Đề Xuất 12/2022 # Nghệ Thuật Văn Xuôi Của Truyện Ngắn “Lão Hạc” / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghệ Thuật Văn Xuôi Của Truyện Ngắn “Lão Hạc” / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghệ Thuật Văn Xuôi Của Truyện Ngắn “Lão Hạc” / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phải đến khi truyện Lão Hạc khép lại, ta mới thấy ớn lạnh: thì ra toàn bộ câu chuyện là một cuộc chuẩn bị để chết của một con người! Lão Hạc cứ âm thầm làm nốt những phần việc cuối cùng của một kiếp người để rồi tự sát! Vậy mà cả ông giáo và người đọc đều không hề hay biết. Cái chết của lão là một cú giáng vào thói hồ đồ, hờ hững, cố chấp vẫn cầm tù chúng ta. Khi ta sáng mắt lên hiểu ra tất cả những tính toán lo liệu gàn dở lấn thẩn của lão Hạc, thực chất lại chứa đựng một phẩm chất người nguyên sơ, thuần khiết, cao quý vô ngần, thì đã muộn, đã quá muộn rồi! Bản lĩnh lớn của Nam Cao có lẽ ở đấy. Cứ viết về những cuộc đời nhỏ mọn tầm thường, cứ viết những chuyện vặt vãnh, tun mủn không đâu của cái đời thường tẻ nhạt, ngán ngẩm này thôi, thế mà nó có thề dằn vặt cuộc đời, có thể làm đau tất cả chúng ta. Bởi dưới ngòi bút của Nam Cao cái nhỏ nhặt không đâu vụt trở nên thăm thẳm, cái hàng ngày dễ quên lại chứa đựng cái muôn đời, phát hiện càng sâu sắc bao nhiêu lại càng truyền cảm bấy nhiêu. Viết về cái tầm thường mà làm sống dậy những ý nghĩa không thể xem thường, ấy là giải pháp nghệ thuật độc đáo của Nam Cao vậy.

Lão hiện ra tự nhiên quá đỗi, cứ như thấy thế nào tả thế ấy. chẳng gia công sắp đặt, bài binh bố trận gì. Mà chắp nối từ toàn những chuyện không đâu vào đâu: nào đắn đo về bán hay không bán con chó Vàng và mảnh vườn, chuyện ốm đau tiêu lạm vào số tiền góp nhặt, chắt, bóp, dành dụm được, nào chuyện thằng con đi xa có đến hàng năm chẳng giấy má gì… được kể nhân lúc hút thuốc lào vặt của hai ông hàng xóm, thế thôi. Ấy thế nhưng, lão hiện lên là nhờ một chùm tương quan được giấu kín trong cái mạch đầy vẩn vơ, tùy tiện ấy, tựa như một “hệ vi mạch” bí mật và hoàn hảo. Mỗi tương quan là một luồng sáng, chúng hội tụ về từ khắp phía giúp nhà văn làm rạng ngời lên chân dung lão Hạc. Lão được miêu tả song song với ông giáo để đối sánh, làm bật nổi lên tâm lí nông dân bên cạnh tâm lí trí thức. Tương quan với Binh Tư để tạo ra một sự đối chọi gay gắt: một người lương thiện đến mức thánh thiện, một kẻ bất lương đã đến thành lưu manh: người này muốn trọn đạo làm người thì phải chết, kẻ kia cố bám lấy cái sống thì phải thủ tiêu phẩm chất con người. Còn tương quan với nhân vật vơ ông giáo là để lão Hạc hiện rõ lên trong một phản lập khác: một người dù có khổ đến thế nào cũng không tiêu diệt được lòng nhân hạu, Vị tha; kẻ kia vì quá khổ đã sinh ra vị kỉ. Nhưng dẫu sao, những luồng sáng kia sẽ trở nên mờ nhạt không đáng kể, nếu như không có hai tương quan cuối cùng đem lại cho nhân vật cả đường nét, vóc dáng và linh hồn: lão với đứa con trai và với con cho Vàng.

