Đề Xuất 2/2023 # Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm # Top 6 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TÓM TẮT:

Sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (AEC), tỉnh Quảng Bình đã rất quan tâm giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho người dân. Nắm bắt xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, tính đến năm 2018, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tư vấn về việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động cho trên 36.000 lượt người, có 3.350 lao động được tuyển dụng đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Hàng năm, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về hơn 200 tỷ đồng, đã góp phần giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Bài viết nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết lao động, việc làm của một số địa phương trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình.

Từ khóa: Asean, lao động, việc làm, tỉnh Quảng Bình, kinh nghiệm.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, do có sự di chuyển lao động trong khu vực AEC, kinh tế người dân tỉnh Quảng Bình được cải thiện, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về góp phần giúp bà con nhân dân xây dựng, chỉnh trang nhà ở, mua sắm ngư cụ, đầu tư máy móc sản xuất nông nghiệp, phát triển mô hình chăn nuôi. Đồng thời, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Bình phát triển đúng hướng.

Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Tham gia AEC, người lao động của tỉnh có thể phải chịu những bất lợi do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, thậm chí phá sản, dẫn đến lao động bị mất việc làm. Chất lượng nguồn nhân lực lao động của Quảng Bình chưa cao, quá trình đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động AEC và nhu cầu xã hội, sức hút lao động trong các doanh nghiệp khá khiêm tốn do quy mô nhỏ lại vừa thiếu. Tỷ lệ người đi xuất khẩu lao động ở các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia ở lại bất hợp pháp còn cao, đã ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động trong nước nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng khi muốn đi xuất khẩu lao động vào thị trường này.

Chính vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề lao động và việc làm ở tỉnh Quảng Bình trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cần có sự nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, khách quan và toàn diện về những tác động của việc gia nhập AEC.

2. Nội dung

2.1. Lao động, việc làm Việt Nam trước khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Ngày 10 tháng 11 năm 2014, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 1287/QĐ-TCTK về Điều tra lao động việc làm năm 2015. Mục đích của cuộc điều tra nhằm thu thập các thông tin về tình trạng tham gia thị trường lao động năm 2015 của những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam làm cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao động, việc làm, thất nghiệp và thu nhập của người lao động. Qua đó giúp các cấp, các ngành đánh giá và so sánh sự biến động của thị trường lao động, làm căn cứ xây dựng, hoạch địnhchính sách phát triển nguồn nhân lực, kế hoạch hoạt động đầu tư, sản xuất, kinhdoanh phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường lao động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Đồng thời, có cáchtiếp cận và áp dụng khuyến nghị mới của Tổ chức Lao động Quốc tế về lao độngvà việc làm, đặc biệt là “lao động chưa sử dụng hết” vào thực tiễn Việt Nam. Sốliệu được tổng hợp theo quý cho cấp toàn quốc; vùng và năm cho cấp tỉnh, thành phố.

2.2. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương và bài học cho tỉnh Quảng Bình

2.2.1. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương

2.2.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Trị

Tỉnh Quảng Trị là địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng trong giải quyết vấn đề lao động, việc làm sau khi Việt Nam gia nhập AEC. Năm 2016, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Trường Trung cấp nghề Quảng Trị, Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến các chính sách và tư vấn về việc làm, xuất khẩu lao động; hội nghị tập huấn về kỹ năng, phương pháp phân tích thông tin thị trường lao động ở một số cụm xã. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị cũng tập trung thực hiện các nội dung, giải pháp để hỗ trợ người lao động các xã, vùng ven biển trong việc định hướng, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, như: Tổ chức đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; chỉ đạo tổ chức sàn giao dịch việc làm tại các xã, cụm xã ven biển; phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức tuyên truyền, tuyển dụng lao động đi xuất khẩu lao động tại các xã, đặc biệt là các xã ven biển.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã tổ chức điều tra, khảo sát thông tin về nhu cầu học nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, chuyển đổi sinh kế của các hộ gia đình thuộc 16 xã vùng biển bị ảnh hưởng do môi trường sinh thái biển bị ô nhiễm. Kết quả là năm 2016, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm cho khoảng 10.600 lượt lao động (đạt 112 % kế hoạch), trong đó có 6.312 lượt lao động làm việc trong tỉnh, 2.809 lượt lao động làm việc ngoài tỉnh và 1.479 lao động làm việc ở ngoài nước (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Lào và các thị trường khác), tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm còn 3,6% (4). Năm 2019, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm mới cho 14.012 lao động (đạt 133,4% kế hoạch), trong đó xuất khẩu lao động 2.926 người.

