Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu Đặc Điểm Hình Thái Lâm Sàng Của Dị Hình Tháp Mũi Mắc Phải Và Biện Pháp Can Thiệp / 2023 # Top 17 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu Đặc Điểm Hình Thái Lâm Sàng Của Dị Hình Tháp Mũi Mắc Phải Và Biện Pháp Can Thiệp / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghiên Cứu Đặc Điểm Hình Thái Lâm Sàng Của Dị Hình Tháp Mũi Mắc Phải Và Biện Pháp Can Thiệp / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mũi là cơ quan đầu tiên của đường hô hấp, có cấu trúc giải phẫu phức tạp, n ằm ở vị trí trung tâm của khuôn mặt và là phần nhô ra nhất của mặt. Do đó, khi nhìn vào khuôn mặt của mỗi người, mũi là ph ần được thấy đầu tiên và gây ấn tượng nhất. Mũi có vai trò hết sức quan trọng để tạo nên vẻ đẹp, đặc tính hài hòa của khuôn mặt và là một trong những yếu tố giúp phân biệt các chủng tộc loài người. Mũi ngoài những chức năng sinh lý (chức năng hô hấp, cộng hưởng khi phát âm, ngửi, sưởi ấm, làm ẩm không khí) còn có chức năng thẩm mỹ. Chức năng thẩm mỹ ngày càng được quan tâm hơn, nhất là trong cuộc sống hiện đại. Dị hình tháp mũi (DHTM) dễ tác động vào nhãn quan của người quan sát, gây ảnh hưởng đến tâm lí, sự tự tin của người bệnh khi giao tiếp.

Tháp mũi (hay mũi ngoài) bao gồm: khung mũi, tổ chức phần mềm và lót bên trong bởi niêm mạc. Khung mũi được cấu thành bởi: xương mũi và sụn mũi [6]. Khung mũi không chỉ tạo nên vẻ đẹp của mũi mà một khung mũi bình thường còn giúp cho mũi thực hiện tốt chức năng. Do vậy, những bất thường khung xương, sụn mũi thường sẽ gây rối loạn các chức năng mũi.

DHTM có nguyên nhân do bẩm sinh và các bệnh lí mắc phải. Trong các nguyên nhân mắc phải thì nguyên nhân do chấn thương là hay gặp nhất. Xương chính mũi nằm ở dưới da và ph ần cố định nằm ở vị trí cao nhất của tháp mũi, các khớp của xương chính mũi với cấu trúc xung quanh khá lỏng lẻo. Vì vậy, những chấn thương tác động vào vùng mặt dễ gây ra những thương tổn cho tháp mũi. Chấn thương tháp mũi tuy ít nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nhưng nếu không xử lí kịp thời và đúng sẽ liền nhanh, gây biến dạng tháp mũi, để lại di chứng nặng nề về chức n ăng và thẩm mỹ. Phần lớn chấn thương tháp mũi được xử trí tốt ngay từ đầu sẽ tránh được các biến chứng như dị dạng mất thẩm mỹ. Tuy nhiên, cũng có một số chấn thương tháp mũi bị bỏ qua hay xử trí không tốt gây ra các biến dạng tháp mũi [14]. Có nhiều hình thái DHTM khác nhau, tùy thuộc từng nguyên nhân, mỗi loại DHTM có cách xử trí khác nhau. Vì sự thống nhất về mặt giải phẫu và sinh lí của VN, tháp mũi và hốc mũi nên phẫu thuật DHTM nhằm 2 mục tiêu: tái tạo hình dáng bên ngoài và hoàn thiện chức năng bên trong mũi [8].

1.4. CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG VÀ CÁC HÌNH THÁI CHẤN THƯƠNG

4.2 NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP CAN THIỆP DHTM

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Nghiên Cứu Lâm Sàng, Cận Lâm Sàng Và Một Số Chỉ Số Miễn Dịch Ở Bệnh Nhân Sau Ghép Thận / 2023

Luận án Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và một số chỉ số miễn dịch ở bệnh nhân sau ghép thận. Hiên nay có hai phương pháp điều trị thay thế thận cho những bênh nhân bị suy thận mạn tính giai đoạn cuối là lọc máu ngoài thận (gồm thận nhân tạo, lọc màng bụng) và ghép thận. Cả hai phương pháp này đều được ứng dụng rông rãi trên thế giới, trong đó ghép thận được chứng minh có nhiều ưu điểm hơn so với lọc máu ngoài thận. Khi ghép thận thành công, thận ghép chẳng những thực hiên được chức năng lọc và bài tiết các chất đôc ra khỏi cơ thể mà còn có khả năng điều hoà huyết áp, bài tiết hormon, điều chỉnh các rối loạn nước và điên giải, phục hồi chức năng sinh dục…Sự phục hồi và cải thiên chất lượng sống sau ghép là ưu điểm cơ bản nhất của ghép thận. Mặt khác, chi phí cho ghép thận trong năm đầu tiên sau ghép tốn kém hơn, nhưng những năm về sau, chi phí điều trị để duy trì chức năng thận ghép sẽ thấp hơn so với lọc máu ngoài thận [98].

Trường hợp ghép thận đầu tiên được thực hiên thành công trên thế giới vào năm 1954 tại Boston (Hoa Kỳ), do Murray và Meril thực hiên. Phần lớn các nước khác bắt đầu ghép thận trong những năm đầu thập niên 70 (Đài Loan 1968, Cuba 1970, Thái Lan 1976…). ở Việt Nam những ý tưởng đầu tiên về ghép thận đã được đưa ra từ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, nhưng do khó khăn về nhiều mặt, viêc ghép thận chưa tiến hành được, mặc dù môt số tác giả đã tiến hành ghép thận thực nghiêm trên chó vào thời kỳ này. Ca ghép thận đầu tiên tại Viêt Nam được thực hiên thành công ngày 04/6/1992 tại Học viên Quân y. Đến nay đã có hàng chục bênh viên trong cả nước triển khai kỹ thuật ghép thận và đã có hơn 200 ca được ghép thận từ người sống cho thận, chủ yếu là những cặp nhận-cho có quan hê huyết thống. Bên cạnh đó, do thiếu nguồn thận ghép nên môt số lượng lớn bênh nhân đã ra nước ngoài ghép thận từ người chết não và trở về điều trị sau ghép tại Viêt Nam.

Khác với cơ thể bình thường, sau ghép người được ghép thận phải dùng suốt đời đổng thời 2-3 loại thuốc chống thải ghép khác nhau để duy trì chức năng thận. Vì vậy, ngoài tác dụng chống thải ghép để duy trì chức năng của thận ghép, các thuốc ức chế miễn dịch còn gây ra những thay đổi về trạng thái miễn dịch của cơ thể nhận thận ghép. Các thuốc ức chế miễn dịch được dùng suốt đời sau khi ghép thận nên thường gây nên nhiều biến chứng khác nhau, tùy từng giai đoạn và sự mẫn cảm của mỗi bênh nhân đối với thuốc. Hiên nay ở nước ta đã có một số bênh nhân sống hàng chục năm nhờ ghép thận với chức năng thận còn tốt. Song đến nay việc nghiên cứu diễn biến tình trạng chức năng thận sau ghép, các biến chứng có thể gặp sau ghép, sự thay đổi tình trạng miễn dịch của các bệnh nhân được ghép thận dưới ảnh hưởng của các thuốc chống thải ghép được sử dụng lâu dài còn chưa được tiến hành nghiên cứu sâu và trên một số lượng lớn bệnh nhân. Vì vậy đề tài ” Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và một số chỉ số miễn dịch ở bệnh nhân sau ghép thận “, nhằm mục tiêu:

1. Nghiên cứu một sô’ chỉ tiêu lâm sàng, cận lâm sàng để đánh giá chức năng thận ghép và một sô biên chứng thường gặp ở bệnh nhân sau ghép thận

2. Nghiên cứu biên đổi một sô’ chỉ sô’ miễn dịch ở bệnh nhân sau ghép thận

ĐẶT VẤN ĐỂ g1

Chương 1: TổNG QUAN 3

1.1. Tình hình suy thận mạn trên thế” giới và ở Việt Nam 3

1.2. Các phương pháp điều trị suy thận mạn 4

1.2.1. Điều trị bảo tổn suy thận mạn 4

1.2.2. Lọc máu ngoài thận 5

1.2.3. Ghép thận 6

1.3. Tình hình ghép thận trên thế” giới 6

1.3.1. Sơ lược lịch sử phát triển kỹ thuật ghép thận 6

1.3.2. Kết quả ghép thận trên thế giới 8

1.3.3. Biến chứng sau ghép thận 10

1.4. Các phương pháp theo dõi đánh giá chức năng thận ghép 11

1.4.1. Đánh giá chức năng bài xuất của thận ghép 11

1.4.2. Xét nghiêm urê và creatinin máu 12

1.4.3. Xét nghiêm nước tiểu 13

1.4.4. Đánh giá chức năng điều hoà huyết áp 14

1.4.5. Đánh giá chức năng tham gia sản xuất hổng cầu 14

1.4.6. Đánh giá mức lọc cầu thận 15

1.4.7. Theo dõi nổng đô thuốc chống thải ghép 17

1.4.8. Sinh thiết thận ghép 18

1.4.9. Theo dõi số lượng các tế bào lympho TCD3, TCD4, TCD8 19

1.4.10. Theo dõi sự hình thành kháng thể kháng HLA sau ghép 20

1.5. Cơ chế miễn dịch của loại thải thận ghép 23

1.5.1. Kháng nguyên phù hợp tổ chức 23

1.5.2. Kháng nguyên hê hổng cầu 25

1.5.3. Cơ chế thải ghép 26

1.5.4. Phân loại các phản ứng thải ghép 30

1.5.5. Phân loại Banff 97 32

1.5.6. Các biên pháp chống thải ghép 32

1.6. Tình hình nghiên cứu ghép thận ở Việt Nam 34

Chương 2: Đối TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 39

2.1. Đối tượng nghiên cứu 39

2.1.1. Các nhóm nghiên cứu 39

2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bênh nhân 39

2.2. Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 40

2.2.2. Phương pháp thu thập số liêu 40

2.2.3. Các số liêu thu thập 40

2.2.4. Các phác đổ, tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng trong nghiên cứu 41

2.2.5. Phương pháp tiến hành các xét nghiêm nghiên cứu 45

2.2.6. Xử lý số liêu 51

Sơ đổ nghiên cứu 52

Chương 3: KÊT QUẢ NGHIÊN cứu 53

3.1. Một số đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu 53

3.2. Diễn biến chức năng thận sau ghép 56

3.3. Xét nghiệm một số chỉ tiêu miễn dịch sau ghép 75

3.3.1. Biến đổi kháng thể kháng HLA 7 5

3.2.2. Biến đổi số lượng các dưói nhóm lympho T sau ghép 78

Chương 4: BÀN LUẬN 81

4.1. Các diễn biến lâm sàng, cận lâm sàng sau ghép 81

4.1.1. Đặc điểm về tuổi và giói, nguyên nhân gây suy thận mạn 81

4.1.2. Phù hợp các yếu tố miễn dịch giữa người cho và nhận ở nhóm I 82

4.1.3. Chức năng thận sau ghép 84

4.2. Một số biến chứng gặp sau ghép thận 99

4.2.1. Biến chứng do thải ghép 99

4.2.2. Biến chứng do phẫu thuật 106

4.2.3. Biến chứng do nhiễm trùng sau ghép 108

4.2.4. Một số biến chứng nôi khoa khác 111

4.3. Biến đổi của một số chỉ số miễn dịch sau ghép thận 112

4.3.1. Sự hình thành kháng thể kháng HLA trước ghép 112

4.3.2. Biến đổi các tế bào TCD3, TCD4 và TCD8 sau ghép thận 116

KẾT LUẬN 122

KIẾN NGHỊ 124

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TÀI LIÊU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Nông Sinh Học Và Biện Pháp Kỹ Thuật Đối Với Giống Vải Hùng Long Tại Thái Nguyên / 2023

