Đề Xuất 12/2022 # Nhà Nước Việt Nam Đối Với Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay / 2023 # Top 17 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nhà Nước Việt Nam Đối Với Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhà Nước Việt Nam Đối Với Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

                                                                                    TRẦN THỊ HÒE*

 

1. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế

Thứ nhất, xây dựng Hiến pháp, pháp luật, chính sách về quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nhà nước ta đã nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người (QCN), tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật. Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người đặt con người vào “vị trí trung tâm”, “mọi mục tiêu, động lực của sự phát triển là vì con người, do con người”, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con người đã trở thành một nguyên tắc trong hoạch định chính sách, pháp luật của nhà nước. Nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ QCN, minh bạch hóa trách nhiệm nhà nước đã được thẩm thấu vào trong quy trình xây dựng luật pháp và chính sách về QCN, góp phần vào sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tiền đề quan trọng cho việc bảo đảm QCN.

Việc ghi nhận các quyền mới của con người trong Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 đã phản ánh xu thế hội nhập của đất nước, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm QCN ở Việt Nam. Điều này cũng thể hiện những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và thừa nhận QCN phổ biến được ghi nhận trong pháp luật quốc tế, là sự năng động, nhạy bén của Nhà nước trong việc xử lý mối quan hệ biện chứng giữa QCN phổ biến với đặc thù về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị của các quốc gia, giữa luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật để vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa tuân thủ những quy định và cam kết quốc tế, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Cùng với việc ghi nhận quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, Hiến pháp năm  1992 và sau này là Hiến pháp năm 2013 quy định về bản chất quyền lực của Nhà nước Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Do đó, trách nhiệm của Nhà nước là phải “bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân,…” (Điều 3, Hiến pháp năm 2013). Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền (Điều 8). Vì vậy, nghĩa vụ của Nhà nước là: tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân (Điều 28); tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội (Điều 59),… Các quy định trên một lần nữa khẳng định nghĩa vụ của Nhà nước không chỉ là ghi nhận QCN mà còn có trách nhiệm tạo ra các cơ chế để bảo đảm QCN đã được ghi nhận.

 Bên cạnh việc nâng cao số lượng và chất lượng QCN trong Hiến pháp, Nhà nước chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với các quy định cụ thể, dễ thực hiện, giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung nhằm giảm bớt việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhiều bộ luật được sửa đổi và ban hành mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, bảo đảm tốt hơn các quyền của người dân như: Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật về Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Người cao tuổi,…

Những kết quả đạt được trong việc ban hành chính sách, pháp luật về QCN của Nhà nước ta những năm qua là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về QCN, phù hợp với thực tiễn đòi hỏi trong nước cũng như đáp ứng các yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Các nguyên tắc, tiêu chuẩn về QCN trong luật Nhân quyền quốc tế đã được quán triệt và trở thành nội dung quan trọng của văn bản pháp luật Việt Nam về QCN, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động bảo vệ và thực thi QCN.

Thứ hai, tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, việc bảo đảm QCN trong hoạt động thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm một cách tích cực. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp đã áp dụng một số biện pháp chủ yếu sau:

– Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về những vấn đề chung, có ý nghĩa chiến lược về bảo đảm QCN. Nổi bật nhất trong hoạt động này là Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (11/3/2011) Ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới.

Với mục tiêu tạo sự chuyển biến tích cực về bảo đảm QCN, Quyết định số 366/QĐ-TTg đã cụ thể hóa một bước quan trọng nghĩa vụ bảo đảm QCN đối với một số bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đóng vai trò kiểm tra, giám sát, phân bổ nguồn lực, tăng cường năng lực bảo đảm QCN trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

– Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện pháp luật của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm bảo đảm các quyền đã được công nhận trong Hiến pháp như: quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước, xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; quyền tiếp cận giáo dục, y tế; các quyền về lao động, việc làm, an sinh xã hội;…

Đây là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, gắn với quá trình cung cấp các biện pháp cụ thể và hành chính, kinh tế, quy tắc, thủ tục, các dịch vụ xã hội cho việc bảo đảm QCN và ngăn chặn các hành vi vi phạm QCN theo pháp luật. Do vậy, nó thường có tác động nhanh và sâu sắc đến thực tiễn bảo đảm QCN của các cơ quan công quyền ở trung ương và địa phương.

– Lồng ghép QCN vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách phát triển. Hoạt động này phản ánh những đổi mới trong tư duy phát triển của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, nhiều chương trình, chính sách phát triển của Việt Nam đã có những quy định tác động đến bảo đảm QCN như: Chương trình Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và 2011 – 2020; Chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005, 2006 – 2010, 2012 – 2015; Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2006 – 2010; Chương trình Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (Chương trình 134); Chương trình Phát triển kinh tế – xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình xây dựng nông thôn mới,…

Nhìn tổng thể, những chương trình, chính sách nêu trên đã hỗ trợ tích cực cho người dân phát huy quyền làm chủ của mình trong quản lý nhà nước, xã hội; tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ về việc làm; đào tạo nghề; trợ giúp pháp lý; y tế, giáo dục, an sinh xã hội;… hạn chế gia tăng phân hóa giàu nghèo và góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong quá trình phát triển.

– Trực tiếp áp dụng các biện pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng ngành, từng địa phương nhằm nâng cao năng lực hưởng thụ các quyền của người dân, đặc biệt là của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Hoạt động này gắn với những sáng kiến đa dạng của các ngành, các địa phương như: tuyên truyền, nâng cao nhận thức về QCN cho cán bộ, công chức, viên chức, các tầng lớp nhân dân; xây dựng các dịch vụ xã hội thân thiện, dễ tiếp cận; đào tạo nguồn nhân lực cho những vùng khó khăn; hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm dễ bị tổn thương trước những hiểm họa như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,…

Thứ ba, xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người

Không chỉ hoàn thiện các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà nước ta còn đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về QCN như: Ban chỉ đạo Nhân quyền Chính phủ và các địa phương; xây dựng và hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị và thực hiện Báo cáo tình hình thực hiện các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

Bên cạnh việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức của Ban chỉ đạo về Nhân quyền, Chính phủ, Nhà nước có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện Báo cáo Nhân quyền trong khuôn khổ Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cũng như các hoạt động hợp tác quốc tế khác trên lĩnh vực.

 Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực của các cá nhân, tổ chức trong bộ máy nhà nước, Việt Nam đang nghiên cứu và xúc tiến việc thành lập Ủy ban Nhân quyền quốc gia để theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi QCN trên các lĩnh vực: ban hành pháp luật; thực thi Hiến pháp, pháp luật; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về QCN;…

Thứ tư, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

Phù hợp với quy định về quyền lập hội trong Tuyên ngôn thế giới về QCN (1948) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966), Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức này trong quá trình bảo vệ QCN. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, nhiều tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như công đoàn, nông dân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh; các cơ quan báo chí, truyền thông; các tổ chức xã hội, nghề nghiệp;… đã đóng vai trò ngày càng tích cực trong những hoạt động: giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về QCN; thúc đẩy bình đẳng giới; trợ giúp pháp lý, nâng cao năng lực cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; xóa đói giảm nghèo; tham gia các hoạt động giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở,… nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước và trong hoạt động của các tổ chức kinh tế, xã hội.