Với đứa con trai duy nhất. Nam Cao nhìn ra ở người cha xác xơ, còm cõi này một tình phụ tử nguyên sơ và vĩnh cửu. Không phải lão không biết quý sinh mệnh cua mình. Tuy nhiên, có một thứ lão còn quý hơn: ấy là đạo làm người, làm cha! Đối với lão, sống dường như chỉ có một nghĩa: sống cho con! Hoàn cảnh cùng cực đẩy lão đến trước một lựa chọn nghiệt ngã: Muốn sống thì phải lỗi đạo làm cha (phải xâm phạm vào mảnh vườn – tài sản duy nhất đáng giá mà lão đêm ngày gìn giữ để bù trì tạo lập cho giọt máu duy nhất của mình để lại chơ vơ trên cõi đời này), còn muốn trọn đạo làm cha thì phải chết. Và lão đã quyên sinh. Cái chết của lão khiến ta đau đớn nhận ra tình phụ tử mộc mạc ấy mới thăm thẳm và mới thiêng liêng làm sao! Nó xui ta nhớ đến cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử.

Người cha hấp hối cứ một mực dành cho con cái khố độc nhất còn mình chết có vùi không trong đất lạnh cũng xong! Thì ra cái dòng máu ấy vẫn chảy âm thầm và bền bỉ trong trái tim mỗi người Việt Nam suốt mấy nghìn năm nay, nó là vẻ đẹp bất diệt của dân tộc này!

Nhưng không có con chó Vàng có lẽ truyện Lão Hạc không sâu lắng và cảm động đến thế. Dùng con vật như một đối sánh để khắc họa chân dung con người không còn là một thủ pháp nghệ thuật xa lạ nữa. Trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm Nam Cao, con chó đã thực sự là một tình tiết nghệ thuật đắt giá. Vậy mà ám ảnh hơn cả vẫn là cậu Vàng cùa ông lão này thôi, ở đây, con chó nào đâu chỉ sắm một vai truyện, cậu Vàng còn như một phần của lão Hạc. Liệu có thể hình dung đầy đù về lão Hạc không, nếu thiếu đi con chó ấy? Rõ ràng, Nam Cao có dụng ý đối chiếu ý thức sở hữu của anh trí thức và người nông dân. Ông giáo vô cùng quý những cuốn sách của mình. Nhưng với ông giáo, sách chỉ là một kỉ vật về một thời đầy mơ ước, và cũng chỉ thế thôi! Con chó Vàng với lão Hạc thì biết bao ý nghĩa. Nó là một tài sản (lão lẩm cẩm quy ra tiền), một vật nuôi (định bụng lúc cưới thằng con sẽ thịt), nó còn là kỉ vật của đứa con trai, một mối dây liên lạc lạ lùng giữa lão với đứa con vắng mặt. Song, phát hiện sâu sắc đến kì lạ của ngòi bút Nam Cao ở đây, vẫn là tư cách thứ tư của nó: một thành viên trong gia đình lão Hạc. Có một đứa con độc nhất thì đã bỏ lão mà đi. Sống cô quạnh trong một tuổi già trống trơ, lạnh lèo, lão có một nhu cầu rất tự nhiên: được làm cha, làm ông nội. Có bao nhiêu tình cảm chất chứa trong lòng, lão dồn hết vào con chó. Lão coi nó như một đứa con, rồi chăm chút cưu mang như một đứa cháu nội bé bỏng, côi cút: lão bắt rận, lão tắm, lão trò chuyện âu yếm, lão gọi là “cậu Vàng như bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự”, lão mắng yêu, lão cưng nựng, dấu dí. Cứ thế, ranh giới của sự phân đẳng người – vật (chủ sở hữu và vật bị chiếm hữu) đã bị xóa nhòa tự bao giờ. Dường như vật nuôi đã được người hóa. Ý thức chiếm hữu thông thường đã chuyển hóa, kết tinh thành một tình cảm thiết thân, máu thịt. Có phải đấy là bản tính tự nhiên xa xưa và bất diệt của con người? Bản tính ấy được và chỉ được bảo tồn nguyên vẹn trong những con người như lão Hạc? Và xem ra, chỉ khi nào con người tìm đến với những vật nuôi như cậu Vàng kia để thấy một sự chia sẻ và nương tưạ như là một đồng loại, khi ấy nó mới trở về với bản tính cội nguồn, về với cách sống thực sự nhân văn. Lão Hạc đã đến với con chó Vàng như thế! Cũng vì thế mà khi cuộc sống tàn ác buộc lão phải chà đạp, phải thủ tiêu quan hệ tình cảm này, lão đã rơi vào bi kịch. Lúc cùng đường, buộc phải trả con chó về địa vị thông thường của một vật nuôi, một tài sản, nghĩa là xóa bỏ tư cách một kỉ vật, một thành viên, một người bạn tận tụy trung thành, đối với lão là một tội tình không thể tha thứ. Lão coi đó là một sự lừa gạt phản phúc! Lão đã đau đớn, đã khóc như một đứa trẻ con. đã xưng tội trước ông giáo, những mong làm dịu bớt nỗi cào xé tâm can. Những giọt nước mắt của lão là những giọt nhân tính thanh khiết nhất mà cuộc vật lộn sinh tồn cứ lăm le cướp nốt của mỗi chúng ta! Rồi thì lão cũng dịu đi. Nhưng có lẽ không vì những lời an ủi của ông giáo. Nó tạm yên, chủ yếu vì lão cũng đang đi đến cái chết như cách lão giải thoát cho cậu Vàng thôi. Và thật kinh khủng, trên đời này có biết bao cách chết, vậy mà lão như muốn trừng phạt mình trước con chó Vàng yêu dấu: lão tự đánh bả chính mình! – Tự chọn cho mình một cái chết thê thảm của một con chó! Y như một sự chuộc tội, thanh minh với cậu Vàng của lão. Chao ôi! Có ngẫu nhiên không, khi Nam Cao viết cái kết cục đến với cậu Vàng là thằng Mục và thằng Xiên đè lên nó, kết cục với lão Hạc cũng là hai kẻ lực lưỡng đè trên lưng, còn lão thì rũ rượi, vật vã, sủi bọt? Một tương quan, thật tàn nhẫn, thật cay đắng! Con chó không chỉ làm hiện lên nguyên vẹn tính người tự nhiên sâu thẳng trong lão Hạc. Đằng sau đó, Nam Cao còn kín đáo kí thác một triết lí đau buồn về thân phận trớ trêu của con người trên mặt đất này.