2.2.1.2.Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Ở Bình Dương, trong 6 tháng đầu năm 2016, hoạt động tư vấn việc làm đã thu hút 1.276 doanh nghiệp và 42.378 lao động tham gia. Tỉnh cũng đã giải quyết việc làm cho 25.692 lao động. Các trường, cơ sở dạy nghề ở Bình Dương trong năm 2016 đã tuyển sinh gần 32.000 học viên và đào tạo nghề cho 1.481 lao động. Tính đến năm 2019, đã tư vấn giới thiệu việc làm cho 123.622 người lao động; số người lao động được giới thiệu việc làm là 84.798 người; số người lao động nhận được việc làm là 45.342người. Đến cuối năm 2019, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã tiếp nhận thông tin tuyển dụng lao động của 3.905 doanh nghiệp, với nhu cầu tuyển dụng 178.336 lao động; trong đó có 127.032 lao động phổ thông – chiếm tỷ lệ 71,2%; 51304 lao động chuyên môn và lao động kỹ thuật – chiếm tỷ lệ 28,8%. Tổ chức sàn giao dịch việc làm trực tiếp, sàn trực tuyến, sàn giao dịch việc làm online. Tính đến hết tháng 10/2019, Trung tâm tổ chức tổng cộng 39 sàn giao dịch việc làm, vượt 44,4% chỉ tiêu đăng ký đầu năm. Cụ thể, đã tổ chức 34sàn trực tiếp tại trụ sở (24 sàn định kỳ từ lần thứ 202 đến 225 và 10 sàn mở rộng); 04 sàn tại các trường đại học, cao đẳng, địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, 01 phiên giao dịch việc làm online.

Về công tác xuất khẩu lao động: Các doanh nghiệp tuyển chọn lao động đi làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài, trên địa bàn tỉnh có 30 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Đài Loan: 8 người, Nhật Bản: 21 người, Ma Cao: 1 người). Có 15 lao động đạt kết quả tuyển chọn, chờ xuất cảnh đi Hàn Quốc (IPS) theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc; 01 lao động đi làm việc tại Nhật Bản theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Xác nhậncho Công ty CP Nhân Lực Hoàng Hà tư vấn, tuyển chọn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Triển khai việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động khi đi làm việc cũng như các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại Đài Loan. Trong năm 2019, 60 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng qua Chương trình phi lợi nhuận và chương trình lợi nhuận (doanh nghiệp có chức năng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

2.2.2. Bài học giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cho tỉnh Quảng Bình

Một là, chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Bình cần hoàn thiện thể chế về lao động- xã hội theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

Chủ động nghiên cứu Công ước cơ bản của ILO (đặc biệt là 3 Công ước cơ bản về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động, xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc). Nghiên cứu các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động – xã hội mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở đó tư vấn, xây dựng chính sách lao động, việc làm cho Quảng Bình phù hợp với khu vực và quốc tế. Áp dụng các phương pháp tiếp cận, tiêu chí đánh giá về lao động – xã hội theo thông lệ quốc tế và khu vực. Chủ động dự báo, xử lý kịp thời các vấn đề lao động – xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, thực thi các cam kết quốc tế. Lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế về lao động – xã hội theo yêu cầu hội nhập quốc tế.