Thứ năm, tuyên truyền, giáo dục về quyền con người

Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ sau khi có Chỉ thị 12-CT/TW (1992) của Ban Bí thư, hoạt động tuyên truyền, giáo dục QCN đã được tích cực triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn từ năm học 1998 – 1999, môn học Lý luận về QCN đã được đưa vào giảng dạy chính thức tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tiếp đó, nhiều chương trình nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền được triển khai thực hiện tại các trường chính trị, hành chính, Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ, các trường đại học, các viện nghiên cứu,… Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, tập huấn về nhân quyền còn được thực hiện thông qua một số dự án hợp tác quốc tế của Quốc hội, Chính phủ; của các ngành, các cơ quan như: ngoại giao, tư pháp, công an, báo chí, tôn giáo, dân tộc và của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Trong những năm gần đây, hoạt động tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền liên tục được mở rộng, được lồng ghép vào nhiều môn học và một số chương trình đào tạo sau đại học. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép đào tạo Thạc sĩ về QCN ở ba cơ sở đào tạo là: Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Những hoạt động tuyên truyền, giáo dục nêu trên đã góp phần tích cực nâng cao nhận thức về QCN cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Đảng, Nhà nước; cán bộ thực thi pháp luật; sinh viên các trường đại học; thành viên một số tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp.

Thứ sáu, hợp tác và hội nhập quốc tế trên lĩnh vực quyền con người

Để phát huy tốt vai trò, nâng cao uy tín quốc tế và hội nhập vào đời sống chính trị – xã hội quốc tế, Việt Nam đã gia nhập, phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế chủ chốt về QCN. Từ những năm 1980, Nhà nước đã thực hiện tương đối đầy đủ và bảo đảm thời gian hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ các Báo cáo quốc gia của các Công ước Nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 – 2016). Trong việc thực hiện QCN theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR), Việt Nam đã bảo vệ thành công báo cáo của mình tại cả hai chu kỳ (1 và 2) năm 2009 và 2014, đồng thời tiếp thu các ý kiến đóng góp xây dựng của các nước khác, cũng như tích cực đóng góp ý kiến cho các quốc gia khác về tình hình thực hiện QCN tại các chu kỳ này.

Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả lời và giải quyết kháng thư của Liên hợp quốc. Trong việc thực thi nghĩa vụ thực hiện các Thủ tục đặc biệt (Special Procedures – SP) cho đến nay, Việt Nam đã đón các chuyên gia về các vấn đề người thiểu số; đói nghèo cùng cực và nhân quyền; tác động của nợ nước ngoài đối với nhân quyền, quyền được chăm sóc y tế; Báo cáo viên đặc biệt về quyền văn hóa và tôn giáo. Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hội thảo quốc tế về QCN như: Hội thảo về Công ước quốc tế chống tra tấn và đối xử vô nhân đạo (tháng 12/2003); Hội thảo Việt Nam – EU về Án tử hình (tháng 11/2004), Hội thảo về QCN lần thứ 6 (tháng 12/2004),… Tại các hội thảo này, Việt Nam đã tạo cơ hội để các đại biểu quốc tế hiểu rõ hơn về chính sách, pháp luật của Việt Nam về QCN. Đây thực sự là diễn đàn trao đổi cởi mở, thẳng thắn, công khai nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trong phạm vi khu vực, cùng các nước thành viên ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc thành lập Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR), Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC) và Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (tháng 11/2012). Qua đó thể hiện cam kết và quyết tâm cao của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và thúc đẩy các QCN  cũng như các quy định của pháp luật quốc tế về QCN.

2. Những thách thức, khó khăn của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Thành tựu của thời kỳ hội nhập quốc tế đã giúp chúng ta có thêm nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của người dân; tuy nhiên, đây là quá trình có nhiều thách thức và khó khăn đan xen:

– Hệ thống pháp luật về QCN ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số yếu tố bất hợp lý, mâu thuẫn, chưa theo kịp với yêu cầu bảo đảm các quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh sự phức tạp, chồng chéo, pháp luật Việt Nam vẫn chưa thể chế hóa kịp thời một số quyền hợp hiến, tạo nên hiện tượng gọi là quyền “treo”, ít có hiệu lực thực tế, như: quyền lập hội, biểu tình, tiếp cận thông tin. Quy trình xây dựng pháp luật còn lạc hậu, chưa coi trọng sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền với nguyên tắc cơ bản là công dân có quyền tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Trong một số lĩnh vực, pháp luật còn có những quy định gây trở ngại cho việc bảo vệ các quyền đã được công nhận trong Hiến pháp, như quyền có luật sư, quyền được suy đoán vô tội, quyền được im lặng của bị can, bị cáo, người bị bắt giữ. Ngoài ra là tình trạng kém hiệu quả của pháp luật trong bảo vệ quyền của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương; bảo vệ các quyền về kinh tế, xã hội của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp;…

– Hoạt động giám sát việc bảo đảm QCN còn có biểu hiện hình thức, thiếu hiệu quả trong việc phát hiện, khắc phục kịp thời những hạn chế, thiếu sót của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện QCN theo quy định của pháp luật. Một trong những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là Việt Nam đang thiếu một cơ quan quốc gia có địa vị pháp lý đầy đủ, hoạt động chuyên trách, đủ khả năng chủ trì, phối hợp, giám sát, hướng dẫn các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội trong việc bảo đảm các QCN.

– Sự hình thành những yêu cầu mới, đa dạng về QCN trong bối cảnh xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Một mặt hiện nay, khi đất nước đã bước vào giai đoạn đang phát triển, có mức thu nhập trung bình, cùng với sự tăng lên của nguồn lực kinh tế và trình độ dân trí trong xã hội sẽ xuất hiện yêu cầu cao hơn đối với việc bảo đảm các tiêu chuẩn nhân quyền đã được pháp luật quốc tế công nhận. Các hình thức lao động, sản xuất, kinh doanh; sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã tạo ra những khả năng mới trong việc bảo đảm QCN. Do những thay đổi đó nên trong các hoạt động xã hội, bên cạnh những quyền căn bản (quyền sống, quyền có việc làm, chỗ ở, chăm sóc sức khỏe,…) cũng xuất hiện những đòi hỏi cho các quyền mới, như quyền về môi trường trong lành, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền sở hữu tư nhân, quyền của giới tính “thứ ba”, quyền của kiều dân nước ngoài định cư tại Việt Nam và Việt kiều,…

Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phân hóa – phân tầng xã hội không chỉ bị tác động bởi sự phân hóa giàu nghèo, mà còn bị ảnh hưởng bởi sự đa dạng về văn hóa vùng miền, văn hóa tộc người và hội nhập quốc tế. Sự phân hóa – phân tầng xã hội đã và sẽ dẫn đến sự đa dạng hóa mạnh mẽ hơn các nhu cầu về QCN giữa các giai tầng xã hội. Nhà nước vừa phải có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về QCN cho các nhóm dân cư tại các khu đô thị, vừa phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bảo đảm các quyền rất thiết yếu, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cho các nhóm dễ bị tổn thương. Sự đa dạng đó đã và sẽ tạo ra những thách thức mới đối với chính sách, pháp luật không chỉ trên lĩnh vực nhân quyền.             

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Để khắc phục những thách thức đang đặt ra, nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả nghĩa vụ bảo đảm QCN của các cơ quan nhà nước Việt Nam hiện nay, cần chú trọng thực hiện một số phương hướng cơ bản sau:

Một là, trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm QCN. Quá trình này cần chú ý:

– Thể chế hóa các QCN, quyền công dân đã được chế định trong Hiến pháp năm 2013 thành các tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch, nhất quán về cách hiểu và cách thực hiện. Không để tình trạng quyền bị “treo”. Sớm có hướng dẫn thống nhất về phương thức hạn chế quyền phù hợp với quy định của Điều 14(2) Hiến pháp năm 2013.