Giá Trị Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Chí Phèo Của Nam Cao / 2023

A. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

B. Dàn ý chi tiết

a. Mở bài

Giới thiệu về tác giả Nam Cao và truyện ngắn Chí Phèo

Dẫn dắt vào vấn đề: giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo

b. Thân bài

Khái quát chung

Xuất xứ: Nam cao đặt tên cho tác phẩm này là Cái lò gạch cũ, 1941 đổI lạI là Đôi lứa xứng đôi, 1945 sửa lạI là Chí Phèo, in trong tập Luống cày.

Tóm tắt:

Chủ đề: Qua số phận của nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã lên án sâu sắc xã hội tàn bạo, chà đạp lên nhân phẩm con người đồng thời thể hiện tình thương yêu sâu sắc và niềm tin vào bản chất lương thiện của con người.

Nội dung

Nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình trong tác phẩm tạo nên những đoạn văn tuyệt bút. Số phận và bi kịch của Chí Phèo được đào sâu cực độ qua những đoạn văn hay như đoạn Chí Phèo thức tỉnh sau đêm say rượu gặp Thị Nở; đoạn Chí Phèo bị cự tuyệt tình yêu…

Ngôn ngữ, giọng điệu của Nam Cao được thể hiện một cách sinh động, đa dạng trong truyện ngắn này. Ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, khách quan, sắc lạnh lại vừa đằm thắm, trữ tình như hòa quyện, xuyên thấm vào nhau. Ngoài ra, giọng trần thuật cũng thay đổi phù hợp với diễn biến tâm lý nhân vật, khi thì dùng lời kể trực tiêp, khi thì nửa trực tiếp, khi lại có sự đan xen giữa hai giọng kể trên một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn (đoạn văn mở đầu tác phẩm, đoạn miêu tả tâm trạng khi ăn bát cháo hành, đoạn độc thoại nội tâm của Bá Kiến).

Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn: Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện (“Hắn vừa đi vừa chửi…”) với độc thoại của nhân vật (Ờ! Thế này thì tức thật!… Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau (đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,…), lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động (lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong). So với dung lượng của một truyện ngắn thì đây là một truyện tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động (chẳng hạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu).

c. Kết bài

Những cảm nhận và đánh giá khái quát về vấn đề

Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

​Đề bài: Giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

Nam Cao là một nhà văn luôn thành công ở hai phương diện của sáng tác đó là khám phá về nội dung và phát minh sáng tạo về hình thức. Chính điều đó đã nâng tầm vóc nhà văn Nam Cao thành một nhà văn lớn, một tác gia lớn của nền văn xuôi hiện đại. Truyên ngắn Chí Phèo 1941 đã được xếp vào hàng kiệt tác bởi Nam Cao đã ” khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” cả về nội dung và nghệ thuật. Ở tác phẩm này nhà văn Nam Cao đã thể hiện được một trình độ bậc thầy về nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, khám phá miêu tả sâu sắc tâm lí nhân vật, kết cấu tác phẩm một cách độc đáo và có một vốn ngôn ngữ phong phú sinh động cho mọi loại hinh nhân vật. Theo dõi từng trang truyện ngắn đặc sắc này chúng ta sẽ thấy rât rõ tài nghệ đó của Nam Cao.