Hai là, tăng cường truyền thông, phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức.

Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương hội nhập AEC và quốc tế về lĩnh vực lao động- xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng cổng thông tin điện tử hội nhập quốc tế về lao động- xã hội. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức hội nhập AEC và quốc tế về lao động – xã hội trong các ban, ngành, cơ quan, doanh nghiệp, người lao động của tỉnh Quảng Bình, nhằm nâng cao nhận thức về nhu cầu, nội dung, cơ hội và thách thức trong hội nhập AEC, trong việc thực hiện các cam kết với AEC, tạo đồng thuận và tăng cường trách nhiệm, có hành động thống nhất thực hiện các hoạt động và hợp tác quốc tế.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tập trung vào đổi mới giáo dục – đào tạo, dạy nghề địa phương, trong đó chú trọng việc xác định lại cơ cấu đào tạo; hoàn thiện thể chế, gắn kết đào tạo với nhu cầu thị trường lao động trong nước và AEC với tham gia của doanh nghiệp; tăng cường liên kết, tham gia vào “chuỗi giá trị đào tạo toàn cầu hoặc khu vực AEC”. Đào tạo theo đơn “đặt hàng” của doanh nghiệp, của thị trường theo các tiêu chuẩn năng lực trong AEC.

Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động trong tỉnh. Năm là, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Kết nối cung – cầu lao động hiệu quả. Tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường lao động, bao gồm thị trường trong tỉnh Quảng Bình nói riêng và trong nước nói chung để giới thiệu và chắp nối việc làm với thị trường lao động AEC. Đặc biệt, tăng cường và nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu lao động của thị trường AEC. Đổi mới và đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp, đảm bảo phân luồng học sinh hiệu quả ngay từ cấp trung học cơ sơ và trung học phổ thông. Tổ chức lại và nâng cao năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm nhằm tăng cường sự liên kết, chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau trong công tác cung ứng và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp.

Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh. Tôn trọng và bảo vệ quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện quyền thương lượng tập thể thực chất. Nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra lao động trong tiếp nhận, xử lý thông tin, xử lý tranh chấp lao động để đáp ứng các cam kết trong AEC.

Sáu là, thúc đẩy di cư lao động an toàn và hiệu quả. Hỗ trợ cho lao động di chuyển (dỡ bỏ các rào cản về hành chính, tạo liên thông các dịch vụ xã hội cơ bản, liên thông bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…). Đối với lao động Quảng Bình làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, cần tiếp tục khắc phục; lao động bỏ trốn (bảo đảm cho người lao động về nước đúng hạn) và tái hòa nhập tốt vào thị trường lao động; liên kết và tạo dựng mạng lưới an sinh xã hội, chuyển tiền về nước an toàn và sử dụng hiệu quả, giảm các tiêu cực trong tuyển dụng.

3. Kết luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học và xã hội, cho phép nước ta tận hưởng được những điều kiện thuận lợi nhất để vươn mình lên một tầm cao mới.

Sự kiện này tạo ra cơ hội lớn cho tỉnh Quảng Bình trong việc giải quyết vấn đề lao động, việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động sang thị trường AEC. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được, lao động của tỉnh Quảng Bình cũng sẽ phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn khi chất lượng nguồn lực lao động còn thấp. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng, đánh giá đúng chất lượng, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động của tỉnh Quảng Bình đáp ứng yêu cầu các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động trong AEC hiện nay là hết sức cần thiết.

Quốc hội (2012). Bộ Luật Lao động.

Quốc hội (2016). Bộ Luật Điều ước quốc tế.

Quốc hội (2013). Bộ Luật việc làm số 38/2013/QH13.

Quốc hội (2006). Bộ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật số 72/2006/QH11.

Bộ Công Thương – Vụ Chính sách thương mại đa biên (2016), Cộng đồng kinh tế ASEAN – Cơ hội và thách thức với Việt Nam, vn/tin-tuc…/cong-dong-kinh-te-asean–co-hoi-va-thach-thuc-voi-viet-na

Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Hà Nội.

