ BHYT. Sau một thời gian thực hiện đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị đinh 58/CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ ban hành về Điều lệ BHYT, BHYT Việt Nam về cơ bản cũng thống nhất với các nước.

Đối tượng tham gia.

Theo Nghị đinh 58 thì BHYT Việt Nam cũng được thực hiện dưới hai hình thức là bắt buộc và tự nguyện.

* Đối tượng tham gia bắt buộc gồm:

– người lao động Việt Nam làm việc trong:

+ các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.

+ các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị – xã hội.

+ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác

+ các đơn vị, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên.

– cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, người làm việc trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí hàng tháng theo qui định tại Nghị định số 09/1998/NĐ – CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ, người làm việc tịa các cơ quan dân cử từ Trung ương đến cấp xã, phường.

– người đang hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng do suy giảm khả năng lao động.

– người có công với các mạng theo qui định của pháp luật

– các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua

bảo hiểm xã hội.

* Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện gồm:

tất cả mọi đối tượng trong xã hội, kể cả người nước ngoài đến làm việc, học tập, du lịch tại Việt Nam.

Chính phủ khuyến khích việc mở rộng và đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện, đồng thời khuyến khích Hội chữ thập đỏ, các Hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để mua thẻ BHYT cho người nghèo. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân địa phương được tham gia BHYT tự nguyện.

Phạm vi BHYT

Người có thẻ BHYT bắt buộc được hưởng chế độ BHYT khi KCB ngoại trú và nội trú gồm:

– khám bệnh, chẩn đoán và điều trị

– xét nghiệm,chiếu chụp X – quang, thăm dò chức năng

– máu, dịch truyền

– các thủ thuật, phẫu thuật

– sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh

Người có thẻ BHYT tự nguyện được quỹ BHYT chi trả các chi phí KCB phù hợp với mức đóng và loại hình BHYT tự nguyện đã lựa chọn. Nếu mức đóng BHYT tự nguyện tương đương mức đóng BHYT bắt buộc bình quân trong khu vực thì người có thẻ BHYT tự nguyện sẽ được hưởng chế độ BHYT như người có thẻ BHYT bắt buộc.

Trong trường hợp bệnh vượt quá khả năng chuyên môn của cơ sở KCB người có thẻ BHYT được quyền chuyển viện lên tuyến trên. Tuy nhiên Quỹ BHYT không thanh toán trong các trường hợp sau:

– điều trị bệnh phong, sử dụng thuôc điều trị các bệnh lao, sốt rét, tâm thần phân liệt, động kinh, dịch vụ kế hoạch hoá gia đình ( vì đây là chương trình sức khoẻ quốc gia được ngân sách Nhà nước đài thọ)

– phòng và chữa bệnh dại, phòng bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV – AIDS, lậu, giang mai

– tiêm chủng phòng bệnh, điều dưỡng, an dưỡng, khám sức khoẻ điều trị vô sinh

– chỉnh hình và tạo hình thẩm mỹ, làm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, thuỷ tinh thể nhân tạo, ổ khớp nhân tạo, van tim nhân tạo

– các bệnh bẩm sinh và dị tật bẩm sinh

– bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạ chiến tranh và thiên tai

– tự tử, cố ý gây thương tích, nghiện chất ma tuý, vi phạm pháp luật

Phương thức BHYT

BHYT ở Việt Nam được thực hiện theo phương thức BHYT thông thường, chi phí KCB cho người có thẻ BHYT bắt buộc được thanh toán theo mức: 80% chi phí KCB sẽ do Quỹ BHYT chi trả còn 20% người bệnh tự trả cho cơ sở KCB.

Đối tượng thuộc diện ưu đãi xã hội qui định tại Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương bệnh binh …được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí KCB

Nếu số tiền mà người bệnh tự trả 20% chi phí KCB trong năm đã vượt quá 6 tháng lương tối thiểu thì các chi phí KCB tiếp theo trong năm sẽ được quỹ BHYT thanh toán toàn bộ.

Đối với người tham gia BHYT tự nguyện thì mức hưởng sẽ do Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định áp dụng cho từng địa phương sau khi có sự thoả

thuận của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Phí BHYT .