Published on

Tài liệu này có tính phí xin vui lòng liên hệ facebook để được hỗ trợ Liên hệ page để nhận link download sách và tài liệu: https://www.facebook.com/garmentspace https://www.facebook.com/garmentspace.blog My Blog: http://garmentspace.blogspot.com/ Từ khóa tìm kiếm tài liệu : Wash jeans garment washing and dyeing, tài liệu ngành may, purpose of washing, definition of garment washing, tài liệu cắt may, sơ mi nam nữ, thiết kế áo sơ mi nam, thiết kế quần âu, thiết kế veston nam nữ, thiết kế áo dài, chân váy đầm liền thân, zipper, dây kéo trong ngành may, tài liệu ngành may, khóa kéo răng cưa, triển khai sản xuất, jacket nam, phân loại khóa kéo, tin học ngành may, bài giảng Accumark, Gerber Accumarkt, cad/cam ngành may, tài liệu ngành may, bộ tài liệu kỹ thuật ngành may dạng đầy đủ, vật liệu may, tài liệu ngành may, tài liệu về sợi, nguyên liệu dệt, kiểu dệt vải dệt thoi, kiểu dệt vải dệt kim, chỉ may, vật liệu dựng, bộ tài liệu kỹ thuật ngành may dạng đầy đủ, tiêu chuẩn kỹ thuật áo sơ mi nam, tài liệu kỹ thuật ngành may, tài liệu ngành may, nguồn gốc vải denim, lịch sử ra đời và phát triển quần jean, Levi’s, Jeans, Levi Straus, Jacob Davis và Levis Strauss, CHẤT LIỆU DENIM, cắt may quần tây nam, quy trình may áo sơ mi căn bản, quần nam không ply, thiết kế áo sơ mi nam, thiết kế áo sơ mi nam theo tài liệu kỹ thuật, tài liệu cắt may,lịch sử ra đời và phát triển quần jean, vải denim, Levis strauss cha đẻ của quần jeans. Jeans skinny, street style áo sơ mi nam, tính vải may áo quần, sơ mi nam nữ, cắt may căn bản, thiết kế quần áo, tài liệu ngành may,máy 2 kim, máy may công nghiệp, two needle sewing machine, tài liệu ngành may, thiết bị ngành may, máy móc ngành may,Tiếng anh ngành may, english for gamrment technology, anh văn chuyên ngành may, may mặc thời trang, english, picture, Nhận biết và phân biệt các loại vải, cotton, chiffon, silk, woolCÁCH MAY – QUY CÁCH LẮP RÁP – QUY CÁCH ĐÁNH SỐTÀI LIỆU KỸ THUẬT NGÀNH MAY -TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT – QUY CÁCH ĐÁNH SỐ – QUY CÁCH LẮP RÁP – QUY CÁCH MAY – QUY TRÌNH MAY – GẤP XẾP ĐÓNG GÓI

1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VŨ THỊ THANH THỦY NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI HÙNG LONG TẠI THÁI NGUYÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN – 2010

2. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VŨ THỊ THANH THỦY NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG VẢI HÙNG LONG TẠI THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Trồng trọt MÃ SỐ: 62.62.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: 1. chúng tôi Ngô Xuân Bình 2. chúng tôi Nguyễn Thế Đặng THÁI NGUYÊN – 2010

3. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn i LỜI CAM ĐOAN Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long tại Thái Nguyên”, mã số 62.62.01.01 là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Luận án đã sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin này đều được trích dẫn rõ nguồn gốc. Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào. Thái Nguyên, ngày…..tháng .. năm 2010 Tác giả luận án

4. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn ii LỜI CẢM ƠN Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long tại Thái Nguyên”, được thực hiện từ năm 2005-2008. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, các cán bộ, các hộ nông dân tại địa phương mà đề tài triển khai. Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, khoa Sau đại học, phòng Đào tạo, các thầy cô giáo khoa Nông học, khoa Tài Nguyên Môi trường, bộ môn Rau quả, Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa, phòng Thí nghiệm trung tâm cùng các em sinh viên thực tập tốt nghiệp các khóa 33,34,35,36 khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài nghiên cứu trong suốt những năm qua. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai thầy hướng dẫn PGS. TS. Ngô Xuân Bình, chúng tôi Nguyễn Thế Đặng đã tận tình giúp đỡ, cho nhiều ý kiến chỉ bảo tận tình, cặn kẽ trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy chúng tôi Đào Thanh Vân, thầy chúng tôi Nguyễn Ngọc Nông đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu về mặt chuyên môn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành bản luận án này. Nhân dịp này xin gửi tới các bạn bè thân hữu trong và ngoài cơ quan, người thân và gia đình lời cảm ơn thân thiết của tôi về sự giúp đỡ vô tư và những lời động viên, khích lệ nhiệt tình đã dành cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án này. Thái Nguyên, ngày… tháng…..năm 2010 Tác giả luận án Vũ Thị Thanh Thủy

7. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn v 3.1.6. Ảnh hưởng của tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng trong năm tới năng suất giống vải Hùng Long……………………………………….. 75 3.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống vải Hùng Long 80 3.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguồn hạt phấn khác nhau đến tỷ lệ đậu quả và năng suất vải………………………………………….. 80 3.2.2. Nghiên cứu một số biện pháp tác động cơ giới………………… 85 3.2.3. Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến năng suất giống vải Hùng Long…………………………………………………. 99 3.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến năng suất, chất lượng của giống vải Hùng Long………………………………… 104 3.2.5. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp đối với giống vải Hùng Long………………………………………………………………………. 112 3.3. Nghiên cứu ghép cải tạo vƣờn vải có hiệu quả kinh tế thấp bằng giống vải Hùng Long………………………………………………………………… 117 3.3.1. Nghiên cứu thời vụ ghép thay tán………………………………………… 117 3.3.2. Nghiên cứu phương pháp ghép thay tán……………………………….. 121 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……………………………………………………………. 125 1. Kết luận 125 2. Đề nghị………………………………………………………………………………………. 126 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………. 128 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………. 140

8. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn vi DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU B¶ng Néi dung Trang 1.1 Diện tích, sản lượng của một số nước trồng vải chính trên thế giới……………………………………………………………………….. 11 1.2 Số lượng vải các nước xuất khẩu sang châu Âu ………………. 14 1.3 Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam………. 16 1.4 Diện tích một số cây ăn quả của tỉnh Thái Nguyên…………… 18 1.5 Diện tích, sản lượng cây vải của Thái Nguyên qua các năm 19 1.6 Diện tích cây vải Thái Nguyên năm 2007 so với quy hoạch năm 2010…………………………………………………………………… 20 3.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình, giờ nắng của một số tháng trong các năm từ 2004-2008 tại Thái Nguyên…………………. 57 3.2 Diễn biến lượng mưa, số ngày có mưa của một số tháng trong các năm từ 2004-2008 tại Thái Nguyên…………………. 58 3.3 Đặc điểm thân cành giống vải Hùng Long………………………. 60 3.4 Thời gian phát sinh và sinh trưởng lộc hè năm 2005………… 61 3.5 Thời gian xuất hiện và sinh trưởng của lộc thu năm 2005…. 63 3.6 Thời gian xuất hiện và sinh trưởng của lộc đông năm 2005 64 3.7 Kết quả phân hóa lộc xuân năm 2006………………… 67 3.8 Mối liên hệ giữa sinh trưởng cành mẹ và năng suất………….. 69 3.9 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng 73

9. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn vii Long….. 3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng chính tới năng suất giống vải Hùng Long 76 3.11 Tỷ lệ nảy mầm hạt phấn của một số giống vải nghiên cứu… 80 3.12 Ảnh hưởng của một số nguồn hạt phấn đến tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng Long năm 2007………………………………. 82 3.13 Ảnh hưởng của một số nguồn hạt phấn đến tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng Long năm 2008………………………………… 83 3.14 Ảnh hưởng của nguồn hạt phấn đến một số chỉ tiêu chất lượng quả của giống vải Hùng Long………………………………. 84 3.15 Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đầu cành đến thời gian ra lộc và sinh trưởng của lộc thu…………………………………. 85 3.16 Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đầu cành đến thời gian ra lộc và sinh trưởng của lộc đông………………………… 87 3.17 Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến phân hóa lộc xuân. 88 3.18 Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến tỷ lệ các loại lộc xuân …………………………………………………………. 89 3.19 Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến năng suất………… 89 3.20 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến thời gian xuất hiện và phân hóa lộc xuân của giống vải Hùng Long……….. 91 3.21 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến tỷ lệ C/N……….. 92 3.22 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến khả năng ra hoa và tỷ lệ đậu quả của giống vải Hùng Long năm 2006………. 93 3.23 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến năng suất và thời gian thu hoạch của giống vải Hùng Long……………………….. 94 3.24 Sơ bộ hạch toán kinh tế của các công thức thí nghiệm……… 96

10. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn viii 3.25 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành theo thời gian xuất hiện các đợt lộc thu đến khả năng ra hoa của giống vải Hùng Long 97 3.26 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành theo thời gian xuất hiện của lộc thu đến năng suất……………………………….. 98 3.27 Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến tổng số hoa và tỷ lệ hoa cái của giống vải Hùng Long………………………….. 100 3.28 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến năng suất…. 101 3.29 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả…………………………………………………………… 102 3.30 Ảnh hưởng của phun GA3 và phân bón qua lá đến chất lượng… 103 3.31 Kết quả phân tích một số nguyên tố vi lượng trong đất thí nghiệm……………………………………………………………………………. 105 3.32 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến tổng số hoa và hoa cái của giống vải Hùng Long………………………………. 106 3.33 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến tỷ lệ đậu quả 107 3.34 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến một số yếu tố cấu thành năng suất quả của giống vải Hùng Long……… 108 3.35 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến năng suất…. 109 3.36 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến thời vụ thu hoạch của giống vải Hùng Long…………………………………… 110 3.37 Ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng đến chất lượng quả vải Hùng Long……………………………………………………… 111 3.38 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm……………….. 112 3.39 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp đến thời vụ nở hoa và thu hoạch của giống vải Hùng Long…….. 113 3.40 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất giống vải Hùng Long…………………………………………………… 114 3.41 Sơ bộ hạch toán kinh tế của các biện pháp kỹ thuật áp dụng với giống vải Hùng Long……………………………………………… 117

11. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn ix 3.42 Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cành ghép.. 118 3.43 Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến sinh trưởng của mầm ghép 119 3.44 Ảnh hưởng của đường kính gốc cành ghép đến chỉ số đường kính cành ghép/đường kính gốc ghép……………………………… 120 3.45 Ảnh hưởng của thời vụ ghép thay tán đến hoa và năng suất 121 3.46 Ảnh hưởng của phương pháp ghép thay tán đến tỷ lệ sống của cành ghép……………………………………………………………. 122 3.47 Ảnh hưởng của phương pháp ghép thay tán đến năng suất… 123 3.48 Sơ bộ hạch toán kinh tế của phương pháp ghép cải tạo thay tán 124 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ STT TÊN SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 3.1 Nguồn gốc phát sinh lộc thu năm 2005…………………. 64 Sơ đồ 3.2 Nguồn gốc phát sinh lộc đông 2005……………………… 66 Sơ đồ 3.3 Nguồn gốc phát sinh lộc xuân 2006……………………… 67 Sơ đồ 3.4 Nguồn gốc phát sinh lộc mang hoa vụ xuân 2006…… 68 DANH MỤC CÁC HÌNH STT TÊN HÌNH Trang Hình 1.1 Cơ cấu tiêu thụ vải tươi tại Lục Ngạn và Bắc Giang… 17 Hình 3.1.a Tương quan giữa chiều dài cành mẹ đến năng suất….. 70 Hình 3.1.b Tương quan giữa tuổi cành mẹ đến năng suất…………. 71

12. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn x Hình 3.1.c Tương quan giữa đường kính cành mẹ đến năng suất. 71 Hình 3.1.d Tương quan giữa số lá/ cành mẹ đến năng suất……….. 72 Hình 3.1.e Tương quan giữa số hoa cái/cành mẹ đến năng suất… 72 Hình 3.2.a Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ lộc hè với năng suất…………………………………………………………… 77 Hình 3.2.b Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ lộc thu với năng suất…………………………………………………………… 78 Hình 3.2.c Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ phân hóa hoa với năng suất…………………………………………………….. 78 Hình 3.2.d Tương quan giữa tỷ lệ C/N của thời kỳ rụng quả sinh lý với năng suất………………………………………………….. 79 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ STT TÊN BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của khoanh cành đến tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng chính trong năm của giống Hùng Long……. 93 Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của thời vụ khoanh cành đến năng suất…. 95 Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của phun GA3 kết hợp phân bón dinh dưỡng qua lá đến năng suất giống vải Hùng Long…………… 102 Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tổng hợp đến năng suất giống vải Hùng Long…………………………….. 115

13. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn xi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT cs: : Cộng sự CT : Công thức Cv : Hệ số biến động d : Đường kính Đ/c : Đối chứng ĐH : Đại học KHKT : Khoa học kỹ thuật LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa GA3 : Gibberrellin NAA : Naphtyl Axetic Axit Nxb : Nhà xuất bản PTNT : Phát triển nông thôn TLNMHP : Tỷ lệ nảy mầm hạt phấn tb : Trung bình tr. đồng : Triệu đồng tp : Thành phố ns : Năng suất

14. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây vải (Litchi chinensis Sonn) có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, thuộc họ Bồ Hòn. Vải là cây ăn quả với hương vị thơm ngon, có nhiều chất dinh dưỡng như đường, vitamin C và chất khoáng, được xác định là cây ăn quả đặc sản trên thị trường trong nước và thế giới. Với bộ tán lớn, cành lá xum xuê quanh năm, cây vải còn là cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, tạo cảnh quan môi trường sinh thái. Việt Nam có diện tích trồng vải phát triển nhanh so với 20 nước trồng vải trên thế giới. Giai đoạn 1997-2004, tốc độ tăng diện tích vải của các tỉnh miền Bắc là 19,6%, tốc độ tăng sản lượng đạt 36,5%. Tính đến năm 2007, tổng diện tích vải của cả nước đạt 92.337 ha, sản lượng 408.444 tấn trong đó diện tích cho sản phẩm 85.992 ha với giống trồng chủ yếu là vải thiều Thanh Hà. Giống Thanh Hà có thời gian chín và thu hoạch quả ngắn, người trồng vải chưa đủ trình độ, vốn, thiết bị để chế biến và bảo quản nên đã gây ra hiện tượng tồn đọng vải quả tươi trong thời gian thu hoạch. Những năm gần đây, giá vải quả vào lúc chính vụ xuống chỉ còn 1.500-2000 đ/1kg, làm giảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải. Một trong những giải pháp kéo dài thời gian cung cấp vải tươi cho thị trường và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng là bố trí cơ cấu giống hợp lý, bao gồm các giống chín sớm, chín chính vụ và chín muộn.Theo định hướng phát triển giai đoạn 2005-2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cơ cấu các giống vải sẽ bao gồm 10-15% diện tích giống chín sớm, 70-75% diện tích giống chính vụ, 5-10% diện tích giống chín muộn (Ngô Hồng Bình, 2004 [1]; Vũ Mạnh Hải, 2005 [25]). Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với tọa độ địa lý từ 210 21′ đến 220 vĩ Bắc, 1050 26′ đến 1060 16′ kinh Đông. Vị trí địa lý, địa hình và địa mạo thích hợp cho phát triển cây vải (Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính, 1997 [44]). Diện tích trồng vải tăng nhanh trong giai đoạn từ 1999-2000, đến năm 2004 toàn tỉnh đã có 6.861 ha diện tích cho thu hoạch. Do trồng chủ yếu

16. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 3 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài bổ sung thêm những dẫn liệu có cơ sở khoa học lý luận cho việc khẳng định đặc tính sinh trưởng phát triển và phục vụ cho chương trình thâm canh tăng năng suất các giống vải chín sớm tại Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng. Đề tài góp phần hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc giống vải chín sớm Hùng Long góp phần tăng năng suất và chất lượng quả, tăng thu nhập cho người làm vườn. 4. Những đóng góp mới của luận án Giống vải Hùng Long có khả năng sinh trưởng tốt ở điều kiện khí hậu của Thái Nguyên. Một năm vải ra 4 đợt lộc là xuân, hè, thu, đông, các đợt lộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Lộc thu là cành mẹ quan trọng của cành mang hoa, mang quả của vụ xuân năm sau. Nếu đợt lộc thu thành thục sớm khả năng phát sinh lộc đông là rất lớn do vậy cần có các biện pháp kỹ thuật khống chế thời gian ra lộc. Tuổi cành mẹ có tương quan chặt đến năng suất của cành quả. Năng suất đạt cao nhất khi tuổi cành mẹ từ 3,5 – 4 tháng tuổi. Nguồn hạt phấn khác nhau có ảnh hưởng đến năng suất vải Hùng Long. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nguồn hạt phấn của cây vải nhỡ là nguồn hạt phấn thích hợp đối với vải Hùng Long. Do vậy có thể lựa chọn cây vải nhỡ trồng xen với vải Hùng Long để bổ sung nguồn hạt phấn. Cắt tỉa, phun GA3 nồng độ 50ppm kết hợp phân bón dinh dưỡng qua lá Yogen-N0 2 hoặc phân vi lượng kết hợp (ZnS04.7H20 1%+H3B03.5H20 0,05%) làm tăng năng suất ở cả hai nhóm vải xuất hiện đợt lộc thu sớm và lộc thu muộn. Nhóm lộc thu sớm năng suất tăng từ 94,93-144,33%, nhóm lộc thu muộn năng suất tăng 31,57-35,09% so với đối chứng (nhóm vải ra lộc thu sớm phải kết hợp biện pháp khoanh cành). Ghép thay tán giống vải Hùng Long trên giống vải Thanh Hà có thể tiến hành vào vụ xuân hoặc vụ thu. Áp dụng phương pháp ghép trực tiếp hoặc ghép trên mầm tái sinh đối với vườn vải còn ít tuổi.Vườn vải đã trồng lâu năm nên áp dụng phương pháp ghép thay tán trên mầm tái sinh.

18. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 5 loài phụ: Litchi chinensis, Litchi philippinnensis, Litchi javennensis (Grof G.W.,1954 [63], Menzel C.M. và Simpson D.R., 1992 [79]). Ở Việt Nam hiện nay biết được 25 chi, 91 loài mọc khắp cả nước. Trong họ này có nhiều loài cây cho ăn quả như vải, nhãn và chôm chôm. Cây vải là cây gỗ nhỡ, lá kép lông chim, hoa nhỏ và lưỡng tính, không có cánh hoa, vỏ quả mỏng, màu nâu đỏ, mặt ngoài sần sùi, hoa vải có công thức: K5C5A5+5G4 (Võ Văn Chi, 1978) [7]. 1.1.2.1. Một số giống vải chính trên thế giới Trên thế giới hiện nay có nhiều giống vải khác nhau, trong đó Trung Quốc được coi là nơi có nhiều giống vải nhất. Từ những năm 1960, một số lượng lớn nguồn gen của các giống vải đã được phân lập và nghiên cứu trong một thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ có 13 giống trong hơn 200 giống được nghiên cứu có ý nghĩa kinh tế và được phát triển rộng rãi. Ở tỉnh Quảng Đông các giống vải như: Baila, Baitangying, Heiye, Fezixiao, Guiwei, Nuomici và Huazhi được trồng với diện tích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong đó giống Guiwei, Nuomici chiếm hơn 80% diện tích.Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tích khoảng hơn 25.000 ha. Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc có hai nhóm chính: đó là nhóm khi chín thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kia khi chín thì cùi ráo và khô. Phân theo vụ thu hoạch thì có 3 nhóm: Nhóm chín sớm và cực sớm: giống Feizixiao, Edanli, Ziliangxi, các giống này được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Haina. Nhóm chín chính vụ: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồng tập trung ở phía Tây tỉnh Quảng Đông, Zhanjiang, Maoming, Yangjiang. Nhóm chín muộn: Guiwei, Nuomici, Huazhi, Feizixiao, Lanzhu, các giống này được trồng tập trung ở trung tâm tỉnh Quảng Đông, đông nam tỉnh Guangxi và tỉnh Phúc Kiến (Ghosh S.P., 2000 [60]; Mitra S.K., 2002 [84]).

19. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 6 Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu là giống Hap Ip, chiếm hơn 90% tổng diện tích ngoài ra còn có giống Yuher Pau được trồng ở miền Nam và giống No Mi Tsu được trồng ở miền Trung (Anonymous, 2000) [50]. Tại Nam Phi giống vải chủ yếu là Kwaimi nhưng thường được gọi là “Mauritius” vì có nguồn gốc từ hòn đảo này, giống có kích thước quả trung bình, tán cây thấp, chất lượng tốt (Mitra S.K., 2002) [84]. Các giống vải được trồng ở Ấn Độ hiện nay là: Shadi, Bombai, Rose, China, Scented và Mazaffarpur (Chen H. và Huang H., 2000) [57]. Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là giống Hap Ip, Tai So, Waichee ngoài ra còn khoảng hơn 30 giống khác. Giống vải của Thái Lan được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông chặt chẽ được trồng ở khu vực trung tâm của Thái Lan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh trong mùa đông ít hơn được trồng ở các tỉnh phía Bắc (Anupunt P., 2003 [51]; Teng Y., 2003 [99]. Ở Nam Mỹ trong 43 giống vải nhập nội từ Ấn Độ và Trung Quốc chỉ có hai giống hiện nay còn tồn tại và được trồng phổ biến đó là Hap Ip và Kwaimi (Zeng Q. và cs, 2002) [108]. Ở Hawai giống trồng phổ biến là giống Hap Ip, Kwaimi và Brewster. Năm 1942, Groff tiến hành lai tạo giữa 3 giống vải trên nhằm tìm ra một giống vải tốt nhất và đến năm 1953 đã chọn ra được một giống mang tên Groff. Giống có tính di truyền ổn định, chín muộn, quả có kích cỡ trung bình, thịt quả trắng và ráo, hương vị thơm ngon, hầu hết các hạt đều bị teo nên rất nhỏ (Groff, G.W., 1954) [63]. Ở Florida giống vải được trồng chủ yếu là giống Brewster (Yee W., 1972) [106]. Có hơn 40 giống vải ở Australia, các giống trồng phổ biến ở đảo Queensland bao gồm Kwai May Pink, FayZee Siu và Souey Tung, giống Kwai May Pink được trồng ở miền Trung, miền Nam trồng chủ yếu giống Waichee. Cây vải được trồng ở bang Qeensland cách đây 130 năm nhưng gần đây

20. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 7 mới phát triển. Tuy diện tích vải nhỏ, tổng sản lượng chỉ khoảng 5-6 nghìn tấn nhưng do thu hoạch vào dịp lễ giáng sinh nên có giá trị hàng hóa cao (Dixon L.W. và cộng sự, 2003) [59]. Các nhà khoa học hiện nay đang nghiên cứu lai tạo nhằm chọn ra các giống vải mới, tuy nhiên kết quả đem lại chưa khả quan. Conchie C.A., Batten D.J. (1994) [58] đã dùng hạt phấn của một số giống nhãn thụ phấn cho vải nhưng cây con phát triển từ hạt lai lại sinh trưởng rất kém (Xiang X. và cộng sự, 2002) [102] khi thụ phấn cho hai giống Guiwei và Nuomici bằng hạt phấn của 7 giống vải khác nhau cho thấy: có sự thay đổi về trọng lượng hạt của quả vải sau khi thụ phấn, giống Nuomici trọng lượng hạt sau khi được thụ phấn bằng giống Xuhuaizi giảm xuống còn 50%, tuy nhiên năng suất cũng thấp hơn. Lu L.X. (2002) [74] nghiên cứu kỹ thuật chuyển gen cho cây vải từ tế bào trần nhưng cây chưa sống được ở môi trường bên ngoài. Changhe Yu (2004) [54] khi tách các tế bào nguyên sinh từ phôi của vải và nuôi cấy trong môi trường thích hợp thì phôi có thể phân chia và mang thông tin trực tiếp từ tế bào thể xoma, tuy nhiên tỷ lệ sống của cây con cũng rất kém. RahaJo S.H.T.và Litz R.E. (2007) [89] đã nuôi cấy thành công tế bào từ thể xoma của một số giống vải và các cây con đã được trồng thành công trong nhà kính. Hy vọng trong tương lai với những nghiên cứu có ứng dụng công nghệ sinh học thì có thể tạo ra được các giống vải chuyển đổi gen có nhiều ưu điểm. 1.1.2.2. Một số giống vải chính của Việt Nam Ở Việt Nam, các giống vải được phân theo thời vụ thu hoạch như sau: Các giống vải chín sớm: các giống có thời gian chín từ 5/5 đến 25/5 hàng năm. Đặc điểm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, quả hình tim hoặc trứng, trọng lượng quả từ 30-40 g. Các giống thuộc nhóm này là: vải tu hú, Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng. Các giống vải chín chính vụ: Các giống có thời gian chín từ 1/6 đến 25/6 trong điều kiện các tỉnh miền Bắc. Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng,

21. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 8 khối lượng quả trung bình 25 g, cùi ráo, vị thơm năng suất khá cao. Các giống thuộc nhóm này là: thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ. Các giống vải chín muộn: Là giống có thời gian chín khoảng từ 30/6 đến 15/7 hàng năm theo điều kiện các tỉnh miền Bắc. Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình khoảng 35 g, phẩm chất khá ngon. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân lập nguồn gen của các giống chín muộn chưa có do vậy các giống chín muộn hiện nay vẫn có thể là các giống chín chính vụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn. Các giống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh Hà, chín muộn Lục Ngạn (Trần Thế Tục, 2004) [45]. Năm 1991 nước ta nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc là các giống: Quế Vị, Nhu Mê Tu, Hoài Chi, Hắc Diệp, Tam Nguyệt Hồng, Phi Tử Tiếu, Đại Tào. Năm 1991, dự án VIE86- 003 đã nhập một số giống từ Úc về Lục Ngạn như: Waichee, Taiso, Salathit, Kwaipink… nhưng qua theo dõi các giống này đều sinh trưởng kém hơn vải thiều Thanh Hà. Năm 1998, huyện Lục Ngạn nhập giống Bạnh Đường Anh, năm 2001 tổng công ty rau quả nhập giống Đại Bi Hồng và trồng tại Lục Ngạn các giống này đang tiếp tục được theo dõi [40]. Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Dũng và Vũ Mạnh Hải (2005) [18] tại 13 huyện của 7 tỉnh miền Bắc Việt Nam có tập đoàn vải khá phong phú. Đã thu thập được 31 giống, trong đó tuyển chọn được 8 giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao và ổn định. Trong đó hai giống được công nhận giống quốc gia là thiều Thanh Hà và Hùng Long, các giống Đường Phèn, Hoa Hồng, Lai Bình Khê, Lai Yên Hưng, Phú Điền và Phúc Hòa đang được tiến hành khảo nghiệm. Các giống có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất, chất lượng quả tương đương với nơi nguyên sản là Bình Khê, Yên Hưng và Yên Phú.

24. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 11 Bảng 1.1: Diện tích, sản lƣợng của một số nƣớc trồng vải chính trên thế giới STT Tên nƣớc Năm Diện tích (ha) Sản lƣợng (tấn) 1 Trung Quốc 2005 590.000 1.392.000 2 Ấn Độ 2000 56.200 430.000 3 Việt Nam 2004 22.937 300.000 4 Đài Loan 2001 11.961 110.000 5 Thái Lan 1999 22.000 85.083 6 Nepan 2001 3.000 14.000 7 Banglađét 1998 4.750 12.755 8 Úc 2001 2.500 6.000 Nguồn:Litchiandlongan,Bontany,productionanduses *Chế biến bảo quản sau thu hoạch Nghiên cứu bảo quản vải sau thu hoạch được nhiều ngày để vận chuyển đi xa hoặc kéo dài thời gian cung cấp vải tươi là vấn đề có ý nghĩa kinh tế lớn. Sau thu hoạch từ 2-3 ngày vỏ quả vải thường bị chuyển sang màu nâu làm giảm giá trị của sản phẩm. Ở Úc, vải được xử lý bằng thuốc chống nấm Benlate ở 500 C, sau đó bảo quản ở nhiệt độ 50 C. Ở Trung Quốc, vải được bảo quản trong túi P.E buộc kín để ở nhiệt độ 2-40 C. Xử lý sau thu hoạch bằng khí S02 là phương pháp bảo quản vải được lâu nhất hiện nay. Tuy nhiên, hàm lượng chất S còn tồn dư sau bảo quản đang làm khách hàng lo ngại, nhất là thị trường các nước châu Âu, vì vậy nghiên cứu bảo quản theo hướng làm giảm tối đa hàm lượng S tồn dư cũng như tìm ra phương pháp khác an toàn hơn cho người sử dụng đang được tiến hành ở nhiều nước trồng vải, (Jahiel và cs, 2005 [68]; ShiJ.X. và Wang C.S., 2000 [93]).

26. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 13 màu sắc, hương vị như lúc mới thu hoạch được hơn 40 ngày. Bảo quản ở nhiệt độ 50 C vải giữ được màu sắc đẹp hơn so với bảo quản ở nhiệt độ 10 C. * Thị trường tiêu thụ Hiện nay thị trường tiêu thụ chính của vải là Hồng Kông và Singapo, hai nước này nhập khẩu từ 12.000 đến 15.000 tấn vải từ Trung Quốc và Đài Loan vào thời kỳ tháng 6 và tháng 7. Ngoài ra Đài Loan còn xuất khẩu vải sang các thị trường khác như Canada, Nhật Bản, Philipin, Mỹ. Thị trường châu Âu hàng năm tiêu thụ khoảng 20.000 tấn vải tươi, các nước nhập khẩu chủ yếu là Pháp, Đức và Anh. Vải được tiêu thụ mạnh vào thời gian giữa lễ Giáng sinh và năm mới. Nước cung cấp vải chính trong thời kỳ này là Madagasca khoảng 80%, Nam Phi khoảng 12,6 %. Các nước Úc, Thái Lan và Ấn Độ cũng xuất khẩu vải sang thị trường này vào thời gian tháng 6-7 nhưng chỉ vào khoảng 600-700 tấn/năm (Menzel CM. và cs, 2005) [82]. Số lượng nhập khẩu vải của các nước Châu Âu được trình bày qua bảng 1.2. Số liệu bảng 1.2 cho thấy Madagasca xuất khẩu vải nhiều nhất sang thị trường châu Âu, sau đó là Nam Mỹ. Trung Quốc có diện tích và sản lượng vải lớn nhất nhưng số lượng vải xuất khẩu trung bình mỗi năm khoảng gần 200 tấn. Việt Nam đến năm 2004 mới bắt đầu xuất khẩu vải tươi sang thị trường châu Âu với số lượng chỉ vài chục tấn. Tuy nhiên đây là một thị trường đầy tiềm năng nếu chúng ta biết tập trung vào khâu chăm sóc, bảo quản, nâng cao chất lượng vải quả tươi thì hoàn toàn có thể nâng cao được số lượng vải xuất khẩu sang các nước châu Âu. Các thị trường mới như các nước Ả Rập, Saudi Arabia, Yemen, Dubai hàng năm cũng nhập khẩu vài trăm tấn vải tươi. Tuy nhiên, so với tổng sản lượng vải xuất khẩu vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, ngoại trừ Úc là nước xuất khẩu khoảng 25-30 % tổng sản lượng còn các nước khác chỉ chiếm từ 0,2-5,5 %. Số lượng vải được đóng hộp và bảo quản lạnh khoảng 2.500 tấn ở Trung Quốc, 500 tấn ở Đài Loan và được xuất khẩu sang các nước Mỹ, Canada, Hàn Quốc.

27. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Tuy nhiên, sản phẩm vải đóng hộp thường không được ưa chuộng trên thị trường vì hương vị kém hơn vải tươi, vải bảo quản trong nhiệt độ lạnh cũng gặp khó khăn vì vỏ quả thường bị chuyển màu sau một thời gian ngắn. Bảng 1.2. Số lƣợng vải các nƣớc xuất khẩu vào châu Âu Đơn vị: tấn STT Nƣớc xuất khẩu vải 2003 2004 2005 2006 1 Madagasca 17.480 20.637 21.121 18.235 2 Nam Phi 7.148 4.930 2.787 3.419 3 Thái Lan 1.534 1.571 2.466 2.618 4 Israen 489 873 932 428 5 Ấn Độ 819 763 607 647 6 Pakistan 86 288 366 532 7 Trung Quốc 38 295 333 131 8 Mauritius 256 115 232 198 9 Malaysia 54 74 99 71 10 ST. Lucia 41 53 54 66 11 Colombia 81 76 44 0 12 Việt Nam 0 47 44 62 Nguồn: European market fruitrop- Statitics yearbook 2007 [95] Hiện nay các nước muốn mở rộng thị trường tiêu thụ vải tươi cần phải chú trọng một số yếu tố sau: nghiên cứu tuyển chọn thêm nhiều giống vải khác nhau với chất lượng cao, thời kỳ thu hoạch kéo dài. Những vùng sản xuất vải chính đã được xác định đó là các nơi có vải thu hoạch tháng 12-1 là Úc,

28. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 15 Madagatsca, tháng 5-8 là Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, cùng với thí nghiệm ở các nước như Israen, Mauritius, Trung Quốc cho thấy kéo dài hơn nữa thời vụ thu hoạch của vải là điều hoàn toàn có thể làm được. Bên cạnh đó các công nghệ điều khiển nhiệt độ trong quá trình bảo quản cũng như vận chuyển đang được nghiên cứu một cách tích cực. Vì vậy, các nhà sản xuất có thể cung cấp vải tươi chất lượng cao cho thị trường nhiều tháng trong năm trong một tương lai gần, (Menzel CM. và cs, 2005 [82], Mitra SK. và cs, 2003 [85]. 1.2.2. Tình hình sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải ở Việt Nam * Tình hình sản xuất: Cây vải được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, qua nhiều năm đã hình thành các vùng trồng có diện tích tương đối lớn. Dựa trên yêu cầu sinh thái của cây vải đã phân ra làm các vùng trồng vải chính như sau: Vùng S1 (rất thích hợp): Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều, Vân Đồn (Quảng Ninh), Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang (Bắc Giang), Lạng Sơn khu vực từ đèo Sìn Hồ trở xuống Hữu Lũng, Phú Lương, Đại Từ, Phổ Yên, TP. Thái Nguyên (Thái Nguyên). Tổng diện tích có thể phát triển cây vải lên tới 41.259 ha. Vùng S2 (thích hợp): Vùng này tập trung tại các huyện Hoành Bồ, Tiên Yên, Móng Cái (Quảng Ninh), Sơn Động (Bắc Giang), Đình Lập, Lộc Bình,Tràng Định (Lạng Sơn), phía Bắc của Thái Nguyên, vùng thấp của Cao Bằng bao gồm Nguyên Bình, Hà Quảng. Diện tích khu vực này 26.566 ha (Trần Thế Tục, Vũ Thiện Chính, 1997) [44]. Tình hình sản xuất vải của một số tỉnh miền Bắc trình bày qua bảng 1.3. Số liệu bảng 1.3 cho thấy tỉnh Bắc Giang có diện tích và sản lượng lớn nhất chiếm tới 43,14 % diện tích và 55,96 % sản lượng vải trong cả nước, sau đó là tỉnh Hải Dương chiếm 15,39 % diện tích và 11,66 % tổng sản lượng.Thái Nguyên có diện tích 5.421 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch hơn 4 nghìn ha, sản lượng khoảng hơn 18 nghìn tấn.

29. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 16 Bảng 1.3. Tình hình sản xuất vải ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam STT Địa phƣơng Tổng diện tích (ha) Diện tích thu hoạch (ha) Sản lƣợng (tấn) 1 Bắc Giang 39.835 39.238 228.558 2 Hải Dương 14.219 12.634 47.632 3 Lạng Sơn 7.437 5.501 12.684 4 Quảng Ninh 5.175 3.847 17.349 5 Thái Nguyên 5.421 4.692 18.547 6 Các tỉnh khác 20.250 20.080 83.674 Tổng 92.337 85.992 408.444 Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2007 * Tình hình bảo quản và chế biến: Hiện nay bảo quản và chế biến quả vải của nước ta chủ yếu dưới các hình thức sau: – Bảo quản lạnh: Vải sau khi thu hoạch được chở bằng xe lạnh vận chuyển vào phía Nam, hoặc được bảo quản trong nhà lạnh, cuối vụ mới bán hoặc xuất khẩu (Nguyễn Tiến Định, 2005) [22]. Nghiên cứu của Trần Văn Lài (2005) [32] cho thấy: vải được làm lạnh sơ bộ, sau đó xử lý bằng HCl, đóng túi PE có đục lỗ là biện pháp bảo quản duy trì được màu sắc tự nhiên của vải, tỷ lệ hao hụt thấp, chất lượng cảm quan được đánh giá cao. Quy trình bảo quản này được áp dụng ở Thanh Hà và Lục Ngạn với quy mô 50 tấn/lượt cho thấy hiệu quả kinh tế tăng 20% so với bán quả tươi. – Sấy khô: Quả vải được sấy khô theo phương pháp thủ công truyền thống (chiếm khoảng 95% sản lượng vải thiều sấy khô), còn 5% được sấy theo phương pháp lò hơi cưỡng bức. – Đóng hộp và chế biến rượu: một lượng nhỏ quả vải được đóng hộp và chế biến rượu, tuy nhiên do thời vụ thu hoạch ngắn, thị trường tiêu thụ

30. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 17 vải đóng hộp hạn chế nên lượng vải thiều đóng hộp và chế biến rượu chỉ khoảng 2500 tấn/năm. *Thị trường tiêu thụ Hầu hết vải được bán tươi, phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước, vải xuất khẩu và chế biến chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Cơ cấu tiêu thụ vải của Hải Dương và Bắc Giang được minh họa qua hình 1.1: Hình 1.1: Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ 2004 – 2005 của Hải Dƣơng và Bắc Giang [21] Qua hình 1 cho thấy vải tiêu thụ dưới dạng quả tươi chiếm hơn 50% tổng sản lượng, vải sấy khô khoảng 18-48%. Do hương vị của quả vải thường không ngon như lúc ban đầu nên sản phẩm vải đóng hộp chỉ khoảng 2%. Vải sấy khô của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc và tiêu thụ trong nước, tuy nhiên do chất lượng vải kém, phương pháp sấy chủ yếu là các lò sấy bằng than nên chất lượng không được đảm bảo, do vậy giá vải khô cũng lên xuống rất thất thường. Một vài doanh nghiệp ở Bắc Giang và Hải Dương xây dựng các kho bảo quản lạnh nhưng công suất thấp nên số lượng vải được bảo quản tươi chỉ chiếm một phần nhỏ. Khả năng xuất khẩu hạn chế do hệ thống thu mua phân phối còn thiếu tính chuyên nghiệp, sản xuất thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được đòi hỏi về mẫu mã, chất lượng an toàn thực phẩm của thị trường nhất là các nước châu Âu. Vừa qua, cùng với việc vải thiều Thanh Hà C¬cÊu s¶n phÈmtiªu thô n¨m2004 ChÕbiÕn ®ãng hép 2% V¶i t-¬i 50%V¶i kh” 48% C¬cÊu s¶n phÈmtiªu thô n¨m2005 ChÕbiÕn ®ãng hép 2% V¶i kh” 18% V¶i t-¬i 80%

31. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 18 được cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý vào ngày 8.6.2007, một mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ vải thiều đã được hình thành. Mô hình bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định, cần tiếp tục phát triển, hoàn thiện để mở rộng trong thời gian tới trên phạm vi toàn quốc (Nguyễn Văn Hoa, 2006) [28]. 1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Thái Nguyên Thái Nguyên là một tỉnh nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.541,50 km2 , dân số khoảng 1.108.775 người. Theo đánh giá Thái Nguyên là một trong những khu vực có điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp cho cây vải phát triển [46]. Diện tích cây ăn quả chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số diện tích đất nông nghiệp của tỉnh, diện tích một số loại cây ăn quả của Thái Nguyên trình bày qua bảng 1.4. Bảng 1.4. Diện tích một số cây ăn quả của tỉnh Thái Nguyên Loại cây ăn quả 2004 2005 2006 2007 Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Nhãn 1.543 16,29 1.428 15,79 1.313 17,05 1.227 17,63 Vải 7.044 74,37 6.718 74,29 5.421 70,40 4.754 68,29 Dứa 136 1,43 141 1,56 144 1,87 148 2,13 Xoài 317 3,35 330 3,65 351 4,59 353 5,07 Cây khác 432 4,56 426 4,71 471 6,12 479 6,88 Tổng 9472 100,00 9043 100,00 7.700 100,00 6961 100,00 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2008 [11]

32. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 19 Số liệu bảng 1.4 cho thấy diện tích cây vải chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các cây ăn quả, tuy nhiên có xu hướng giảm dần. Diện tích năm 2004 là 7.044 ha nhưng đến năm 2007 diện tích cây vải chỉ còn 4.754 ha, giảm 2.290 ha. Nguyên nhân của sự sụt giảm diện tích là do trong giai đoạn 2000-2004 diện tích cây vải phát triển quá nhanh lại chỉ trồng chủ yếu giống vải Thanh Hà nên gây hiện tượng tồn đọng vải quả tươi trong vụ thu hoạch, do lợi nhuận thu được thấp nên nông dân đã chuyển dần diện tích sang trồng loại cây trồng khác. Mặc dù diện tích có xu hướng giảm nhưng diện tích cây vải hiện nay vẫn chiếm 68,29 % trong tổng số diện tích cây ăn quả trong toàn tỉnh. Diện tích, sản lượng cây vải của Thái Nguyên trình bày trong bảng 1.5. Bảng 1.5. Diện tích, sản lƣợng cây vải của Thái Nguyên qua các năm Đơn vị 2004 2005 2006 2007 Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Tp.Thái Nguyên 1065 1874 934 2240 820 2591 719 3168 Sông Công 324 572 285 684 250 791 219 967 Định Hóa 258 470 226 562 198 650 174 795 Võ Nhai 218 408 191 487 168 564 147 689 Phú Lương 590 1075 517 1284 454 1485 398 1816 Đồng Hỷ 1781 3876 1562 4633 1370 5357 1202 6547 Đại Từ 716 1335 628 1596 551 1845 483 2257 Phú Bình 1375 2453 1206 2932 1058 3390 928 4145 Phổ Yên 717 1356 629 1621 552 1874 484 2292 Tổng 7.044 13.419 6.187 16.039 5.421 18.547 4.754 22.676 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2008 [11]

33. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 20 Số liệu bảng 1.5. cho thấy nhiều vùng của Thái Nguyên có diện tích trồng vải, nhưng vùng tập trung trồng nhiều là Đồng Hỷ, Phú Bình và thành phố Thái Nguyên. Diện tích trong những năm qua tuy bị giảm mạnh, nhưng sản lượng vải năm 2007 vẫn đạt hơn 22 nghìn tấn. Năm 2000, tỉnh Thái Nguyên lập phương án quy hoạch diện tích trồng một số loại cây ăn quả đến 2010. Thực trạng phát triển cây vải trong những năm qua của Thái Nguyên có sự thay đổi so với quy hoạch, với diện tích vải tăng rất nhanh trong giai đoạn từ năm 2000-2004, sau đó diện tích vải có xu hướng giảm dần. Kết quả so sánh giữa thực trạng phát triển diện tích cây vải trên địa bàn so với phương án quy hoạch trình bày trong bảng 1.6. Bảng 1.6. Diện tích cây vải của Thái Nguyên năm 2007 so với quy hoạch năm 2010 STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Diện tích 2007 so với 2010 (ha) 2007 % 2010 % Toàn tỉnh 4.754 100 6228 100 -1474 1 Tp. Thái Nguyên 719 15,12 240 3,85 +479 2 Thị xã Sông Công 219 4,62 208 3,34 +11 3 Định Hoá 174 3,66 440 7,06 -266 4 Phú Lương 147 3,09 750 12,04 -603 5 Võ Nhai 398 8,37 525 8,43 -127 6 Đại Từ 1202 25,28 990 15,90 +212 7 Đồng Hỷ 483 10,16 1.225 19,67 -472 8 Phú Bình 928 19,52 1040 16,70 -112 9 Phổ Yên 484 10,18 810 13,00 -326 Nguồn: Quy hoạch cây ăn qủa Thái Nguyên giai đoạn 2000-2010, Niên giám thống kê TN 2008

34. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 21 Số liệu bảng 1.6 cho thấy tổng diện tích cây vải toàn tỉnh so với quy hoạch đến năm 2010 vẫn còn thiếu 1474 ha. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm hiện nay đối với thực trạng phát triển cây vải của Thái Nguyên không phải chú trọng tăng nhanh về diện tích mà chính là cơ cấu giống. Theo Đào Thanh Vân (2002) [49], giống vải của Thái Nguyên được chia 3 nhóm chính: đó là vải chua (vải tu hú), vải nhỡ (vải lai) và vải thiều. Vải thiều Thanh Hà có diện tích lớn nhất, chiếm hơn 70,99% diện tích vải, vải chua chiếm 5,53%, vải nhỡ khoảng 11,37%, còn lại là diện tích vải thiều Phú Hộ. Hiện nay giống Hùng Long được ưu tiên đưa vào cơ cấu diện tích trồng vải, tạo thị trường vải trước thời vụ thu hoạch rộ của vải Thanh Hà. 1.3. Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc về cây vải 1.3.1. Nghiên cứu đặc điểm thực vật học của cây vải Nghiên cứu các đặc điểm thực vật thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây trong điều kiện khí hậu của một khu vực qua nhiều năm có thể đánh giá được mức độ thích nghi, khả năng bảo tồn các đặc tính vốn có của giống cũng như tiềm năng cho năng suất. Rễ: Cây vải có bộ rễ rất khỏe gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn sâu, nông, rộng, hẹp tùy thuộc vào cách nhân giống, đất trồng, nước phân bón, không khí và chế độ nhiệt trong đất. Đại bộ phận rễ tơ tập trung trong và phạm vi ngoài tán 10-50 cm, độ sâu 0-50 cm. Hoạt động của bộ rễ vải chia làm 3 thời kỳ: thứ nhất sau lúc hoa nở rộ đến giữa tháng 6, đây là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh mẽ và nhiều rễ nhất. Thứ hai vào giữa tháng 8, thứ ba sau khi lộc thu thành thục vào khoảng trung tuần tháng 10. Với bộ rễ phát triển, có khả năng hấp thụ mạnh nên vải có khả năng chịu hạn. Yuan và Huang (1993) [107] khi nghiên cứu sự phát triển bộ rễ của giống Nuamici cho thấy đợt rễ xuất hiện vào tháng 5 là nguyên nhân gây rụng quả trầm trọng, Zhou và cộng sự (1996) [109] cũng nhận thấy nếu đợt rễ mới không phát triển vào tháng 5 đối với hai giống Huaizu và Nuamici thì

37. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 24 chùm hoa lớn, tỷ lệ hoa đực cao và tỷ lệ đậu quả kém. Các chùm hoa nở muộn hơn thường là chùm hoa nhỏ, với tỷ lệ hoa đực ít hơn và đậu quả tốt hơn (Mezel C.M., 1988) [77]. Yuan và Huang (1993) [107] khi nghiên cứu sự nở hoa của vải cho thấy có sự tương quan chặt giữa số lượng lá trên cành mẹ với số quả đậu/chùm, trên một chùm hoa nếu có nhiều lộc tỷ lệ đậu quả sẽ thấp và ngược lại. Khi nghiên cứu về khả năng ra hoa của 7 giống vải chín sớm được tuyển chọn so với Thanh Hà cho thấy các giống vải chín sớm có số lượng hoa/chùm dao động từ 2.832,5-3758,4 hoa/chùm so với 940,5 hoa/chùm của giống Thanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005) [19]. Hoa đực: bao gồm hoa đực mà nhị cái hoàn toàn thái hóa và nhị cái phát triển không hoàn toàn, nhụy thoái hóa chỉ còn dấu vết nhị được mọc trên mầm hoa, phần nhiều 6-8 nhị. Chỉ nhị dài, bao phấn to, phấn hoa khi chín có màu vàng, hoa đực tiêu hao nhiều dinh dưỡng, nên cần có biện pháp giảm tỷ lệ hoa đực [45]. Hoa lưỡng tính: có nhị đực và nhụy cái phát triển, nhị có thể tung phấn bình thường, đầu nhụy có thể nứt ra để thụ phấn, thụ tinh. Đây là loại hoa hoàn toàn có thể kết thành quả, nhưng số lượng hoa lưỡng tính không nhiều. Đối với trang trại sản xuất cây ăn quả nếu chỉ trồng đơn độc một giống thường có hiện tượng đậu quả thấp hơn những trang trại có trồng xen thêm một số giống khác cùng loài. Điều này chứng tỏ hạt phấn của giống khác đôi khi góp phần làm tăng tỷ lệ đậu quả. Một số nghiên cứu về canh tác ở các trang trại trồng hồng cũng như chôm chôm, xoài và vải cho thấy: trồng xen làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả. Tuy nhiên mỗi giống lại yêu cầu một loại cây trồng xen khác nhau. Trong một chùm hoa vải, số lượng hoa đực chiếm khoảng 70- 80% tổng số hoa, mặt khác hoa đực và hoa cái không nở cùng một lúc mà nở xen kẽ đôi khi hoa đực nở trước sau đó hoa cái mới nở. Nếu trong vườn

38. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 25 chỉ trồng thuần một loại giống sẽ xảy ra thụ phấn không đều làm cho tỷ lệ đậu quả kém.Theo Limangkura (1996) để vải tự thụ phấn, tỷ lệ đậu quả là 4,2%, nếu thụ phấn chéo đạt 6,9%. Thời gian vải nở hoa, nếu cách ly không cho côn trùng lui tới tỷ lệ đậu chỉ đạt 0,026-0,105%, để côn trùng tự do hoạt động tỷ lệ này là 0,17-11,25% (Trần Thế Tục, 2004) [45]. Sự thiếu hụt số lượng hạt phấn cũng như các hạt phấn khỏe mạnh vào thời điểm hoa cái nở là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đậu quả thấp hoặc gây rụng quả sinh lý (Kadman A.,1982) [69]. Theo Goren M. (2000) [62] cho thấy: một số trang trại trồng vải của Israel mặc dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân, phun chất điều hòa sinh trưởng, khoanh cành mà năng suất vẫn thấp, nguyên nhân do vải không được thụ phấn đầy đủ. Do vậy, khi được trồng thêm các cây thụ phấn bổ khuyết, năng suất đã tăng từ 20-30%. Nghiên cứu của Singh B. và Chaudhary D.K., (2004) [94] ở Ấn Độ cũng cho thấy: các cây vải thụ phấn tự do có tỷ lệ quả đậu cao hơn so với các cây tự thụ phấn. Kích thước quả của cây thụ phấn tự do cũng lớn hơn so với tự thụ. Theo Trần Thế Tục (2004) [45] Việt Nam chưa áp dụng thụ phấn nhân tạo cho vải nhưng ở Trung Quốc đã có kinh nghiệm thụ phấn cho vải: trên cây vải khi hoa đực nở thu gom tất cả các hạt phấn chế thành dung dịch rồi phun cho cây vào thời kỳ hoa cái nở rộ. Kết quả có thể làm tăng tỷ lệ đậu quả ở thời kỳ đầu từ 129-314% so với thụ phấn tự nhiên. Phương pháp này thực tế khó áp dụng vì mất nhiều công sức, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Một trong những phương pháp kinh tế, hiệu quả đó là trồng thêm cây thụ phấn. Giống vải Hùng Long được trồng ở Thái Nguyên mấy năm gần đây, nhưng số lượng vườn có diện tích lớn ít, đa số vải được trồng rải rác nên tỷ lệ đậu quả thấp, các biện pháp kỹ thuật tăng cường tỷ lệ đậu quả cũng như giống vải trồng xen phù hợp vẫn chưa được nghiên cứu.

39. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 26 Quả: Có nhiều dạng: hình trứng, hình bầu dục, hình trái tim, hình cầu tùy từng giống. Cùi vải thường chiếm 60-70%, vỏ hạt chiếm 20-30% khối lượng quả, lúc còn xanh quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm, cùi vải mầu trắng vị ngọt pha chua hoặc rất chua tùy theo giống. Hạt vải hình bầu dục dài, màu nâu bóng. Thời gian từ lúc hoa cái bắt đầu nở đến lúc thu hái được quả ngắn nhất cũng mất 70 ngày, dài đến hơn 100 ngày, quả vải phát dục có ba giai đoạn và có ba lần rụng quả: Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi vỏ hạt, vỏ quả. Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1. Giai đoạn 2: Hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và trọng lượng, vỏ hạt cứng dần cho đến lúc thịt quả bao kín hạt. Lúc thịt quả bao kín hạt từ 1/3 đến 2/3 do thiếu dinh dưỡng hoặc bên trong thiếu các chất kích thích sinh trưởng, xuất hiện rụng quả lần 2. Giai đoạn 3: Thịt quả phát triển rất nhanh và quả đến giai đoạn chín. Từ lúc thịt quả bao kín hạt cho đến khi quả chín thời gian từ 19-25 ngày. Thời gian này dinh dưỡng và khoáng tích lũy nhanh vào quả, vỏ quả đã có phần chuyển màu. Do cường độ tích lũy nhanh nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to) sẽ làm rụng quả (Trần Thế Tục, 2004) [45]. 1.3.2. Nghiên cứu về tỷ lệ C/N của cây vải Cây ăn quả nói chung và cây vải nói riêng đều hấp thu dinh dưỡng từ hai nguồn: Bộ rễ cung cấp nhựa nguyên (nước và chất khoáng) trong đó chất tượng trưng nhất là đạm nên nguồn thức ăn này gọi theo nghĩa quy ước là nguồn đạm (N). Bộ lá cung cấp nhựa luyện nhờ hoạt động quang hợp và chất tượng trưng nhất là các bon, nên gọi theo nghĩa quy ước là nguồn các bon (C). Cây muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần có sự cân đối giữa hai nguồn thức ăn này. Tỷ lệ C/N là yếu tố quan trọng quyết định quá trình sinh trưởng, phát triển và phân hoá mầm hoa. Tỷ lệ C/N thích hợp cây sẽ phát triển

40. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 27 cân đối và ra hoa kết quả bình thường. Tỷ lệ C/N quá thấp hoặc quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và cho năng suất (Phạm Văn Côn, 2004) [10]. Đối với cây vải, yếu tố nội tại chủ yếu ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa do sự tích lũy dinh dưỡng khác nhau, bao gồm các sản phẩm quang hợp, các chất khoáng và sự chuyển hóa giữa chúng để tạo ra các sản phẩm như: axit amin, protein, các chất điều hòa sinh trưởng. Nghiên cứu của Menzel C.M. (1983) [76] kết luận rằng sự phân hóa mầm hoa vải chịu ảnh hưởng trực tiếp của hàm lượng đường bột trong cành. Nghiên cứu của Yuan và cộng sự (1993) [107] về tỷ lệ C/N cho những cây vải nhiều hoa có hàm lượng đạm toàn phần và đạm protein trong lá vào tháng 12 và tháng 1 năm sau giảm còn đường khử và đường tổng số tăng. Menzel C.M. (1988) [77] cho thấy: Đối với giống vải nếp hàm lượng tinh bột tích lũy trong lá đạt cao nhất vào thời kỳ ngủ nghỉ đến thời kỳ phân hóa mầm hoa. Theo Batten D.J và Conchie C.A (1995) [53] một trong những nguyên nhân của hiện tượng vải ra hoa cách năm là do sự mất cân đối giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Nghiên cứu của Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) [34] cho thấy: tỷ lệ đường ở trong lá vải vụ thu có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành hoa. Nếu lá màu xanh đậm, hàm lượng đường 1,28% tỷ lệ hình thành hoa cao nhất, nếu lá xanh vàng hàm lượng đường 1,075% tỷ lệ hình thành hoa ít, nếu lá có hàm lượng đường 0,592 % cây hoàn toàn không nở hoa. Theo Lê Đình Danh và Nguyễn Thị Thanh (1999) [16]: đối với giống vải Phú Hộ tỷ lệ C/N cao vào thời kỳ phân hóa mầm hoa làm tăng tỷ lệ hoa cái, tăng số chùm hoa và tỷ lệ đậu quả. Xuất phát từ các nghiên cứu về tỷ lệ C/N cho thấy cần nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ C/N đối với sinh trưởng và phát triển của vải Hùng Long, từ đó đề ra biện pháp kỹ thuật điều chỉnh tỷ lệ C/N nhằm tăng khả năng ra hoa góp phần tăng năng suất vải.

41. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 28 1.3.3. Yêu cầu sinh thái của cây vải Nhiệt độ: nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực của cây vải, vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-250 C vải phát triển tốt, nhiệt độ 00 C đối với giống chín muộn và 40 C đối với giống chín sớm thì cây vải ngừng sinh trưởng. Cây vải muốn có năng suất phải qua 2 thời kỳ: ra được mầm hoa và đậu được quả. Thời kỳ phân hóa mầm hoa cây vải cần có nhiệt độ lạnh, thời kỳ nở hoa phải ấm không có gió bấc và mưa phùn. Theo Vũ Công Hậu (1999) [26] và Trần Thế Tục (1997) [44] năm nào nhiệt độ mùa đông thấp, khô, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn sẽ có lợi cho phân hóa mầm hoa, tích lũy dinh dưỡng vào quả và cây có khả năng cho năng suất cao. Thời kỳ phân hóa hoa khác nhau tùy theo giống, các giống chín sớm phân hóa hoa vào tháng 11 các giống chín trung bình và muộn phân hóa tháng 12. Nhiệt độ lạnh vào thời kỳ phân hóa mầm hoa như là một yếu tố quyết định đến sự ra hoa của vải. Tuy nhiên, nếu thời kỳ lạnh đến muộn khi lộc thu đã thành thục lâu thì cây vải sẽ xuất hiện lộc đông, cũng trong thời kỳ phân hóa hoa nếu nhiệt độ xuống quá thấp có thể phá hủy chùy hoa và ảnh hưởng đến sự phát triển của hoa (Chaikiatyyos, S. và cs, 1994 [55]; Hieke, S. và cs, 2002 [65]). Theo Trần Thế Tục (2004) các giống vải khác nhau yêu cầu nhiệt độ thấp vào mùa đông khác nhau, các giống chín sớm có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt độ cao hơn so với vải Thanh Hà và Phú Hộ. Theo Yapwatanaphun C. (2000) [105] ở Thái Lan các giống vải được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu thời gian có nhiệt độ lạnh vào mùa đông ngắn hơn và nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh về mùa đông dài hơn. Vũ Mạnh Hải (2000) [25] cho thấy nhiệt độ các tháng 12 đến tháng 2, lượng mưa tháng 11,12, số giờ nắng tháng 11,12 có tương quan đến năng suất giống vải Thanh Hà. Menzel, C.M. (1988) [77] nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ ra hoa trên 7 giống vải khác nhau cho thấy: nếu nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 25/20 và 30/25 thì cây

42. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 29 vải không có hoa. Nếu nhiệt độ duy trì ở ngưỡng thấp từ 15/10 cho đến lúc nở hoa thì số lượng chùm hoa đạt cao nhất, trong thời kỳ này nếu nhiệt độ ngày đêm tăng dần tỷ lệ hoa đực sẽ tăng và một số chùm hoa sẽ trở lại thành cành dinh dưỡng. Sự thụ phấn sảy ra tốt nhất ở nhiệt độ 19-220 C, nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ ngăn chặn sự phát triển của ống phấn, nếu nhiệt độ cao và khô hạn thì tỷ lệ đậu quả thấp, năng suất sẽ giảm trầm trọng. Đỗ Đình Ca (1998) [5] nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự nở hoa của một số giống vải chín sớm nhập nội về Việt Nam cho thấy: nhiệt độ có ảnh hưởng rất mạnh đến sự phát sinh, phát triển và giới tính của hoa vải, khi nhiệt độ chênh lệch ngày đêm cao sau khi mầm hoa nhú đã làm giảm tỷ lệ những chùm hoa không lá, tăng tỷ lệ chùm hoa có lá và làm một số mắt lá bật mầm trở lại. Ánh sáng: vải là cây ưa sáng, tổng số giờ chiếu sáng trong năm khoảng 1800 giờ thích hợp cho vải. Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa, xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa, tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất quả. Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình quang hợp bị hạn chế thì sự ra hoa đậu quả sẽ khó khăn. Đối với vườn vải khi trồng quá dầy hoặc không cắt tỉa thường xuyên sẽ làm giảm số chùm hoa và chiều dài chùm hoa (Phạm Văn Côn, 2004 [10]; Hieke S. và cs, 2002 [65]). Lượng mưa và độ ẩm: Đối với cây vải lượng mưa và độ ẩm là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vải. Mùa hè là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng lượng mưa tương đối nhiều, mùa đông ít mưa, đất khô hạn đã ức chế sinh trưởng của rễ và cành, nâng cao độ dịch trong cây thuận lợi cho phân hóa mầm hoa (Ngô Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991) [34]. Thời gian vải phân hóa mầm hoa, lượng mưa có ảnh hưởng đến tỷ lệ hoa đực và hoa cái. Mưa nhiều cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả của vải. Thời kỳ nở hoa gặp mưa cộng thêm gió rét khiến cho hạt phấn phát dục kém, quá trình thụ phấn bị ảnh hưởng, mặt khác mưa ẩm làm phát sinh nhiều nấm bệnh trên cây dẫn đến giảm tỷ lệ đậu và

44. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 31 Simpson D.r., 1989 [78], Sharma K.K.,1990 [92]). Có thể phân tích lá thuần thục qua từng thời kỳ để so sánh thành phần các chất dinh dưỡng trong đó với thành phần thông thường và bón thêm những chất còn thiếu. Kết quả phân tích lá vải ở một số trang trại vải ở Úc cho thấy yêu cầu dinh dưỡng qua lá từ tháng 5-8 là: 1,5-1,8% N, 0,14- 0,22% P, 0,66-1% K, 0,3-0,5% Mg, 50-100 mg/g Fe, 100-250 mg Mn, 15-30 mg Zn, 10-25 mg Cu, 25-60 mg Bo (Batten, D.J. và cs, 1995) [53]. Bón phân cho vải trên cơ sở phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong lá được tiến hành rộng rãi ở Australia nhưng chưa thực sự phổ biến ở các nước trồng vải khác do giá thành phân tích khá cao (Ollesen T., 2000) [88]. Cũng có thể dựa vào số liệu phân tích đất mà bón phân cho vải. Trần Thế Tục và Ngô Bình (1997) [43] cho rằng có thể căn cứ vào điều kiện đất đai, độ tuổi khác nhau để có chế độ bón phân cho phù hợp. Các nghiên cứu cho thấy bón phân có ảnh hưởng đến thời gian ra lộc, làm tăng số đợt và kéo dài thời gian ra lộc của vải. Phân bón N, P, K có ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vải. Ở Thanh Hà và Lục Ngạn các công thức có sử dụng phân NPK đều có hàm lượng đường, vitamin C tăng nhưng hàm lượng chất khô không thay đổi. Tỷ lệ N.P,K tốt nhất cho vải là: 1: 0,5: 1,2. Bón phân cho vải có thể chia làm 3 thời kỳ: thời kỳ xuất hiện lộc thu, phân hóa mầm hoa và thời kỳ quả non. Ngoài việc bón phân hữu cơ, phân khoáng cho vải thì phun bổ sung các nguyên tố đa, vi lượng cũng làm tăng năng suất vải rõ rệt. Trong số 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, có 7 nguyên tố vi lượng là Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl, thiếu những nguyên tố này cây không thể hoàn tất chu kỳ sống của mình. Đối với cây ăn quả các nguyên tố vi lượng như sắt (Fe), kẽm (Zn), bo (B) có một vai trò quan trọng trong việc cải thiện đặc tính ra hoa (Hoàng Minh Tấn và cs, 1994 [38], Nguyễn Xuân Trường, 2005 [42]). Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nga thì B góp phần vào sự chuyển hóa Gluxit ở trong cây, khi

45. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 32 thiếu B, các cơ quan cần nhiều đường như hoa, quả non thường bị rụng. Tan, Y. và cs (2000) [98] cho thấy: việc thiếu hụt các chất khoáng và một số nguyên tố vi lượng là nguyên nhân gây rụng và nứt quả đối với giống vải Nuomici. Katalymov M.V. (1977) khi nghiên cứu về sự nảy mầm hạt phấn của một số loại cây cho thấy: hạt phấn có thể nảy mầm tốt trong giọt dịch lấy ở mặt núm nhụy hoa, để thay cho mật hoa, ông cho hạt phấn nảy mầm trong dung dịch đường có nồng độ thích hợp thì phấn hoa không nảy mầm. Do đó muốn nảy mầm được thì phấn hoa cần một chất nữa vốn có trong mật hoa của núm nhụy, đó chính là Bo. Bo còn cần cho quá trình phát triển của quả sau khi hoa đã thụ phấn, khi loại bỏ Bo ra khỏi dung dịch dinh dưỡng thì một số lớn quả sau khi đã hình thành cũng bị rụng (Nguyễn Xuân Hiền, 1977 [27]. Phun boric nồng độ 50 ppm cho vải vào thời kỳ nở hoa làm tăng tỷ lệ đậu quả từ 2,4-4 lần so với đối chứng. Tuy nhiên nồng độ của boric quá cao sẽ không có lợi cho việc thụ phấn thậm chí còn có hại cho hoa cái, vì vậy khi sử dụng boric cho vải cần nghiên cứu một cách cụ thể, tùy theo giống, điều kiện canh tác mà chọn nồng độ phun thích hợp (Trần Thế Tục, 2004 [45]). Trong cây kẽm tham gia vào thành phần của hơn 70 enzim. Đặc biệt kẽm tham gia quá trình sinh tổng hợp trytophan, chất tiền thân của auxin (indolaxetic axit), khi thiếu kẽm sự sinh tổng hợp IAA bị giảm mạnh. Khi không có kẽm trong môi trường dinh dưỡng cây sẽ phát triển rất kém hoặc có thể bị chết mặc dù có tất cả các yếu tố dinh dưỡng khác, các loại đất cát hoặc cát pha, đất đồi thường thiếu kẽm. Cây ăn quả khi thiếu kẽm các đợt lộc thường sinh trưởng chậm, năng suất giảm, quả nhỏ và chất lượng kém. Hàm lượng kẽm tăng trong thời gian phân hóa chồi mang hoa làm tăng năng suất một số loại cây ăn quả một cách có ý nghĩa. Khi cây có biểu hiện chồi non bị rụt lại, lá có triệu chứng úa vàng là đã thiếu kẽm ở mức trầm trọng, vì vậy bón bổ sung kẽm cần được tiến hành dựa trên kết quả phân tích đất chứ không nên dựa vào

Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Điểm Và Hình Thức Của Nhà Nước / 2023

1. Nguồn gốc Nhà nước

Trong lịch sử có nhiều quan điểm giải thích nguyên nhân hình thành Nhà nước, có thể liệt kê các lý thuyết như sau:

1.1. Thuyết thần học

Từ thời cổ, trung đại các nhà tư tưởng theo lý thuyết thần học cho rằng sự hình thành Nhà nước là do ý muốn của thượng đế, chính thượng đế đã sáng tạo ra Nhà nước để bảo vệ xã hội. Do đó quyền lực Nhà nước là vĩnh cửu, sự phục tùng quyền lực trong xã hội là tất yếu và thượng đế đã trao quyền lực Nhà nước cho một số người thay mặt thượng đế để quản lý xã hội.

Quan điểm này nhằm mục đích bảo vệ cho vị trí thống trị xã hội của giai cấp phong kiến, giữ quyền lực vô hạn cho người lãnh đạo. Nguồn gốc Nhà nước được lý giải không mang tính khoa học.

1.2. Thuyết gia trưởng

Thuyết này do Aristote, Philmer và một số nhà tư tưởng nêu lên, cho rằng Nhà nước ra đời từ sự phát triển của hình thức gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của đời sống con người. Xã hội cần có người quản lý đó là Nhà nước cũng giống như gia đình cần có người đứng đầu gia đình đó là người gia trưởng, về mặt bản chất quyền lực Nhà nước cũng giống như quyền gia trưởng.

Quan điểm này chưa giải thích đầy đủ cội nguồn hình thành Nhà nước chỉ là sự ghi nhận hiện tượng Nhà nước trong xã hội có những điểm giống quyền lực gia trưởng trong gia đình. Thực chất Nhà nước và gia đình xuất hiện là do sự tác động phát triển kinh tế dẫn đến sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy.

1.3. Thuyết khế ước xã hội

Do các nhà tư tưởng tư sản như: J.J. Rousseau, S.L.Montesquieu, D. Diderot, J.Locke khởi xướng, cho rằng sự ra đời của Nhà nước là kết quả của một khế ước được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có Nhà nước. Vì vậy Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ và bảo vệ lợi ích của họ.

Quan điểm này giải thích sự hình thành Nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, coi Nhà nước ra đời là do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khếước, không giải thích đúng nguồn gốc của Nhà nước.

1.4. Quan điểm học thuyết Mác – Lênin

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, cho rằng:

Nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước có quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong gắn liền với những điều kiện khách quan của xã hội.

Trong lịch sử xã hội, loài người đã trải qua quá trình phát triển gồm 5 hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa.

Cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người, là xã hội chưa có giai cấp, chưa có Nhà nước, nhưng sự ra đời của Nhà nước hình thành trong chính xã hội này.

Khi xã hội có sự phát triển về kinh tế làm xuất hiện chế độ tư hữu tài sản (là tiền đề kinh tế cho sự hình thành Nhà nước), đồng thời dẫn đến việc xã hội phân hóa thành các giai cấp, các tầng lớp người có quyền lợi đối kháng nhau và mâu thuẫn gay gắt không thể điều hòa được (là tiền đề xã hội cho sự hình thành Nhà nước), dẫn đến đấu tranh giai cấp.

Thông qua đấu tranh giai cấp giải quyết mâu thuẫn xã hội. Giai cấp thống trị đã lập nên tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình. Tổ chức đó là Nhà nước.

