Đề Xuất 12/2022 # Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới / 2023 # Top 21 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, xây dựng cảnh quan nông thôn mới

Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn mạnh mẽ và sự chuyển dịch ngày càng lớn giữa thành thị – nông thôn, nhiều thách thức đặt ra cần phải giải quyết để bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới thực sự bền vững, toàn diện, đi vào chiều sâu và hiệu quả thiết thực.

Thứ nhất, cần có định hướng phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn của từng địa phương cụ thể. Việc quy hoạch và hình thành các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, khu sản xuất tập trung là nhu cầu tất yếu của một xã hội phát triển. Tuy nhiên, về không gian, cần bố trí quy hoạch ở những vị trí phù hợp, có đủ khoảng cách an toàn để cô lập và xử lý những hậu quả không mong muốn do ô nhiễm môi trường gây ra; phát triển các vùng đệm sinh thái (thảm thực vật, mặt nước) bao quanh các khu sản xuất tập trung. Ngay trong định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phải quyết liệt với những loại hình có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao, không thể đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế, dù với bất cứ giá nào. Ngay trong quản lý làng nghề và phát triển ngành, nghề nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có những thay đổi mang tính cách mạng, đã xác định rõ những đối tượng ngành, nghề cần được bảo tồn và phát triển, vừa duy trì sinh kế, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân, vừa bảo đảm an toàn cho con người, an toàn thực phẩm và giảm thiểu các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, xây dựng một nền nông nghiệp bền vững theo cách tiếp cận hệ sinh thái, hay còn gọi là nông nghiệp sinh thái, bảo đảm tính đa dạng và an toàn sinh học (hạn chế độc canh); tuân thủ đúng các quy luật sinh thái tự nhiên; thực hiện luân canh, xen canh, lai tạo giống mới để tăng năng suất, bảo tồn và giữ gìn các giống vật nuôi trên cùng một quần xã, duy trì hệ sinh thái đa tầng; giữ gìn độ phì nhiêu của đất (đặc biệt là nuôi dưỡng hệ vi sinh vật đất); tăng cường sử dụng tối đa các chất hữu cơ (thuốc bảo vệ thực vật nguồn gốc sinh học, phân bón hữu cơ); bảo đảm đúng nguyên tắc bảo toàn và chuyển hóa vật chất; hạn chế đến mức thấp nhất các nguồn phát thải ra môi trường. Ở đây, vòng tuần hoàn vật chất phải được tính toán một cách hiệu quả, chất thải thực sự phải được coi là nguồn tài nguyên có giá trị để tận thu quay vòng cho sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, trước đây đã có rất nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp tiếp cận các nguyên lý bảo toàn hệ sinh thái, như mô hình “Vườn - ao – chuồng”; mô hình “Ruộng lúa – bờ hoa”; mô hình “Nông, lâm kết hợp”,… Các mô hình trên đã phần nào chứng minh được tính ưu việt của một nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Thời gian gần đây, đã có rất nhiều mô hình canh tác nông nghiệp xen canh giữa các nhóm cà-phê, hồ tiêu, mác-ca với các cây ăn quả (như mít, sầu riêng…), kết hợp nuôi ong để tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích; mô hình trồng xen canh giữa cây công nghiệp với các loại cây rau màu, hay xen canh giữa chính các loại cây rau màu với nhau,… Đây là những mô hình rất cần được đầu tư, nghiên cứu, điều chỉnh và phổ biến.

Thứ ba, xây dựng khu dân cư, hộ gia đình nông thôn sinh thái. Thời gian qua, do vội vã trong cách làm, nhiều địa phương đã bê-tông hóa gần như toàn bộ đường làng, ngõ xóm, tường rào và thậm chí là cả khuôn viên các hộ gia đình. Ngoài ra, các công trình văn hóa, thể thao, cổng làng,… cũng bị hiện đại hóa thành các khối bê-tông đồ sộ. Cùng với đó là thảm thực vật bị loại bỏ, làng quê mất dần đi vẻ đẹp mềm mại. Hậu quả là ngập úng, tắc nghẽn giao thông, nhiệt độ gia tăng,… Hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình ngày xưa tạo sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, giờ đang dần biến mất (4). Tuy nhiên, nhiều địa phương đã sớm định hình được mô hình hiệu quả của xây dựng nông thôn mới, lấy nền tảng là xây dựng cụm dân cư kiểu mẫu sinh thái, không chỉ tạo nên giá trị hữu hình của vẻ đẹp khác biệt của khu vực nông thôn, mà còn mang lại những giá trị nâng cao đời sống tinh thần, từ đó hình thành, thu hút các mô hình phát triển kinh tế dựa vào khai thác tiềm năng của hệ sinh thái, trong đó, các ví dụ điển hình nhất là các tỉnh Nam Định và Hà Tĩnh. Cũng giống như các hệ sinh thái khác, hệ sinh thái cụm dân cư hay hộ gia đình nông thôn cần giảm và tiến tới không phát sinh chất thải. Mọi loại chất thải cần được phân loại và tái sử dụng ngay từ hộ gia đình, nước thải được áp dụng các biện pháp xử lý đơn giản và thân thiện tại chỗ. Hệ thống kênh, mương được nạo vét thường xuyên, trồng các bè cây xanh để tăng cường khả năng tự làm sạch. Ao, hồ được cải tạo để làm nơi sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, giải trí,…