Người có tham gia BHYT bắt buộc có mức đóng bằng 3% lương làm căn cứ đóng qui định cho từng trường hợp cụ thể trong đó cá nhân tham gia đóng 1% còn người sử dụng lao động, cơ quan sử dụng công chức, viên chức, cơ quan cấp sinh hoạt phí đóng 2%.

Đối với người hưởng sinh hoạt phí là đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp không thuộc biên chế Nhà nước mức đóng là 3% mức lương tối thiểu hiện hành do cơ quan cấp sinh hoạt phí đóng.

Đối với người có công với cách mạng, đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội thì mức đóng bằng 3% mức lương tối thiểu hiện hành do cơ quan trực tiếp quản lý kinh phí của đối tượng đóng.

Người đang hưởng trợ cấp hưu, hưởng các chế độ BHXH thì mức đóng bằng 3% tiền lương hưu, tiền trợ cấp BHXH hàng tháng và do cơ quan BHXH trực tiếp đóng.

Người tham gia BHYT tự nguyện có mức đóng do Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định áp dụng cho từng địa phương.

Quản lý và sử dụng quỹ BHYT

Nguồn hình thành quỹ BHYT .

Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trong toàn bộ hệ thống BHYT Việt Nam, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ.

Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn sau:

– thu từ các đối tượng tham gia BHYT theo qui định.

– các khoản viện trợ từ các tổ chức Quốc tế

– các khoản viện trợ từ các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước.

– ngân sách Nhà nước cấp

– lãi do hoạt động đầu tư

– các khoản thu khác ( nếu có )

Quỹ BHYT tự nguyện được hạch toán và quản lý độc lập với Quỹ BHYT bắt buộc nhằm phục vụ cho công tác triển khai BHYT tự nguyện.

Quản lý và sử dụng quỹ BHYT.

Hàng năm quỹ BHYT bắt buộc dành 91,5% cho quỹ KCB trong đó dành 5% để lập quỹ dự phòng KCB.

Quỹ KCB trong năm không sử dụng hết được kết chuyển vào quỹ dự phòng. Nếu trường hợp chi phí KCB trong năm vượt quá khả năng thanh toán của quỹ KCB thì được bổ sung từ quỹ dự phòng.

Dành 8,5% cho chi quản lý thường xuyên của hệ thống BHYT Việt Nam theo dự toán hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chế độ chi tiêu của Nhà nước qui định.

Tiền tạm thời nhàn rỗi ( nếu có ) của quỹ BHYT được mua tín phiếu, trái phiếu do Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại quốc doanh phát hành và được thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ nhưng phải đảm bảo nguồn chi trả khi cần thiết.

Nguồn thu BHYT tự nguyện được hạch toán riêng và sử dụng để chi cho các nội dung sau:

– chi trả chi phí KCB cho người có thẻ BHYT tự nguyện theo qui định

– chi cho các đại lý thu, phát hành thẻ BHYT tự nguỵên

– chi quản lý thường xuyên của cơ quan BHYT

BHYT Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý thống nhất quỹ BHYT tự nguyện. Liên Bộ Y tế – Tài chính qui định chi tiết và hướng dẫn sử dụng quỹ BHYT tự nguyện.

Liên Bộ Y tế – Tài chính ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHYT Việt Nam.

Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT

Đối với người tham gia BHYT

a. Quyền lợi

Khi tham gia BHYT người có thẻ BHYT được bảo đảm các quỳên lợi sau:

– đựơc KCB theo chế độ BHYT qui định

– chọn một trong các cơ sở KCB ban đầu thuận lợi tại nơi cư trú hoặc nơi công tác theo hướng dân của cơ quan BHYT để quản lý, chăm sóc sức khoẻ và KCB

– được thay đổi nơi đăng ký KCB ban đầu vào cuối mỗi quý.

– được thanh toán viện phí theo chế độ BHYT khi sinh con thứ nhất và thứ hai

– yêu cầu cơ quan BHYT bảo đảm quyền lợi theo qui định của Điều lệ BHYT

– khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động, cơ quan BHYT , các cơ sở KCB vi phạm Điều lệ BHYT dẫn đến việc quyền lợi của họ không được đảm bảo.

b. Trách nhiệm

Khi tham gia BHYT người tham gia cũng phải có các trách nhiệm sau:

– đóng BHYT đầy đủ và đúng thời hạn

– xuất trình thẻ BHYT khi đến KCB

– bảo quản và không cho người khác mượn thẻ BHYT

Đối với cơ quan, đơn vị và người sử dụng lao động

a. Quyền lợi

– từ chối thực hiện những yêu cầu của cơ quan BHYT và các cơ sở KCB không đúng với quy định của Điều lệ BHYT.