Nói đến văn xuôi là nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, mỗi nhà văn có một cách thể hiện khác nhau và thành công ở những mức độ khác nhau. Đối với nhà văn Nam Cao ở tác phẩm này thì ông đã xây dựng được thành công cả tuyến nhân vật chính diện và phản diện và không những thành công mà thành công ở cấp điển hình.

Truyện ngắn Chí Phèo là một trong những truyên ngắn xuất sắc tiêu biểu của văn học hiện thực trước cách mạng tháng tám nói chung của nhà văn Nam Cao nói riêng. Tác phẩm này thành công trên nhiều phương diện cả nội dung và hình thức, nhưng đặc biệt nhất vẫn là nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm. Cùng một vấn đề rất phổ biến của xã hội lúc bấy giờ nhưng với tài nghệ của mình Nam Cao dẫ điển hình hoá được cả hai loại nhân vật chính diện và phản diện. Đọc tác phẩm này chúng ta vừa cảm phục được cái tâm của tác giả lại vừa cảm phục cái tài của tác giả. Cái tâm và cái tài đó là tiền đề để nhà văn thành công ở tác phẩm này.

Mong rằng, tài liệu trên đã giúp các em hiểu rõ hơn dụng ý cũng như tư tưởng của nhà văn Nam Cao qua những nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Chí Phèo. Chúc các em học tốt hơn truyện ngắn Chí Phèo với tài liệu văn mẫu này.

–MOD Ngữ văn HOC247 (tổng hợp và biên soạn)

Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành / 2023

Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Đặt vấn đề.

Nguyễn Trung Thành được mệnh danh là nhà văn của vùng đất Tây Nguyên, nhà văn

của những tính cách anh hùng. Ông thường viết về hai cuộc kháng chiến của dân tộc là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Trung Thành là “Rừng xà nu”. Tác phẩm được in lần đầu trên tạp trí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung bộ số 2 năm 1965 sau đó được in lại trong tập “Trên quê hương những anh hùng điện ngọc” năm 1969. Qua tác phẩm, ta có thể cảm nhận được những đặc sắc nghệ thuật trong ngòi bút viết truyện của Nguyễn Trung Thành.

Giải quyết vấn đề:

1. Giải thích:

Những đặc sắc nghệ thuật hay giá trị nghệ thuật là tất cả những yếu tố về hình thức của tác phẩm, được dử dụng đạt hiệu quả thẩm mĩ cao, làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm và tạo ra được những rung động thẩm mĩ trong lòng người đọc.

Với một tác phẩm tự sự, đặc sắc nghệ thuật bao gồm những yếu tố sau:

+ Thể loại.

+ Tình huống hoặc kết cấu.

+ Không gian và thời gian nghệ thuật.

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

+ Ngôn ngữ.

2. Phân tích, chứng minh:

Nguyễn Trung Thành đã xây dựng được kết cấu cốt truyện độc đáo:

Kết cấu đầu cuối tương ứng:

+ Mở đầu tác phẩm là những tai họa mà cả những cây xà nu cổ thụ và những cây con phải gánh chịu dưới làn mưa đại bác của kẻ thù: ” cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào bị thương”, ” nhựa ứa ra tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành những cục máu lớn”. Thế nhưng” đại bác lại không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng” để rồi” cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhủ khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”.

Hình ảnh những cây rừng xà nu bị tàn phá ở đoạn đầu tác phẩm là biểu tượng cho sự đau thương mất mát của con người, tuy nhiên, đoạn cuối tác phẩm lại khiến ta thấy thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, sức mạnh không ngừng lớn lên của những người dân Tây Nguyên .

+ Cái hay là câu truyện có kết cấu đầu cuối đồng tâm nhưng mở rộng. Mở đầu tác phẩm nhà văn có viết” Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời” và khép lại tác phẩm bằng câu văn ” Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.”

Đây là kết cấu vòng tròn vừa khép lại câu chuyện này nhưng lại mở ra một câu chuyện khác. Một mặt, nó khiến người đọc cảm tưởng như kì tích của anh hùng Tnú, của dân làng mà tác giả vừa kể chỉ là sự nối tiếp lịch sử ngàn xưa và câu chuyện sẽ còn được tiếp nối bởi những thế hệ mới ở làng Xô-man. Mặt khác, dường như câu chuyện không chỉ bó hẹp trong không gian của làng Xô-man mà được mở rộng ra khắp mọi miền đất nước.