Để bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới toàn diện, đi vào chiều sâu

Xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng, giúp hoàn thiện một cách toàn diện nhất nền tảng phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn, cũng là cơ hội vàng để các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị điều chỉnh và khắc phục những gì bất cập còn tồn tại. Đối với lĩnh vực môi trường nông thôn, cần có cách nhìn toàn diện để giải quyết một cách bền vững thông qua việc lồng ghép vấn đề môi trường vào tất cả các ngành, các lĩnh vực (từ quy hoạch, xây dựng, đến văn hóa, giáo dục, thông tin truyền thông,…) để huy động sức mạnh tổng thể cho bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường nông thôn cần gắn với chuyển đổi lối sống của người dân nông thôn và thay đổi trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, bảo vệ môi trường không chỉ là khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, mà còn phải giảm thiểu các tác động xấu, các hành vi phát thải, từ đó, khuyến khích, nhân rộng các giải pháp nâng cao chất lượng môi trường. Để bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới toàn diện và bền vững, đi vào chiều sâu, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:

Thứ nhất, giải pháp về quy hoạch. Mọi việc đều phải bắt đầu từ quy hoạch với tầm nhìn và lộ trình thực hiện. Hơn bao giờ hết, quy hoạch phải gắn với đặc trưng vùng, miền, địa phương, bảo đảm tuân thủ thật chặt chẽ các nguyên tắc bảo tồn hệ sinh thái (đã có bài học đắt giá trong thời gian qua). Đây cũng là điều mà Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đặc biệt nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 (5). Đối với tất cả các ngành và các địa phương, cùng với giai đoạn 5 năm của một kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, cần thiết phải rà soát lại thật kỹ những định hướng mang tính chiến lược của từng lĩnh vực, từng địa bàn cụ thể, tạo sự chuyển biến mạnh về chất và lượng, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc cân bằng và ổn định của phát triển bền vững. Vấn đề quy hoạch còn phải được xem xét ngay trong một cụm dân cư hay từng hộ gia đình, không chỉ là vấn đề cảnh quan, sinh thái, mà còn là tổ chức sản xuất, bố trí không gian cho các hoạt động văn hóa, xã hội. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang cùng với các bộ, ngành và địa phương tiến hành rà soát và hoàn thiện lại bộ tiêu chí nông thôn mới các cấp, làm rõ hơn những nội hàm còn chưa được định lượng trong tiêu chí về môi trường, làm căn cứ để triển khai thực hiện cho những giai đoạn tiếp theo, trước mắt là giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, giải pháp về vấn đề chính sách. Thực tế cho thấy, chúng ta còn thiếu hụt các chính sách cụ thể, có tính khả thi cao cho công tác bảo vệ môi trường sinh thái khu vực nông thôn(6). Trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung ưu tiên cho nội dung này, trong đó xác định rõ các chính sách cho “bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn” không chỉ là vấn đề xử lý chất thải, mà phải giảm thiểu phát sinh ngay từ đầu vào của quy trình sản xuất và đời sống sinh hoạt. Đó là các chính sách về nguyên liệu thân thiện môi trường, năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất, chế biến không phát sinh chất thải; chính sách trợ giá, khẳng định thương hiệu và uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP sạch để thâm nhập và có chỗ đứng vững chắc trong thị trường; các chính sách về hình thành thị trường trao đổi chất thải (tận thu, tái chế, quay vòng tái sử dụng, xử lý); coi chất thải (đặc biệt là chất thải hữu cơ) là hàng hóa có giá trị thương mại.

