Đề Xuất 12/2022 # Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Xây Dựng Hạ Tầng Giao Thông Đường Bộ Theo Hình Thức Bot / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Xây Dựng Hạ Tầng Giao Thông Đường Bộ Theo Hình Thức Bot / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Xây Dựng Hạ Tầng Giao Thông Đường Bộ Theo Hình Thức Bot / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phương thức đầu tư PPP theo hợp đồng BOT được ra đời được coi là công cụ hữu hiệu để thu hút vốn từ khu vực tư nhân. Nguồn: Internet

Đánh giá thực trạng đầu tư PPP theo hình thức xây dựng-vận hành-chuyển giao (BOT) với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam, bài viết đưa ra các kinh nghiệm và đề xuất một vài giải pháp nhằm giúp nâng cao hiệu quả đầu tư theo hình thức này trong thời gian tới.

Trách nhiệm tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ công cộng thuộc về Chính phủ các nước. Tuy nhiên, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) thường thiếu so với nhu cầu vốn đầu tư phát triển. Do đó, phương thức đầu tư PPP theo hợp đồng BOT được ra đời. Phương thức này được coi là công cụ hữu hiệu để thu hút vốn từ khu vực tư nhân bổ sung vào nguồn vốn đầu tư truyền thống và nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng các dịch vụ công (Yescombe, 2007).

Ở Việt Nam, Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 4/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức PPP quy định: Hợp đồng BOT là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, DN dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, DN dự án được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, DN dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thực trạng triển khai các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức BOT ở Việt Nam

Huy động nguồn lực xã hội để phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó có kết cấu hạ tầng giao thông là chủ trương đã được đưa vào các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ, góp phần đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Các số liệu thống kê cho thấy, đến hết tháng 3/2018, nguồn lực đầu tư từ xã hội vào các dự án kết cấu hạ tầng giao thông đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể, đã có 2.099 km đường được đầu tư, trong đó có 1.829 km (tương đương 81,17%) đã được đưa vào khai thác. Tổng mức vốn đầu tư lên đến 209.732 tỷ đồng, trong đó hình thức BOT với tổng mức vốn đầu tư là 181.542 tỷ đồng (chiếm 86,56% tổng mức vốn đầu tư chung). Như vậy, hình thức đầu tư BOT hiện là hình thức đầu tư phổ biến ở nước ta.

Số lượng các dự án BOT đã thực hiện: Thời gian qua, nhiều dự án kết cấu hạ tầng giao thông đầu tư theo hình thức BOT đã được đưa vào vận hành, khai thác có hiệu quả, chất lượng và năng lực phục vụ của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông theo đó cũng được nâng lên. Trong đó, các dự án theo hình thức BOT chiếm tỷ trọng lớn (56/62 dự án, tương ứng chiếm 90,32%) trong tổng số dự án đã được triển khai (Bảng 2).

Đánh giá hoạt động đầu tư theo BOT vào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam: Để đánh giá hoạt động đầu tư BOT, tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát tới 2 nhóm đối tượng là khu vực công và khu vực tư nhân. Kết quả thu được 91 bản trả lời hợp lệ, trong đó có 56 bản trả lời từ khu vực công, 35 bản trả lời từ khu vực tư nhân; 51,65 % người tham gia trả lời có trình độ từ thạc sĩ trở lên và 78,2% người trả lời là nam giới và 21,8% là nữ; 36,26 % số người trả lời thuộc nhóm từ 41 đến 50. Chỉ 3,3% trong độ tuổi dưới 30. Đặc biệt, có đến trên 70% số người được hỏi có độ tuổi từ 40 tuổi trở lên.

Vai trò của mô hình BOT đối với sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam: Hình thức BOT đóng vai trò quan trọng trong phát triển và cung cấp CSHT. Một số lượng lớn các dự án CSHT được phát triển thành công thông qua BOT với giá trị gia tăng và tiết kiệm chi phí đáng kể. Tuy nhiên, vai trò của BOT cũng có những nhìn nhận trái chiều về: (i) Mục đích tạo lợi nhuận của khu vực tư nhân thúc đẩy họ tìm kiếm các khoản tiết kiệm chi phí với chi phí của các dịch vụ có chất lượng và do đó là chống lại phúc lợi của công chúng; (ii) Sự tham gia của khu vực tư nhân trong các dịch vụ công cộng dẫn đến mất việc làm của khu vực công, do đó dẫn đến sự thiếu hợp tác giữa hai bên.

Số liệu khảo sát cho thấy, có 64/91 người được hỏi (tương ứng 70,33%) đồng ý và rất đồng ý với nhận định “Đầu tư theo mô hình PPP đang góp phần giải quyết nhu cầu xã hội về hạ tầng giao thông ở Việt Nam”; 62/91 người được khảo sát (tương ứng với 68,13%) đồng ý và rất đồng ý với nhận định “Đầu tư theo mô hình PPP đã giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông ở Việt Nam”; 76/91 người được khảo sát (tương ứng với 83,52%) đồng ý và rất đống ý với nhận định “Cần tiếp tục áp dụng mô hình PPP cho đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam”. Nhìn chung, đầu tư theo hình thức BOT đã góp phần giải quyết nhu cầu xã hội về hạ tầng giao thông, giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn đầu tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam. Đây là hướng đi cần thiết và nên tiếp tục áp dụng trong thời gian tới.

