Đề Xuất 12/2022 # Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Thời Kì Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Thời Kì Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Thời Kì Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang diễn ra ngày càng sâu rộng và đã đem lại những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, ngoài việc giúp Việt Nam tiếp thu được khoa học – công nghệ mới và kỹ năng quản lý tiên tiến, quá trình hội nhập còn góp phần đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý. Tuy nhiên, hội nhập cũng đồng thời đặt giáo dục – đào tạo của Việt Nam trước áp lực không ngừng nâng cao chất lượng để xây dựng nguồn nhân lực có tính cạnh tranh cao.

Từ khóa: Đào tạo, năng lực, nguồn nhân lực, hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là chìa khóa quan trọng để Việt Nam cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, thực tế nguồn nhân lực của Việt Nam còn khá hạn chế cả về quy mô và chất lượng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có các giải pháp toàn diện và đồng bộ từ vấn đề tuyển dụng, sử dụng đến năng lực quản lý. Đặc biệt, cần coi đào tạo nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ nhân lực. Nói cách khác, việc đào tạo lực lượng lao động (LLLĐ) có năng lực thực sự cần được chú trọng.

2. Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của sự phát triển. Xét trong quá trình sản xuất, con người không chỉ là một yếu tố cấu thành, mà còn là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Thực tế cho thấy, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học – công nghệ đều hữu hạn, chỉ có thể phát huy tác dụng khi kết hợp hiệu quả với nguồn nhân lực. Trong khi đó, nguồn nhân lực có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Hơn nữa, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.

Việt Nam đã và đang chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và trình độ khoa học – công nghệ cao. Đây là những điều kiện cần thiết để hội nhập, cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, cũng như khẳng định vị thế của tri thức và trí tuệ Việt Nam trong sân chơi toàn cầu.

3. Xây dựng nguồn lao động với kĩ năng nghề nghiệp vững chắc

Theo số liệu thống kê gần đây của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, quy mô lao động qua đào tạo tại Việt Nam hiện còn quá nhỏ so với yêu cầu của nền kinh tế, của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước [1]. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ còn rất thấp. Còn nhiều bất hợp lý trong cơ cấu theo trình độ các cấp. Cơ cấu lao động qua đào tạo phân bổ không đồng đều, tập trung cục bộ ở một số ngành dịch vụ, thiếu nghiêm trọng lực lượng lao động ở các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ. Thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao cung cấp cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm. Thực tế, lực lượng lao động Việt Nam còn thiếu nhiều kỹ năng, kỹ thuật phù hợp và kỹ năng làm việc cốt lõi. Sự phát triển của đội ngũ công nhân lành nghề còn chậm, không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế, một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường.

Để có lực lượng lao động với kỹ năng cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, Việt Nam cần có hệ thống giáo dục và đào tạo nghề vận hành hiệu quả hơn và các hệ thống giáo dục cao hơn. Việt Nam sẽ cần một mô hình tăng trưởng mới để thoát khỏi nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp và để hiện đại hóa – công nghiệp hóa, cũng như tăng trưởng bền vững. Điều này đòi hỏi cần phải có một thị trường lao động được hiện đại hóa. Một thị trường lao động cho phép học tập suốt đời và mọi người, dù xuất thân từ gia đình với mức thu nhập nào đi chăng nữa, đều có thể tiếp cận với hệ thống giáo dục – đào tạo nghề và giáo dục đại học. Đó là một thị trường lao động với cơ chế bảo trợ xã hội toàn dân và có những thiết chế thị trường lao động được điều chỉnh theo những thay đổi của bản thân thị trường đó. Đây cũng là hướng đi cần thiết để tăng cường kỹ năng cho lực lượng lao động trẻ, nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, tạo cơ hội tiếp cận đối với mọi người dân.

4. Đầu tư hiệu quả vào hệ thống trường chất lượng cao

Công tác quy hoạch mạng lưới trường chất lượng cao, nghề trọng điểm ở Việt Nam cần được thực hiện kịp thời làm cơ sở cho việc chuẩn bị, tổ chức đào tạo nhân lực tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý được nâng cao, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp ở các trường nghề được nâng lên, nhất là ở các chương trình chất lượng cao. Tuy nhiên, việc triển khai cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân chính là nguồn lực đầu tư cho giáo dục – đào tạo nói chung và đào tạo nhân lực tay nghề cao nói riêng còn thấp.

