Đề Xuất 11/2022 # Nhiều Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Tín Dụng / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Nhiều Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Tín Dụng / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhiều Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Tín Dụng / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước tỉnh đã tích cực chỉ đạo các ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn bám sát kế hoạch và định hướng phát triển của tỉnh thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp về chính sách tiền tệ, tín dụng, có lộ trình tăng lãi suất phù hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Theo thông tin của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, trong năm 2019, các ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về lãi suất huy động và lãi suất cho vay; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá các chương trình ưu đãi cho khách hàng gửi tiền; tập trung chăm sóc khách hàng, nhất là nhóm khách hàng lớn. Bên cạnh đó, không ngừng mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và tiện ích ngân hàng nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi; chủ động xây dựng các chương trình cho vay với lãi suất hợp lý, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng kết hợp với đổi mới quy trình cho vay, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, dịch vụ ngân hàng.

Để bảo đảm cân đối đủ nguồn đáp ứng cho vay nền kinh tế, các tổ chức tín dụng đã triển khai nhiều chương trình huy động vốn với các hình thức phong phú như: Huy động tiết kiệm; phát hành giấy tờ có giá; tranh thủ nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế với mức lãi suất cạnh tranh. Nhờ đó, năm 2019, hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã phát huy hiệu quả. Nguồn vốn được điều hành linh hoạt, bảo đảm khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Trong năm, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng 80.799 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2018. Trong đó, huy động vốn từ 12 tháng trở lên đạt trên 22.700 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2018, chiếm 28,15% tổng nguồn vốn huy động. Nguồn vốn được tập trung cho vay các chương trình ưu tiên: cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới; cho vay công nghiệp hỗ trợ; cho vay xuất khẩu; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cho vay các đối tượng chính sách… Tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng, tổ chức tín dụng đến 31/12/2019 trên 78.000 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2018.

Năm 2020, Ngân hàng Nhà nước tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng, tổ chức tín dụng triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các chủ  trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực thi chính sách tiền tệ và các văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của tỉnh về phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện đồng bộ các giải pháp: điều chỉnh hợp lý cơ cấu và kỳ hạn nguồn vốn; sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất, khuyến khích người gửi tiền; mở rộng mạng lưới huy động vốn; ứng dụng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng tiên tiến, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt… Đồng thời, chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; chú trọng cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, góp phần kiểm soát lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; tranh thủ mức cao nhất nguồn vốn hỗ trợ của các ngân hàng, tổ chức tín dụng cấp trên để đầu tư tín dụng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Hồng Yến

Phát Triển Doanh Nghiệp Mới: Một Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng / 2023

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, trong hơn 4 năm, từ năm 2016 đến nay, đã có hơn 112 nghìn doanh nghiệp thành lập mới. Đây là kết quả rất đáng khích lệ về phát triển doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô, từ đó cũng có thể thấy rõ môi trường đầu tư – kinh doanh trên địa bàn tiếp tục có sự chuyển biến mạnh mẽ, tạo niềm tin và khích lệ tinh thần khởi nghiệp trên toàn Thành phố.

Hà Nội là địa phương luôn tiên phong trong việc cải cách thủ tục hành chính (TTHC), rút ngắn thời gian gia nhập thị trường cho doanh nghiệp. Từ năm 2018 đến nay, Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước về đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử (trong công tác đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử với tỷ lệ 100% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đều được thực hiện qua mạng điện tử, kết hợp với việc sử dụng các dịch vụ tiện ích hỗ trợ doanh nghiệp khi đăng ký doanh nghiệp như dịch vụ tiếp nhận và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ bưu chính công ích; dịch vụ mở tài khoản ngân hàng cho doanh nghiệp; dịch vụ chữ ký số công cộng; dịch vụ hỗ trợ kinh phí làm dấu pháp nhân và công bố mẫu dấu cho doanh nghiệp…

Từ những nỗ lực triển khai công tác cải cách, ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, công tác phát triển doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Số doanh nghiệp thành lập mới liên tục tăng trong 4 năm (từ 2016-2019), trong đó, năm 2016 là 22.617 doanh nghiệp; năm 2017 là 24.519 doanh nghiệp; năm 2018 là 25.187 doanh nghiệp; năm 2019 là 27.114 doanh nghiệp. Riêng 6 tháng đầu năm 2020, Thành phố cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho khoảng 12.649 doanh nghiệp thành lập mới.