Kết quả đầu tư theo hình thức BOT với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam: Chỉ có 45/91 người được khảo sát (tương ứng 49,45%) đồng ý và rất đồng ý với nhận định “Đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông theo mô hình PPP đã áp dụng thành công trong thời gian qua ở Việt Nam”. Trong khi đó, có 31,87% người được khảo sát (tương ứng 29/91 người) rất không đồng ý và không đồng ý với nhận định trên; Chỉ có 46/91 người được khảo sát (tương ứng 50,55%) đồng ý và rất đồng ý với nhận định “Các dự án hợp tác công tư hạ tầng giao thông trong thời gian qua đã đạt được sự đồng thuận của xã hội và người dân”, trong khi, có 29,67% người được khảo sát (tương ứng 27/91 người) rất không đồng ý và không đồng ý với nhận định trên. Như vậy, đầu tư theo hình thức BOT được áp dụng với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam chưa thực sự được đánh giá là thành công chưa đạt được sự đồng thuận của xã hội và người dân.

Từ những phân tích đánh giá trên có thể nhận định tổng quát về việc triển khai các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức BOT ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, về kết quả đạt được:

Việc xã hội hóa (XHH) đầu tư các dự án giao thông theo hình thức BOT trong thời gian qua đã đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận, năng lực và chất lượng của hạ tầng giao thông Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Thông qua đầu tư theo hình thức BOT, nhiều DN đã có cơ hội tham gia thực hiện các dự án lớn, tiêu thụ một lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu sản xuất trong nước, tạo ra hàng vạn công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn tín dụng ngân hàng đã được đưa vào nền kinh tế. Các DN tham gia đầu tư và thi công công trình đã có điều kiện trưởng thành, nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Đối với người dân tham gia giao thông, đã được hưởng dịch vụ, hàng hóa công cộng tốt hơn, rút ngắn thời gian đi lại, giảm chi phí nhiên liệu, khấu hao phương tiện và bảo đảm an toàn giao thông.

Kinh nghiệm triển khai các dự án giao thông BOT thời gian qua cũng khẳng định hướng đi đúng đắn của mô hình đầu tư PPP theo hình thức BOT và cần tiếp tục phát triển, mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế khác. Đây cũng là cơ sở để Nhà nước hoàn thiện chính sách pháp luật, nâng cao hiệu quả và thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư tham gia, nhất là nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, hạn chế và nguyên nhân:

Mặc dù, đạt được những kết quả tích cực, song việc huy động vốn đầu tư xã hội hóa theo hình thức BOT trong thời gian qua còn có một số bất cập, hạn chế: Tính hiệu quả trong đầu tư và khai thác các công trình còn thấp, kết nối giữa các phương tiện vận tải còn kém; Chi phí đầu tư và sử dụng hạ tầng còn cao; Hầu hết các dự án giao thông đầu tư theo hình thức BOT thời gian vừa qua đều được chỉ định thầu nên tính cạnh tranh chưa cao, phần lớn các nhà đầu tư chủ yếu là nhà thầu xây lắp chuyển sang nên còn thiếu kinh nghiệm, năng lực chưa cao và chỉ quan tâm đến giai đoạn đầu tư xây dựng, chưa quan tâm đúng mức đến các khâu quản lý, vận hành và khai thác sau đầu tư; Một số dự án chất lượng còn chưa đáp ứng được yêu cầu; Công tác quyết toán còn nhiều khó khăn và kéo dài, nhiều dự án đã hoàn thành nhưng chưa hoàn thiện công tác quyết toán làm cơ sở xác định thời gian hoàn vốn và xác định lịch trả nợ gốc vay ngân hàng; Công tác tuyên truyền về đầu tư theo hình thức BOT còn phân tán và thiếu sự thống nhất, dẫn đến những hiểu lầm trong việc khai thác, vận hành các công trình giao thông đầu tư theo hình thức BOT, cũng như chưa tạo được sự đồng thuận, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hình thức đầu tư này chưa hoàn thiện, còn thiếu đồng bộ, chưa phù hợp thực tế và thông lệ quốc tế. Văn bản quy phạm pháp luật quy định về đầu tư theo hình thức PPP mới ở mức Nghị định của Chính phủ, do đó hành lang pháp lý về PPP vẫn còn phụ thuộc nhiều vào luật chuyên ngành, trong khi những văn bản này chủ yếu được xây dựng để điều chỉnh hoạt động đầu tư dự án công. Do vậy, mặc dù Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức PPP ra đời nhưng vẫn còn nhiều khó khăn về quy trình, thủ tục và nội dung cần thiết để thực hiện quyết định đầu tư dự án BOT; công tác giám sát, nghiệm thu và thanh toán công trình đặc biệt quản lý phần vốn góp của Nhà nước; công tác giám sát và quản lý chất lượng trong quá trình đầu tư, vận hành; các cơ chế ưu đãi, bảo đảm đầu tư…

Một số đề xuất, kiến nghị

Nhằm khắc phục những khó khăn còn tồn tại, thời gian tới cần nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm phát huy hiệu quả việc đầu tư, khai thác các công trình giao thông theo hình thức BOT nói riêng và mô hình PPP nói chung. Cụ thể:

Hai là, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực theo quy định của pháp luật về các dự án đầu tư theo hình thức BOT, giải thích và làm rõ sự cần thiết phải đầu tư dự án để tạo sự đồng thuận từ người dân, qua đó hỗ trợ kiểm tra, giám sát quá trình triển khai, thực hiện, vận hành và khai thác dự án.

