Đề Xuất 11/2022 # Nâng Cao Chất Lượng Quy Hoạch Để Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Lực Đất Đai / 2023 # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Nâng Cao Chất Lượng Quy Hoạch Để Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Lực Đất Đai / 2023 # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nâng Cao Chất Lượng Quy Hoạch Để Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Lực Đất Đai / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các loại đất còn lại thuộc nhóm đất nông nghiệp cũng đạt chỉ tiêu khá, đơn cử như: Đất rừng phòng hộ quy hoạch đến 2020 được duyệt 115.700 ha, kết quả thực hiện đạt 116.462 ha, cao hơn 762 ha; đất rừng đặc dụng thực hiện đạt 98,85%; đất rừng sản xuất thực hiện đạt 99,25%; đất làm muối thực hiện đạt 97,67%… Nhóm đất nông nghiệp được sử dụng khá triệt để, hợp lý và hiệu quả, cùng với việc chú trọng ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi… đã tạo điều kiện cho người dân khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai vào phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, đất phi nông nghiệp được sử dụng đúng mục đích, đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ du lịch, chỉnh trang và xây dựng mới các khu dân cư đô thị và nông thôn.

Làm tốt công tác quy hoạch góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Trong ảnh: Tuyến đường ven biển Vĩnh Hy – Bình Tiên. Ảnh: Mai Dũng

Việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh đã đạt được kết quả nhất định, đáp ứng chỉ tiêu sử dụng đất cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, khai thác được tiềm năng đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu, cụm công nghiệp; các khu đô thị mới được hình thành với điều kiện về kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, xanh, sạch, đẹp. Một số dự án có quy mô lớn đang được nhà đầu tư triển khai tạo bước đột phá cho phát triển công nghiệp; tiềm năng và lợi thế mới của tỉnh bước đầu được phát huy, nhất là về điện gió, điện mặt trời, công nghiệp chế biến. Mặt khác, việc chuyển dịch đúng hướng cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, duy trì được tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông-lâm-thủy sản theo định hướng trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh.

Diện mạo xã Phước Hữu (Ninh Phước) ngày càng đổi mới. Ảnh: V.M

Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số vướng mắc, hạn chế làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh đó là: Việc đăng ký chỉ tiêu sử dụng đất của chính quyền các cấp còn chậm, chưa sát với thực tế. Một số dự án đăng ký nhu cầu sử dụng đất không phù hợp với khả năng và tiến độ thực hiện; một số dự án được giao đất, cho thuê đất chậm triển khai. Các giải pháp chưa đồng bộ, chưa khoa học dẫn đến chưa khai thác hết tiềm năng về đất đai… Nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, công tác xã hội hóa chưa cao, đặc biệt là vốn cho lĩnh vực văn hóa-xã hội, thể dục thể thao nên kết quả đạt thấp. Các nhu cầu sử dụng đất phát sinh kết hợp với sự tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh đã làm cho chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý sử dụng đất chưa nắm bắt kịp thời, dẫn đến nhiều bất cập trong quản lý, sử dụng và tạo ra sự chênh lệch giữa thực tế so với quy hoạch sử dụng đất đã lập.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai trên địa bàn tỉnh giai đoạn đến năm 2020, theo đồng chí Lê Ngọc Thạch, Phó Giám đốc Sở TN&MT cho biết, đầu tiên cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các sở, ngành, địa phương trong tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự thành công của mỗi kỳ quy hoạch, kế hoạch. Đồng thời, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được gắn chặt với nhiệm vụ chuyên môn của từng đơn vị kết hợp với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Các cấp, các ngành cần huy động mọi nguồn lực, vốn đầu tư để thực hiện các công trình, dự án đã đăng ký nhu cầu sử dụng đất trong kỳ điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đề ra .

Mai Dũng

Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Và Vấn Đề Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đai / 2023

Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai,.. Cùng tìm hiểu về khái niệm quản lý nhà nước về đất đai và các nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai ở bài viết sau đây:

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại đóng vai trò quan trọng cho tồn tại và phát triển của loài người, lại là nguồn lực khan hiếm không thể tạo ra được. Vì vậy nó trở nên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cho sự sống của động, thực vật và con người trên trái đất.