Năm 2020 là năm cuối cùng của kỳ kế hoạch, vì vậy ngay từ đầu năm, Thành phố đã đưa ra mục tiêu đấu thành lập mới thêm 30.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã tác động lớn đến các hoạt động sản xuất kinh doanh và mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội kéo theo số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm sút. Trong 6 tháng đầu năm số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm 9% so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giải thể 1.153 doanh nghiệp (tăng 18% so với cùng kỳ), số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 6.159 doanh nghiệp (tăng 33% so với cùng kỳ).

Tại buổi giao ban trực tuyến công tác tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2020, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội tập trung các giải pháp thành lập doanh nghiệp mới, khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, bảo đảm năm 2020 phấn đấu thành lập 30.000 doanh nghiệp.

Theo Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền, năm 2020 sẽ tiếp tục đánh dấu sự quyết tâm, quyết liệt của Lãnh đạo thành phố Hà Nội trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển. Sở Kế hoạch và Đầu tư cam kết luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, nỗ lực phấn đấu để đạt mục tiêu cao nhất về phát triển doanh nghiệp.

Sau khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu cho UBND thành phố Hà Nội triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế, như triển khai quyết liệt Đề án hỗ trợ khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn Thành phố; thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới về phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp lần đầu, kinh phí làm dấu pháp nhân cho doanh nghiệp thành lập mới, kinh phí chuyển phát trả kết quả thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại nhà cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, phối hợp với Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan thuế, Cơ quan bảo hiểm để xây dựng cơ chế trao đổi thông tin điện tử giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan bảo hiểm xã hội để truyền các thông tin cơ bản của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp được thành lập, nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; tiếp tục cải cách mạnh mẽ và quyết liệt TTHC về đăng ký doanh nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng mạnh CNTT, nâng cao tỷ lệ đăng ký doanh nghiệp trực tuyến mức độ 4; nâng cao hơn nữa ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức trong thực thi công vụ, tạo mọi điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động và phát triển; thực hiện mô hình “Cơ quan Đăng ký kinh doanh thân thiện” hướng đến nền hành chính phục vụ, đem đến sự hài lòng cho tổ chức, doanh nghiệp trong thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp; thực hiện quyết liệt, hiệu quả các tiện ích cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm bớt thời gian thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường.

Minh Anh

Cải Cách Chính Sách Tài Khóa Thúc Đẩy Tăng Trưởng / 2023

Chính sách tài khóa là một trong những công cụ điều hành vĩ mô quan trọng của nền kinh tế. Nguồn: Internet.

Những năm qua, Bộ Tài chính đã chỉ đạo thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương thu, chi ngân sách ở tất cả các cấp, ngành, địa phương và đơn vị. Nhờ vậy, tỷ trọng chi thường xuyên giảm (năm 2018 giảm còn dưới 62% tổng chi ngân sách nhà nước, mục tiêu là dưới 64%), tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng (năm 2018 đạt trên 27%, mục tiêu là 25 – 26%).

Cùng với việc tích cực xây dựng, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn Luật Quản lý nợ công, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công theo hướng bền vững; Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, triển khai các giải pháp phát triển cân bằng và toàn diện thị trường tài chính, cùng với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thông qua việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN, thu đủ số cổ tức, lợi nhuận sau thuế, tiền bán vốn tại các DN theo nghị quyết Quốc hội…

Có thể khẳng định, các chính sách tài chính đã đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; góp phần quan trọng vào đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đi vào thực chất hơn, tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng và rõ nét.

Chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khóa nói riêng được xây dựng hướng đến tính an toàn và bền vững; Kỷ luật tài khóa được tuân thủ chặt chẽ, không để xảy ra tình trạng phá vỡ các kế hoạch ngân sách đã phê duyệt; Hạn chế tối đa các khoản chi cho tiêu dùng, trong đó chi hành chính cho bộ máy chính phủ được xem là khá “cồng kềnh” hiện nay bằng cách đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, chuyển các đơn vị sự nghiệp sang cơ chế tự chủ tài chính để giảm bớt gánh nặng chi sự nghiệp từ nguồn vốn ngân sách…

Đồng bộ chính sách tài chính tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng

Đánh giá cao về những kết quả tích cực trong đổi mới, cải cách chính sách tài khóa, các chuyên gia cho rằng, thực tiễn vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần làm rõ trong bối cảnh hiện nay, đó là chính sách tài chính phải làm gì để phục vụ mô hình tăng trưởng mới. Với việc chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu, đòi hỏi Nhà nước cần có xuất giải pháp cải cách mang tính đột phá, đồng bộ các chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới.