Cùng với đó, đẩy mạnh công khai, minh bạch việc triển khai đầu tư các dự án thực hiện theo hình thức BOT, theo các hướng sau:

i) Bổ sung quy định về việc nộp hồ sơ dự sơ tuyển thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo lộ trình theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quy định này sẽ là nền tảng đầu tiên trong việc ứng dụng đấu thầu qua mạng đối với cả quy trình lựa chọn nhà đầu tư.

Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 4/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức PPP;

Ahmed M. Abdel Aziz., “Successful Delivery of Public-Private Partnerships for Infrastructure Development”, Journal of Construction Engineering and Management, ASCE, 2007;

Tiong, R. L K. (1996), “CSFs in competitive tendering and negotiation model of BOT projects”, Journal of Construction Engineering and Management, ASCE, 122(3), 205 – 211;

Yescombe, E.R. (2007), “Public-Private Partnerships: Principles o Policy and Finance”, London: Elsevier.

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Công / 2023

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng, trong thời gian tới phải nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công; nghiêm túc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về đầu tư công; khẩn trương rà soát, sửa đổi, những quy định của pháp luật về đầu tư công còn vướng mắc trong quá trình thực hiện tại Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn thi hành.

Đồng thời, tăng cường quản lý đầu tư công, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị đầu tư; tăng cường công tác rà soát để bảo đảm các chương trình, dự án bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm phải có đầy đủ các thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công; quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn dự phòng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn. Khoản vốn dự phòng chỉ được sử dụng cho các mục tiêu thật sự cần thiết, cấp bách theo quy định của Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư công, không được sử dụng vốn dự phòng cho các dự án không đúng quy định.

Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và các địa phương trong triển khai thực hiện. Chú trọng công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư công và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư cụ thể. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công định kỳ hoặc đột xuất theo chế độ báo cáo quy định; trong đó, phải đánh giá kết quả thực hiện, những tồn tại, hạn chế và đề xuất kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết những khó khăn, vướng mắc. Theo dõi, đôn đốc (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhà thầu) đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân dự án. Kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong triển khai kế hoạch đầu tư công, thực hiện dự án. Chủ động báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn, hằng năm để thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Về đầu tư khu vực tư nhân và dân cư, khuyến khích đầu tư tăng cường trang thiết bị có công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển những sản phẩm có giá trị cao; đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp phụ trợ,… Khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư chiều sâu các cơ sở nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong đó đặc biệt chú trọng đầu tư chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho sản xuất nông nghiệp.

Đối với FDI, thu hút chọn lọc các dự án có chất lượng, công nghệ cao, thân thiện môi trường, sản phẩm có sức cạnh tranh và phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế của từng ngành, từng vùng; đặc biệt thu hút các dự án quy mô lớn, sản phẩm cạnh tranh cao tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Chuyển dần thu hút vốn FDI với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Mở rộng các hình thức đầu tư, tiếp tục rà soát để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư. Đồng thời, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP); đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa đối với các dịch vụ công cộng, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình dự án cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân ở nông thôn; huy động nguồn lực đất đai và tài nguyên cho đầu tư phát triển.

PV

Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng / 2023

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta đặc biệt coi trọng, triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và đạt được nhiều kết quả rõ rệt. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được tăng cường, đã góp phần nâng cao nhận thức, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đẩy mạnh, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú hơn. Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về nội dung và phương pháp. Việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực… Mặc dù vậy, công tác tư tưởng có nơi, có lúc thiếu kịp thời, chưa sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên. Công tác thông tin, tuyên truyền một số đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời, hình thức chưa phong phú. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi tính chiến đấu chưa cao, còn bị động, lúng túng; việc nắm bắt, định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời. Kết quả thực hiện một số chủ trương của Đảng về quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, quản lý Internet, mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu. Vai trò của văn học, nghệ thuật trong công tác tư tưởng chưa được phát huy đầy đủ. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng yêu cầu; một số vấn đề mới, khó, phức tạp thực tiễn đặt ra chưa được làm sáng tỏ. Để góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, thời gian tới cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng về tư tưởng với những giải pháp sau: Một là, công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính chiến đấu, tính thực tiễn, kịp thời và hiệu quả; nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân. Đổi mới và triển khai đồng bộ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Ba là, dự báo sát, chủ động nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội bảo đảm sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; phát huy hơn nữa vai trò của văn học, nghệ thuật trên mặt trận tư tưởng. Bốn là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Năm là, đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo và hiện đại; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên...

