Đề Xuất 12/2022 # Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BNEWS Theo Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao.

Ngày 17/3, Tổng cục Thuế cho biết, thời gian tới cần phải quản lý, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý thu hồi nợ thuế; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng…nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách Nhà nước.

Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao. Nếu kinh tế giảm sâu hơn, giảm khoảng 0,84 điểm % thì thu ngân sách Nhà do cơ quan thuế quản lý dự báo giảm khoảng 2,8-3% so với dự toán. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thuế, đây mới chỉ là đánh giá bước đầu tại thời điểm đầu tháng 2/2020, khi đó có dịch COVID-19 . Đến thời điểm hiện nay, dịch bệnh đã lây lan trên toàn cầu tại hơn 100 quốc gia với trên 135 nghìn người nhiễm bệnh và gần 5 nghìn người tử vong thì theo dự báo ảnh hưởng của dịch bệnh đến kinh tế Việt Nam sẽ có thể nặng nề hơn nữa. Trước tình hình đó, Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát tình hình ảnh hưởng của dịch bệnh đến từng lĩnh vực, ngành nghề để tham mưu cho Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành các giải pháp hỗ trợ về tiền thuế, tiền thuê đất cho những đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 khoảng trên 40.000 tỷ đồng. Cụ thể, hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đối với các nhóm ngành, lĩnh vực chịu tác động lớn của dịch bệnh như hàng không, vận tải, kho bãi, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, sản xuất điện tử, máy vi tính, sản xuất xe ô tô (trừ ô tô dưới 9 chỗ ngồi)…và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hộ, cá nhân kinh doanh. Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, tổng gói hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất khoảng 30.000 tỷ đồng. Số thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất này sẽ được gia hạn trong thời gian 5 tháng và sẽ được nộp vào thời điểm tháng 12/2020. Cơ quan thuế sẽ bố trí lực lượng để tiếp nhận hồ sơ xin gia hạn của người nộp thuế và triển khai thực hiện việc gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất của người nộp thuế. Đồng thời, đề xuất nâng mức chiết trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế thu nhập cá nhân và người phụ thuộc (từ 9 triệu lên 11 triệu đồng/người, cho người phụ thuộc từ 3,6 triệu lên 4,4 triệu đồng/người.). Tổng cục Thuế đánh giá, mức giảm thu ngân sách Nhà nước khi thực hiện chính sách này giảm trừ gia cảnh theo mức mới khoảng 10.300 tỷ đồng. Để phấn đấu thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất có thể, tạo nguồn ngân sách để Chính phủ cân đối, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế theo mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, đồng thời, có nguồn lực phục vụ công tác phòng chống, dập dịch nhanh; giúp doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước, Tổng cục Thuế đã thực hiện nhiều giải pháp. Theo đó, ngành thuế tập trung tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển ổn định, vững chắc. Từ đó, thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh ngay sau khi dịch COVID-19 được khống chế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở để tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, ngành thuế cũng cải cách hiện đại hóa hệ thống thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, duy trì dịch vụ kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan công an, hải quan, quản lý thị trường để kiểm soát chặt chẽ về giá cả hàng hóa, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, chống thất thu ngân sách. Từ đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để khuyến khích, thu hút đầu tư trên địa bàn, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Tổng cục Thuế cũng cho biết, diễn biến của dịch COVID-19 phức tạp, khó lường và chưa dự báo được thời điểm kết thúc đã có những ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta như du lịch, vận tải, hàng không, khai thác cảng, xuất nhập khẩu, sản xuất nông, lâm, thủy hải sản, sản xuất chế biến… Một số ngành, lĩnh vực bước đầu bị ảnh hưởng, do thiếu hụt lao động tạm thời, gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã có dấu hiệu thu hẹp sản xuất kinh doanh, theo đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí … tại nhiều địa phương trong cả nước./.

BNEWS Theo Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao.

Ngày 17/3, Tổng cục Thuế cho biết, thời gian tới cần phải quản lý, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý thu hồi nợ thuế; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng…nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách Nhà nước.

Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao. Nếu kinh tế giảm sâu hơn, giảm khoảng 0,84 điểm % thì thu ngân sách Nhà do cơ quan thuế quản lý dự báo giảm khoảng 2,8-3% so với dự toán. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thuế, đây mới chỉ là đánh giá bước đầu tại thời điểm đầu tháng 2/2020, khi đó có dịch COVID-19 . Đến thời điểm hiện nay, dịch bệnh đã lây lan trên toàn cầu tại hơn 100 quốc gia với trên 135 nghìn người nhiễm bệnh và gần 5 nghìn người tử vong thì theo dự báo ảnh hưởng của dịch bệnh đến kinh tế Việt Nam sẽ có thể nặng nề hơn nữa. Trước tình hình đó, Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát tình hình ảnh hưởng của dịch bệnh đến từng lĩnh vực, ngành nghề để tham mưu cho Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành các giải pháp hỗ trợ về tiền thuế, tiền thuê đất cho những đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 khoảng trên 40.000 tỷ đồng. Cụ thể, hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đối với các nhóm ngành, lĩnh vực chịu tác động lớn của dịch bệnh như hàng không, vận tải, kho bãi, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, sản xuất điện tử, máy vi tính, sản xuất xe ô tô (trừ ô tô dưới 9 chỗ ngồi)…và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hộ, cá nhân kinh doanh. Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, tổng gói hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất khoảng 30.000 tỷ đồng. Số thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất này sẽ được gia hạn trong thời gian 5 tháng và sẽ được nộp vào thời điểm tháng 12/2020. Cơ quan thuế sẽ bố trí lực lượng để tiếp nhận hồ sơ xin gia hạn của người nộp thuế và triển khai thực hiện việc gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất của người nộp thuế. Đồng thời, đề xuất nâng mức chiết trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế thu nhập cá nhân và người phụ thuộc (từ 9 triệu lên 11 triệu đồng/người, cho người phụ thuộc từ 3,6 triệu lên 4,4 triệu đồng/người.). Tổng cục Thuế đánh giá, mức giảm thu ngân sách Nhà nước khi thực hiện chính sách này giảm trừ gia cảnh theo mức mới khoảng 10.300 tỷ đồng. Để phấn đấu thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất có thể, tạo nguồn ngân sách để Chính phủ cân đối, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế theo mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, đồng thời, có nguồn lực phục vụ công tác phòng chống, dập dịch nhanh; giúp doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước, Tổng cục Thuế đã thực hiện nhiều giải pháp. Theo đó, ngành thuế tập trung tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển ổn định, vững chắc. Từ đó, thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh ngay sau khi dịch COVID-19 được khống chế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở để tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, ngành thuế cũng cải cách hiện đại hóa hệ thống thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, duy trì dịch vụ kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan công an, hải quan, quản lý thị trường để kiểm soát chặt chẽ về giá cả hàng hóa, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, chống thất thu ngân sách. Từ đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để khuyến khích, thu hút đầu tư trên địa bàn, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Tổng cục Thuế cũng cho biết, diễn biến của dịch COVID-19 phức tạp, khó lường và chưa dự báo được thời điểm kết thúc đã có những ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta như du lịch, vận tải, hàng không, khai thác cảng, xuất nhập khẩu, sản xuất nông, lâm, thủy hải sản, sản xuất chế biến… Một số ngành, lĩnh vực bước đầu bị ảnh hưởng, do thiếu hụt lao động tạm thời, gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã có dấu hiệu thu hẹp sản xuất kinh doanh, theo đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí … tại nhiều địa phương trong cả nước./.