Làm rõ về vấn đề này, ông Hà Huy Tuấn – nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đề xuất nhiều giải pháp, như cần có chính sách thuế tài sản, huy động nguồn lực từ đất đai để tái cơ cấu nền kinh tế.

Ông Hà Huy Tuấn cho rằng, các chính sách tài chính trong thời gian tới, nhất là chính sách huy động nguồn lực, cần duy trì ổn định tỷ trọng thu thuế, phí; Đơn giản hóa các chính sách, đơn giản mục tiêu, có thể hiểu là mỗi chính sách thuế chỉ cần đạt được một mục tiêu; Thu ngân sách nên bình đẳng, công bằng, còn hỗ trợ nên chuyển sang phần chi ngân sách.

Về các chính sách thu ngân sách, ông Hà Huy Tuấn đề nghị, thuế trực thu cần phải ưu đãi, mở rộng diện chịu thuế. Đối với thuế gián thu, cũng cần giải ưu đãi, mở rộng diện chịu thuế và hợp nhất, đơn giản hóa thuế suất. Đồng thời, phải coi thuế tài sản là nguồn thu chính, giá tính thuế thực hiện theo giá thị trường gắn với quy hoạch đất đai và thuế suất.

Đưa ra các giải pháp về chính sách phân bổ nguồn lực, ông Đặng Văn Thanh – Chủ tịch Hội Kế toán Kiểm toán Việt Nam đề xuất, nên sớm xây dựng Luật Tài chính quốc gia; Có chính sách quản lý tập trung toàn bộ các nguồn quỹ quốc gia, nên tổng kết để có hệ thống chính sách thuế ổn định trong vòng 5 – 10 năm tới. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại thị trường trái phiếu chính phủ; Huy động mạnh mẽ nguồn lực tài chính nhà nước; Tiếp tục có chính sách huy động nguồn vốn FDI, ODA có chọn lọc kỹ càng hơn; cơ cấu lại chi NSNN; phân bổ nguồn lực tài chính rõ ràng, hiệu quả hơn…

“Chúng tôi đánh giá cao cách tiếp cận của Chính phủ Việt Nam trong việc hướng tới một chính sách tài chính tạo động lực cho tăng trưởng. Đây là nỗ lực lớn trong việc cơ cấu chính sách tài chính của một đất nước. Việc phấn đấu tăng trưởng GDP và tăng chi tiêu công trong mục tiêu trung hạn là rất lớn. Trong bối cảnh đó, nguồn thu từ dầu, từ thuế xuất nhập khẩu có khả năng suy giảm, giảm mức thuế theo các cam kết tại các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định EVFTA… là thách thức đối với Việt Nam.” Ông Sebastian Paust – Tham tán thứ nhất, Trưởng Bộ phận hợp tác phát triển, Đại sứ quán Đức tại Việt Nam

Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Chiến Lược Quốc Gia Về Tăng Trưởng Xanh Ở Việt Nam / 2023

(QLNN) – Tăng trưởng kinh tế được coi là nền tảng để xóa đói, giảm nghèo và phát triển con người. Vấn đề đáng quan tâm là tính bền vững của quá trình tăng trưởng này. Một số mô hình tăng trưởng hiện nay đang làm cạn kiệt và hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng. Do đó, mô hình tăng trưởng xanh gắn với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường bền vững, xóa đói, giảm nghèo và hòa nhập xã hội rất được quan tâm.

Trong hơn 20 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 7% bình quân mỗi năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, nền kinh tế hội nhập cao với kinh tế thế giới, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, nhìn nhận lại chặng đường vừa qua, đánh giá chung của Chính phủ và các tổ chức nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy, kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa ổn định bởi sự phát triển còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư, thâm dụng lao động, sử dụng tài nguyên, năng lượng chưa hiệu quả, ô nhiễm môi trường gia tăng, cường độ phát thải khí nhà kính cao…

Hơn nữa, chúng ta đang phải đối mặt với một số thách thức về bảo đảm an ninh năng lượng, lương thực, nguồn nước trong điều kiện chịu nhiều tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ, đất nước cần phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.