Ths. Nguyễn Lương Thủy

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Công / 2023

Hệ thống quản lý đầu tư công của nước ta đã từng bước đổi mới và hoàn thiện, nhưng hiệu quả và hiệu suất hoạt động còn thấp và chứa đựng nhiều hạn chế, nên chưa mang lại những kết quả tích cực (bao gồm cả kết quả trực tiếp và tác động). Chúng ta đã nhận ra việc thiếu một bộ tiêu chí đánh giá khách quan, khoa học và cụ thể cho từng loại hình chương trình, dự án. Hệ thống luật pháp về quản lý, theo dõi và đánh giá hoạt động đầu tư công vẫn còn thiếu đồng bộ. Do đó, cần thiết phải xây dựng một quy trình theo dõi, đánh giá mạch lạc và toàn diện từ: (i) quan điểm về đầu tư: lập kế hoạch, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư; (ii) lập, thẩm định, phê duyệt; (iii) triển khai thực hiện, cho đến (iv) vận hành chương trình, dự án đầu tư công. Tóm lại, xuyên suốt tất cả các khâu của quy trình quản lý hoạt động đầu tư công thì theo dõi, đánh giá là một trong những khâu trọng yếu, cần được thiết kế và hoàn thiện như một công cụ để Nhà nước quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Hệ thống đánh giá này cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí khách quan, khoa học, cho phép tính điểm, xếp hạng một cách hệ thống, nhằm giúp lựa chọn được chương trình, dự án đầu tư công có chất lượng cao, loại bỏ các chương trình, dự án đầu tư công kém chất lượng ngay từ đầu quy trình lập và thực hiện kế hoạch đầu tư công.

Dựa trên các tiêu chí đánh giá phát triển được quốc tế công nhận, chúng tôi nghiên cứu và khuyến nghị sử dụng các tiêu chí để lựa chọn và đánh giá hoạt động đầu tư công, nhằm đảm bảo tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất và bền vững của đầu tư công tại Việt Nam.

Tiếp theo là phân tích các phương án/cách thức để đáp ứng yêu cầu hoặc giải quyết những vấn đề đã được xác định. Ngay sau đó là chuẩn bị hồ sơ sơ bộ các chương trình, dự án để tiếp tục xem xét và rà soát ban đầu nhằm kiểm tra tính nhất quán của chúng (tức là sự phù hợp với Chiến lược hoặc Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch/kế hoạch phát triển ngành/tiểu ngành). Chương trình dự án phải nhất quán với các chiến lược đầu tư của cấp ngành/tiểu ngành/Bộ.

Vì vậy, khung kết quả sẽ có tác dụng hỗ trợ công tác thiết kế và theo dõi chương trình, dự án. Phân tích khả thi chi tiết (tương tự như nghiên cứu tiền khả thi nhưng sâu hơn và chi tiết hơn) với một khung kết quả chi tiết để theo dõi: số liệu thống kê thu thập định kỳ, các kết quả trung gian, kết quả trực tiếp, tác động và các chỉ số của chúng). Phân tích khả thi chỉ được tiến hành sau khi chương trình, dự án đã vượt qua bước phân tích tiền khả thi, nhằm tiếp tục xem xét để ra quyết định đầu tư.

Để hỗ trợ quá trình đánh giá, cần phải xác định biên độ kết quả và thang điểm.

Đầu tiên, cần xây dựng một khung đánh giá kết quả đầu tư với 4 biên độ. Điều này có nghĩa là, dựa vào bằng chứng và các luận cứ cụ thể, mỗi tiêu chí chính sẽ được tính điểm và kết quả tính điểm sẽ được xếp vào một biên độ tương ứng. Có 4 biên độ đánh giá kết quả: “Rất tốt” nếu điểm đánh giá từ 80% trở lên (A); “Tốt” nếu điểm đánh giá nằm trong khoảng từ 60% đến dưới 80% (B); “Trung bình” nếu điểm đánh giá nằm trong khoảng từ 50% đến dưới 60% (C) và “Kém” nếu điểm đánh giá thấp hơn 50% (D).

Thứ hai, các dự án được đánh giá dựa trên các tiêu chí chính và tiêu chí thành phần. Bốn tiêu chí chính này nhất quán với các tiêu chí và tiêu chuẩn của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển – OECD và được lựa chọn cho công tác đánh giá đầu tư công tại Việt Nam ( xem bảng).

Bảng: Các tiêu chí và chỉ số đánh giá chính

– Lý do và luận chứng của chương trình, dự án

– Sự nhất quán với mục tiêu/chiến lược/kế hoạch/quy hoạch cấp quốc gia, ngành và tỷnh

– Sự cấp thiết và ưu tiên (như cứu trợ thiên tai, an ninh quốc gia…)

– Kế hoạch nguồn vốn

– Tính thực tiễn của phương án tổ chức thực hiện

– Sự phù hợp của thiết kế dự án, và tổng dự toán kinh phí như đã nêu trong quyết định phê duyệt dự án,

– Kế hoạch xây dựng năng lực cần thiết để quản lý và vận hành dự án

– Sử dụng khung kết quả, cơ sở dữ liệu và hệ thống báo cáo để theo dõi tiến độ/thành quả.