– Xây dựng khuôn khổ pháp luật về dân chủ, pháp quyền, quản trị xã hội cho việc bảo đảm QCN. Thí dụ xây dựng và triển khai thực hiện các luật về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa như: Luật Trưng cầu dân ý, Luật về Lập hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin,…; thể chế hóa việc tổ chức, vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên thực tế (cơ chế tổ chức, hoạt động của Hội đồng bầu cử và kiểm toán quốc gia, cơ chế bảo hiến,…); thể chế hóa trách nhiệm quản trị quốc gia của Nhà nước (xây dựng luật giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, quản lý an ninh quốc gia,…). Trên cơ sở đó, Nhà nước Việt Nam mới tạo ra một khuôn khổ pháp luật đủ mạnh để bảo đảm quyền cho mọi người, mọi nhóm xã hội trên thực tế.

Hai là, tiếp tục chú trọng xây dựng, củng cố các thiết chế nhà nước trong bảo vệ, giám sát việc thực hiện QCN. Hiện nay cần quan tâm củng cố, hoàn thiện cơ chế khắc phục và bồi thường thiệt hại do vi phạm QCN gây ra; cơ chế phát hiện và ngăn chặn vi phạm QCN trên các lĩnh vực; cơ chế bảo vệ quyền của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Tiếp đó, cần xúc tiến thiết lập cơ quan chuyên trách nhân quyền quốc gia bên cạnh các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Muốn vậy cần đẩy mạnh việc nghiên cứu toàn diện, khoa học một số phương án cho việc hình thành cơ quan này phù hợp với chuẩn mực quốc tế, với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Bốn phương án để lựa chọn có thể là: 1) Thanh tra Quốc hội (ombusman) hay Hội đồng Nhân quyền của Quốc hội với tính cách là một ủy ban của Quốc hội do Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo; 2) Ủy ban về Quyền con người trực thuộc Chính phủ; 3) Hội bảo vệ Quyền con người Việt Nam với tính cách là một tổ chức xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 4) Viện Nghiên cứu Quyền con người quốc gia.

Ba là, coi trọng áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên QCN trong xây dựng và thực thi luật pháp, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội. Việc sử dụng phương pháp này cần tập trung xây dựng các biện pháp nâng cao năng lực của chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền trên từng lĩnh vực cụ thể; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong bảo đảm các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa cho các nhóm người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người nhiễm HIV/AIDS,…

Bốn là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục về QCN. Nhiệm vụ trung tâm hiện nay là đổi mới mạnh mẽ cả nội dung và phương pháp giáo dục nhân quyền cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; cán bộ thực thi pháp luật và sinh viên các trường đại học. Tiếp đó cần thể chế hóa vững chắc việc đưa giáo dục QCN vào các trường chính trị, hành chính, các trường đại học, các trường của các tổ chức đoàn thể. Giáo dục phải hướng đến nâng cao nhận thức, tôn trọng và tuân thủ các QCN trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, của các cán bộ công chức, viên chức; các tổ chức kinh tế, xã hội; các chương trình và chính sách phát triển.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên lĩnh vực QCN nhằm nâng cao năng lực xây dựng và thực thi pháp luật, năng lực bảo vệ và giám sát việc bảo đảm QCN. Hiện nay cần quan tâm nâng cao chất lượng các Báo cáo theo cơ chế của Công ước và cơ chế của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; chủ động hơn về chiến lược trong quá trình tham gia vào một số cơ chế, thủ tục nhân quyền của Liên hợp quốc, khu vực Đông Nam Á (ASEAN), đối thoại về QCN, phát triển các hình thức hợp tác quốc tế đa dạng về giáo dục nhân quyền.

 

Ghi chú:

(*) ThS.; Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

 

Tài liệu tham khảo

1.      Nguyễn Đăng Dung (2006), Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước, Nxb. Pháp lý, Hà Nội.

2.      Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

3.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Hiến pháp Việt Nam (năm 1946,1959,1980,1992) và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

4.      Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5.      Đào Trí Úc (Chủ biên) (2009), Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

6.      Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2009), Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay / 2023

Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt một tầm cao mới. Nguồn: internet

Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện

Trong hơn 30 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú; Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt… Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTQT và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm:

Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung ứng cho phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.

Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2019 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, hiện đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.

Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 – 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2015 đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%, năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).

Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…

Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.

Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động…

Một số vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình HNKTQT của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể như:

– Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đó tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước.

– Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại.

– Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc; Tình hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn; Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn hạn chế…

– Một bộ phận đầu mối về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù, tiến trình HNKTQT đã đạt được những kết quả tích cực, song trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường như hiện nay, Việt Nam cần chủ động triển khai HNKTQT lên mức toàn diện, sâu rộng, đổi mới sáng tạo và hiệu quả hơn. Trước mắt, cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.

Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và DN.

Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2019 (tháng 6/2019), Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam…

Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng FTA.

Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.

Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập. DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

1. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; 2. Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; 3. Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 4. Quyết định số 27/QĐ-BCĐHNQT ngày 26/4/2014 của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 5. Quyết định số 04/QĐ-BCĐLNKT ngày 09/1/2015 của Ban Chỉ đạo liên ngành kinh tế ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế; 6. Vũ Văn Hiền (2018), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Hội đồng Lý luận Trung ương; 7. Thanh Giang (2019), Hội nghị tăng cường hội nhập quốc tế chủ động, sáng tạo, hiệu quả vì phát triển nhanh và bền vững, Báo Nhân dân diện tử; 8. Lê Hoài Trung (2019), Đối ngoại đa phương góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước; 9. Hoàng Xuân Hòa (2019), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sau 5 năm nhìn lại, Văn phòng Chính phủ.

Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Với Nền Hành Chính Nhà Nước Trong Giai Đoạn Hiện Nay / 2023

1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Ngày nay, nhà nước pháp quyền là nhà nước được thực hành mang tính phổ quát ở hầu như tất cả các quốc gia tiến bộ, dân chủ trên thế giới.

Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền. Xét về thực chất, nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó, quan hệ giữa nhà nước và công dân là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Trong nhà nước pháp quyền, quyền và tự do của người dân được ghi nhận và bảo đảm, đó cũng là cơ sở chính trị – pháp lý cho việc bảo đảm dân chủ và là sự thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước. Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, bên cạnh những đặc điểm của nhà nước pháp quyền nói chung, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản như sau[1]:

– Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân

Khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong hiến pháp mà còn gắn liền với với việc thiết lập các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân. Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên Nhà nước của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như vào các hoạt động thuộc phạm vi của Nhà nước – hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý – điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật.

– Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp

Kế thừa và phát triển các giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuất phát từ những nguyên tắc và quan điểm lớn của Đảng ta và điều chỉnh những chế định lớn – là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân. Và đó chính là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các đạo luật, còng như các quyết sách khác của Nhà nước và của cá tính chất chính trị, tính chất xã hội. Hiến pháp có một vai trò quan trọng như vậy trong việc duy trì quyền lực của nhân dân, cho nên, việc xây dựng và thực hiện một cơ chế hữu hiệu cho việc phát hiện, đánh giá và phán quyết về những quy định và hoạt động trái với Hiến pháp là rất cần thiết trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay.

– Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội

Pháp luật của Nhà nước ta phản ánh đường lối, chính sách của Đảng và lợi ích của nhân dân. Vì vậy, pháp luật phải trở thành phương thức quan trọng đối với tính chất và hoạt động của Nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội ta: công bằng, dân chủ, bình đẳng – những tố chất cần thiết cho sự phát triển tiến bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội ta.