Trong bối cảnh hiện nay, tăng trưởng xanh là phương thức phát triển phù hợp với Việt Nam

Tăng trưởng xanh (TTX) là cụ thể hóa định hướng phát triển bền vững, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, góp phần giảm nhẹ và phòng, chống tác động của biến đổi khí hậu, thực hiện tốt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng mà Chính phủ đề ra. TTX dựa trên việc tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế.

Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua sự đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái, góp phần giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu: biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng…

Tại Việt Nam, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng TTX, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX cho thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1393/QĐ- TTg ngày 25/9/2012, trong đó nêu rõ 3 nhiệm vụ chiến lược: giảm phát thải nhà kính, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững thông qua thực hiện 17 nhóm giải pháp, tập trung vào truyền thông, nâng cao nhận thức, huy động nguồn lực để thực hiện Chiến lược; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ; nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng; giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, thực hành tiêu dùng bền vững.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính cũng ban hành Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2015 về kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về TTX đến năm 2020 với việc xác định rõ định hướng điều chỉnh chung, phương thức tổ chức thực hiện, cách thức phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm hướng tới thúc đẩy TTX. Thực hiện mục tiêu này, các chính sách tài chính hỗ trợ TTX ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào nhóm chính sách thuế, chính sách chi ngân sách nhà nước (NSNN) và chính sách tín dụng.

Chính sách thuế tài nguyên trở thành công cụ quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên; góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên đối với phát triển kinh tế bền vững, bảo đảm nguyên tắc “tài nguyên không có khả năng tái tạo” thì áp dụng mức thuế suất cao, “tài nguyên có khả năng tái tạo” thì áp dụng mức thuế suất thấp.

Các chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (DN), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất – nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng từng bước được hoàn thiện theo hướng chú trọng khuyến khích đầu tư, sản xuất theo công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và hỗ trợ cho việc thực hiện Chiến lược TTX của quốc gia.

Hàng năm, NSNN bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường không thấp hơn 1% tổng chi cân đối của NSNN trong dự toán ngân sách, trong đó, chủ yếu tập trung vào: hỗ trợ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo dự án; thực hiện phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường quốc gia; xây dựng và ban hành tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường…

Chính sách tín dụng xanh được đẩy mạnh thông qua các kênh cho vay hỗ trợ lãi suất đối với hoạt động dự án bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch (tín dụng đầu tư nhà nước, tín dụng xanh, các chương trình cho vay ưu đãi). Các hoạt động tín dụng xanh hướng vào các dự án tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch thông qua Quỹ ủy thác tín dụng xanh (GCTF) và tín dụng của các ngân hàng thương mại…

Trên cơ sở triển khai Chiến lược quốc gia về TTX và Kế hoạch hành động quốc gia về TTX, các địa phương đã tích cực triển khai xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của từng địa phương. Với trọng tâm là cụ thể hóa các mục tiêu, các chỉ tiêu và giải pháp trong Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về TTX, đến nay, đã có 34/63 tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành Kế hoạch hành động TTX1. Bên cạnh đó, kế hoạch hành động TTX còn được triển khai ở quy mô cấp vùng như đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Tây Bắc…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc chuyển đổi nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh ở Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức:

Một là, TTX mặc dù được nhiều địa phương quan tâm, nhiều DN ứng dụng nhưng tầm quan trọng vẫn chưa thực sự được đề cao so với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, phần lớn người dân và DN chưa có nhận thức đầy đủ về sự cấp thiết của TTX. Đây được coi là điểm yếu của DN Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, nhu cầu tài chính để triển khai thực hiện các hoạt động về TTX trong bối cảnh nguồn NSNN hạn hẹp và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế giảm dần cũng đang là một thách thức lớn.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 98% DN nhỏ và vừa, vốn ít, nguồn nhân lực nghiên cứu phát triển thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, công nghệ của DN về cơ bản vẫn đang ở giai đoạn áp dụng, chưa đủ khả năng tự tiến hành nghiên cứu triển khai hoặc đổi mới công nghệ2.

Hai là, hệ thống pháp luật đang trong quá trình tiếp tục xây dựng hoàn thiện nên chưa đồng bộ, chưa thật phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hướng tới TTX. Việc tổ chức quản lý chiến lược về phát triển ngành, vùng, địa phương trên phạm vi cả nước còn rời rạc, cục bộ. Do lối tư duy với tầm nhìn ngắn hạn, trước mắt (tư duy nhiệm kỳ) nên hiện tượng chạy đua xây dựng các khu công nghiệp, các nhà máy, bến cảng, sân golf, thủy điện… trong khi không tính tới hiệu quả kinh tế – xã hội, không đánh giá tác động môi trường một cách thấu đáo đã trở thành phổ biến tại các địa phương.