Hàng năm, việc hỗ trợ đầu tư cho các trường còn dàn trải, chưa tập trung cho các cơ sở có khả năng sớm đạt các tiêu chí trường chất lượng cao, chưa có quy hoạch, dự báo nguồn nhân lực, bao gồm cả nhân lực có tay nghề cao sát với thị trường lao động. Các cơ chế, chính sách cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nhân lực có tay nghề cao chưa hoàn thiện. Bản thân các trường thực hiện việc triển khai tự chủ chưa đồng bộ và mạnh mẽ. Để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung cũng như các trường nghề chất lượng cao hoạt động hiệu quả, các Hội đồng kỹ năng ngành, nghề cần được thành lập để làm nhiệm vụ nghiên cứu, điều tra, khảo sát, phân tích, dự báo nhu cầu sử dụng lao động của các ngành công nghiệp làm căn cứ cho các cơ sở đào tạo xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.

Để giảm bớt thực trạng thất nghiệp, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, việc thành lập các hội đồng kỹ năng nghề trong một số lĩnh vực với sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo, các Bộ, ngành, các doanh nghiệp là một nhu cầu thực tế. Đồng thời, đổi mới chương trình và công tác tổ chức, quản lý đào tạo trên cơ sở chuẩn đầu ra, bảo đảm liên thông thuận lợi giữa các cấp trình độ đào tạo trong cùng ngành, nghề hoặc với các ngành, nghề khác hoặc liên thông lên trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Đối với các cơ sở giáo dục – đào tạo, giao quyền tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm trên cơ sở điều kiện về số lượng, chất lượng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo cho nhà trường. Đồng thời, cần sớm ban hành tiêu chí chất lượng cao và đánh giá trường chất lượng cao. Trước bối cảnh thống nhất hệ thống giáo dục – đào tạo, để tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam cần có những trường nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế, những trường trọng điểm đặt ở các vùng kinh tế lớn của đất nước. Phải chọn ra được những trường chất lượng cao để đầu tư trọng điểm, đầu tư đồng bộ để các trường trở thành mũi nhọn, tạo thành trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao, trung tâm đào tạo ra các giảng viên. Bên cạnh đó, vẫn đầu tư nâng cao chất lượng cho cơ sở giáo dục – đào tạo, kêu gọi xã hội hóa để mọi người dân đều có thể tiếp cận được.

Trong thời gian tới, để các trường nghề chất lượng cao hoạt động hiệu quả, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LÐ-TB và XH) cần có chỉ đạo triển khai mạnh mẽ, quyết liệt trong việc tự chủ của các trường. Càng trường chất lượng cao càng phải đẩy mạnh tự chủ toàn diện đi đôi với trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ chế đặt hàng giao nhiệm vụ minh bạch, hiệu quả, một mặt để thực hiện chủ trương đổi mới trong việc cấp phát ngân sách, giám sát chất lượng theo đầu ra, mặt khác thúc đẩy quá trình tự chủ của các trường. Tiếp tục đầu tư đồng bộ để phát triển trường nghề, đồng thời khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư trường chất lượng cao và nghề trọng điểm.

5. Tiếp cận đào tạo mô hình giáo dục quốc tế

Trường chất lượng cao cần phải đào tạo chuẩn chất lượng cao. Đây cũng chính là nhiệm vụ được đặt ra yêu cầu các nhà trường phải đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức đào tạo các nghề trọng điểm quốc gia và nghề trọng điểm quốc tế. Ðây cũng là chủ trương và định hướng phát triển giáo dục đào tạo tiệm cận với đào tạo nghề quốc tế của Bộ LÐ-TB và XH, giúp định hướng tốt về nguồn nhân lực tương lai cũng như tiệm cận với tiêu chuẩn đào tạo nghề của thế giới.