– Hiệu quả theo quy trình: mức độ huy động nguồn vốn so với kế hoạch trong quyết định phê duyệt dự án, tỷ lệ đầu tư so với đầu ra, kế hoạch luồng tiền so với tổng dự toán kinh phí (so với dự toán được nêu trong quyết định phê duyệt), thời gian đã sử dụng/thời gian quá hạn, tỷ lệ giải ngân so với dự báo luồng tiền, tỷ lệ sử dụng vốn, mức độ vượt chi (chi phí thực tế so với dự toán).

– Hiệu quả đầu tư: điều chỉnh quy mô/phạm vi dự án so với thiết kế đã được phê duyệt (nếu lợi ích phù hợp với các quy hoạch/kế hoạch tổng thể; tỷ suất nội hoàn tài chính và kinh tế dự kiến hoặc có thể tính được trên tổng đầu tư (hoặc trên kết quả sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ); hoặc tỷ lệ hiệu suất chi phí (khi lợi ích dự án không lượng hóa được) so sánh chi phí đơn vị trong một ngành giữa các tỉnh/thành hoặc chi phí của các phương án thay thế

– Hiệu quả xã hội và môi trường: những ảnh hưởng dự kiến hoặc quan sát được về giới, môi trường, tái định cư, việc làm và thu nhập hộ gia đình.

– Mức độ đạt mục tiêu hoặc kết quả trực tiếp dự kiến của đầu tư (như giảm chi phí, kiểm soát dịch bệnh, cải thiện sức khỏe trẻ em…).

Tính bền vững – xác định rủi ro và các biện pháp giảm thiểu

– Bản chất và mức độ của rủi ro trong việc duy trì liên tục các đầu ra và kết quả của chương trình, dự án và các biện pháp giảm thiểu rủi ro

– Kinh phí vận hành, bảo dưỡng (tự tạo được nguồn thu hay phải dựa vào NSNN?)

– Mức độ xây dựng năng lực (đào tạo cán bộ, trang thiết bị…)

– Khả năng duy trì tính liên tục đầu ra và kết quả trực tiếp.

Thứ ba, người đánh giá dựa trên mức độ đáp ứng các tiêu chí chính sẽ đưa ra điểm số, cùng với các bằng chứng và luận cứ thuyết minh. Sau đó, dự án đã được thẩm định hoặc đánh giá sẽ được xếp hạng tùy theo số điểm trung bình đạt được.

Việc đánh giá theo các tiêu chí chính được tính theo thang điểm trong từng phân kỳ: lựa chọn dự án đầu tư, đánh giá giữa kỳ, đánh giá cuối kỳ và đánh giá tác động (đánh giá sau đầu tư). Theo đó, tổng số điểm đánh giá là tổng hợp các điểm đánh giá về tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất và tính bền vững. Điểm tối đa mà mỗi tiêu chí nhận được chính là trọng số của tiêu chí đó. Trọng số lớn nhất (40%) được gán cho tiêu chí về tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực và giữ nguyên đối với tất cả các hình thức đánh giá nhằm khẳng định tầm quan trọng của tiêu chí này trong việc ra quyết định đầu tư công và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổng thể của chương trình đầu tư công – đây vốn đang là điểm yếu trong hệ thống quản lý đầu tư công của Việt Nam. Tính phù hợp, tính hiệu suất và tính bền vững được gán cho các trọng số khác nhau tương ứng với tầm quan trọng tương đối của chúng trong các bước khác nhau của quy trình quản lý đầu tư công và các hình thức đánh giá.

Các nội dung và trọng tâm đánh giá chính trong từng hình thức đánh giá đầu tư công, trong đó đánh giá về tiến độ thực hiện, thời điểm hoàn thành, chất lượng dự án, mức độ sẵn sàng của dự án khi có thay đổi, khả năng tuân thủ các quy định pháp luật, khả năng duy trì tính khả thi về kinh tế, nhận diện các rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả và tác động bền vững về môi trường, nhân lực, nguồn vốn, khả năng duy trì kết quả dự án sau đầu tư. Dựa trên các tiêu chí theo dõi, đánh giá trên có thể chi tiết hóa quy trình tính điểm, gán trọng số và xếp hạng các dự án đầu tư. Kết quả đánh giá (điểm số) sẽ được nhập bảng dành cho từng dự án đầu tư, trước khi đưa vào bảng tổng hợp toàn tỉnh/thành.

Đánh giá lựa chọn dự án đầu tư, hay còn gọi là thẩm định dự án, được tiến hành ở bước sàng lọc chương trình, dự án đầu tư công để kiểm tra chất lượng của chúng ngay từ đầu và cũng để thông báo cho việc ra quyết định (lựa chọn đầu tư) về tính đáng giá của đầu tư. Thẩm định sẽ đưa ra nhận định chung về tính phù hợp, tính khả thi và tính bền vững tiềm tàng của một sự can thiệp phát triển (tức là một dự án đầu tư công) trước khi ra quyết định cấp vốn.

Mục đích của thẩm định là cho phép các cơ quan ra quyết định có thể quyết định liệu hoạt động đang xét có phản ánh cách sử dụng hợp lý các nguồn lực của trung ương và địa phương hay không. Công tác thẩm định sẽ đánh giá luận chứng/biện minh của đầu tư, kinh phí thực hiện dự án và các yêu cầu về vốn, ước tính chi phí và lợi ích, các tác động vĩ mô và tác động khác có thể có, các kết quả trực tiếp/tác động phát triển, khung kết quả, kế hoạch thực hiện và theo dõi. Thẩm định kinh tế được tiến hành chặt chẽ sẽ giúp đánh giá hiệu quả phân bổ từ góc độ kinh tế quốc dân. Nó đòi hỏi phải sử dụng các tham số kinh tế vĩ mô (như giá trị kinh tế của vốn, lao động và tỷ giá hối đoái).