Thứ ba, giải pháp về vấn đề công nghệ. Đây có thể coi là điểm mấu chốt, là đột phá của cuộc cách mạng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cần được tháo gỡ trong giai đoạn tới. Thực tế chứng minh giai đoạn 10 năm qua, chúng ta đã phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ nhập ngoại, mà quên mất việc bảo tồn và phát huy các giá trị thực hành truyền thống. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã giúp nhiều địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hành tưới tiết kiệm, sử dụng nhà màng, nhà lưới, trồng trọt theo phương thức thủy canh,… Tuy nhiên, sau một giai đoạn phát triển, chúng ta đã nhận thấy rất rõ những mặt chưa thành công của các giải pháp khoa học – công nghệ khi áp dụng máy móc vào điều kiện của Việt Nam. Vì vậy, thời gian tới rất cần các biện pháp, giải pháp công nghệ trong sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; các công nghệ sản xuất sạch trong chế biến, bảo quản nông sản thực phẩm; công nghệ xử lý chất thải hữu cơ thành các sản phẩm thứ cấp; công nghệ xử lý chất thải an toàn với môi trường, không gây ô nhiễm thứ phát (là điểm bức xúc nhất của hầu hết các địa phương hiện nay); công nghệ xử lý ô nhiễm ao, hồ, khu chăn nuôi, làng nghề, các khu vực ô nhiễm tồn lưu do chôn lấp chất thải và các khu vực nuôi trồng thủy sản,…

Thứ tư, giải pháp về cộng đồng. Bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn, không thể tách rời được cộng đồng và với cộng đồng. Người dân sẽ tự nguyện áp dụng các giải pháp sản xuất sạch khi giữ nguyên và gia tăng giá trị sản xuất kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ được sức khỏe cho chính họ. Người dân sẵn sàng tự nguyện hiến đất cho các công trình công cộng, đóng góp tiền của và ngày công cho các hoạt động xây dựng cảnh quan, khi bản thân họ thấy sự công bằng, bình đẳng và quyền lợi chính đáng của họ trong các hoạt động mang tính cộng đồng như vậy. Do đó, chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận, là phải phân tích, làm nổi bật lên được những giá trị mà người dân được trực tiếp thụ hưởng, khi thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường (7).

Thứ năm, giải pháp về nguồn lực và các công cụ tài chính phù hợp. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 10 năm vừa qua, đặc biệt giai đoạn 2016 – 2020, đã đạt được những kết quả vượt bậc là nhờ sự tập trung về nguồn lực (từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp, tín dụng, nguồn đóng góp của người dân và các nguồn tài chính hợp pháp khác). Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, việc phân bổ nguồn lực cho tiêu chí môi trường tại các địa phương còn rất hạn chế. Để khắc phục trong thời gian tới, cần điều chỉnh quy định về phân bổ nguồn vốn cho Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, theo đó, cần có quy định tỷ lệ bắt buộc tối thiểu nguồn lực ngân sách nhà nước cho các tiêu chí phản ánh nội dung trụ cột của nông thôn mới, trong đó có môi trường. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường, huy động tối đa sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ môi trường và xử lý chất thải. Đã đến lúc chúng ta không chỉ kêu gọi cộng đồng hay doanh nghiệp vào cuộc mang tính phong trào, mà còn phải chỉ ra được những lợi ích kinh tế thiết thực sẽ có được khi thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường. Một điểm quan trọng nhất cần làm là áp dụng nguyên tắc “người phát sinh ô nhiễm phải trả tiền để xử lý ô nhiễm”, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp, dưới sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng. Với các hộ dân, việc hình thành các khoản thu bắt buộc (phí vệ sinh hay các loại phí môi trường khác) và các khoản thu tự nguyện bảo đảm tính công bằng và minh bạch(8).

Tóm lại, để tiếp tục xây dựng nông thôn mới toàn diện, đi vào chiều sâu, vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa duy trì được sự bền vững của môi trường, cần kiên định với các mục tiêu và quan điểm của Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” và Kết luận số 54-KL/TW, ngày 7-8-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy khóa X, Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, xác định mục tiêu trong giai đoạn tới cần tiếp tục củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội khu vực nông thôn một cách bền vững, chú trọng sự cân bằng của các hệ sinh thái; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng tiếp cận hệ sinh thái, nâng cao thu nhập người dân theo hướng bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu; chú trọng khai thác được lợi thế của mỗi vùng, miền; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các sản phẩm OCOP truyền thống nhưng phải sạch – an toàn từ đầu vào, quy trình sản xuất thân thiện với môi trường; tận dụng lợi thế về điều kiện địa hình, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, trong đó, chú trọng đến các mô hình cộng đồng dân cư sinh thái, phát triển các mô hình du lịch nông thôn mới, với vai trò chủ thể, nòng cốt là người dân và cộng đồng./.