2. Bản chất của Nhà nước

Bản chất là khái niệm diễn đạt những đặc tính bên trong của sự vật, cái cốt lõi của sự vật gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của sự vật đó.

Bản chất của Nhà nước theo quan điểm học thuyết Mác -Lênin có 2 thuộc tính: tính giai cấp và tính xã hội.

2.1. Tính giai cấp

Thể hiện ý chí và quan điểm của giai cấp thống trị thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm duy trì quyền lực thống trị trước các giai cấp khác trong xã hội. Sự thống trị thể hiện dưới 3 phương diện chính là kinh tế, chính trị và tư tưởng.

2.2. Tính xã hội

Thể hiện qua vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, Nhà nước phải phục vụ những nhu cầu mang tính chất công cho xã hội như: xây dựng bệnh viện, trường học, đường sá…

Hai thuộc tính này của Nhà nước bổ sung cho nhau thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích giai cấp và lợi ích xã hội.

3. Đặc điểm của Nhà nước

Là những dấu hiệu đặc trưng cơ bản riêng có của Nhà nước để phân biệt tổ chức là Nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội. Các đặc trưng này làm cho Nhà nước giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị của đời sống xã hội.  Có 5 đặc điểm chính:

3.1.  Nhà nước có quyền phân chia lãnh thổ theo đơn vị hành chính và quản lý dân cư theo lãnh thổ

Nhà nước là tổ chức có chức năng quản lý xã hội, để thực hiện hiệu quả công việc quản lý này, Nhà nước được quyền phân chia lãnh thổ rộng lớn thành từng đơn vị khác nhau trong phạm vi lãnh thổ. Những đơn vị này thường được các Nhà nước căn cứ vào vị trí địa lý, đặc tính dân cư theo từng vùng, miền khác nhau để xác lập. Đồng thời Nhà nước xây dựng các cơ quan nhà nước trên từng đơn vị này để thực hiện chức năng quản lý xã hội. Ở mỗi quốc gia khác nhau cách gọi tên các đơn vị này có khác nhau, thông thường là tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường xã… hay tên gọi chung là các đơn vị hành chính.

Chức năng quản lý xã hội còn cho phép nhà nước có quyền quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ, có quyền ban hành và thực hiện chính sách quản lý, tác động tất cả mọi người trong lãnh thổ. Đặc tính này, ngoài nhà nước thì không có một tổ chức nào trong xã hội có được.

3.2. Nhà nước là tổ chức có quyền lực công

Để giúp Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội, Nhà nước thiết lập quyền lực đặc biệt cho phép Nhà nước có quyền lực bao trùm trên khắp các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội… trong xã hội. Với quyền lực này Nhà nước có quyền sử dụng sức mạnh cưỡng chế buộc tất cả các thành viên trong xã hội phải phục tùng ý muốn Nhà nước, từ đó duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị trong xã hội.

3.3. Nhà nước là tổ chức có chủ quyền quốc gia

3.4.  Nhà nước có quyền ban hành Pháp luật và đảm bảo việc thực hiện Pháp luật

Nhà nước là tổ chức có chức năng quản lý xã hội, để đảm bảo hiệu quả công việc quản lý xã hội, Nhà nước sử dụng Pháp luật là công cụ chủ yếu. Nhà nước có quyền ban hành Pháp luật nhằm định hướng xã hội theo ý chí của Nhà nước và đảm bảo việc thực hiện Pháp luật trong xã hội.

3.5. Nhà nước quy định các loại thuế và cách thức tiến hành thu thuế

Cũng như các tổ chức khác trong xã hội khi hoạt động đều cần phải có nguồn lực, các Nhà nước thường tạo nguồn lực hoạt động thông qua các khoản thu từ xã hội là thuế. Đồng thời Nhà nước còn có quyền định ra cách thức thu thuế.

4. Kiểu Nhà nước

Kiểu Nhà nước là tổng thể những dấu hiệu cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, giá trị xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.

Nhà nước tồn tại trên cơ sở kinh tế của một xã hội nhất định, do đó nói đến kiểu Nhà nước là nói đến bộ máy thống trị của giai cấp nào, tồn tại tương ứng với hình thái kinh tế xã hội nhất định nào đó.

Trong lịch sử phát triển xã hội có 4 hình thái kinh tế xã hội có Nhà nước. Như vậy tương ứng có 4 kiểu Nhà nước khác nhau, mỗi kiểu Nhà nước có bản chất và chức năng khác nhau trong quản lý và điều hành xã hội.

Kiểu Nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản có bản chất bóc lột trái ngược với bản chất của kiểu Pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình phát triển của mình, khái niệm Nhà nước được cụ thể hóa qua khái niệm kiểu Nhà nước, sự thay thế của kiểu Nhà nước này đối với kiểu Nhà nước kia có những tính chất sau đây:

4.1. Tính tất yếu khách quan

Do chịu sự tác động của quy luật phát triển và thay thế các hình thái kinh tế xã hội. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử khác nhau ở mỗi quốc gia nên việc thay thế không diễn ra tuần tự như hình thái kinh tế xã hội mà có thể bỏ qua những kiểu Nhà nước nhất định.

4.2. Việc thay thế kiểu Nhà nước được thực hiện bằng cuộc cách mạng xã hội

Việc thay thế kiểu Nhà nước không tự xảy ra bởi vì không một giai cấp thống trị nào tự từ bỏ địa vị thống trị của mình do đó giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới phải tập hợp lực lượng để lật đổ giai cấp cũ thiết lập Nhà nước mới.

4.2. Kiểu Nhà nước sau tiến bộ, hoàn thiện hơn kiểu Nhà nước trước

Bởi vì nó dựa trên phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn và qua thời gian xã hội ngày càng phát triển hơn đòi hỏi kiểu Nhà nước mới phải càng hoàn thiện hơn

5. Hình thức Nhà nước

Hình thức Nhà nước là cách thức tổ chức Nhà nước và những biện pháp thực hiện quyền lực Nhà nước.

Khái niệm Nhà nước là khái niệm chung, được thể hiện dưới 3 góc độ: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị.

5.1. Hình thức chính thể

Là cách thức tổ chức và trình tự thiết lập các cơ quan tối cao của Nhà nước và xác lập mối quan hệ của các cơ quan đó.

Hình thức chính thể có 2 dạng cơ bản: chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa.

5.1.1. Chính thể quân chủ

Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của Nhà nước tập trung trong tay người đứng đầu Nhà nước theo thế tập (cha truyền con nối) hoặc theo chỉ định.

Chính thể quân chủ có nhiều hình thức biến dạng theo sự phát triển xã hội là chính thể quân chủ tuyệt đối (chuyên chế) và chính thể quân chủ tương đối (lập hiến).

Chính thể quân chủ tuyệt đối: Toàn bộ quyền lực tối cao thuộc về người đứng đầu Nhà nước thường là Vua, Hoàng đế…

Chính thể quân chủ lập hiến: Trong các quốc gia theo hình thức này, bên cạnh Vua còn có Nghị viện là tổ chức cùng chia sẻ quyền lực tối cao của Nhà nước.

5.1.2. Chính thể cộng hòa

Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của Nhà nước được giao cho một cơ quan đại diện theo thể thức bầu cử trong thời hạn nhất định (nhiệm kỳ). Chính thể cộng hòa có 2 dạng: cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ.

Chính thể cộng hòa quý tộc: là hình thức mà quyền bầu cử các cơ quan đại diện là đặc quyền của tầng lớp quý tộc.

Chính thể cộng hòa dân chủ: là hình thức mà tất cả các công dân đủ một số điều kiện quy định được tham gia bầu cử các cơ quan đại diện. Hiện nay có 2 hình thức chính thể quân chủ cộng hòa: cộng hòa dân chủ tư sản và cộng hòa dân chủ nhân dân.

– Cộng hòa dân chủ tư sản: Theo chính thể này quyền lực Nhà nước được chia thành 3 quyền là lập pháp, hành pháp và tài phán theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” của Montesquieu. (Theo Montesquieu quyền lực Nhà nước nếu tập trung trong tay bất cứ một người hay một cơ quan tổ chức sẽ dẫn đến lạm quyền cho nên để tránh tình trạng này quyền lực Nhà nước nên chia thành 3 quyền độc lập và kiểm soát lẫn nhau là: quyền Lập pháp, quyền Hành pháp và quyền Tài phán. Mỗi quyền giao cho một cơ quan Nhà nước nắm giữ. Các cơ quan này độc lập với nhau nhưng thông qua quyền lực nắm giữ có thể hạn chế sự lạm quyền trong mỗi cơ quan).

– Cộng hòa dân chủ nhân dân: Quyền lực nhà nước tối cao không phân chia mà tập trung thống nhất trong các cơ quan quyền lực do dân bầu ra và nhân dân tham gia vào công việc quản lý Nhà nước.

6. Hình thức cấu trúc

Là cách thức tổ chức các cơ quan Nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh thổ từ trung ương đến địa phương và xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan này với nhau.

 Có 2 hình thức cấu trúc Nhà nước chủ yếu là hình thức cấu trúc:

6.1. Cấu trúc Nhà nước đơn nhất

Cấu trúc Nhà nước đơn nhất là Nhà nước có chủ quyền chung, toàn vẹn lãnh thổ, có một hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống địa phương, lãnh thổ không có chủ quyền riêng, có một Hiến pháp, một hệ thống Pháp luật áp dụng chung cho cả nước. Ví dụ: Việt Nam.

6.2. Cấu trúc Nhà nước liên bang

Cấu trúc Nhà nước liên bang là Nhà nước có từ 2 hay nhiều Nhà nước thành viên hợp lại. Có chủ quyền chung cho toàn liên bang và chủ quyền riêng cho mỗi thành viên, có 2 hệ thống cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý Nhà nước; một áp dụng chung cho toàn liên bang và một áp dụng cho mỗi thành viên, có 2 loại Hiến pháp và Pháp luật cùng tồn tại: Hiến pháp và Pháp luật của liên bang, Hiến pháp và Pháp luật của mỗi thành viên. Ví dụ: Hoa Kỳ.

7.Chế độ chính trị

Là toàn bộ các phương pháp và cách thức mà cơ quan Nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực Nhà nước.

Căn cứ vào phương pháp áp dụng có thể chia thành chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phi dân chủ.

– Chế độ chính trị dân chủ: Các phương pháp mà Nhà nước áp dụng thể hiện sự quan tâm thực sự đến dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và xã hội.

– Chế độ chính trị phi dân chủ: Các phương pháp mà chế độ này áp dụng thể hiện tính chuyên quyền, độc tài, không quan tâm đến dân, chủ yếu dựa vào sức mạnh buộc người dân phải tuân theo những quy định Nhà nước.

TÓM LƯỢC

Nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước có quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong gắn liền với những điều kiện khách quan của xã hội. Quá trình phát triển kinh tế xã hội đến một giai đoạn nhất định khi xã hội xuất hiện quyền tư hữu và hình thành giai cấp, qua đấu tranh giai cấp, giai cấp chiến thắng lập nên Nhà nước để giữ vững sự thống trị giai cấp.

Đặc điểm của Nhà nước là những dấu hiệu đặc trưng cơ bản riêng có của Nhà nước để phân biệt tổ chức là Nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội. Có 5 đặc điểm chủ yếu.

Kiểu Nhà nước là tổng thể những dấu hiệu cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, giá trị xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.

Hình thức Nhà nước là cách thức tổ chức Nhà nước và những biện pháp thực hiện quyền lực Nhà nước. Khái niệm Nhà nước là khái niệm chung, được thể hiện dưới 3 góc độ: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị.

Tài liệu cùng môn học

Chia sẻ bài viết:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghiên Cứu Đặc Điểm Hình Thái Lâm Sàng Của Dị Hình Tháp Mũi Mắc Phải Và Biện Pháp Can Thiệp / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!