Giải Pháp Quản Lý Thu Chi Ngân Sách Kho Bạc Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước / 2023

5. Kết cấu của đề tài:Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của đề án đợc trình bày trong 3 phần chính và kết cấu thành 3 phần nh sau:Phần I: Cơ sở lý luận chung về nguồn vốn đầu t XDCB, trong đó vốn ODA.Phần II: Thực trạng về công tác ghi thu ghi chi vốn ngoài nớc qua Kho bạc Nhà nớcPhần III: Một số giải pháp nhằm đổi mới công tác ghi thu ghi chi vốn đầu t ngoài nớc thuộc ngân sách Trung ơng qua Kho bạc Nhà nớc. 2Phần ICơ sở lý luận về nguồn vốn đầu t XDCBI. Khái quát về nguồn vốn đầu t (VĐT) XDCB, phơng thức cấp phát vđt nói chung và nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nói riêng1. Khái quát về nguồn VĐT XDCB và nguồn vốn ODA:Một trong những nguồn lực quan trọng và có ý nghĩa quyết định tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc đó là nguồn vốn đầu t XDCB. Chính vì vậy, cùng với việc không ngừng nâng cao hiệu quả vốn đầu t thì việc tăng nhanh tỷ trọng vốn đầu t sẽ góp phần không nhỏ tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đất nớc. Vốn đầu t XDCB hiện nay bao gồm:– Nguồn vốn trong nớc, bao gồm: vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc ( vốn NSNN), vốn đầu t của các doanh nghiệp, vốn đóng góp của các tổ chức xã hội và các tâng lớp dân c– Nguồn vốn đầu t ngoài nớc, bao gồm: vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, viện trợ và vốn vay.1.1. Nguồn vốn đầu t trong nớc ( sửa gọn lại theo NĐ 52)Nguồn vốn ngân sách nhà nớc: là nguồn vốn chi từ NSNN cho đầu t phát triển, đợc cân đối vào dự toán ngân sách hàng năm. Từ năm 2001-2005, tỷ lệ vốn đầu t phát triển từ NSNN chiếm khoảng 22,7%/GNP. Theo qui định tại Nghị định số 52/1999/NĐ- CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ thì nguồn vốn NSNN đợc đầu t cho các dự án, công trình:– Các DA kế cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn.– Hỗ trợ các DA của các doanh nghiệp đầu t vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nớc.– Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các DA qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ, qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi đơc TTCP cho phép.Nguồn vốn đầu t của các Doanh nghiệp là nguồn hình thành từ các nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ( Quỹ đầu t phát triển, Khấu hao tài sản cố định ) và vốn đầu t phát triển do doanh nghiệp huy động ( vốn đầu t do NSNN hỗ trợ, vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc, vốn tín dụng thơng mại, vốn huy động khác ). Nguồn vốn đầu t của các Doanh nghiệp đợc sử dụng để đầu t nâng cao năng lực, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.3 Nguồn vốn đóng góp của các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân c là nguồn vốn huy động đóng góp của các tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, của nhân dân để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng có qui mô nhỏ ( xã, phờng quản lý).1.2. Nguồn vốn đầu t nớc ngoàiBao gồm nguồn vốn đầu t của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, các t nhân đầu t vào nớc ta dới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, nh: Nguồn vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI); Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO); Vốn đầu t gián tiếp của nớc ngoài do t nhân nớc ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của nớc chủ nhà, nhng không tham gia công việc quản lý.Nguồn vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI) là nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân nớc ngoài đầu t trực tiếp vào Việt Nam qua các hình thức công ty 100% vốn nớc ngoài hoặc các công ty liên danh. Từ khi thực hiện Luật Đầu t nớc ngoài tại VN (1987), tính đến hết năm 2004, cả nớc đã có 6.120 dự án FDI đợc cấp giấy phép với tổng vốn đăng ký đạt giá trị 49,87 tỷ USD, trong số đó hiện nay còn 5.130 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 45,91 tỷ USD. Khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã hình thành và ngày càng phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế và đóng góp tỷ lệ ngày càng tăng trong GDP. Trong giai đoạn 1995-2003, vốn FDI chiếm trên 20% tổng vốn đầu t phát triển của Việt Nam (1995: 30,4%; 1996: 26%; 1997: 28%; 1998: 20,8%; 2000: 18,7%; 2002: 18%; 2003: 17,5%), đây là tỷ lệ khá lớn và là nguồn bổ trợ quan trọng nhu cầu vốn đầu t của nền kinh tế trong công cuộc CNH-HĐH đất nớc