– khiếu nại với các cơ quan Nhà nước có thẩm quỳên khi cơ quan BHYT và các cơ sở KCB vi phạm Điều lệ BHYT. Trong thời gian khiếu nại vẫn phải thực hiện trách nhiệm đóng BHYT theo qui định của Điều lệ BHYT.

b. Trách nhiệm.

– đóng BHYT theo đúng qui định của Điều lệ BHYT .

– chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về thực hiện chế độ BHYT của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đối với cơ quan BHYT.

a. Quyền lợi.

– tổ chức các đại lý phát hành thẻ.

– ký hợp đồng với các cơ sở KCB hợp pháp để KCB cho người được BHYT.

– từ chối thanh toán chi phí KCB không đúng qui định của Điều lệ BHYT hoặc không đúng với các điều khoản ghi trong hợp đồng đã được ký giữa cơ quan BHYT với cơ sở KCB.

– thu giữ các chứng từ và thẻ BHYT giả mạo để chuyển cho các cơ quan điều tra xử lý theo qui định của phápt luật.

– kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý các đơn vị, cá nhân vi phạm Điều lệ BHYT.

b.Trách nhiệm.

– thu tiền BHYT, cấp thẻ và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng thẻ BHYT

– cung cấp thông tin về các cơ sở KCB và hướng dẫn người tham gia BHYT lựa chọn để đăng ký.

– quản lý quỹ, thanh toán chi phí BHYT đúng qui định và kịp thời.

– kiểm tra, giám định việc thực hiện chế độ BHYT.

– tổ chức thông tin, tuyên truyền về BHYT.

– giải quyết các khiếu nại về thực hiện chế độ BHYT thuộc thẩm quyền.

Đối với cơ sở KCB

a.Quyền lợi.

– yêu cầu cơ quan BHYT tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí KCB theo qui định của Điều lệ BHYT và theo hợp đồng KCB đã được ký kết.

– KCB và cung cấp dịch vụ y tế theo đúng nguyên tắc chuyên môn.

– yêu cầu cơ quan BHYT cung cấp những số liệu về thẻ BHYT đăng ký tại cơ sở KCB.

– từ chối thực hiện các yêu cầu ngoài qui định của Điều lệ BHYT và hợp đồng đã ký với cơ quan BHYT.

– khiếu kiện với các cơ quan có thẩm quyền khi cơ quan BHYT vi phạm hợp đồng KCB BHYT.

b.Trách nhiệm.

– thực hiện đúng hợp đồng KCB BHYT.

– chỉ định sử dụng thuốc, vật phẩm sinh học, thủ thuật, phẫu thuật, xét nghiệm và các dịch vụ y tế an toàn, hợp lý theo qui định về chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế.

– kiểm tra thẻ BHYT, phát hiện và thông báo cho Bảo hiểm y tế Việt Nam những trường hợp vi phạm và lạm dụng chế độ BHYT.

Tổ chức, quản lý BHYT.

Trước năm 2002, Bảo hiểm y tế Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ Trung ương đến địa phương BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT. Tuy nhiên để phù hợp với thực tế và thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Vì vậy, hiện nay Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức và quản lý BHYT. Mọi Điều lệ về cơ bản vẫn được thực hiện theo Nghị định 58 và có văn bản sửa đổi hướng dẫn cụ thể kèm theo từng phần cho phù hợp.

Ở Trung ương: Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan sự nghiệp trực thuộc Chính phủ.

Ở cấp tỉnh: Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Ở cấp huyện, quận, thành phố, thị xã thuộc tỉnh tổ chức chi nhánh bảo hiểm y tế trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan sự nghiệp có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý về đối tượng tham gia BHXH, BHYT cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT, quản lý hồ sơ hưởng chế độ BHXH đối với từng chế độ và thực hiện chế độ BHXH, quản lý đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng, quản lý quỹ BHXH, quỹ BHYT tự nguyện.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .Công An Tra Vinh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!