Theo đề án “Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề, đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế giai đoạn 2012-2015”, hiện nay các trường đã tiếp nhận chuyển giao đồng bộ hơn 30 bộ chương trình của hơn 30 nghề trọng điểm quốc tế [2]. Ngoài việc có kỹ năng nghề nghiệp được quốc tế công nhận, người học sau khi tốt nghiệp có năng lực tiếng Anh thấp nhất là đạt trình độ B1 theo Khung năng lực ngoại ngữ châu Âu để tham gia thị trường lao động trong nước, khu vực ASEAN và quốc tế hoặc có thể học liên thông lên trình độ cao hơn ở các quốc gia tiên tiến.

Việc học chương trình đào tạo quốc tế một phần hoặc hoàn toàn bằng tiếng Anh và thực tập tại các tổ chức, tập đoàn đa quốc gia sẽ giúp sinh viên thuận lợi trong việc tiếp xúc thực tế công việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước sau này. Ðây là cách chuyển giao tri thức toàn diện, theo đó không chỉ chuyển giao giáo trình đào tạo, bộ chương trình còn chuyển giao hệ thống đánh giá về tiêu chí đánh giá người học, bài kiểm tra lý thuyết, thực hành hay bài viết báo cáo. Ðể nhận chuyển giao chương trình đào tạo cấp độ quốc tế, trường thực hiện đào tạo thí điểm sẽ phải đáp ứng đủ năng lực giáo viên và cơ sở vật chất đạt yêu cầu chương trình đào tạo mà các nước đó đặt ra. Chương trình đào tạo cần chú trọng việc đào tạo lý thuyết song song với thực hành, hướng dẫn cụ thể cách tổ chức thực hành cho giáo viên và sinh viên tại nhà trường, tại xưởng sản xuất, tại điểm thực tế và tại các doanh nghiệp.

6. Kết luận

Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục – đào tạo trong nước là giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ yêu cầu ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Phải đổi mới đồng bộ cả về chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra; vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục – đào tạo theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Việt Nam không chỉ coi giáo dục là quốc sách hàng đầu mà còn nhấn mạnh ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, Việt Nam cần có hướng đào tạo gắn với nhu cầu xã hội.

Thực tế, hướng đào tạo này phải được xem xét trên cả hai phương diện: Cơ sở đào tạo cần có sự nghiên cứu hợp tác với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội trong việc biên soạn chương trình giảng dạy để tiến hành đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực theo yêu cầu xã hội. Đồng thời, cơ sở đào tạo cần lắng nghe, tiếp nhận sự đánh giá, góp ý từ các cơ sở sử dụng lao động cả về việc xây dựng mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và chất lượng của nguồn nhân lực do cơ sở đào tạo cung cấp. Từ đó, bổ sung, điều chỉnh kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ cho sinh viên sau đào tạo nhằm đáp ứng tốt nhất công việc. Thông qua các hình thức liên kết giữa nhà trường với các cơ sở, doanh nghiệp để chương trình đào tạo luôn được điều chỉnh, cập nhật, hiện đại hơn, giúp thích ứng hơn với trình độ công nghệ mới và yêu cầu toàn cầu hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nguyễn Thu Thuỷ (2017). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong cơ chế thị trường. Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Quốc gia.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012). Chuyển giao các Bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề, đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế giai đoạn 2012-2015. Đề án Quốc gia.

SOLUTIONSMA. NGUYEN THI MINH HUYEN FOR IMPROVING THE QUALITY OF HUMAN RESOURCES IN THE CONTEXT OF THE COUNTRY’S INTERNATIONAL INTEGRATION PROCESSABSTRACT:

International School, Vietnam National University – Hanoi

Keywords: Training, competency, human resources, international economic integration.

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023

Một số kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; Thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; Tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; Quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Về hội nhập khu vực, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với các nước ASEAN-6 (5 nước sáng lập và Brunei), 99,2% số dòng thuế đã được xóa bỏ, trong khi 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (gọi tắt là các nước CMLV) đã được xóa bỏ tính tới năm 2017. Dự kiến, tới hết năm 2018, tỉ lệ xóa bỏ thuế quan trong toàn ASEAN sẽ đạt 98,67%.