Ba là, năng lực phát triển công nghệ của Việt Nam còn rất thấp, cơ cấu nền kinh tế lạc hậu, công nghệ sản xuất cũ, năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh không cao; công nghệ sản xuất năng lượng tái tạo chưa phát triển; trình độ khoa học – công nghệ, hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn thấp.

Bốn là, tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái nghiêm trọng do phương thức tăng trưởng còn nặng theo chiều rộng, sử dụng năng lượng hóa thạch và nguyên liệu đầu vào, trong khi trình độ sử dụng công nghệ mới để giảm tiêu hao vật chất còn thấp, việc quản lý tài nguyên còn hạn chế…

Để tiếp tục thúc đẩy thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh ở Việt Nam, trước hết, Việt Nam cần huy động các nguồn lực và cơ chế tài chính trong và ngoài nước, ưu tiên cho tăng trưởng xanh

Đặc biệt, cần đẩy mạnh triển khai mô hình hợp tác công tư, chủ động tiếp cận các nguồn vốn từ tư nhân cũng như triển khai các công cụ tài chính dựa vào thị trường, như thị trường mua bán và trao đổi tín chỉ các-bon để bảo đảm tính bền vững và nguồn lực tài chính ổn định cho TTX. Đối với cơ chế tài chính cho TTX ở cấp địa phương, cần phân cấp rõ nguồn vốn tài chính trung ương và địa phương cho TTX cũng như đa dạng hóa các hình thức thu hút, huy động tài chính cho TTX chẳng hạn phát hành trái phiếu xanh ở các địa phương.

Thứ hai, xây dựng và ban hành các cơ chế khuyến khích và thúc đẩy nghiên cứu, sử dụng công nghệ mới, ít tiêu hao nhiên liệu, giảm phát thải khí nhà kính và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, ban hành chính sách về bảo đảm giá và cơ chế ưu đãi cho phát triển năng lượng tái tạo. Các cơ chế mới này sẽ là đòn bẩy mạnh mẽ cho các DN sản xuất, nhất là các DN tại địa phương mạnh dạn thay đổi công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm bằng các công nghệ mới với năng suất và hiệu quả cao hơn trong sử dụng các nguồn tài nguyên.

Chú trọng đầu tư tận dụng lợi thế từ nguồn năng lượng tái tạo, nhất là nguồn năng lượng sinh khối từ các sản phẩm hay chất thải nông nghiệp và năng lượng gió từ đường bờ biển dài hơn 3.400 km của Việt Nam. Hơn nữa, cần tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế, phí, hỗ trợ vốn, đất đai và bảo đảm giá đầu ra nhằm khuyến khích nhiều hơn nữa các DN đầu tư vào năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, từng bước gia tăng tỷ trọng của các nguồn năng lượng sạch này trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng của quốc gia, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch.

Về cơ cấu kinh tế, tăng dần tỷ trọng đầu tư cho các ngành sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên như các ngành dịch vụ, du lịch sinh thái, công nghệ thông tin…

Thứ ba, thực hiện xanh hóa sản xuất thông qua quy hoạch, tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt hạn chế phát triển những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên khoáng sản. Thúc đẩy các ngành kinh tế xanh phát triển nhanh để làm giàu thêm nguồn vốn tự nhiên của đất nước, tạo thêm việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kết cấu hạ tầng bền vững, đổi mới công nghệ, áp dụng phổ biến quy trình sản xuất sạch hơn.

Bên cạnh đó, thực hiện chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường.

Thứ tư, đô thị hóa bền vững để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển hài hòa, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Quy hoạch phát triển đô thị và quản lý quy hoạch cần đạt được các tiêu chí về hiệu quả sinh thái và bảo đảm xã hội để đô thị là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh và cạnh tranh, tăng cơ hội việc làm, giảm nghèo, cải thiện chất lượng sống, tăng an ninh năng lượng, cải thiện môi trường, tránh được các chi phí và rủi ro trong tương lai.

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Báo cáo tại Hội thảo tham vấn báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh Việt Nam, ngày 24/01/2018.2. Nâng cao năng lực quản trị tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tapchitaichinh.vn,ngày 23/02/2018.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhiều Giải Pháp Thúc Đẩy Tăng Trưởng Tín Dụng / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!