Nhà nước pháp quyền đặt ra nhiệm vụ phải có một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật. Pháp luật thể chế hoá các nhu cầu quản lý xã hội, là hình thức tồn tại của các cơ cấu và tổ chức xã hội và của các thiết chế Nhà nước. Vì vậy, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là lối sống có trật tự và lành mạnh nhất của xã hội. Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Nhà nước là người làm ra luật, ban hành pháp luật, nhưng lại phải tự đặt mình trong sự ràng buộc về thẩm quyền và trách nhiệm trước pháp luật, trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng.

Tuy nhiên, nói đến pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là nói đến bản chất dân chủ và giá trị công bằng, bình đẳng của nó. Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là quyết tâm đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặt công việc đó trên một nền tảng khoa học.

– Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân

Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với Nhà nước v.v. luôn được Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt. Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyết định. Trong nhà nước pháp quyền, các quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người như quyền được sống, quyền tự do… mới có cơ hội trở thành hiện thực vì được nhà nước thừa nhận trong pháp luật và bảo đảm thực hiện; các quyền và lợi ích hợp pháp, danh dự, nhân phẩm của mọi công dân được nhà nước cam kết thực hiện và bảo vệ bằng pháp luật. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận thành nguyên tắc cơ bản ngay tại Điều 3: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; đồng thời ghi nhận chế định quyền con người, quyền công dân trong chương 2 của Hiến pháp.

– Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước

Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà nước là một quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô hình tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Trong các tổ chức thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền thì dù ở chế độ xã hội nào việc xác lập và sử dụng các hình thức và cơ chế giám sát luôn được đặt ra một cách tất yếu bởi vì Nhà nước pháp quyền về thực chất là để công khai hoá quyền lực và chống lạm dụng quyền lực. Trên thực tế, các hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dân đa dạng và linh hoạt hơn rất nhiều so với những hình thức kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Về cơ bản, có thể nhóm lại những mô hình chủ yếu sau:

+ Các hình thức của cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân – sự tham chính của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

+ Các hình thức của cơ chế kiểm tra giám sát trực tiếp của cá nhân công dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước.

+ Giám sát nhân dân chuyên trách – Ban thanh tra nhân dân

– Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan.

+ Đối với dân tộc Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước, đối với xã hội không chỉ là tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan mà còn là ở chỗ sự lãnh đạo đó còn có cơ sở đạo lý sâu sắc và cơ sở pháp lý vững vàng.

+ Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – Đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái (mâu thuẫn) với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta. Trong ý nghĩa ấy, nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

+ Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì dân, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…

b. Các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhà nước

Nền hành chính nhà nước là hệ thống được cấu thành bởi các yếu tố về thể chế, về tổ chức và hoạt động quản lý hành chính của bộ máy hành chính, về đội ngũ cán bộ, công chức và tài chính công để thực thi quyền hành pháp. Các yếu tố của nền hành chính có mối quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau trong khuôn khổ thể chế, bao gồm:

– Thể chế hành chính: Là các quy định pháp luật về quản lý hành chính . Thể chế hành chính gồm: Thể chế kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa – tư tưởng; Thủ tục hành chính; Thể chế về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Thể chế về bộ máy hành chính nhà nước, cán bộ, công chức, tài chính công, hiện đại hoá…

– Tổ chức và hoạt động quản lý hành chính của bộ máy hành chính nhà nước.

Bộ máy hành chính nhà nước có vị trí, vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động ở trung ương và địa phương có sự khác biệt. Bộ máy hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước khác, cũng như bộ máy hành chính nhà nước trong hệ thống chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, có tổ chức và hoạt động đặc thù.

– Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính: Là chủ thể của bộ máy hành chính nhà nước, có vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng trong nền hành chính nhà nước, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.

Tài chính công vừa là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính trong một quốc gia, vừa là một bộ phận cấu thành của nền hành chính nhà nước, được cấu thành bởi: ngân sách nhà nước, bảo hiểm xã hội, tín dụng nhà nước cũng như các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Trong tài chính công có các quan hệ thu, chi, vay và trả nợ, các quan hệ cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng của nhà nước.

3. Mối quan hệ của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở những phân tích về đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhà nước, xem xét dưới góc độ pháp lý, đặc biệt là luật Hiến pháp năm 2013, có thể đưa ra một số nội dung về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền hành chính nhà nước như sau:

– Nhà nước pháp quyền chi phối, tác động mạnh mẽ đến nền hành chính nhà nước. Điều này có nghĩa là, các giá trị lớn của nhà nước pháp quyền phải được tiếp nhận và phản ánh thông qua nền hành chính nhà nước, đó là:

+ Nhân dân làm chủ

Văn kiện Đại hội Đảng xác định rõ những phương châm cơ bản xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện (là cơ quan dân cử và các đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng việc xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở. Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyết định. Như vậy, nền hành chính nhà nước phải phản ánh được tính dân chủ, thể hiện được yếu tố nhân dân là chủ trong hoạt động quản lý hành chính, phải chuyển từ mô hình hành chính “cai trị” sang mô hình hành chính “phục vụ” đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”. Bên cạnh đó, tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

+ Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền và tự do của con người, của công dân. Đây là một đặc trưng của nhà nước pháp quyền nói chung và nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng. Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quan hệ với Nhà nước luôn được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt. Do vậy, nền hành chính cũng phải bảo đảm được các quyền và tự do của con người trong quan hệ với nhà nước. Nền hành chính thông qua các yếu tố cấu thành như thể chế hành chính, tổ chức và hoạt động quản lý hành chính của bộ máy hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ và công chức hành chính, tài chính công phải bảo đảm được các quyền và tự do của con người bằng việc quy định trong bộ máy hành chính, thiết chế hành chính trách nhiệm bảo về quyền và tự do của con người, công dân…

+ Đề cao tính tối thượng của pháp luật, bình đẳng giữa nhà nước, cán bộ, công chức và công dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý.

Đây là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, tính tối thượng của pháp luật có giá trị bắt buộc trong nền hành chính, vì nền hành chính là một bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Pháp luật được tôn trọng, có giá trị, có hiệu lực bắt buộc đối với nhà nước, các cơ quan nhà nước trong đó có cơ quan hành chính. Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 1 Điều 8: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”. Do vậy, nền hành chính cũng được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thông qua chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật.

Trong nền hành chính nhà nước, bình đẳng giữa nhà nước, cán bộ, công chức và công dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp có thể coi là nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vu pháp lý của công dân với cơ quan hành chính nhà nước. Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 2 Điều 8: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Như vậy, những giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCH Việt Nam phải được phản ánh trong nền hành chính nhà nước, cũng như trong tất cả các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước Việt Nam.

– Mặt khác, do hành chính nhà nước là bộ phân cấu thành của Nhà nước, cùng với yêu cầu của cải cách nền hành chính nhà nước ta, thì nền hành chính nhà nước phải thể hiện các giá trị của nhà nước pháp quyền. Tức là nền hành chính nhà nước thông qua các yếu tố cấu thành như thể chế hành chính; tổ chức và hoạt động quản lý hành chính của bộ máy hành chính; đội ngũ cán bộ, công chức; tài chính công phải thể hiện được các giá trị lớn của nhà nước pháp quyền. Cụ thể như sau:

+ Về thể chế hành chính

Thể chế hành chính là những quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhà nước. Trong hoạt động của quản lý hành chính, thể chế hành chính thể hiện được các giá trị của nhà nước pháp quyền như tính dân chủ; tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do của con người, công dân; thượng tôn pháp luật. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho thể chế hành chính là cần sửa đổi, ban hành các Luật mới và các văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức; ban hành các nghị định để cụ thể hóa Luật cán bộ, công chức…Điều quan trọng là: các văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp, phân quyền trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đi theo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước.