Chỉ đổi một chữ “đồi” ở đoạn đầu thành chữ “rừng” ở phần cuối cùng, cách viết này rõ ràng nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc. Câu văn là một sự khẳng định chắc chắn: không gì có thể ngăn được sức sống mãnh liệt của cây xà nù và cũng chính là sức sống mãnh liệt, sự bất diệt, kiêu dũng và hùng tráng, sức mạnh không ngừng lớn lên của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung vươn đến ánh sáng của lí tưởng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại.

Đây là một sản phẩm tất yếu của một cảm quan nghệ thuật luôn bám sát xu hướng vận động của Cách mạng – cảm quan nghệ thuật của một nhà văn Cách mạng có tinh thần ái quốc, luôn ca ngợi sức mạnh chính nghĩa, phê phán tội ác của chiến tranh hủy diệt, luôn hướng đến ánh sáng, tương lai, hòa bình, tự do.

Kết cấu truyện lồng trong truyện:

Truyện ngắn này có hai mạch truyện lồng ghép vào nhau. Chuyện bắt đầu từ một lần về thăm làng Xô-man của Tnú sau ba năm xa làng đi bộ đội giải phóng. Trong đêm ấy, quây quần quanh bếp lửa, cả dân làng được nghe cụ Mết kể lại câu chuyện bị tráng về cuộc đời Tnú và chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô-man. Quá khứ của Tnú là quá khứ của một đời người, một thế hệ dân làng đau thương, khổ nhục dưới bàn tay của kẻ thù. Chuyện về Tnú là tình tiết chính và cũng là cốt lõi của câu chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô-man.

Số phận Tnú là số phận cá nhân của một con người nhưng gắn liền với số phận của cộng đồng. Bi kịch của Tnú là bi kịch của cộng đồng, là nỗi đau chung của những người dân mất nước. Cách xây dựng kết cấu này làm cho câu truyện mang đậm tính sử thi hùng tráng.

Kết cấu đan xen giữa hiện tại và quá khứ:

+ Ở phần đầu và phần cuối của truyện là thời gian hiện tại gần với sự việc Tnú về thăm làng chỉ một đêm và sáng hôm sau lại ra đi.

+ Phần giữa – cũng là phần chính của truyện, chủ yếu tái hiện những sự việc thuộc thời gian quá khứ. Nhưng đôi lúc mạch kể quay lại với thời gian hiện tại bằng việc miêu tả cảnh dân làng nghe cụ Mết kể chuyện về Tnú.

Cách phối hợp các lớp thời gian như vậy làm cho truyện vừa mở ra được nhiều sự kiện, biến cố, tái hiện được cả một giai đoạn lịch sử một cách ngắn gọn. Kết cấu cốt truyện độc đáo này giúp nhà văn có thể thay đổi được không gian, thời gian nghệ thuật một cách linh hoạt, làm tăng thêm tính trữ tình cho câu truyện, đồng thời cũng làm cho câu truyện trở nên linh hoạt, sinh động và hấp dẫn.

Xây dựng được không gian và thời gian nghệ thuật độc đáo:

Trong tác phẩm nhà văn đã xây dựng được 2 không gian nghệ thuật độc đáo, đó là không gian núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, tráng lệ với những cánh rừng xà nu bát ngát và không gian sinh hoạt mang đậm vẻ đẹp của vùng đất Tây Nguyên.

+ Tượng trưng cho những đau thương, mất mát, uất hận của dân làng Xô-man: Cả rừng xà nu đều bị thương, có những cây bị “chặt đứt ngang thân”, “chỗ vết thương nhựa ứa ra”, “bần đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”,…

+ Cây xà nu tượng trung cho sức sống mãnh liệt của dân làng Xô Man: Cây xà nu sinh sôi rất khỏe, “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn che chở cho làng” – cũng như cả dân làng Xô Man dù bị tra khảo, nhưng không ai khai nửa lời. Họ đoàn kết lại, dùng giáo mác tiêu diệt cả tiểu đội giặc.