Ngoài tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như dự án thí điểm cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, cơ chế hải quan một cửa… Các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về tiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm và thiết bị y tế… Việt Nam và các nước ASEAN đã thực thi Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) về điện và điện tử, về kiểm tra thông lệ sản xuất thuốc tốt; Đã ký MRA về nghiên cứu tương đương sinh học, về hệ thống giám định và chứng nhận an toàn thực phẩm đối với thực phẩm đã qua chế biến nhằm tạo nên một khu vực sản xuất thống nhất trong ASEAN.

Tính đến năm 2018, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) là 98%. Như vậy, trong số 10 FTA mà Việt Nam đang thực hiện, FTA với nội khối ASEAN (AFTA) có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan cao nhất là 98% với lộ trình thực hiện là 19 năm (cá biệt, một số ít mặt hàng có lộ trình là 25 năm).

Về hội nhập quốc tế, tính đến nay, Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nước (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm cả các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA);… hiện đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Ở cấp địa phương, từ 2016 tới nay, các địa phương chủ động triển khai hội nhập quốc tế, ký kết 420 thỏa thuận quốc tế trong tất cả các lĩnh vực, phát huy thế mạnh từng vùng miền, từng ngành hàng. Đây là những tiền đề quan trọng tạo thêm xung lực mới để đất nước bước vào giai đoạn tăng trưởng mới bền vững hơn, thực chất hơn.

Về thu hút vốn đầu tư, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), sau hơn 30 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kề từ khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào cuối năm 1987, đến tháng 8-2018, ở 63 tỉnh, thành phố của cả nước đã thu hút 26.438 dự án FDI của 129 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD, vốn thực hiện ước đạt 183,62 tỷ USD, bằng 55% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Khoảng 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông… Cùng với việc bổ sung vốn cho nền kinh tế, các doanh nghiệp FDI còn góp phần chuyển giao công nghệ, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý, góp phần thúc đẩy phát triển, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước.

Thông qua việc tiếp cận công nghệ tiên tiến và chuẩn mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của lực lượng lao động, cũng như tạo ra nhiều việc làm trong các lĩnh vực của nền kinh tế…, khu vực đầu tư nước ngoài đã có những hiệu ứng lan tỏa đối với các lĩnh vực, các vùng, miền của nền kinh tế đất nước. Khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và từ 5-6 triệu lao động gián tiếp, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, thu nhập cho người dân.

Về đầu tư ra nước ngoài, tính chung tổng vốn đầu tư ra nước ngoài, bao gồm vốn cấp mới và tăng thêm trong nửa đầu năm 2018 đạt 263,1 triệu USD. Lũy kế, tính đến hết tháng 5-2018, Việt Nam đã có gần 1.200 dự án đầu tư tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 22 tỷ USD.

Nhiều tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp có vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài vượt ngưỡng 1 tỷ USD như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty cổ phần Hoàng Anh – Gia Lai… Một số doanh nghiệp Việt Nam có kết quả khả quan trong mảng đầu tư ra nước ngoài, trong đó, điểm sáng lớn nhất là Tập đoàn Viễn thông Quân đội – Viettel (đã đầu tư và kinh doanh tại 10 quốc gia ở 3 châu lục). Tổng doanh thu từ đầu tư nước ngoài lũy kế đến năm 2016 của Viettel là 6,5 tỷ USD, riêng năm 2016 đạt 1,4 tỷ USD. Viettel cũng là công ty Việt Nam duy nhất hiện nay có doanh thu từ thị trường nước ngoài trên 1 tỷ USD/năm.

Xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ cũng là một kết quả nổi bật của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước mới có khoảng 2,5 tỷ USD thì đến năm 2017, kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt trên 410 tỷ USD.

Tính từ khi gia nhập WTO năm 2007 đến nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta đã tăng hơn 4 lần. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017; kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng năm 2018 ước tính đạt 111,22 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần vào tăng trưởng GDP nước ta đạt mức cao và khá ổn định trong 30 năm qua. Hội nhập quốc tế cũng là xúc tác đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hội nhập kinh tế

Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh quốc tế và khu vực đang chuyển biến nhanh, phức tạp và rất khó lường, tạo nhiều thách thức đối với môi trường chiến lược của đất nước, tác động trực tiếp tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế thế giới đang hồi phục và bước vào chu kỳ phát triển mới. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2017 đạt 3,6% và có thể tiếp tục tăng trong năm 2018; thương mại toàn cầu tăng 4,6%, cao nhất từ năm 2011 đến nay.