+ Về tổ chức và hoạt động quản lý hành chính của bộ máy hành chính đã giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tuc hành chính được cải cách theo hướng “một cửa”, mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính. Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiến hà, tham những của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của công dân. Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, thể hiện đầy đủ các giá trị của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.

+ Về đội ngũ cán bộ, công chức: Chiếm vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức là chủ thể đặc biệt để vận hành bộ máy nhà nước. Các giá trị cơ bản của nhà nước pháp quyền sẽ không được đảm bảo nếu như đội ngũ cán bộ, công chức không đạt yêu cầu, không đủ về số lượng và bảo đảm về chất lượng. Do vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, chuẩn hóa, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức về cả chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, vì con người – chủ thể bộ máy nhà nước đóng vai trò then chốt cho sự phát triển.

+ Về tài chính công:

Hơn nữa, yếu tố tài chính công trong nền hành chính nhà nước thể hiện giá trị cao nhất của nhà nước pháp quyền chính là thông qua việc quản lý và sử dụng tài chính công phải đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, đúng pháp luật, được biểu hiện cụ thể tại khoản Điều 55 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật”.

Như vậy, quan hệ giữa nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với nền hành chính nhà nước là sự tác động qua lại giữa các giá trị lớn của nhà nước pháp quyền với các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước, ở đó các giá trị của nhà nước pháp quyền được tiếp thu và phản ánh qua nền hành chính và ngược lại nền hành chính thông qua các yếu tố cấu thành thể hiện các giá trị của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách, triển khai thực thi pháp luật của nhà nước để phát triển đất nước, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

[1] Xem: PGS. TS. Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Đề tài khoa học cấp nhà nước: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr 29 – 31, 2010.

[2] Xem: PGS. TS. Vũ Thư, Tập bài giảng Lý luận cơ bản về nền hành chính nhà nước, trang 3, Học viện khoa học xã hội, 2015.

Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế / 2023

Quản lý phát triển xã hội về bất bình đẳng, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế

1. Khái quát chung về phân cực giàu nghèo1)Phân cực giàu nghèo giữa các vùng miền ở nước ta hiện nay

Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền ở Việt Nam hiện tại rất cao do sự khác biệt lớn giữa các địa phương về trình độ phát triển kinh tế xã hội. Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên vẫn là những khu vực nghèo nhất của Việt Nam. Năm 2016, khi Việt Nam áp dụng tiếp cận giảm nghèo đa chiều, tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Bắc lên tới 34,52%, Đông Bắc là 20,74% và Tây Nguyên là 17,14%. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều lần so với khu vực Đông Nam Bộ (chiếm 1,23%) hay đồng bằng sông Hồng (chiếm 4,76%). Cũng chính vì thế, sự phân cực về giàu nghèo giữa các địa phương, vùng miền, giữa các nhóm dân cư, khu vực sinh sống…mới chính là những vấn đề đáng chú ý và cần phải giải quyết trong việc QLPTXH về giảm nghèo.

Mức độ tăng trưởng về thu nhập bình quân đầu người giữa các vùng miền cũng phản ánh rõ các tồn tại về bất bình đẳng. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người năm 2014 tại khu vực Đông Nam Bộ là 3,93 triệu đồng, cao nhất cả nước, tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng 3,2 triệu đồng. Trong khi đó, ở khu vực Tây Bắc, mức thu nhập này là 1,26 triệu đồng, Bắc Trung Bộ là 1,7 triệu đồng và Đông Bắc là 1,8 triệu đồng. Sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, các địa phương có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian.

2) Phân cực giàu nghèo giữa khu vực nông thôn và đô thị

Về sinh kế của các hộ gia đình, kết quả khảo sát cho thấy các tỉnh, thành phố lớn chủ yếu có thu nhập từ tiền lương, tiền công (chiếm từ 56% đến 75% tùy từng tỉnh). Bên cạnh đó, hoạt động buôn bán, dịch vụ ở các tỉnh này cũng nổi bật hơn so với các địa bàn còn lại. Ngược lại, nhóm các thành phố có tốc độ phát triển kém hơn (Quảng Trị, Sóc Trăng, Đắk Lắk và Sơn La), nông nghiệp lại là sinh kế phố biển (chiếm từ 61% đến 75% số hộ khảo sát).

Về tình trạng nhà ở, nhà kiên cố, cao tầng, khang trang là đặc trưng phổ biến tại các thành phố phát triển. Trong khi đó, các ngôi nhà mái ngói, mái tôn hay nhà cấp 4 chính là đặc trưng của các tỉnh kém phát triển với khoảng từ 46% đến 76% số hộ khảo sát ở các địa bàn này đang sinh sống trong các căn nhà mái ngói/mái tôn/cấp 4.

Phân hóa giàu nghèo cũng diễn ra rõ nét khi so sánh giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị. Tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn thường cao gấp từ 3-4 lần so với khu vực thành thị. Trong đó, tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn thường cao gấp từ 3-4 lần so với khu vực thành thị. Năm 2010, tỷ lệ nghèo ở khu vực đô thị[1] là 6,9% trong khi ở nông thôn là 17,4%. Năm 2012, tỷ lệ nghèo chung ở 2 khu vực giảm nhưng khoảng cách lại có xu hướng gia tăng. Tỷ lệ nghèo ở khu vực đô thị là 4,3% trong khi ở nông thôn là 14,1%. Đến năm 2014, tỷ lệ nghèo chung và khoảng cách nghèo có xu hướng giảm. Ở khu vực đô thị, tỷ lệ nghèo là 3%, trong khi ở nông thôn là 10,8%. Tại tỉnh Đắk Lắk, năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị là 4,73%, trong khi ở khu vực nông thôn lên tới 21,82%. Thậm chí, nếu tách riêng các khu vực nông thôn ra thành các khu vực vùng sâu, vùng xa, sẽ thấy tỷ lệ nghèo ở các vùng này có mức chênh lệch rất lớn so với tỷ lệ nghèo chung. Năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo tại 64 huyện nghèo (chương trình 30a) vẫn trên 50%, gấp hơn 5 lần tỷ lệ chung của cả nước.

Thu nhập bình quân ở khu vực thành thị năm 2014 là gần 4 triệu đồng/người trên tháng, trong khi ở khu vực nông thôn là hơn 2 triệu đồng/người/tháng. Chênh lệch về thu nhập thực tế sẽ lớn hơn rất nhiều lần khi dân số ở khu vực nông thôn cao hơn 2 lần so với dân số ở khu vực thành thị. Nói cách khác, thành thị chỉ chiếm 1/3 quy mô dân số nhưng lại chiếm hơn 50% nhóm có thu nhập cao.[2]

So sánh tại các địa bàn khảo sát cho thấy, có tới 57,4% số hộ khảo sát tại nông thôn có nguồn sinh kế từ tiền lương/tiền công. Tỷ lệ này ở khu vực đô thị cũng chỉ cao hơn khoảng 3,2%. Tỷ lệ hộ có thu nhập từ dịch vụ, buôn bán cũng tương đồng nhau giữa hai khu vực. Khác biệt nhiều nhất nằm ở nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và nguồn thu từ lương hưu, trợ cấp. Khi nông thôn vẫn mang nhiều đặc trưng của hoạt động sản xuất nông nghiệp (khoảng 50% hộ nông thôn khảo sát có nguồn thu từ nông nghiệp, tỷ lệ này ở nhóm cư dân đô thị hiện chỉ chiếm 30%). Tuy nhiên, tỷ lệ dân đô thị có nguồn thu từ lương hưu/trợ cấp, phụ cấp ở đô thị đang ở mức cao gấp đôi so với khu vực nông nghiệp.