ExperienceMaster. Phan Thi Thu Ha in resolving labour and employment issues of some localities in the context of Vietnam’s participation in ASEAN and some lessons for Quang Binh Province

Faculty of Law, Quang Binh Unviersity

Keywords: ASEAN, labor, employment, Quang Binh Province, experience.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 17, tháng 7 năm 2020]

Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Ở Nông Thôn

Đặc điểm của lao động nông thôn Việt Nam

Việt Nam là một đất nước có khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn, lao động ở nông thôn cũng chiếm gần 70% lực lượng lao động của cả nước. Mặc dù trong những năm qua, xu hướng đô thị hóa đang gia tăng, nhưng theo Tổng cục Thống kê, “đến năm 2014, có 69,3% lực lượng lao động nước ta tập trung ở nông thôn” 1.

Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động, tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Đây là lực lượng chủ yếu sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Lao động nông thôn ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng. Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hợp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn. Hơn nữa, lao động nông thôn nước ta chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất còn nhiều lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao.

Thứ hai, lao động nông thôn ở nước ta đa số trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thành thị. Theo số liệu thống kê năm 2015, “trong tổng số 53,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của nước ta, có 9,99 triệu người đã qua đào tạo, chiếm 18,6% trong tổng số lao động trên cả nước, trong đó ở thành thị là 33,7%, ở khu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ” 2. Hơn nữa, hiện nay ở nước ta có khoảng 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao động trong độ tuổi nhưng chỉ có 17% trong số đó được đào tạo thông qua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài, còn lại 83% là lao động chưa qua đào tạo, chưa có trình độ chuyên môn trong sản xuất nông nghiệp 3. Do đó, lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.

Thứ ba, lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý.

Thứ tư, lao động nông thôn ít có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá cũng có nhiều hạn chế. Tập quán sản xuất của lao động nước ta nhìn chung vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu bị trói buộc trong khuôn khổ làng xã.

Với những đặc điểm như trên, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, do diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm. Tình trạng đó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chính lao động nông thôn mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn, gây lãng phí một nguồn lao động lớn ở nước ta.

Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn trong những năm qua

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Điều đó được thể hiện ở nhiều chính sách như chính sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn…

Thứ nhất, chính sách đất đai: Người nông dân luôn gắn với đất đai bởi đó là tư liệu sản xuất trực tiếp của họ. Kể từ khoán 100, khoán 10 cho đến Luật Đất đai năm 2003, Đảng và Nhà nước ta đã từng thực hiện việc giao đất cho nông dân. Đất đai trở thành nguồn sinh lợi chủ yếu của nông dân. Họ có quyền tự chủ với đất đai. Điều đó làm cho nguồn vốn, kỹ thuật và lực lượng lao động ở nông thôn được giải phóng. Việc làm trong nông thôn được tạo ra nhiều hơn, thu nhập của nông dân được nâng cao. Hiện nay, để nông nghiệp phát triển cao hơn cần dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất tạo điều kiện phát triển mạnh kinh tế trang trại. Trên phạm vi cả nước, xu hướng này đang được khuyến khích phát triển mạnh mẽ.

Thứ hai, chính sách tín dụng nông thôn: Vốn là yêu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng. Đặc biệt nông dân nước ta còn nghèo nên yêu cầu về vốn ngày càng cần thiết. Từ thực tế đó, Nhà nước đã chỉ đạo hình thành mạng lưới tín dụng cho nông dân rộng khắp trên cả nước nhằm cung cấp vốn kịp thời cho nông dân. Hiện nay, một cơ sở kinh doanh được vay đến 500 triệu đồng, hộ gia đình được vay tới 20 triệu đồng với lãi suất ưu đãi. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh và tạo việc làm. Nhờ nguồn vốn ưu đãi đó, lao động nông thôn có thể mở rộng sản xuất, phát triển các ngành nghề, tạo việc làm cho bản thân và giải quyết việc làm cho nhiều lao động khác trong gia đình, làng xã.