Quản lý Nhà nước về đất đai và vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai

Đất đai tham gia mọi hoạt động kinh tế xã hội. Nó là địa điểm cho mọi hoạt động kinh tế xã hội, nó cung cấp mặt bằng cho một số ngành sản xuất vật chất như xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng ….Không những thế đất đai kết

hợp với một số điều kiện tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế của đất nước nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó, tạo lợi thế các vùng kinh tế.

Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nhưng ở những vị trí khác nhau. Với ngành nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, công cụ lao động. Với ngành công nghiệp, đất đai là địa điểm không thể thiếu được và cũng không gì thay thế được. Với ngành vật liệu xây dựng, đất đai là nguyên liệu đầu vào rất quan trọng …

Đất đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ quốc gia, như vậy với mỗi quốc gia đều có lãnh thổ riêng, nên đất đai đều bị giới hạn bởi ranh giới giữa các quốc gia.

Từ sự quan trọng của đất đai đối với đời sống kinh tế xã hội, ta cần phải quản lý đất đai, phải có biện pháp để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả nhất, hợp lý nhất tránh tình trạng để lãng phí tài nguyên, tránh sử dụng bừa bãi đất đai gây nên những hậu quả khó lường: như cạn kiệt tài nguyên, sử dụng không có hiệu quả, bỏ hoang hoá đất đai ….

Luật Đất đai năm 1993 của nước ta quy định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng”1;

Ta thấy rằng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, có vai trò quyết định đến sự tồn vong của xã hội loài người nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế – xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động sản xuất nào, cũng như không thể nào có sự tồn tại cho loài người. Đất đai cũng là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, điều kiện cho sự sống của động thực vật và con người trên trái đất.

Do đất đai có vai trò quan trọng như thế nên quốc gia nào cũng cần phải tổ chức cho hợp lý hệ thống quản lý đất đai của nước mình nhằm mục đích phát triển kinh tế.

Trong hệ thống quản lý thì người ta luôn phải giải quyết tốt mối liên hệ giữa ba yếu tố: con người, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy. ở đây trong hệ thống quản lý đất đai thì mối liên hệ giữa ba yếu tố này lại càng quan trọng hơn. Trong một hệ thống thì yếu tố con người bao giờ cũng quan trọng nhất, vì con người chính là đối tượng làm ra văn bản, mà cũng là đối tượng tổ chức hệ thống tổ chức bộ máy. Trong hệ thống quản lý đất đai thì cần phải có những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất để làm ra các văn bản phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, của đất nước, phù hợp với xu thế của thời đại, có như thế thì mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị – kinh tế – xã hội đất nước. Vì đất đai có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như sự tồn vong của một quốc gia.

Nhân tố con người chính là nhân tố làm ra hệ thống chính sách và cũng là nhân tố thực thi các chính sách đó để điều hành bộ máy hoạt động một cách nhịp nhàng và có hiệu quả. Nếu chính sách đề ra là phù hợp với thực tế mà nhân tố con người thực thi chính sách không có đủ trình độ hay không có đủ phẩm chất thì sẽ dẫn đến tình trạng bộ máy vận hành không có hiệu quả.

Tổ chức bộ máy của một hệ thống quản lý, thì cần phải dựa trên cơ sở của nhân tố con người và hệ thống chính sách mà tổ chức cơ cấu của tổ chức bộ máy sao cho có hiệu quả. Tổ chức bộ máy phải tuân thủ các quy định của chính sách nhưng phải phù hợp với yếu tố con người sẵn có trong hệ thống quản lý. Tuỳ vào khả năng của từng cá nhân mà phân công nhiệm vụ một cách hợp lý đối với từng bộ phận của bộ máy. Để hệ thống hoạt động nhịp nhàng thì ngoài nhân tố con người và hệ thống chính sách tốt thì cần phải tổ chức bộ máy cũng phải tốt, đó chính là sự bố trí hợp lý từng cá nhân của bộ máy vào từng nhiệm vụ và vị trí.

Việc hình thành được tổ chức bộ máy trong hệ thống quản lý đất đai được tốt thì sẽ có vai trò quan trọng trong việc vận hành hệ thống quản lý đất đai một cách hợp lý. Một khi bộ máy quản lý đất đai vận hành một cách nhịp nhàng thì nó sẽ tạo ra một kết quả rất lớn trong việc quản lý đất đai. Tuy nhiên đối với thể chế chính trị của mỗi nước thì lại có một hệ thống quản lý đất đai riêng phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện địa lý của nước đó. Trong mỗi hệ thống thì các yếu tố cơ bản để cấu thành hệ thống là giống nhau nhưng sự khác nhau của mỗi hệ thống chính là chính sách của mỗi nước, dẫn đến tổ chức bộ máy khác nhau.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ viết thuê luận văn cao học Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

2. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối và phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai.