Về chi tiêu, mặc dù thu nhập kém 2 lần so với khu vực thành thị nhưng chi tiêu ở khu vực nông thôn lại có xu hướng tiến gần tới mức chi tiêu ở khu vực thành thị. Điều này rõ ràng cho thấy nhiều thay đổi trong chi tiêu của hộ gia đình ở khu vực nông thôn khi có những sự thay đổi về sinh kế. Đối với chi tiêu về y tế, mức chi tiêu của người dân ở khu vực thành thị cao hơn 1,2 lần so với mức chi tiêu của người dân ở khu vực nông thôn và các hộ ở thành thị cũng chi gấp 2 lần mức chi về giáo dục so với các hộ gia đình ở nông thôn.

3) Phân cực giàu nghèo giữa các nhóm dân tộc

Về chất lượng cuộc sống, tỷ lệ cư dân đô thị sống trong các căn hộ cao tầng chiếm 31,4 % cao hơn xấp xỉ 7% so với vùng nông thôn. Mức chênh lệnh về tỷ lệ sinh sống trong các căn hộ mái bằng giữa đô thị và nông thôn cũng trên 15%. Bên cạnh đó, các căn nhà tranh/tre/nứa lá rất hiếm thấy ở khu vực đô thị (0,6%) nhưng vẫn có tới 1/10 (10,6%) số hộ dân nông thôn khảo sát hiện đang sinh sống trong những ngôi nhà này. Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước máy là nguồn nước ăn chỉnh ở khu vực đô thị đạt mức 92,6%. Trong khi đó, tại khu vực nông thôn, tỷ lệ này chỉ là 60,6% (chênh 32 điểm %).

Về địa điểm khám chữa bệnh, sự lựa chọn phổ biến của cư dân ở đô thị chính là bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố (chiếm khoảng 44,6% lựa chọn). Trong khi đó, người dân nông thôn lại chủ yếu tìm đến bệnh viện huyện/quận (chiếm tới 42,6 số hộ khảo sát). Kết quả cho thấy người đô thị có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế cấp cao. Lý giải cho những khác biệt về cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế giữa khu vực nông thôn có thể nhìn nhận qua các nhân tố. (i) Sự phân bố không đồng đều của mạng lưới y tế; (ii) Chi phí khám chữa bệnh và khả năng chi trả của các đối tượng.

Phân cực giàu nghèo giữa các tỉnh, thành phố, giữa các khu vực, vùng miền thực chất chỉ là biểu hiện bên ngoài của vấn đề phân cực giàu nghèo. Thực tế, phần lõi chính của vấn đề phân cực giàu nghèo chính là tình trạng nghèo khác nhau giữa các nhóm dân tộc. Cũng cần phải nói thêm rằng, khoảng 50% người nghèo là người dân tộc thiểu số (DTTS). Tại tỉnh Sóc Trăng, tỷ lệ hộ nghèo người Khmer qua các giai đoạn khác nhau chiếm khoảng 50% số hộ nghèo của tỉnh. Thậm chí, xu hướng này tăng dần qua thời gian khi tỷ lệ hộ nghèo ở nhóm người Kinh có xu hướng giảm thì ở đồng bào dân tộc Khmer lại tăng. Năm 2006, số hộ nghèo toàn tỉnh là 76.288 hộ nghèo, trong đó có 32.720 hộ Khmer nghèo, chiếm tỷ lệ 41,70%. Năm 2016, toàn tỉnh Sóc Trăng có 57.814 hộ nghèo, trong đó có 26.983 hộ nghèo Khmer, chiếm 46,4%.[3] Tại Đăk Lăk, vấn đề nghèo DTTS thậm chí còn phức tạp hơn khi địa phương này, cũng như toàn vùng Tây Nguyên cùng lúc phải đối mặt với thách thức giảm nghèo kép ở nhóm đồng bào DTTS gồm: (i) nhóm đồng bào DTTS tại chỗ và (ii) nhóm đồng bào DTTS di cư, chủ yếu là từ miền núi phía Bắc vào. Năm 2016, tỉnh Đăk Lăk có 81.592 hộ nghèo trong đó có 50.332 hộ DTTS gồm 29.989 hộ DTTS tại chỗ và 20.333 hộ DTTS từ nơi khác tới.

Trong 54 dân tộc, Dân tộc Kinh và dân tộc Hoa có mức sống khác hẳn so với các nhóm DTTS. Đặc biệt, trong số các nhóm DTTS, lại có một số nhóm rất nghèo. Các nhóm DTTS chiếm 15% dân số Việt Nam nhưng hầu hết lại ở các khu vực vùng sâu, vùng xa. Trong khi người Kinh phân bố chủ yếu ở các đồng bằng. Đa số người nghèo là nhóm DTTS. Thiếu hụt các nguồn lực sản xuất, nhất là đất đai dẫn tới khả năng thoát nghèo của người DTTS hạn chế và làm gia tăng thêm khoảng cách giữa người họ với nhóm người Kinh.

Nông nghiệp là sinh kế chính của người DTTS. Có tới 77,6% hộ người DTTS có nguồn thu từ hoạt động nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này ở nhóm người Kinh chỉ là 26,9% (thấp hơn tới hơn 50%). Sự đa dạng trong nguồn thu của các hộ gia đình người Kinh rõ rệt hơn. Nhóm DTTS tập trung chủ yếu ở sinh kế nông nghiệp và tiền lương/tiền công. Trong khi đó, người Kinh có sự trải đều và vượt trội hơn hẳn ở các khoản thu từ buôn bán, dịch vụ và lương hưu, trợ cấp/phụ cấp. Đặc trưng về sinh kế này như đã nói cũng ảnh hưởng chính đến mức độ ổn định về nguồn thu giữa các nhóm dân tộc.

2. Khái quát chung về bất bình đẳng, phân tầng xã hội1) Bất bình đẳng, phân tầng xã hội về kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Về chi tiêu, khoản chi cho hiếu hỷ, đầu tư cho học hành, chi cho khám, chữa bệnh của người Kinh và người DTTS có phần tương đương nhau. Ngoài ra, do sinh kế chủ yếu từ nông nghiệp, tỷ lệ hộ dân người DTTS chi cho sản xuất ở mức cao 44,8% cao hơn 21% so với nhóm người Kinh. Trong khi đó, tỷ lệ người Kinh chi tiêu cho mua sắm các đồ dùng, tiện nghi trong gia đình lại ở mức cao 51,5%, chênh cao hơn nhóm DTTS 12,2%.

Tình trạng nhà ở của các hộ gia đình người Kinh và người DTTS cho thấy sự khác biệt khá lớn giữa các dân tộc. Đa phần các hộ người DTTS hiện đang cư trú trong các ngôi nhà mái ngói/mái tôn/cấp 4 (chiếm tới xấp xỉ 70% hộ khảo sát). Tỷ lệ hộ DTTS sinh sống trong các căn nhà tranh/tre/nứa/lá vẫn còn chiếm tới gần 15%. Trong khi tỷ lệ này ở nhóm người Kinh chỉ là 2,3%. Mặt khác tỷ lệ hộ DTTS có nhà cao tầng hay mái bằng chỉ chiếm hơn 15%. Trong khi đó, nhóm người Kinh lại có tới gần 62% hộ đã có nhà cao tầng hoặc mái bằng.