Thứ ba, phát triển nông nghiệp hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và nông thôn: Thực chất của chính sách này là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn và trang trại, phát triển các ngành phi nông nghiệp trong nông thôn. Cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước, những năm qua kinh tế hộ và trang trại ngày càng phát triển, nhiều loại cây trồng và con gia súc mới được đưa vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khoa học – công nghệ được áp dụng làm cho năng suất cây trồng và vật nuôi ngày càng tăng. Trong khi đó các ngành phi nông nghiệp cũng phát triển mạnh đã giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập của nông dân.

Thứ tư, chương trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Trong những năm qua nước ta đã đưa hàng chục vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Chương trình này có ý nghĩa to lớn trong giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động. Điều đó góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm mới trong nước. Về lâu dài hơn, chương trình cũng tạo ra một đội ngũ công nhân lành nghề do học được kỹ thuật và kinh nghiệm từ các nước mà họ đến làm việc.

Thứ năm, chương trình quốc gia giải quyết việc làm cho lao động nông thôn: Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chương trình giải quyết việc làm cụ thể như: Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 về những chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới. Từ chương trình này, nguồn vốn 120 được hình thành từ ngân sách nhà nước, thu từ lao động làm việc ở nước ngoài và từ hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Quỹ 120 thực hiện cho vay với lãi suất thấp nhằm tạo việc làm mới, hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động. Với nông nghiệp nông thôn, quỳ hỗ trợ áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển nông lâm ngư nghiệp, mở mang và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn. Chương trình 327 phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, phát triển nông lâm kết hợp tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, phát triển kinh tế bền vững.

Thứ sáu, chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956). Trong Quyết định này, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn” 4. Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sư nghiêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiêp, nông thôn.” 4.

Công tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn thực sự là một trong những bước đột phá đáng kể trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn. Trước đây, người lao động ở nông thôn hầu như không được đào tạo, họ chủ yếu chỉ lao động bằng kinh nghiệm cá nhân, không có nhiều điều kiện tiếp cận với những kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất nên hiệu quả sản xuất không cao, lao động manh mún, nhỏ lẻ. Ngày nay, nhờ có công tác đào tạo nghề, một bộ phận không nhỏ lao động nông nghiệp đã có thể tiếp cận được với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, có định hướng phát triển nghề nghiệp, sản xuất theo hướng bền vững. Đây là một bước đột phá trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở nước ta thời gian qua.

Trong những năm qua, mặc dù vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn đã được tiến hành nhưng nhìn chung vẫn còn chậm và còn nhiều bất cập. Do nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng còn chậm phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên chưa tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn. Do quá trình đô thị hóa đang diễn ra ngày càng nhanh chóng nên ở nhiều vùng nông thôn nước ta, nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp; trong khi đó, trình độ của lao động nông nghiệp còn hạn chế tỉ lệ lao động nông thôn không có việc làm, thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng. Hơn nữa, công tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn được triển khai còn chậm. Tính đến cuối năm 2015, mới tổ chức dạy nghề cho 132.148 lao động nông thôn, đạt 27,1% kế hoạch năm; trong đó có 92.322 người đã học xong, 67.052 người có việc làm (đạt 72,6%) chủ yếu là tự tạo việc làm” 6. Ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Những hạn chế đó đang làm cản trở đến việc tạo việc làm cho lao động nông thôn nước ta thời gian qua.

Một số giải pháp thúc đẩy giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nước ta

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước tiếp tục có những chính sách kịp thời, nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm cho lao động nông thôn. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, mỗi địa phương cũng cần có những chính sách thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến mở rộng sản xuất, phát triển kết cấu hạ tầng, tận dụng thế mạnh của địa phương để phát triển kinh tế du lịch, thương mại nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đa dạng hóa các hình thức sản xuất, kinh doanh nhằm thay đổi những tập quán sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu của nông dân.