+ Cây xà nu còn tượng trưng cho các thế hệ người dân Tây Nguyên kế tiếp nhanh chóng trưởng thành trong chiến tranh: Cạnh một cây mới ngả gục, có bốn năm cây con mọc lên “chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây ngã xuống” – cũng như anh Quyết hi sinh thì có Tnú nối tiếp, Mai ngã xuống thì có Dít thay, và tiếp đến là bé Heng,…

+ Cây xà nu tượng trưng cho khát vọng, tự do của người dân Tây Nguyên: Cây xà nu là một loại cây họ thông, gỗ và nhựa rất quý, sinh sôi nảy nở “rất khỏe, rất ham ánh sáng mặt trời”, “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cây xà nu có một sức sống mãnh liệt và chịu đựng dẻo dai “đạn đại bác không giết nổi chúng”. Nhà văn đã mượn những tính chất này của cây xà nu để nói lên sức sống mãnh liệt của người dân Tây Nguyên trong khát vọng vươn đến tự do trước sự đàn áp dã man của quân thù.

Không gian sinh hoạt mang đậm chất Tây Nguyên: là không gian gần gũi, thân thuộc, mang tính điển hình, tiêu biểu cho con người Tây Nguyên. Không gian ấy gợi cảm giác ấm áp, thân thương, là cái nôi nuôi dưỡng những người con kiên cường, anh dũng.

+ Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày thân thuộc với dân làng gắn bó với xà nu: ngọn lửa xà nu cháy bập bùng trong đống lửa ở nhà ưng( nhà hội họp, sinh hoạt chung của dân làng, như “nhà rông” của người Ba-na) tập hợp cả dân làng, khói xà nu đen nhẻm trên thân mình lũ trẻ, khói xà nu làm cho tấm bảng nứa đen kịt để anh Quyết dạy Mai và Tnú học chữ,…

+ Những sự kiện quan trọng của làng Xô-man cũng gắn liền với xà nu:

. Ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và cả dân làng đi vào rừng sâu lấy giáo, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy.

. Đêm đêm cả làng thức mài vũ khí dưới ánh đuốc xà nu

. Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu.

. Rồi ngọn lửa từ các đuốc xà nu soi sáng rực cả làng đêm nổi dậy, lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú, nhưng đống lửa xà nu lớn giữa nhà vấn đỏ, xác mười tên lính giặc ngổn ngang quanh đống lửa đó.

+ Những chi tiết mang đậm chất Tây Nguyên:

. “Vẫn là con đường cũ, qua cái nà bắp đã trồng sắn và cây pom chuvatws lên hai cái dốc đứng sững đã được cắt ra từng bực, chui qua một rừng lách rậm ngày mưa thì vô số vắt lá, rồi đến cái làng nhỏ của anh.”…

. “Bữa cơm tối ở nhà cụ Mết” với “món canh tàu môn bạc hà nấu lạt trong ống nứa… Ông cụ không nêm muối vào canh. Ông chia cho mỗi người mấy hạt, họ ãn sống từng hạt, ngậm rất lâu trong miệng để nghe chất mặn đậm đà tan dần. Cơm gạo trắng ghế rất nhiều củ pom chu”.

. Còn ở trong nhà, cụ Mết “gõ ống điếu lẽn đầu ông táo, bẻ một que nứa nhỏ ờ sạp, cẩn thận xoi cho hết tàn thuốc trong ống điếu…”. Cô thiếu nữ ngồi thụp xuống, “hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”…

. Tiếng chiêng nổi lên…

+ Ngôn ngữ đậm chất Tây Nguyên:

. Cách xưng hô của cụ mết với Tnú : Tau – mày.

. Cách nói: “Nó đấy! Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô-man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta. Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”.

Sự đan xen 2 không gian này khiến người đọc liên tưởng tới mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, với đất nước ; sự gắn bó khăng khít giữa số phận của cá nhân với vận mệnh của dân tộc.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

Cách xây dựng nhân vật:

Nhân vật được chia làm 2 loại chính diện(người dân làng Xô Man và cán bộ cách mạng bao gồm: Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Quyết, bé Heng,…) và phản diện(bọn giặc mà tiêu biểu nhất là thằng Dục ).

+ Tạo nên thế tương phản đối chọi giữa hai tuyến nhân vật như hai lực lượng tiêu biểu cho chính nghĩa và phi nghĩa, sự tàn bạo và lòng nhân ái, sự hủy diệt và sự sống bất diệt.

+ Lớp nhân vật chính diện rất nhiều thế hệ, sát cánh bên nhau, nối tiếp nhau hết lớp này đến lớp

khác tương ứng với hình ảnh rừng xà nu trùng trùng điệp điệp tràn đầy sức sống.