Tuy nhiên, các rủi ro tài chính, chủ nghĩa bảo hộ và nguy cơ chiến tranh thương mại giữa các cường quốc, khu vực tác động không thuận đến đà phát triển của kinh tế thế giới và Việt Nam. Sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn, việc xem xét lại vai trò của các cơ chế đa phương đang tác động khó dự đoán đối với nền kinh tế nước ta.

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức. Đây vừa là cơ hội để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển vừa là thách thức và nếu không bắt kịp thì nguy cơ tụt hậu là hiện hữu.

Bối cảnh tình hình quốc tế đặt ra yêu cầu phải tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, trong đó đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả hơn, nhằm nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, để hội nhập quốc tế đóng góp thiết thực, hiệu quả thực sự trở thành phương tiện hữu hiệu phục vụ phát triển đất nước bền vững và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

Về phương hướng chung, cần tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình hành động của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chú trọng việc nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hội nhập.

Môt số nhóm giải pháp cụ thể:

Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và tham mưu chính sách về hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có tác động đến Việt Nam, các xu thế phát triển, các sáng kiến mới, chính sách và kinh nghiệm của các nước thực thi hiệu quả cam kết hội nhập.

Nghiên cứu, đánh giá tác động của việc xóa bỏ thuế quan theo lộ trình cam kết trong ASEAN đối với các mặt hàng nhạy cảm của nước ta như ô tô, đường, xăng dầu…, dự báo tác động của việc thực thi cam kết trong Hiệp định CPTPP, FTA Việt Nam – EU để có các khuyến nghị chính sách phù hợp khi các hiệp định này được phê chuẩn và đi vào thực hiện;…

Tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế

Phát huy vai trò của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế trong việc phối hợp liên ngành, tăng cường hơn nữa việc kết nối, điều phối, điều hành tập trung, thống nhất giữa hoạch định chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế với triển khai đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập. Đôn đốc và giám sát các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện và khai thác hiệu quả các FTA đã có hiệu lực. Tiến hành rà soát, hoàn thiện cơ chế điều phối thực thi cam kết FTA đối với các lĩnh vực cụ thể theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; bảo đảm lợi ích quốc gia và việc thực thi nghiêm túc các FTA; đánh giá kịp thời các vấn đề phát sinh và kiến nghị giải pháp tháo gỡ. Xây dựng và thực thi nghiêm túc các cam kết trong hội nhập tài chính về thuế, hải quan, dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán, kế toán – kiểm toán và các dịch vụ khác; triển khai Hiệp định thuận lợi hóa thương mại của WTO, Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, hỗ trợ doanh nghiệp

Trong hội nhập, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, trong đó khu vực doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngày càng phát triển. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của hội nhập. Các bộ, ngành, địa phương cần triển khai các biện pháp đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời lắng nghe ý kiến và phản hồi của các doanh nghiệp về các vấn đề chính sách, vướng mắc trong hội nhập kinh tế quốc tế và trong quá trình đàm phán, thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA); Chủ động đề xuất các định hướng, biện pháp cụ thể để cùng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; Tận dụng các cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại một cách hiệu quả, phù hợp với các quy định, luật lệ, chuẩn mực quốc tế và các thể chế đa phương để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan để góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo để hỗ trợ cho quá trình đổi mới công nghệ quốc gia.

Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Tạo Đột Phá Phát Triển Kinh Tế / 2023

3,958

lượt xem

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, khi nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Xác định vai trò và tầm quan trọng đó, tỉnh ta đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Ưu tiên phát triển nguồn nhân lựcNhững năm qua, Thái Bình đã quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; Kế hoạch hành động số 31-KH/TU, ngày 5/1/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 1/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Gần đây nhất, ngày 10/7/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1671/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Những chủ trương, chính sách này đã được triển khai hiệu quả, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 5 năm qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phê duyệt 821 nguồn quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015 – 2020, 2016 – 2021 và 984 nguồn quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2020 – 2025, 2021 – 2026; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng 392.357 lượt cán bộ, đảng viên; điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, hiệp y bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử 448 cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ đương chức và trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp sở và cấp phòng của tỉnh cơ bản đã được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, các chính sách thu hút lao động và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển các khu công nghiệp, Khu kinh tế, đề án dạy nghề cho lao động nông thôn; thu hút nguồn lực xã hội hóa, phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh… cũng góp phần tạo đột phá, mở ra cơ hội giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Từ chỗ chỉ quen với ruộng đồng, chăn nuôi nhỏ lẻ, việc triển khai đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Đề án 1956) ở nhiều địa phương đã tạo điều kiện cho người nông dân được tiếp cận nhiều nghề: vận hành và sửa chữa máy nông nghiệp, chăn nuôi thú y, đan lát, may mặc, điện dân dụng… Tuy không phải là những nghề mới nhưng với việc được học nghề miễn phí, các đối tượng là lao động nông thôn, người khuyết tật, hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhiều lựa chọn để thay đổi cuộc sống. Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, từ năm 2015 đến năm 2019, triển khai Đề án 1956, số lao động nông thôn ở lĩnh vực phi nông nghiệp được hỗ trợ học nghề là 11.274 người, số lao động có việc làm sau đào tạo là 9.637 người, đạt 85,5%.

Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caoTrải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, Trường Chính trị tỉnh ngày càng khẳng định được vị thế là một trong những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp uy tín, chất lượng trong cả nước. Đặc biệt, 5 năm qua, Trường đã tập trung triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu thực tế, nghiên cứu khoa học và quản lý học viên. Đồng chí Nguyễn Đức Luận, Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh cho biết: Trong giai đoạn 2015 – 2019, nhà trường đã triển khai 3 chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị, trung cấp lý luận chính trị – hành chính và trung cấp luật cho 6.177 cán bộ, công chức, viên chức; triển khai 9 chương trình bồi dưỡng cho 5.355 cán bộ các cấp. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng giúp học viên vận dụng tốt kiến thức đã học vào công tác lãnh đạo, quản lý ở địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần ổn định chính trị ở cơ sở, phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tạo tiền đề xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.

Trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, những năm qua, tỉnh ta đặc biệt chú trọng, quan tâm đến lĩnh vực giáo dục. UBND tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai các biện pháp đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Đồng chí Nguyễn Viết Hiển, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết: Đến nay có 99,95% giáo viên mầm non, tiểu học, THCS và 100% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn. Đây là những con số đáng mừng, báo hiệu nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục ngày càng được đầu tư về chất và lượng, là cơ sở để đào tạo những thế hệ nhân lực “vàng” trong tương lai. Trường THPT Chuyên Thái Bình được coi là cái nôi đào tạo giáo dục mũi nhọn của tỉnh. Hàng năm nhà trường có trên 40 học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia. Đây cũng là giai đoạn mà nhà trường có nhiều học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp khu vực và quốc tế. Thầy giáo Nguyễn Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Thái Bình chia sẻ: Nhà trường rất tự hào vì những năm qua các thế hệ học sinh của Trường đã liên tục đạt được nhiều thành tích cao tại những cuộc thi, kỳ thi các môn văn hóa mang tầm khu vực, quốc tế. Từ đó, nhiều học sinh đã thành tài, trở về tỉnh công tác, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên hiện nay công tác phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh cũng đang chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác động. Để tiếp tục có những bứt phá về nguồn nhân lực, nhiều giải pháp quan trọng đang được tỉnh chú trọng xây dựng, thực hiện trong thời gian tới. Đó là tiếp tục chú trọng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm mạnh tỷ trọng lao động tại khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản để chuyên môn hóa và nâng cao hiệu quả lao động trong nông nghiệp. Tập trung gia tăng về số lượng, chất lượng và tỷ lệ lao động được đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cách mạng công nghiệp 4.0. Trong đó, tập trung thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học, sau đại học và đào tạo nghề có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao để hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất tại Khu kinh tế Thái Bình và các lĩnh vực ưu tiên phát triển như: khai thác khí thiên nhiên, sản xuất và phân phối điện; đóng mới, sửa chữa tàu thủy; cơ khí chế tạo sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, nông thôn; chế biến nông sản thực phẩm…