Thứ hai, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao dân trí cho nhân dân và đào tạo nghề cho lao động nông thôn; cần coi việc nâng cao trình độ cho lao động nông nghiệp là một điểm đột phá nhằm tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần thiết thực, hiệu quả, gắn với thực tiễn sản xuất của địa phương để nông dân vừa có thể học nghề, vừa có thể áp dụng ngay vào sản xuất canh tác. Ngoài ra, cần có những chính sách tích cực trong việc giới thiệu việc làm cho lao động đã qua đào tạo, tìm đầu ra cho sản phẩm để những ngưòi đã tham gia đào tạo nghề tích cực phát triển sản xuất, tạo việc làm cho bản thân và cho ngước khác.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trước hết, cần tăng quy mô tích tụ ruộng đất theo hộ. Có như vậy mới áp dụng được các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, lao động nông thôn sẽ ngày càng tiến dần đến nền sản xuất hiện đại. Trong nông thôn, lao động trồng trọt có tính thời vụ rất rõ rệt, do đó hiện tượng thiếu việc làm thể hiện rất rõ. Để hạn chế vấn đề này, cần phải đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, lựa chọn công thức luân canh hợp lý và đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, cần chuyển lao động từ nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bằng cách phát triển kinh tế phi nông nghiệp với sự bổ sung của ngành chăn nuôi và các ngành nghề phi nông nghiệp. Đó là những ngành nghề góp phần giải quyết nguồn lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động.

Thứ tư, cần kết hợp hài hòa giữa việc thu hồi đất nông nghiệp của nông dân với việc chuyển đổi mô hình sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa, dựa vào thế mạnh của từng vùng để phát triển sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn. Cần phải kết hợp hài hòa giữa việc hiện đại hóa sản xuất với phát triển theo hướng bền vững nhằm tạo cơ hội để lao động nông thôn vừa phát triển được các ngành nghề truyền thống, vừa tiếp cận được nền sản xuất hiện đại. Ngoài ra, cũng cần ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng trong sản xuất, đầu tư khoa học – công nghệ, tích cực hỗ trợ nông dân về vốn, kiến thức về thị trưòng, về hội nhập để nông dân có thể sản xuất ra những mặt hàng theo nhu cầu của thị trường, vừa đáp ứng nhu cầu tại chỗ, vừa thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Đây cũng là một trong những cách tích cực góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nước ta trong thời gian tới.

ThS. Nguyễn Hồng Nhung – Tỉnh đoàn Vĩnh Phúc

Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm Ở Nước Ta Hiện Nay​​​​​?

Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh:

Ở khía cạnh cung – cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên, dưới 70%. Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc.

Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế. Sự kiểm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ. Chưa phát huy được vai trò của “tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động. Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội.

Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp. Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao. Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi.

Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém. Hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm giao dịch lớn đạt hiệu quả khu vực. Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên 3.000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm.

Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập. Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như “chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”…

Phương hướng giải quyết vấn đề việc làm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra mục tiêu: “Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động… Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%… Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”.

Kinh nghiệm 25 năm đổi mới cho thấy, muốn tạo nhiều việc làm và khả năng thu hút lao động lớn cần phải tăng cường đầu tư và mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chế biến và dịch vụ phục vụ đời sống dân sinh.

Giải quyết vấn đề lao động – việc làm phải đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực lao động cả nước, phục vụ tốt yêu cầu từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu.