Sau khi có điểm tổng hợp kết quả đánh giá cấp dự án, các dự án sẽ được xếp hạng tương ứng với điểm số và biên độ đánh giá theo mẫu. Trong đó, xếp hạng dự án theo điểm trung bình tương ứng với các biên độ kết quả trong toàn tỉnh/thành, ở từng ngành, lĩnh vực: giao thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn…

Quy tắc ra quyết định lựa chọn đầu tư công để cấp vốn có thể dựa trên một số tiêu chính như: (1) phù hợp nhất với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở cấp ngành/tỉnh và quốc gia; (2) nếu dự án đầu tư công đề xuất không triển khai sẽ có tác động tiêu cực lớn đến nền kinh tế địa phương hoặc phúc lợi của cộng đồng hoặc môi trường địa phương; (3) dự án đầu tư công được đề xuất có tác động tiềm tàng lớn nhất đến giảm nghèo hoặc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (4) dự án đầu tư công được đề xuất có tỷ suất hoàn vốn đầu tư cao (cao hơn đáng kể so với chi phí cơ hội của vốn); (5) vững chắc về mặt xã hội và môi trường; và (6) dự án đầu tư công được đề xuất chỉ rõ được cơ chế cấp vốn khả thi cũng như nêu được phương thức triển khai thực tiễn.

Nói cách khác, các dự án đề xuất dùng nguồn vốn NSNN nên được xếp hạng theo thang điểm đánh giá và biên độ kết quả; và các quyết định lựa chọn sẽ tùy thuộc vào khả năng huy động nguồn ngân sách. Điểm đánh giá càng cao, thì kết quả đầu tư dự kiến hoặc thực tế của dự án càng cao (tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất và tính bền vững).

Có 05 khía cạnh cần đặc biệt quan tâm trong đánh giá giữa kỳ các chương trình, dự án đầu tư công. Đó là:

(1) Đánh giá toàn diện tất cả các nội dung: rà soát việc thực hiện dự án từ khâu ra quyết định đầu tư, dự toán ngân sách, thu xếp nguồn vốn/nhà đầu tư, lựa chọn nhà thầu, tính phù hợp tiếp tục của các nội dung trong dự án.

(2) Đánh giá kết quả thực hiện khối lượng công việc và tiến độ giải ngân

(3) Đánh giá tiến trình hướng tới việc đạt được các đầu ra, kết quả trực tiếp và mục tiêu theo kế hoạch. Nhận định về Khung theo dõi theo kết quả, cơ sở dữ liệu/hệ thống báo cáo và việc sử dụng chúng

(4) Kết quả triển khai đánh giá sử dụng Bộ tiêu chí đánh giá chính và thang điểm đánh giá

(5) Xác định các tồn tại để điều chỉnh và kiến nghị.

Đánh giá toàn diện tất cả các nội dung của chương trình, dự án sẽ bao gồm việc rà soát từ thiết kế đến quá trình triển khai thực hiện. Về cơ bản, lần đánh giá này sẽ xem xét về: (1) tính phù hợp trong thiết kế và cấu trúc chương trình, dự án (mức độ phù hợp tại thời điểm phê duyệt và tại thời điểm hiện hành), (2) đầu vào và đầu ra của dự án, (3) chi phí dự án; (4) các thỏa thuận thu xếp về tài chính và giải ngân; (5) lịch trình thực hiện dự án; (6) tổ chức triển khai thực hiện; (7) tuyển dụng và lựa chọn tư vấn; (8) kết quả công việc của tư vấn, nhà thầu và nhà cung ứng; (9) tiến bộ đạt được trong việc phát triển năng lực; và (10) các vấn đề khác (nếu cần thiết).

Khía cạnh quan trọng thứ hai trong đánh giá giữa kỳ là đánh giá về tiến bộ đạt được trong khối lượng công việc và tài chính, sử dụng dữ liệu và thông tin có được từ việc đánh giá toàn diện (như đã nêu trên).