Đất đai là nhu cầu thiết yếu của loài người, là những yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành bất động sản. Trong những năm chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì những yếu tố thị trường trong đó có thị trường bất động sản đang trong quá trình hình thành và phát triển. Đó chính là các hoạt động kinh doanh, buôn bán đất đai nhà cửa đang diễn ra một cách rất sôi động.

Thực tế thị trường bất động sản đã có và hoạt động rất mạnh, nhưng chưa có thể chế rõ ràng, phát triển còn chậm chạp, tự phát thiếu định hướng. Cùng theo đó là thị trường hàng hoá, dịch vụ phát triển nhanh nhưng cũng thiếu định hướng và còn mang tính tự phát. Thị trường sức lao động cũng phát triển chậm chạp, thiếu quản lý và chưa có định hướng rõ ràng cho nó. Thị trường vốn công nghệ, thông tin còn yếu kém trong khi đó việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và trong cuộc sống còn rất yếu .

Vì vậy vai trò của nhà nước là quản lý các thị trường để bổ sung những lỗ hổng của thị trường và thúc đẩy sự hình thành đồng bộ các loại thị trường tạo sự vận động nền kinh tế đa dạng. Đồng thời quản lý nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường là cần thiết nhằm ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái, các mặt tiêu cực của nền kinh tế, của thị trường và để sử dụng các tiềm năng có hiệu quả.

Đất đai cũng không nằm ngoài sự quản lý của nhà nước. Với nhu cầu khách quan của việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất – một tài nguyên có hạn và không sản xuất được – đã thúc đẩy nhà nước phải ngày càng tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đời sống của nhân dân. Nhưng để quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên quý hiếm này, từ năm 1993 Luật Đất đai thông qua đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua đó nhà nước đưa ra và thừa nhận các quyền của con người về đất đai: như quyền sử dụng đất đai, quyền thừa kế, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, cầm cố, góp vốn vào liên doanh …

Nhà nước đưa ra những quy định thị trường mua bán bất động sản để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia thị trường một cách chính đáng. Nhà nước cũng hỗ trợ các hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường bất động sản, bằng cách tạo điều kiện thuận lợi thông qua các công cụ của mình, chính sách của mình. Đồng thời dựa vào các quy định pháp luật đất đai, Nhà nước thanh tra, xử lý các vụ tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo về các vấn đề nảy sinh trong quan hệ đất đai.

3. Các phương pháp và công cụ quản lý nhà nước về đất đai

3.1. Các phương pháp thu thập thông tin về đất đai

Phương pháp thống kê: là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế, xã hội. Đây là phương pháp mà các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và sử dụng các số liệu trên cơ sở đã tính toán các chỉ tiêu. Qua số liệu thống kê phân tích được tình hình, nguyên nhân của sự vật và hiện tượng có thể tìm ra được tính quy luật và rút ra những kết luận đúng đắn về sự vật, hiện tượng đó. Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp thống kê để nắm được tình hình số lượng, chất lượng đất đai, nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ quan có kế hoạch về quản lý đất đai.

Phương pháp toán học: là phương pháp quan trọng do sự tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và ngày càng chứng tỏ tính cấp thiết của nó trong công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng. Phương pháp toán học sử dụng ở đây là phương pháp toán kinh tế, các công cụ tính toán hiện đại được dùng để thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin… giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề xã hội phức tạp. Trong công tác quản lý đất đai, phương pháp toán học được sử dụng nhiều ở các khâu công việc như: thiết kế, quy hoạch; tính toán quy mô, loại hình sử dụng đất tối ưu…

Phương pháp điều tra xã hội học: Đây là phương pháp hỗ trợ, bổ sung, nhưng rất quan trọng. Thông qua điều tra xã hội học, Nhà nước sẽ nắm bắt được tâm tư,nguyện vọng của các tổ chức và các cá nhân sử dụng đất đai. Mặt khác qua điều tra xã hội học, Nhà nước có thể biết sâu hơn diễn biến tình hình đất đai, đặc biệt là nguyên nhân của tình hình đó. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, phạm vi, quy mô về vốn và người thực hiện mà trong điều tra có thể lựa chọn các hình thức như: điều tra chọn mẫu, điều tra toàn diện, điều tra nhanh, điều tra ngẫu nhiên…