2. Phơng thức cấp phát VĐT và vốn ODA:Do tính chất đa dạng của các nguồn vốn dành cho đầu t XDCB nên mỗi nguồn vốn có yêu cầu quản lý, theo dõi khác nhau. Nguồn vốn đầu t từ NSNN bao gồm cả vốn đầu t trong nớc và vốn đầu t ngoài nớc (vốn ODA) ph-ơng thức cấp phát thanh toán cũng khác nhau. 2.1 Phơng thức cấp phát VĐT từ NSNN:

2.1.1 Vốn trong nớc:Theo Quyết định số 3836/QĐ-BTC ngày 17/12/2003 của Bộ trởng Bộ Tài chính thì việc chuyển nguồn vốn đầu t từ cơ quan Tài chính sang KBNN để thanh toán cho các dự án đợc thực hiện theo hình thức Thông báo mức vốn đầu t. Mức vốn đầu t đợc cơ quan Tài chính thông báo theo từng quý. KBNN cấc cấp thực hiện kiểm soát hồ sơ đề nghị tạm ứng, thanh toán do chủ đầu t gửi đến và thanh toán trong phạm vi mức vốn đầu t đợc thông báo. Mức vốn đầu t quý này không sử dụng hết đợc chuyển sang quý sau và đợc sử dụng đết hết ngày 31/01 năm sau. Sau thời hạn này toàn bộ mức vốn đầu t- cha sử dụng phải đợc huỷ bỏ, trừ những dự án đợc phép kéo dài thời hạn thực hiện, thanh toán sang năm sau.