Khía cạnh thứ ba là đánh giá kết quả công việc của chương trình, dự án sử dụng Bộ tiêu chí đánh giá chính và hệ thống tính điểm kết quả thực hiện. Ngoài ra, việc cho điểm còn sử dụng dữ liệu thu thập được từ đánh giá giữa kỳ thực hiện chương trình, dự án như đề cập ở trên.Lúc này, chương trình, dự án mới đi được nửa chặng đường. Bộ tiêu chí đánh giá chính cũng vẫn được sử dụng, có tính đến bối cảnh “giữa kỳ” của chương trình, dự án. Thí dụ, trong đánh giá tính phù hợp, đánh giá giữa kỳ sẽ xem xét mức độ tiếp tục phù hợp của ý tưởng, thiết kế và cấu trúc chương trình, dự án (tại thời điểm hiện tại và khả năng vẫn còn phù hợp trong quãng thời gian còn lại của chương trình, dự án). Tiêu chí hiệu quả sẽ tập trung vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực đến thời điểm này, kể cả hiệu quả về thời gian và chi phí trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, dự án. Trong trường hợp có những thay đổi lớn diễn ra khiến chi phí phát sinh thêm nhiều, có thể cần tiến hành phân tích tài chính và kinh tế để cập nhật lại tỷ suất hoàn vốn đầu tư theo giá tài chính và giá kinh tế. Đối với tiêu chí về tính hiệu suất, đánh giá giữa kỳ sẽ đánh giá những tiến triển trong việc đạt mục tiêu và kết quả trực tiếp của chương trình, dự án. Đánh giá tính bền vững thì tập trung vào những yếu tố rủi ro chính đối với tính bền vững của đầu ra và kết quả trực tiếp, cũng như những biện pháp đã triển khai nhằm khắc phục hoặc giảm thiểu rủi ro đó.

Đánh giá giữa kỳ cũng rà soát lại khung kết quả, cơ sở dữ liệu và thực tiễn thực hiện chế độ báo cáo, cập nhật chúng vì điều này rất cần thiết nhằm đảm bảo chúng vẫn tiếp tục phù hợp và được sử dụng sau này.

Cuối cùng, một mục tiêu chính của đánh giá giữa kỳ là nhận diện các yếu tố/vấn đề đang ảnh hưởng đến kết quả triển khai thực hiện chương trình, dự án và đưa ra giải pháp khắc phục chúng nhằm giúp quá trình thực hiện chương trình, dự án được hoàn tất một cách thành công và đạt được mục tiêu đề ra. Nói cách khác, đánh giá giữa kỳ tạo cơ hội để thực hiện những điều chỉnh cần thiết về phạm vi chương trình, dự án. Kết quả của đánh giá giữa kỳ cũng có ích trong việc ra quyết định về các phần tiếp theo của chương trình, dự án đầu tư công vì các chương trình, dự án này luôn được thực hiện theo phân kỳ.

Các nội dung được tính điểm đánh giá giữa kỳ: đánh giá xem thuyết minh, luận chứng của chương trình, dự án có còn tiếp tục phù hợp nữa không, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chương trình, dự án, đánh giá công tác quản lý tài chính theo kế hoạch được duyệt, đánh giá các tiêu chí thành phần, đánh giá tính hiệu quả theo quy trình, đánh giá tính hiệu quả về chi phí, đánh giá kế hoạch bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội (ví dụ vấn đề thu hồi đất, tái định cư), đánh giá mức độ đạt được các chỉ tiêu chỉ số hiện thực về đầu ra và kết quả trực tiếp của dự án, đánh giá tiến triển nhằm đảm bảo sự bền vững của đầu ra và kết quả trực tiếp của dự án… Theo đó, các chương trình, dự án được đánh giá theo mức độ: Rất tốt (trên 80%), Tốt (61-80%), trung bình (50-60%) hoặc Kém (Dưới 50%). Việc xếp hạng dự án theo số điểm đánh giá và biên độ kết quả tương ứng tại cấp tỉnh/thành cũng có thể được đánh giá kết quả giữa kỳ về xếp hạng dự án theo điểm trung bình tương ứng với các biên độ kết quả trong toàn tỉnh/thành đối với từng ngành, lĩnh vực.

Khung đánh giá rất hữu ích để quyết định và sau đó là thông báo cho các nhà quản lý về những tiến triển chậm chạp hoặc đình trệ trong các chương trình, dự án để cân nhắc xem liệu nên chấm dứt hay tiếp tục cấp vốn cho chương trình, dự án. Ví dụ, nếu kết quả đánh giá được xếp ở biên độ “Kém” (đạt được dưới 50% kết quả dự kiến ở thời điểm giữa kỳ) mà nguyên nhân gây ra sự trì hoãn đó không dễ giải quyết thì chương trình, dự án không nên tiếp tục được Chính phủ hỗ trợ nữa.

Đánh giá kết thúc bắt đầu bằng việc rà soát mức độ hoàn thành tất cả các nội dung của chương trình, dự án. Thực chất, đánh giá kết thúc sẽ xem xét dựa trên các tiêu chí: (1) mức độ phù hợp của thiết kế và cấu trúc chương trình, dự án (so thời điểm phê duyệt với thời điểm hiện hành); (2) đầu vào và đầu ra dự án; (3) chi phí dự án; (4) quản lý tài chính và giải ngân; (5) lịch trình triển khai thực hiện dự án; (6) tổ chức triển khai thực hiện; (7) tuyển dụng và lựa chọn tư vấn; (8) kết quả công việc của tư vấn, nhà thầu và nhà cung ứng; (9) tiến bộ đạt được trong việc phát triển năng lực; và (10) các vấn đề khác, nếu cần. Đánh giá kết thúc sẽ đánh giá xem chương trình, dự án có thực hiện được tất cả các hoạt động của dự án để đạt mục tiêu và kết quả trực tiếp dự kiến hay không.