Xây dựng một hệ thống các nhân vật điển hình với những điểm chung mang tầm khái quát và những nét riêng thể hiện thính cách khác biệt.

Tác giả đã xây dựng được hình ảnh những người anh hùng ở cùng đất Tây Nguyên, họ đều là những người con ưu tú của làng Xô-man, được miêu tả tương ứng với rừng cây xà nu qua nhiều thế hệ.

Tất cả những nhân cật đều hiện lên chân thực, sinh động qua những chi tiết miêu tả về ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. Ngôn ngữ của nhân vật có tính cá thể hóa, thể hiện được khẩu khí của những người anh hùng.

Hệ thống nhân vật:

Cụ Mết: là già làng, là người lớn tuổi nhất, là thế hệ đi trước, là cây đại thụ của buôn làng, là linh hồn trong cuộc đấu tranh của dân làng Xô-man.

+ Cụ Mết hiện lên với một vẻ đẹp quắc thước, lực lưỡng và rắn rỏi, cụ là cây xà nu lực lưỡng và rắn rỏi nhất giữ rừng xà nu căng tràn sức sống.

+ Giọng nó có sức vang vọng, lay động lòng người, có uy lực như một mệnh lệnh chiến đấu, một lời liệu triệu đấu tranh, có tác động mạnh mẽ đến dân làng Xô-man.

+ Cụ rất yêu thương, quan tâm đến những người dân trong buôn làng của mình, cụ còn yêu và tự hào về buôn làng của mình.

+ Cụ có nhận thức đúng đắn về cách mạng, là một người chiến sĩ anh hùng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm.

+ Cụ là người có trách nhiệm gìn giữ, giáo dục và truyền lại cho con cháu truyền thống tốt đẹp của buôn làng.

Tnú: là thế hệ nối tiếp của cụ Mết, anh Quyết, là người con ưu tú của buôn làng Xô-man, là thế hệ đã trưởng thành dưới ánh sáng của lí tưởng cách mạng. Anh chính là kết tinh cho vẻ đẹp lí tưởng của con người Tây Nguyên trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

+ Số phận và bi kịch của Tnú là của cá nhân một con người nhưng lại gắn liền với cộng động, là nỗi đau chung của những người dân mất nước.

+ Tnú có lòng yêu nước, căm thù giặc, sớm giác ngộ lí tưởng và tuyệt đối trung thành với lí tưởng.

+ Tnú có tình cảm gắn bó sâu sắc với buôn làng của mình.

+ Tnú rất mực yêu thương vợ con.

+ Tnú là một người anh hùng kiên cường, bất khuất, mưu trí, dũng cảm.

Dít: là hiện thân cho vẻ đẹp của những người thiếu nữ ở núi rừng Tây Nguyên – 1 vẻ đẹp vừa duyên dáng, tình từ, vừa mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Nhân vật này còn là hiện thân cho những con người mang phẩm chất yêu nước anh hùng cách mạng, sống có lí tưởng, nhiệt huyết và sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cách mạng.

+ Dít hiện lên với vẻ đẹp duyên dáng, quyến rũ nhưng cũng rất mạnh mẽ, khỏe khoắn, một vẻ đẹp trong sáng, phóng khoáng, vẻ đẹp ấy khiến Tnú thấy có một luồng lạnh rân tân ở mặt và ngực.

+ Dít có lòng yêu nước, căm thù giặc và sớm giác ngộ lí tưởng.

+ Dít còn là một cô gái giàu tình cảm, yêu thương gắn bó với buôn làng và gia đình.

+ Dít còn là một cô gái duyên dáng, tinh tế và kín đáo.

+ Dít còn là một người có cá tính mạnh mẽ, gan góc, cứng cỏi, có bản lĩnh kiên cường.

Bé Heng: là thế hệ nối tiếp của Tnú, Mai và Dít, cậu sẽ nối tiếp con đường mà Tnú đã chọn, cậu sẽ viết tiếp vào những trang sử vàng đánh giặc giữ nước của đồng bào Xô-man.

+ Heng là nhân vật nhỏ tuổi nhất ở trong truyện, chỉ xuất hiện ở phần đầu tác phẩm nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc: Cậu mặc một chiếc áo bà ba dài phết đít mà vẫn đóng khố; cậu đội một cái mũ sụp xịn được của 1 anh giải phóng quân nào đó cậu mang một cái mũ sụp xin được của một anh giải phóng quân nào đó; cậu mang một khẩu súng trường đeo chéo ở ngang lưng.