Quỳnh Hoa

Hội Thảo Giải Pháp Bảo Vệ Cảnh Quan Thiên Nhiên, Cảnh Quan Môi Trường Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới / 2023

(Tin Môi Trường) – Ngày 9/7/2020, tại thành phố Ninh Bình, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phối hợp với các đơn vị hữu quan tổ chức Hội thảo “Giải pháp khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ cảnh quan, môi trường ở cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng Bắc bộ và Tây Nam Bộ.

TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội BVTN&MT Việt Nam và chúng tôi Đặng Huy Huỳnh, Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN t tặng các ấn phẩm của Hội cho lãnh đạo dịa phương

GS.TS. Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 và TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội BVTN&MT Việt Nam cùng các vị đại diên VP Điều phối NTM tỉnh Ninh Bình và Mạng lưới phát triển nước quốc tế (IWDP) chủ trì Hội thảo.

Tới dự, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Hội thảo, có chúng tôi Đặng Huy Huỳnh, Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN, cùng đông đảo các nhà khoa học, cán bộ quản lý của do Hội BVTN&MT Việt Nam, Viện hợp tác & Phát triển tài nguyên nước, Viện KH Thủy lợi miền Nam, các Sở NN&PTNT và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới một số tỉnh khu vực đồng bằng Bắc Bộ.

Theo đánh giá của chúng tôi Hoàng Thái Đại, chúng tôi Hà Lương Thuần, TS. Trần Văn Miều: Hội thảo rất thành công, nhờ có sự đóng góp tích cực và chỉ đạo cụ thể của Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Chương trình KH&CN Nông thôn mới, Viện hợp tác & Phát triển tài nguyên nước, Viện KH Thủy lợi miền Nam cùng đông đảo các nhà khoa học. Hội thảo có nội dung tương tự cách đây ít ngày ở khu vực Tây Nam Bộ, nhưng lần này nhận được nhiều ý kiến cụ thể và sâu sắc hơn. Ban tổ chức sẽ cố gắng hạn chế những trùng lặp giữa các chuyên đề, bổ sung thêm những nội dung đóng góp mới tại Hội thảo, để làm rõ hơn những vấn đề thực tiễn đòi hỏi. Đặc biệt là: làm rõ những nguy cơ và tác nhân phá vỡ cân bằng sinh thái và cảnh quan ở 2 khu vực này; đưa ra các giải pháp cùng những phân tích thêm về tính khả thi, khi triển khai rộng rãi trong quá trình phát triển; đồng thời bổ sung, hoàn thiện hơn các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, hướng tới phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Các đại biểu tham dự chụp ảnh lưu niệm- Ảnh: Danh Tường

Gửi ý kiến bạn đọc về: Hội thảo Giải pháp bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan môi trường trong xây dựng Nông thôn mới

Nâng Cao Tiêu Chí Môi Trường Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới / 2023

BHG – Là một trong những tiêu chí khó trong xây dựng Nông thôn mới (NTM), thời gian qua, các cấp, các ngành đã tập trung triển khai nhiều giải pháp tích cực, hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường, giúp các xã  “về đích” NTM đúng lộ trình.

Người dân xã Thanh Thủy (Vị Xuyên) dọn vệ sinh môi trường.

Đến nay, toàn tỉnh có tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt trên 74,2%; tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường đạt 100%; tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy chuẩn đạt 86%; trên 50 xã có tổ thu gom rác thải tại trung tâm. Các tổ chức chính trị – xã hội như: Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên… luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong hoạt động chỉnh trang, vệ sinh môi trường trên địa bàn xã, đăng ký tiếp nhận quản lý các tuyến đường và các khu vực công cộng.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM theo hướng văn minh hiện đại, giữ vững và nâng cao chất lượng tiêu chí môi trường;  các cấp, các ngành tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về bảo vệ môi trường; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng NTM; thường xuyên cập nhật, phổ biến các mô hình, điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về bảo vệ môi trường để nhân rộng; tăng cường nguồn lực đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng cơ bản về bảo vệ môi trường như:  Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải cụm dân cư, hạ tầng bảo vệ môi trường cho các làng nghề, cụm công nghiệp, công trình xử lý chất thải rắn tập trung, xử lý nước thải y tế… Bên cạnh đó, tăng cường ứng dụng KHKT và công nghệ trong xử lý chất thải, bảo vệ môi trường nông thôn; phát triển nông nghiệp sạch, an toàn, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Bài, ảnh: AN GIANG

Hội Nghị Toàn Quốc Bảo Vệ Môi Trường Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới / 2023

Hôm nay (30/11), tại Sóc Trăng diễn ra Hội nghị toàn quốc tổng kết, đánh giá các mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới (NTM) theo hướng xã hội hóa.

Bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Cụ thể là việc thu gom, xử lý chất thải, nước thải, cải tạo nghĩa trang, xây dựng cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp. Để thực hiện được tiêu chí này, thời gian qua đã có sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, hội và doanh nghiệp.

Mục tiêu xây dựng cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp. Ảnh: Trọng Linh

Thực tế, nước ta hiện nay có hơn 60 triệu dân sống ở vùng nông thôn, chiếm khoảng 76.5% số dân của cả nước. Theo Tổng Cục môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trung bình mỗi ngày, khu vực nông thôn phát sinh khoảng hơn 31 nghìn tấn chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải sinh hoạt chủ yếu là chất vô cơ và hữu cơ, trong đó chất hữu cơ chiếm phần lớn chủ yếu là từ thực phẩm thải.

Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn chỉ mới đạt khoảng 40% đến 55% và hoàn toàn không phân loại chất thải rắn tại nguồn. Vì thế, chất thải không được tái chế mà xử lý bằng biện pháp chôn lấp, không hợp vệ sinh nên gây ô nhiễm môi trường.

Đối với nước thải sinh hoạt, mới chỉ xử lý một phần từ nhà vệ sinh thông thường bằng hệ thống bể phốt. Bên cạnh đó, nước thải từ các nguồn nhà tắm, máy giặt, nhà bếp và nhiều chất độc hại khác không được xử lý. Theo đó, đã đổ trực tiếp ra môi trường, hoặc đổ vào hệ thống thoát nước công cộng đã làm cho các kênh và sông thoát nước của các thành phố lớn và các khu dân cư tập trung bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Còn theo Bộ Xây dựng, hiện nay tại khu vực nông thôn, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt nông thôn trung bình đạt khoảng 40 – 55%. Tại các vùng nông thôn ven đô hoặc thị trấn, thị tứ đạt tỷ lệ cao hơn, khoảng 60 – 80%. Còn tại một số nơi vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ thu gom chỉ đạt dưới 10%. Đến nay, đã có khoảng 50% các xã trong toàn quốc thành lập tổ thu gom chất thải sinh hoạt. Tuy nhiên, tỷ lệ tái chế chất thải rắn sinh hoạt vùng nông thôn hiện vẫn còn thấp, chỉ mới 3,24%.

Theo Ban chủ nhiệm Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng NTM (Bộ NN-PTNT): Chất thải sinh hoạt nông thôn chiếm tỷ trọng lớn và đang là nguồn chính gây ô nhiễm nước cho ao, hồ, kênh, mương thủy lợi nhưng chưa được đầu tư thỏa đáng cả về nguồn lực, nguồn tài chính. Công tác tổ chức quản lý còn nhiều bất cập, các chính sách hiện hành chưa chú trọng đến các công trình xử lý chất thải qui mô nhỏ dẫn đến nhiều công trình đầu tư không đồng bộ dẫn đến không phát huy hiệu quả và làng phí nguồn vốn đầu tư.

Để nâng cao hiệu quả công tác thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt nông thôn, cần phải thực hiện đồng bộ việc đầu tư cơ sở hạ tầng, công trình xử lý với các phương án vận hành và chi phí vận hành phù hợp với điều kiện của vùng nông thôn. Tiếp tục xây dựng các mô hình thí điểm áp dụng đồng bộ các biện pháp để rút kinh nghiệm, phổ biến nhân rộng và làm cơ sở điều chính các qui định và chính sách hỗ trợ các hoạt động thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt nông thôn.

Từ những đánh giá trên, hy vọng Hội nghị sẽ tổng kết và rút ra được nhiều mô hình hay trong toàn quốc để tiếp tục triển khai nhân rộng trong thời gian tới.

Thu gom bao bì thuốc BVTV để môi trường nông thôn sạch hơn. Ảnh: Ngọc Thắng

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg đã đề ra nhiệm vụ “Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã thôn theo quy hoạch: thu gom, xử lý chất thải, nước thải, cải tạo nghĩa trang, xây dựng cảnh quan môi trường xanh – sạch -đẹp”.

Để cụ thể hóa các mục tiêu và nội dung về bảo vệ môi trường tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 16/8/2017 Phê duyệt Đề án thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng NTM tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa, giai đoạn 2017 – 2020.

Theo đó, Quyết định 712/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ đưa ra các giải pháp cụ thể để hỗ trợ triển khai thực hiện các mô hình về xử lý chất thải, nước sạch, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, chăn nuôi, trong đó có các ưu đãi hỗ trợ về nguồn vốn vay, về đất đai, thuế phí.

NGỌC THẮNG – TRỌNG LINH

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!