Đề Tài Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động

Câu 1: phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động. I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Việc làm có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân, xã hội và đất nước. Việc là tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình người lao động, tạo ra của cải vật chất, từ đó giúp ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội. giải quyết việc làm luôn là một chính sách quan trọng của mỗi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, dân số đông và tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động chiếm 52%. Hằng năm có 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Để thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm đòi hỏi sự tham gia nỗ lực của Nhà nước, các tổ chức xã hội, người lao động và người sử dụng lao động. Khái niệm việc làm được ghi nhận chính thức về mặt pháp lý trong bộ luật lao động (BLLĐ). Tại điều 13 BLLĐ quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Sự quy định cụ thể khái niệm việc làm trên phạm vi toàn xã hội, từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc ban hành và áp dụng pháp luật lao động, góp phần hoàn thiện pháp luật lao động, ổn định quan hệ việc làm, tạo điều kiện cho việc quản lý và đánh giá hiện trạng việc làm, từ đó nhà nước có chính sách giải quyết việc làm hiệu quả hơn. Giải quyết việc làm là việc 1 quốc gia thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, đảm bảo được đời sống, thu nhập của người lao động góp phần phát triển kinh tế ổn định, vững mạnh, lâu bền. giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với những nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. II.CÁC BIỆN PHÁP NHẰM HỖ TRỢ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG. Với ý nghĩa to lớn của việc làm và giải quyết việc làm, để nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động, Nhà nước quy định một số biện pháp pháp lý sau: Xây dựng chương trình việc làm Đây là một trong những biện pháp để Chính phủ thực hiện việc điều tiết, tạo việc làm mới và giải quyết việc làm cho người lao động. Nội dung chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, nội dung hoạt động, nguồn tài chính, thời gian, các giải pháp. Việc lập chương trình việc làm nhằm bảo đảm cho mọi người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc tiến tới có việc làm đầy đủ, thông qua đó giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội. Chương trình việc làm được triển khai trên 2 hướng cơ bản, đó là tạo việc làm mới thông qua việc thức đẩy phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm và duy trì, đảm bảo việc làm cho người lao động. Trong đó hướng thứ nhất được xác định là hướng cơ bản và quan trọng nhất. Theo quy định của BLLĐ, chương trình việc làm của địa phương do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xây dựng và được Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp phê duyệt. Việc xây dựng các chương trình việc làm và các biện pháp để thực hiện các chương trình này là cơ sở đầu tiên để tiến hành giải quyết việc làm cho người lao động. 2.Lập quỹ giải quyết việc làm. Để giải quyết việc làm, BLLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về lập quỹ giải quyết việc làm. Qũy giải quyết việc làm bao gồm: quỹ giải quyết việc làm ở trung ương (quỹ Quốc gia về giải quyết việc làm); quỹ giải quyết việc làm ở địa phương; quỹ giải quyết việc làm cho người tàn tật và các quỹ chuyên dụng khác. Qũy Quốc gia về việc làm đóng vai trò hạt nhân trong quá trình giải quyết việc làm quốc gia. Lập quỹ quốc gia về giải quyết việc làm từ các nguồn trích một tỉ lệ nhất định trong ngân sách Nhà nước; một phần từ nguồn thu do đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, từ sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ các nước cho giải quyết việc làm. Qũy được sử dụng trên nguyên tắc bảo tồn và tăng trưởng; trước hết cho vay với lãi suất nâng đỡ hoặc bảo tồn giá trị cho vay đói với hộ tư nhân, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp tạo được chỗ làm việc mới hoặc thu hút thêm lao động; trợ giúp các chương trình, dự án tạo việc làm; các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm; trung tâm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sử dụng lao động. Hàng năm, Bộ Lao động thương binh và xã hội cùng Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch nhà nước tính toán nguồn quỹ trình Chính phủ quyết định. Qũy giải quyết việc làm địa phương được hình thành từ các nguồn sau: ngân sách địa phương do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác. Hàng năm, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có căn cứ vào khả năng ngân sách địa phương, nhu cầu giải quyết việc làm và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, bố trí một phần kinh phí trong dự toán ngân sách địa phương để lập quỹ việc làm địa phương, trình HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Qũy giải quyết việc làm địa phương được sử dụng làm vốn cho vay giải quyết việc làm theo đúng mục tiêu của chương trình giải quyết việc làm của địa phương và hỗ trợ cho giải quyết việc làm của cấp huyện. 