2) Bất bình đẳng phân tầng xã hội về giáo dục và y tế 31) Quản lý phát triển xã hội về phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội . Một số kết quả và hạn chế trong QLPTXH về giải quyết phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội

Về vấn đề tiếp cận với các dịch vụ xã hội, kết quả khảo sát cũng cho thấy nhiều khác biệt về tỷ lệ hưởng thụ các dịch vụ XH giữa nhóm người Kinh và người DTTS. Vì thế, có thể thấy tình trạng bất bình đẳng về cơ hội truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo đánh giá, người Kinh được đánh giá là nhóm đối tượng được hưởng nhiều hơn cơ hội về tiếp cận với các dịch vụ xã hội, đặc biệt là về y tế và giáo dục.

Nông nghiệp là sinh kế phổ biến của các hộ nghèo và cận nghèo (với khoảng 71,8% hộ nghèo và 53,2% hộ cận nghèo đang sinh sống bằng nghề nghiệp này, trong khi tỷ lệ tương ứng ở nhóm điều kiện kinh tế từ mức trung bình trở lên chỉ khoảng 36,7%).

Bất bình đẳng về kinh tế giữa các nhóm dân cư không chỉ dựa trên yếu tố thu nhập mà còn thể hiện rõ qua chi tiêu của các nhóm. Theo điều tra mức sống dân cư năm 2014, chi tiêu nhóm hộ giàu nhất cao gấp 3,8 lần nhóm hộ nghèo nhất. Nhóm hộ nghèo nhất thường chi tiêu nhiều cho ăn uống. Tuy nhiên, tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống càng nhiều thì mức sống càng thấp. Tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống nói chung của Việt Nam năm 2014 lên tới 52,6% cơ cấu chi tiêu. Ngoài chi tiêu ăn uống chiếm tỷ trọng cao hơn, các khoản chi tiêu khác cho cuộc sống của nhóm nghèo đều thấp hơn rất nhiều so với nhóm giàu.

2) Quản lý phát triển xã hội để giải quyết vấn đề phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng và phân tầng xã hội

Khảo sát cho thấy, nhà của người nghèo là những ngôi nhà tranh/tre/nứa lá tạm bợ hay những ngôi nhà mái ngói/tôn/cấp 4. Gần ½ hộ nghèo tham gia khảo sát đang sống trong những căn nhà tranh/tre/nứa lá; 1/3 số hộ khác đang sinh sống tại các nhà mái ngói/tôn/cấp 4. Tỷ lệ này thấp hơn ở nhóm cận nghèo (chỉ khoảng 11,3% ở nhà tranh tre, nứa lá; và 51,6% ở các ngôi nhà mái ngói/tôn/cấp 4) và thấp hơn đáng kể ở nhóm hộ có mức sống từ trung bình trở lên (tương ứng 2,2% và 41,2%).

Tương tự, các nhóm nghèo còn gặp khá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh. Hiện tại, theo kết quả khảo sát tại 7 tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo đang sử dụng nước máy trong sinh hoạt hàng ngày chỉ chiếm khoảng 46,2%. Tỷ lệ này ở nhóm hộ cận nghèo là 67,7% và cao hơn rất nhiều 79,5% ở nhóm hộ có mức sống từ trung bình trở lên.

Trong lĩnh vực y tế, bất bình đẳng giữa nhóm giàu với nhóm nghèo không thể hiện rõ do nhóm nghèo đã được Nhà nước hỗ trợ thông qua thẻ BHYT. Tuy nhiên, chi tiêu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe trung bình của 1 người/1 tháng là khoảng 96 nghìn đồng, chiếm khoảng 5,4% tổng chi tiêu của người dân. Trong đó, với nhóm hộ giàu nhất, chi tiêu bình quân gấp 2,8 lần nhóm hộ nghèo nhất. Điều này có nghĩa, mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao hơn của nhóm giàu so với nhóm nghèo rõ ràng vẫn cao hơn nhiều.

Trong lĩnh vực giảm nghèo, kết quả đã đạt được của Việt Nam là hết sức ấn tượng, dù theo chuẩn nghèo nào. Đây là minh chứng cho những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong QLPTXH nói chung và trong lĩnh vực giảm nghèo nói riêng. Bên cạnh đó, các kết quả giảm nghèo diễn ra ở khắp các vùng miền trên cả nước, ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Điều này cho thấy, hệ thống chính sách vĩ mô về QLPTXH đã phát huy được hiệu quả đáng kể trong quá trình thực thi. Tốc độ giảm nghèo ở các khu vực thành thị và nông thôn diễn ra nhanh, nhất là ở các huyện nghèo, trung bình từ 3-4%/năm.

Một điểm nhấn đáng chú ý khác trong kết quả giảm nghèo của Việt Nam thời gian qua chính là mức giảm nghèo ở các khu vực đặc biệt khó khăn. Năm 2006, tỷ lệ nghèo chung ở khu vực này là 47%, đến 2010, tỷ lệ này đã giảm xuống còn hơn 28%. Đối với các huyện 30a, tỷ lệ nghèo cũng giảm nhanh từ hơn 58% năm 2010 xuống 43,89% năm 2012. Tính trung bình hàng năm, mức giảm tỷ lệ nghèo ở các khu vực khó khăn cao gấp 2 lần mức giảm tỷ lệ nghèo chung.

Năm 2016, để thực hiện các chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo, Nhà nước đã chi khoảng 9.000 tỷ đồng để mua thẻ BHYT cho khoảng 14 triệu người thuộc các nhóm đối tượng nghèo, đồng bào DTTS, người dân ở các khu vực đặc biệt khó khăn, hải đảo. Ngoài ra, Nhà nước cũng đã chi 1.172 tỷ đồng để hỗ trợ mua thẻ BHYT cho hơn 1,8 triệu người thuộc diện hộ cận nghèo.

2) Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

Trong lĩnh vực giáo dục, năm 2016, cả nước cũng đã có hơn 3,8 triệu học sinh, sinh viên được miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP với mức hỗ trợ lên tới hơn 5,6 nghìn tỷ. Chính nhờ vào hỗ trợ này, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm, tỷ lệ huy động trẻ tới trường đạt mức cao.

Ngoài các chính sách nói trên, Việt Nam cũng thực hiện hàng loạt các chính sách quan trọng khác với trọng tâm là giảm nghèo như các nhóm chính sách về tín dụng, chính sách hỗ trợ sản xuất, chính sách về hỗ trợ xây dựng nhà ở…Các chính sách này đóng góp một phần quan trọng vào kết quả giảm nghèo, qua đó giúp giảm phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng và phân tầng xã hội.

Chồng chéo về hệ thống chính sách

Tình trạng chồng chéo không chỉ diễn ra giữa các chính sách khác nhau mà còn diễn ra trong cùng một hệ thống chính sách. Ngoài chính sách giảm nghèo chung, Việt Nam còn xây dựng và thực thi ít nhất 3 nhóm chính sách giảm nghèo đặc thù quy mô lớn là chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình 135 và chương trình 30a. Trong đó, đối với chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, lại bao gồm nhiều chương trình, dự án và chính sách khác nhau. Chính vì sự phân chia nhỏ lẻ này nên các chính sách bị chồng chéo, nguồn lực đầu tư giảm nghèo bị phân tán, từ đó hiệu quả giảm nghèo bị ảnh hưởng.