Với tinh thần chủ động tìm tòi hướng đi, cách làm, quyết tâm đổi mới của các cấp ủy đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân, công tác phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh sẽ tiếp tục có những bứt phá trong những năm tới, tạo đà xây dựng Thái Bình trở thành tỉnh phát triển trong khu vực đồng bằng sông Hồng.

Đặng Anh

Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam / 2023

(VOV5)- Tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tổ chức ngày 14-8, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế của VN trong thời gian tới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Kết quả của 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO là đáng ghi nhận. Theo đó, nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về hội nhập kinh tế quốc tế được nâng cao.

Trên bình diện đa phương, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đã được thực hiện, hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới được bổ sung và hoàn thiện; công tác xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường; về nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm được thực hiện đầy đủ.

Trong cả 5 năm, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển trọng tâm từ phá bỏ thế cô lập về kinh tế để hội nhập vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu sang việc đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Trên bình diện khu vực, Việt Nam cũng hội nhập ngày càng sâu với ASEAN, hướng tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015. Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán hoặc chuẩn bị đàm phán một số hiệp định thương mại tự do quan trọng như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do song phương với EU, triển khai khuôn khổ ASEAN về đối tác kinh tế toàn diện khu vực…

Bốc xếp gạo xuất khẩu tại Công ty cổ phần lương thực Hậu Giang. Ảnh: Duy Khương – TTXVN

Tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 08, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nêu rõ: Những thành tựu mà nền kinh tế Việt Nam đạt được trong 5 năm qua là rất đáng ghi nhận. Kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động vào nền kinh tế Việt Nam. Quy mô nền kinh tế tăng lên và Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển đã trở thành nước đang có thu nhập trung bình. Mặc dù quốc tế có nhiều bối cảnh khó lường, tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu còn dai dẳng nhưng nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đã vượt qua được giai đoạn khó khăn với nhiều thách thức trong suốt 5 năm qua. Thị trường xuất khẩu được mở rộng, cơ cấu mặt hàng có nhiều thay đổi theo hướng tích cực.Cùng với đẩy mạnh xuất khẩu thì thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có nhiều tiến bộ đáng kể. Nét mới trong thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài thực hiện trong giai đoạn 2007-2011 là có nhiều dự án lớn với trình độ công nghệ cao hơn. Sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục được duy trì tạo tiền đề cho việc đảm bảo đời sống của nhân dân và giữ vững ổn định xã hội. Nhiều ngành kinh tế đã đứng vững trong cạnh tranh khi Việt Nam mở cửa với bên ngoài và gia nhập WTO.

5 năm gia nhập WTO và cũng là 5 năm thực hiện Nghị quyết 08/NQ – TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Hiện nay, Việt Nam đang chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ cao và sâu sắc hơn. Theo đó, Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới với mục tiêu cao nhất là tất cả vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích dân tộc. Cho nên cần phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là để thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020. Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế là vì lợi ích của đất nước, dân tộc. Hội nhập kinh tế quốc tế là để thực hiện thắng lợi cương lĩnh phát triển đất nước mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 đã thông qua. Và mặt khác, trong mỗi bước thực hiện có kết quả chiến lược phát triển kinh tế xã hội, thực hiện tốt ba khâu đột phá mà chiến lược đã đề ra và thực hiện tốt, có kết quả việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, cũng là điều kiện để tạo ra điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới cũng được gắn kết hơn nữa với quá trình đổi mới kinh tế – xã hội trong nước để nâng cao hiệu quả và tăng cường sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau vì mục tiêu phát triển chung của đất nước, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy các quan hệ hợp tác song phương, khu vực và đa phương; tiếp tục nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; xây dựng các quan hệ đối tác mới thực sự mang lại lợi ích quốc gia. Việt Nam cũng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa Hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng./.

Thu Hoa

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Thời Kì Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!