Sau đó, đánh giá kết thúc sẽ tiến hành đánh giá chương trình, dự án bằng Bộ tiêu chí đánh giá chính và cho điểm kết quả thực hiện. Vì chương trình, dự án mới vừa kết thúc xong nên các tiêu chí đánh giá chính sẽ được sử dụng, có tính đến bối cảnh vừa kết thúc chương trình, dự án. Thí dụ, đối với tính phù hợp, đánh giá kết thúc sẽ nhận định về sự tiếp tục phù hợp của ý tưởng, thiết kế và cấu trúc chương trình, dự án (tại thời điểm hiện tại và tính phù hợp tiềm tàng trong quãng thời gian vận hành của chương trình, dự án). Tiêu chí hiệu quả sẽ tập trung vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong suốt thời gian thực hiện, kể cả hiệu quả về thời gian và chi phí trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, dự án. Phân tích tài chính và kinh tế cũng được tiến hành để cập nhật lại tỷ suất hoàn vốn đầu tư theo giá tài chính và giá kinh tế. Đối với tiêu chí về tính hiệu suất, đánh giá kết thúc sẽ đánh giá liệu có được quản lý để đạt mục tiêu và kết quả trực tiếp của chương trình, dự án hay không và nếu có thì ở mức độ nào. Đánh giá tính bền vững thì tập trung vào những yếu tố rủi ro chính đối với tính bền vững của đầu ra và kết quả trực tiếp cũng như những biện pháp đã triển khai để khắc phục hoặc giảm thiểu rủi ro đó, nhằm đảm bảo tính liên tục và bền vững của đầu ra, kết quả trực tiếp của chương trình, dự án.

Đánh giá kết thúc cũng rà soát lại khung kết quả, chương trình, dự án và thực tiễn thực hiện chế độ báo cáo, cập nhật chúng vì điều này rất cần thiết nhằm đảm bảo chúng vẫn tiếp tục phù hợp và được sử dụng trong theo dõi kết quả và phục vụ các đợt đánh giá trong tương lai như đánh giá sau đầu tư hay đánh giá tác động. Các tiêu chí tính điểm đánh giá kết thúc cũng tương tự như đánh giá giữa kỳ.

Việc xếp hạng dự án theo số điểm đánh giá và biên độ kết quả tương ứng tại cấp tỉnh/thành cũng có thể được đánh giá theo mẫu đối với từng ngành, lĩnh vực.

Không thể theo dõi, đánh giá nếu không có dữ liệu. Mỗi chương trình, dự án đều phải xây dựng cơ sở dữ liệu, bao gồm số liệu kỳ gốc, chỉ tiêu và các mức tiến bộ trong việc đạt chỉ tiêu. Hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất rất quan trọng, không chỉ phục vụ công tác đánh giá từng cơ sở dữ liệu cụ thể mà còn để tổng hợp ở cấp tiểu ngành, ngành và tỉnh/thành nhằm phân tích sâu thêm và tổng hợp kết quả thực hiện đầu tư. Hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất còn cho phép phần mềm hóa và giao diện với các cơ sở dữ liệu cũng như chế độ báo cáo khác trong hệ thống Chính phủ.

Hệ thống dữ liệu hiện nay vẫn được tiến hành thủ công, thiếu tổ chức và không được cập nhật thường xuyên. Cần phải có một cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo có hệ thống, thống nhất, được phần mềm hóa, tạo thuận lợi cho hệ thống theo dõi, đánh giá dựa trên kết quả. Các quy định hiện hành về đầu tư công chưa đề cập đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu ở cấp dự án, ngành và tỉnh/thành để thúc đẩy công tác theo dõi, đánh giá dựa trên kết quả cũng như đánh giá kết quả thực hiện chương trình, dự án đầu tư công.

Lồng ghép chương trình đầu tư công vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội thông qua khung kết quả: Đánh giá sau đầu tư

Vì thế, chúng tôi kiến nghị xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống báo cáo thống nhất cùng với những quy định và hướng dẫn cần thiết về biểu mẫu, cấu trúc cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo. Sau cùng, hệ thống này sẽ được phần mềm hóa. Điều đó sẽ giúp gắn chương trình, dự án đầu tư công với khung kết quả ở cấp tỉnh/thành/ngành và cuối cùng là kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia. Đánh giá kết thúc sẽ xem xét nhằm đảm bảo sự vận hành của cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo phục vụ theo dõi kết quả thống nhất của chương trình đầu tư công và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Mục đích chính của đánh giá sau đầu tư là xét xem liệu dự án đang xét có đạt được tất cả các nội dung/mục tiêu/kết quả trực tiếp như đã đề ra hay không. Ở thời điểm này, tức là ít nhất sau ba năm kể từ khi kết thúc triển khai thực hiện dự án, chương trình, dự án được chờ đợi đã đạt đến mức khai thác công suất tối đa, và do đó, các dữ liệu không chỉ về chi phí đầu tư mà cả chi phí vận hành và lợi ích phát sinh quan sát được cũng phải có.

Đánh giá sau đầu tư cũng sử dụng khung và tiêu chí đánh giá như trước, chỉ khác về “thời điểm”, tức là, đánh giá sau đầu tư được thực hiện khoảng ba năm sau khi kết thúc dự án.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Xây Dựng Hạ Tầng Giao Thông Đường Bộ Theo Hình Thức Bot / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!