Nguồn lực và bố trí nguồn lực hạn chế

Bên cạnh sự chồng chéo, một trong những hạn chế đáng kể khác trong QLPTXH về giảm nghèo là vấn đề nguồn lực hạn chế. Rất nhiều chính sách giảm nghèo được xây dựng và áp dụng trong thực tiễn nhưng mức hỗ trợ quá thấp, không phù hợp với thực tiễn. Ví dụ, các chính sách tín dụng, hỗ trợ tiền điện…Phân bổ vốn thấp cũng diễn ra ở các chương trình giảm nghèo đặc thù, ví dụ chương trình 30a. Không chỉ bố trí nguồn lực hạn chế, nguồn lực giảm nghèo còn thường xuyên bố trí chậm và bất hợp lý. Theo UNDP, theo kế hoạch tỷ lệ giải ngân cuối năm 2008 của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo là 60% nhưng thực tế chỉ đạt 33%. Cả giai đoạn 2006-2010, dù đã bố trí đạt 99% vốn như kế hoạch nhưng suốt giai đoạn 2006-2009 chỉ bố trí được 57% kinh phí, còn lại là bố trí vào năm 2010. Thiếu vốn nên các mô hình giảm nghèo ở các tỉnh đa số chỉ thành công ở mức thí điểm vì khi mở rộng lại không có vốn. Điều này có nghĩa, hiệu quả giải ngân hạn chế và hiệu quả giảm nghèo cũng hạn chế theo.

Thiếu sự phân cấp trong quản lý

Mặc dù ngày càng có nhiều địa phương có các chính sách giảm nghèo riêng nhưng nhìn chung việc phân cấp, phân quyền còn hạn chế. Sự khác biệt giữa các địa phương là rất lớn nên các chính sách phải xuất phát từ thực tế địa phương, tăng cơ chế cho địa phương. Thiếu sự phân cấp dẫn tới việc phân bổ vốn chậm, ảnh hưởng tới thực hiện chính sách.

Cơ sở của việc phân cấp, trao quyền về giảm nghèo, chúng tôi địa phương chính là cung cấp tài chính trọn gói. Điều này sẽ giúp giảm bớt thời gian và thủ tục triển khai chính sách. Đặc biệt giúp các chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các bên. Từ đó, khắc phục được nhiều hạn chế của việc thực thi các chính sách giảm nghèo và các chính sách khác.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức cao độ trong toàn Đảng đối với việc thực hiện các mục tiêu về QLPTXH giải quyết vấn đề bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội. Trên cơ sở đó, quán triệt tới từng Đảng viên về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các vấn đề này.

Thứ hai, Đảng chỉ đạo tiếp tục tăng cường tìm kiếm, huy động, phân bổ thêm các nguồn lực để tập trung giải quyết các vấn đề QLPTXH…Trong đó, cần đảm bảo việc phân bổ nguồn lực dựa trên các nguyên tắc ưu tiên. Cần phải tuyệt đối tránh tình trạng ban hành hệ thống các chính sách vượt quá khả năng đáp ứng về nguồn lực hoặc ban hành các chính sách mang tính cào bằng, dàn trải, chia đều…dẫn tới phân tán về nguồn lực, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo.

Thứ tư, Đảng cần chỉ đạo, yêu cầu các cơ quan của Chính phủ, các địa phương áp dụng các phương pháp lập kế hoạch phát triển theo mô hình từ dưới lên. Việc lập kế hoạch từ dưới lên nếu được làm chặt chẽ, khoa học chắc chắn sẽ giúp giải quyết tốt hơn, nhanh hơn các vấn đề về giảm nghèo, bất bình đẳng, phân tầng xã hội với những nguồn lực ít hơn.

Thứ năm, vấn đề bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội…đều là những vấn đề mang tính thời đại của bất kỳ quốc gia và các hình thái xã hội từ xưa tới nay. Do đó, để QLPTXH đối với vấn đề này, Đảng phải không ngừng nâng cao nhận thức, hoàn thiện các quan điểm để chỉ đạo, lãnh đạo.

4) Giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân

Thứ nhất, phải nâng cao được hiệu quả thực hiện chính sách thông qua xây dựng một khung kế hoạch/chiến lược tổng thể về QLPTXH. Trong đó, đối với tình lĩnh vực sẽ có các giải pháp tương ứng đi kèm với các bộ chỉ số theo dõi, đánh giá để đảm bảo việc thực hiện đúng các mục tiêu đặt ra.

Thứ ba, Nhà nước cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm chính sách vĩ mô thông qua việc tinh giảm bộ máy và thu hút nhân tài. Cần tạo ra cơ chế để khuyến khích nhân tài trong việc đưa ra các giải pháp đột phá, các ý tưởng hay để giải quyết các vấn đề xã hội.

Thứ tư, Nhà nước phải lồng ghép được các mục tiêu vào các chính sách QLPTXH nói chung cũng như trong từng nhóm chính sách cụ thể về kinh tế, xã hội và môi trường. Bên cạnh đó, Nhà nước phải tối đa hóa được các nguồn lực khác nhau để cùng giải quyết vấn đề xã hội.

Thứ năm, Nhà nước cần căn cứ theo định hướng của Đảng để xác định rõ mục tiêu ưu tiên cần giải quyết trong QLPTXH. Việc xác định rõ các mục tiêu ưu tiên cũng là cơ sở để xác định được nguồn lực cần tập trung đầu tư để giải quyết từng vấn đề cụ thể.

Thứ sáu, Nhà nước cần phải duy trì nguyên tắc đảm bảo đầy đủ nguồn lực đầu tư để thực hiện các chính sách có hiệu quả. Trong nhiều lĩnh vực, việc thiếu nguồn lực hoặc nguồn lực không được cung cấp đầy đủ, kịp thời chính là yếu tố đã ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách, điển hình như giảm nghèo hay các chính sách đối với đồng bào DTTS.

Thứ bảy, Nhà nước cần tiến tới việc thay đổi các nguyên tắc trong quản trị điều hành. Việc phân cấp và trao quyền và cần áp dụng rộng rãi trong QLPTXH giai đoạn tới khi các cơ quan ở Trung ương chỉ đóng vai trò ban hành chính sách khung và thực hiện theo dõi, giám sát trong khi các cơ quan ở địa phương đóng vai trò là các đơn vị xây dựng, thực hiện các chính sách cụ thể phù hợp với thực tiễn của từng địa phương.

Thứ nhất, cần coi người dân ở đúng vị thế của một chủ thể trong QLPTXH về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội.

Thứ hai, hệ thống chính sách về QLPTXH về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội phải loại bỏ được tâm lý trông chờ, ỷ lại trong một bộ phận người dân vốn đã quen vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nhất là trong lĩnh vực giảm nghèo.

Thứ ba, hệ thống các chính sách về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội chỉ có thể phát huy được hiệu quả và sự tham gia của người dân nếu có sự phù hợp với thực tiễn ở các địa phương, các nhóm dân tộc…

Thứ tư, để huy động được sự tham gia của người dân đối với việc thực hiện các chính sách QLPTXH về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội việc công khai minh bạch về thông tin là một yêu cầu vô cùng quan trọng.

Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính sẽ là cơ sở để giúp người dân tham gia nhiều hơn, sâu hơn vào các chính sách QLPTXH về giảm bất bình đẳng, thiếu đồng bộ giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, phân cực giàu nghèo và phân tầng xã hội./.

PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà[4]

ThS. Nguyễn Văn Thục[5]

[2] Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra mức sống dân cư 2014, Nxb Thống kê, 2016, tr14 [3] Sở LĐTBXH tỉnh Sóc Trăng, Báo cáo tình hình thực hiện công tác giảm nghèo đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 1992-2016

[4] Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhà Nước Việt Nam Đối Với Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!