+ Heng hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, hiếu động nhưng đã sớm có tinh thần cách mạng, sớm ấp ủ ước mơ trở thành một người chiến sĩ. Dù còn nhỏ tuổi nhưng cậu đã làm liên lạc, có đóng góp tích cực cho cách mạng và kháng chiến.

Tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều bút pháp: tả thực, lãng mạn, sử thi.

Góp phần tái hiện một cách chân thực cuộc đồng khởi của dân làng Xô Man ở Tây

Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, câu chuyện bi tráng về cuộc đời của Tnú, đồng thời làm cho tác phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hững lãng mạn.

Nhà văn đã lựa chọn và sử dụng nhiều chi tiết có giá trị biểu tượng:

+ Đôi bàn tay của cụ Mết: biểu tượng cho truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh của người dân Nam Bộ,…

+ Đôi bàn tay của Tnú: là đôi bàn tay lao động, đôi bàn tay chiến đấu của người chiến sĩ; là bàn tay của tình yêu thương, bàn tay đau đớn, căm thù; bàn tay biểu tượng cho sức mạnh khối đoàn kết cộng đồng, bàn tay vô địch trước sức mạnh của kẻ thù; bàn tay biểu tượng cho những đau thương mất mát và tố cáo tội ác của bọn Mỹ Ngụy.

+ Rừng xà nu.

+ Truyện được kể ở ngôi thứ ba nhưng nhà văn đã chuyển điểm nhìn trần thuật vào điểm nhìn của nhân vật( cụ Mết). Cách kể này là hoàn toàn phù hợp với kết cấu cốt truyện, làm cho câu truyện mang màu sắc chủ quan, giúp người đọc hình dưng một cách cụ thể, sinh động về sự việc, con người được kể.

+ Ngôn ngữ trần thuật đậm chất Tây Nguyên, phù hợp với tính cách nhân vật, giàu tính tạo hình.

+ Giọng điệu chủ đạo là tự hào, ngợi ca; giọng điệu của cụ Mết khi kể về cuộc đời Tnú trang nghiêm, âm vang, phảng phất lối kể khan Tây Nguyên.

Kết thúc vấn đề.

Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Ngắn Gọn / 2023

Hướng dẫn soạn bài Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn 9 ngắn gọn

Câu 1: Đọc văn bản Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh và trả lời các câu hỏi:a. Văn bản có tính chất thuyết minh không? Tính chất ấy thể hiện ở những điểm nào? Những phương pháp thuyết minh nào đã được sử dụng? b. Văn bản thuyết minh này có nét gì đặc biệt? Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? c. Các biện pháp nghệ thuật ở đây có tác dụng gây hứng thú và làm nổi bật nội dung cần thuyết minh hay không?a. Văn bản có tính chất thuyết minh. Tính chất ấy được thể hiện qua những điểm: lời cáo trạng, lời bào chữa để từ chúng ta biết thêm kiến thức về loài ruồi. Những phương pháp thuyết minh đã được sử dụng: định nghĩa, phân loại, dùng số liệu và liệt kê. b. Văn bản thuyết minh này có điểm đặc biệt ở chỗ nó diễn ra trong bối cảnh là một phiên tòa và nội dung của bài cung cấp cho chúng ta biết về loài ruồi. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật: kể chuyện, miêu tả, nhân hóa, ẩn dụ, … c. Các biện pháp nghệ thuật ở đây có tác dụng gây hứng thú và làm nổi bật nội dung cần thiết minh. Ngoài ra nó giúp cho văn bản hấp dẫn, lôi cuốn người đọc hơn.

Câu 2: Đọc đoạn văn sau và nêu nhận xét về biện pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh:Bà tôi thường kể cho tôi nghe rằng chim cú kêu là có ma tới. Tôi hỏi vì sao thì bà giải thích: “Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thường vọng từ bãi tha ma đến hay sao?”. Sau này học môn Sinh học tôi mđi biết là không phải như vậy. Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoại mùa màng. Chim cú là giống vật có lợi, là bạn của nhà nông. Sở dĩ chim cú thường lui tới bãi tha ma là vì ở đó có lũ chuột đồng đào hang. Bây giờ mỗi lần nghe tiếng chim cú, tôi chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng người bạn của nhà nông đang hoạt động.Đoạn văn trên đã sử dụng phương pháp thuyết mình với biện pháp nghệ thuật là kể chuyện. Thông qua đoạn văn này đã giúp cho chúng ta biết về tập tính của loài chim cú thong qua lời kể là người bà.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghệ Thuật Văn Xuôi Của Truyện Ngắn “Lão Hạc” / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!