– Một là, mặc dù các dự án đã thực hiện giải ngân vốn ODA, nhng việc lập chứng từ ghi thu cho ngân sách và ghi chi cho dự án cha đợc thực hiện kịp thời. ví dụ: Tại Lệnh chi số 8866774 lập ngày 8/10/2003, số tiền 140.085 triệu đồng, GTGC cho dự án Giao thông nông thôn GĐ II thuộc Bộ Giao thông, trong đó có 22 món rút tiền từ thời điểm tháng 11/2002 với số tiền 9.757 triệu đồng, 90 món rút tiền tại thời điểm tháng 01/23003, số tiền 29.075 triệu đồng (chi tiết Phụ lục số 01/ĐA-GTGC).Chính vì việc lâp chứng từ GTGC không kịp thời làm ảnh hởng đến công tác hạch toán và quyết toán GTGC không kịp thời. Qua thống kê số liệu năm 2003, trong tổng số vốn GTGC là 6.400.543 triệu đồng thì số vốn GTGC trên chứng từ lập và gửi sau thời điểm kết thúc năm ngân sách là 4.708.673 triệu đồng, chiếm 73.5%. Năm 2004, tổng số vốn GTGC là 5.073.095 triệu đồng, số vốn GTGC trên chứng từ lập và gửi sau thời điểm kết thúc năm ngân sách là 1.524.372 triệu đồng, chiếm 30,04%.– Hai là, do Bộ Tài chính thờng gộp nhiều giấy rút vốn, phát sinh tại nhiều thời điểm và nhiều dự án trên một lệnh chi tiền và do công tác đối chiếu, tổng hợp chứmg từ rút vốn thiếu cẩn trọng nên chứng từ gửi KBNN còn nhiều sai sót trên bảng kê kèm theo chứng từ GTGC nh: số tiền chi tiết không khớp với tổng số; nhầm lẫn giữa số GTGC cho các Bộ qua KBNN và GTGC trực tiếp cho các dự án hoặc cho địa phơng; không tách riêng nội dung giữa chi XDCB và chi sự nghiệp; thiếu hoặc sai địa chỉ giao dịch những sai sót trên KBNN đều phải thông tin lại để Vụ Tài chính-Đối ngoại kiểm tra, đối chiếu mất nhiều thời gian và dẫn đến KBNN không thể thông báo GTGC cho KBNN tỉnh kịp thời nh tại văn bản số 301 KB/TTVĐT ngày 26/5/2005 gửi Vụ Tài chính đối ngoại vẫn còn 12 chứng từ GTGC thuộc niên độ 2003 với số tiền 1.924.651 triệu đồng và 17 chứng từ GTGC thuộc niên độ 2004 với số tiền 286.417 triệu đồng, KBNN cha thông báo GTGC cho các KBNN tỉnh do các sai sót trên cha xử lý đợc (chi tiết Phụ lục số 02/ĐA-GTGC).– Ba là, đối với những chứng từ GTGC sai sót phải đối chiếu, xác minh lại, sau khi KBNN thông báo lại cho Vụ Tài chính-đối ngoại thì việc đối chiếu, xử lý rất chậm trễ, đây cũng là một nguyên nhân ảnh hởng đến công tác hạch toán GTGC.Ví dụ: + Tại lệnh chi số: 8841914 ngày 22/8/2003 của Bộ Tài chính, GTGC cho Dự án Nhà máy giấy Bãi Bằng, số tiền: 40.050 triệu đồng. KBNN gửi công văn số 349 KB/TTVĐT ngày 15/3/2004 đề nghị Bộ GTGC trực tiếp cho doanh nghiệp vì đơn vị không mở tài khoản giao dịch tại KBNN. Sau nhiều 18công văn và trực tiếp làm việc với Bộ thì đến 6/6/2005 KBNN mới nhận đợc văn bản của Vụ TC-ĐN xử lý về khoản GTGC trên.+ Lệnh chi số 8841914 ngày 22/8/2003, GTGC cho DA thuộc Tổng cục dạy nghề, số tiền 1.922 triệu đồng, có 783 triệu thuộc nguồn vốn sự nghiệp. KBNN gửi công văn số 310 KB/TTVĐT ngày 05/03/2004 đề nghị Bộ điều chỉnh lại thì 4/2/2005 BTC mới điều chỉnh tại lệnh chi số 8921153.2. Tồn tại trong việc thông báo, hạch toán GTGC tại KBNN:– Thứ nhất, nh nhận xét ở tiết 3.1, điểm 3, mục I, phần II thì tại KBNN do KBNN cha qui định qui trình tác nghiệp trong công tác nhận, kiểm tra, đối chiếu và thông báo GTGC cho KBNN tỉnh nên công tác này trong thời gian qua còn nhiều tồn tại, không kịp thời: chứng từ thuộc niên dộ ngân sách năm trớc bị dồn sang năm sau gây khó khăn cho công tác tổng hợp quyết toán VĐT hàng năm. Mặt khác đối với một số chứng từ GTGC nhận từ Bộ Tài chính, do có sai sót thờng để lại toàn bộ số vốn GTGC chờ đối chiếu xong với Vụ TC-ĐN mới thông báo GTGC nên cũng gây nên sự chậm trẽ trong công tác hạch toán GTGC, dẫn đến số vốn GTGC cha hạch toán ghi chi cho dự án còn d cuối kỳ trên quyết toán VĐT hàng năm khá lớn: năm 2003 là 11.281.015 triệu đồng, năm 2004 là 8.856.813 triệu đồng.

Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023

Lời mở đầu Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu) cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý. Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như: tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để đảm bảo cân bằng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

Phần nội dung I. Cơ sở lý luận: 1. Khái niệm của ngân sách nhà nước. 1.1 Ngân sách nhà nước là gì? Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. – Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước: + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm – Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. 1.2 Đặc điểm của NSNN: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong hoạt động của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định, mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước 1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… đã bộc lộ những ưu thế cũng như những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó, Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ… trong đó ngân sách nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau: Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược lại”. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát. Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư… Nhà nước có thể hạn chế và kiểm soát lạm phát. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết

tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách. Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội, về việc làm… Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong xã hội. Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

2. Thu NSNN: 2.1 Khái niệm: Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. – Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị 2.2 Đặc điểm: Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù như giá cả, thu nhập, lãi suất… Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức động viên của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu 2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm: Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác. Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách. Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư. Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế. 2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN: 2.4.1 Thu thuế

Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do các pháp nhân và thể nhân thực hiện. Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ đóng góp có thể khác nhau. Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê chuẩn thì mới được áp dụng Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân. Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng. Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo công bằng trong xã hội 2.4.2 Lệ phí:

Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành, mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng. 2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước:

Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản thu. Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng

vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư vào nền kinh tế 2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại. Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm: Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước ngoài. 2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác:

Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho ngân sách nhà nước. Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc. Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. 2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN: Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế, mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế, xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây: GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước, vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này. -Khi GDP/người cao – dẫn đến thu ngân sách cao -Khi GDP/Người thấp – dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân sách Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ thể trong xã hội. Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh

Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động. Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:

Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu. 2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau. Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn lậu thuế. 2.6.4 Nguyên tắc đơn giản:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.

II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm

2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013

Thu ngân sách năm 2012

Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương: “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết 13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009. Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng; Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng 10 tỷ đồng… Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI… Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012. Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt 128,7% so với dự toán – tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 % dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012. Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất. Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học: Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm

thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012. Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN. Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu NSNN có một số thuận lợi như sau: Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30% so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng

lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán. Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát với thực tiễn hơn. Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách thức không nhỏ: Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN. Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6% trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %. Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ: Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân. Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình hình khu vực Trung Đông ổn định. Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ không dễ thực hiện được số thu này.

III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau: 1.1 Thất thu thuế nhà nước:

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.2 Đầu tư công kém hiệu quả:

Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất:

Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng. 1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN. 1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát. 1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế:

Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:

-Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN. -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ. -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn. -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án, công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức đầu tư lớn. Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu ngân sách nhà nước.

-Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo nợ công trong mức an toàn. -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý rủi ro. Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua:

-Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt. -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư. -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của dân. -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.

-Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư

TÊN : LÊ HỒNG NHUNG MSSV :1154020712 LỚP

:11DTDN4

ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà

nước

Tphcm Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022 / 2023

Theo UBND TP, năm 2020, TP được Trung ương giao thu ngân sách trên 26% tổng thu ngân sách cả nước.

Tuy nhiên, bước vào năm 2020, dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên toàn cầu đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, nhiều nước phải đóng cửa biên giới nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan đã làm đứt, gãy chuỗi cung ứng và làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng…

Đồng thời, giai đoạn này cùng với cả nước, TP triển khai thực hiện Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 nên một số lĩnh vực kinh doanh phải thu hẹp quy mô, chuyển sang trạng thái hoạt động cầm chừng hoặc dừng hoạt động, giá dầu thô cũng liên tục sụt giảm…

Bên cạnh đó, triển khai thực hiện Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 8/4/2020 của Chính phủ về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, đến hết tháng 5/2020, vì vậy, số thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2020 là 163.201,095 tỷ đồng, chỉ đạt 40,21% so với dự toán và bằng 85,61% so với cùng kỳ.

Để hỗ trợ cho DN trên địa bàn TP vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, góp phần nuôi dưỡng nguồn thu, tạo điều kiện cho TP thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2020, UBND TP kiến nghị Bộ Tài chính một số giải pháp như sau: Giải pháp nuôi dưỡng, tăng thu cho ngân sách TP bằng việc kéo dài thời gian chậm nộp thuế. Cụ thể, TP đề xuất Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ trình Quốc hội cho phép DN được chậm nộp thuế từ 30 ngày nâng lên thành 90 ngày với điều kiện phải có bảo lãnh của Ngân hàng thương mại và trong thời gian 90 ngày không tính tiền chậm nộp thuế 0,03%/ngày.

Mặt khác, TP đề nghị Bộ Tài chính xem xét bổ sung cho ngân sách TP từ số thu vượt dự toán các khoản thu điều tiết về ngân sách Trung ương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và cơ chế đặc thù. Bộ Tài chính cân nhắc, không tính số kết dư ngân sách năm 2018 chuyển vào thu ngân sách năm 2019 khi tính số tăng thu năm 2019 để trích nguồn cải cách tiền lương năm 2020.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!