3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm Nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động không chỉ là nhu cầu tự thân mà còn là yêu cầu khách quan. Có nghề nghiệp là điều kiện tiên quyết để người lao động tìm được việc làm ổn định. Đào tạo nghề vì thế mà ngày càng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Quan điểm đào tạo nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm được đặc biệt nhấn mạnh trong kết luậ của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI về giáo dục và đào tạo “phải đặc biệt nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, mở rộng đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp trên nền học vấn Trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở”. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo ra nguồn nhân lực kỹ thuật có sức khỏe, đọa đức tốt, có ý thức kỷ luật, có trình độ kỹ thuật cao, có khả năng thực hành để sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm ổn định, tự tọa ra việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường đồng thời đáp ứng được mục tiêu giải quyết việc làm cho người học nghề. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân có đủ điều kiện tham gia dạy nghề cho những đối tượng có nhu cầu. Các hình thức đào tạo nghề gắn với tạo việc làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm, đào tạo nghề sử dụng lao động, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và đào tạo nghề dự phòng ở các doanh nghiệp, đào tạo nghề cho người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. 4. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Ở nước ta hiện nay, với khoảng trên 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động mỗi năm, trong điều kiện khả năng của nền kinh tế có hạn, số chỗ làm mới không đủ để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động này, chính vì vậy, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một biện pháp của chương trình lao động, việc làm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo. Tính đến hết tháng 12/2009, cả nước đưa gần 75.000 người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài, đạt 83% kế hoạch. Việt Nam hiện có gần 450.000 lao động đang làm việc có thời hạn tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ. Mỗi năm, lao động ở nước ngoài gửi về cho thân nhân ở trong nước 1,6 đến 2 tỷ USD. Với mong muốn hợp tác với tất cả các nước tren tinh thần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi, chúng ta đã và đang thực hiện tốt hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, coi đây là một trong những kênh quan trọng, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho người dân, đem lại cơ hội lớn trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài. Tổ chức giới thiệu việc làm. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để giải quyết việc làm. Tổ chức giới thiệu việc làm là cầu nối giữa những người lao động và người sử dụng lao động, có vai trò tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động. Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn việc làm cho người lao động những công việc phù hợp với khả năng của người lao động; tuyển lao độngt heo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động. Các tổ chức giới thiệu việc làm tuy không trực tiếp tạo ra việc làm nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc đưa việc làm đến với người lao động, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển thị trường lao động, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, tạo thuận lợi phát triển các hoạt động giao dịch trên thực tế. Đến nay đã có 150 trung tâm giới thiệu việc làm và hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, hàng năm tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng triệu lượt người. Các hội chợ việc làm, phiên chợ việc làm, tháng việc làm, điểm hẹn việc làm, sàn giao dịch việc làm… được tổ chức thường xuyên, tích cực gắn kết với người lao động và người sử dụng lao động; đã đưa thông tin tới tận người lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo cơ hội cho người lao động có khả năng tìm việc làm và có việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng của bản thân. Ngoài các biện pháp trên, Nhà nước còn có chính sách khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, khuyến khích sử dụng lao động và tự do hợp đồng. Cho phép các đơn vị sử dụng lao động được quyền tự do tuyển dụng lao động trên cơ sở nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị. Người lao động đợc quyền tự do thiết lập quan hệ lao động trên cơ sở hợp đồng. Nhà nước cũng có chính sách khuyến khích đầu tư nhằm phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động. Đồng thời nhà nước còn thực hiện hàng loạt các biện pháp như thực hiện chính sách dân số, phân bổ dân cư, cơ cấu lại lực lượng lao động, xóa đói giảm nghèo gắn với giải quyết việc làm… III. KẾT LUẬN Trong những năm qua, từ việc áp dụng các biện pháp trên, Nhà nước đã giải quyết được rất nhiều việc làm cho người lao động. Việc này có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong phát triển kinh tế gia đinh nói riêng, kinh tế đất nước nói chung, góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!