3.2. Các phương pháp tác động đến con người trong quản lý đất đai

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý không trực tiếp như phương pháp hành chính. Phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý đất đai là cách thức tác động của Nhà nước một cách giản tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế để đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động của mình sao cho có hiệu quả nhất. Trong công tác quản lý, phương pháp kinh tế là phương pháp mềm dẻo nhất, dễ thu hút đối tượng quản lý, do vậy nó ngày càng mang tính phổ biến và được coi trọng. Mặt mạnh của phương pháp kinh tế là ở chỗ nó tác động vào lợi ích của đối tượng bị quản lý làm cho họ phải suy nghĩ, tính toán và lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất vừa đảm bảo lợi ích của mình, vừa đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội.

Phương pháp kinh tế nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giúp cho Nhà nước giảm bớt được nhiều công việc hành chính như công tác kiểm tra, đôn đốc có tính chất sự vụ hành chính. Vì vậy, sử dụng phương pháp này vừa tiết kiệm được chi phí quản lý, vừa giảm được tính chất cứng nhắc hành chính, vừa tăng cường tính sáng tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Một trong những thành công lớn của Nhà nước trong công tác quản lý đất đai là việc áp dụng phương pháp khoán trong nông nghiệp và giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, đã tạo ra động lực to lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cho phép sử dụng có hiệu quả đất đai. Đây chính là Nhà nước đã áp dụng phương pháp kinh tế trong quản lý đất đai.

Phương pháp tuyên truyền, giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh kế – xã hội nói chung. Tuyên truyền, giáo dục là một trong các phương pháp không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước bởi vì mọi đối tượng quản lý suy cho cùng cũng chỉ là quản lý con người mà con người là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội và họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng. Do đó, cần phải có nhiều phương pháp tác động khác nhau trong đó có phương pháp giáo dục. Trong thực tế, phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác, hỗ trợ cùng với phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác. Nếu chúng ta tách rời phương pháp giáo dục với các phương pháp khác, tách rời giáo dục với khuyến khích lợi ích vật chất, tách rời giáo dục với sự cưỡng chế bắt buộc thì hiệu quả của công tác quản lý không cao, thậm chí có những việc còn không thực hiện được. Nhưng nếu chúng ta kết hợp tốt, kết hợp một cách nhịp nhàng, linh hoạt phương pháp giáo dục với các phương pháp khác thì hiệu quả của công tác quản lý sẽ rất cao. Nội dung của phương pháp giáo dục rất đa dạng, nhưng trước hết phải giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung; chính sách, pháp luật về đất đai nói riêng thể hiện qua các luật và các văn bản dưới luật.

3.3. Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai

3.3.1. Công cụ pháp luật

Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước. Từ xưa đến nay, Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp luật. Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của con người.

Pháp luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai. Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong các mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới xử lý được. Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác. Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụđó mới được thực hiện. Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất. Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết tết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất.

3.3.2. Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Vì vậy, Luật Đất đai 2003 quy định “Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật”. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai.

Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý. Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai. Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí. Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình. Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnh thổ và theo các ngành. Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp hành chính, gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của cả nước, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã -Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành công nghiệp, quý hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông.

3.3.3. Công cụ tài chính

Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế – xã hội.

Các công cụ tài chính trong quản lý đất đai

-Thuế và lệ phí: là công cụ tài chính chủ yếu được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý đất đai. Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các loại thuế chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như sau:

Thuế sử dụng đất;

Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có);

Các loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính.

Giá cả: Đối với đất đai hiện nay, Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại đất cụ thể được quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ để làm cơ sở chung cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh làm căn cứ tính giá đất và thu thuế sử dụng đất; thu tiền khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.

Ngân hàng là công cụ quan trọng của quan hệ tài chính. Ngoài nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ nói chung nó còn được hình thành để cung cấp vốn cho các công lệnh về khai hoang, cải tạo đất…

* Vai trò của công cụ tài chính trong quản lý đất đai

Tài chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.

Tài chính là công cụ mà Nhà nước thông qua nó để tác động đến các đối tượng sử dụng đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng đất đai. Các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Tài chính là công cụ quản lý quan trọng cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và kết hợp hài hoà giữa các lợi ích.

Tài chính là công cụ cơ bản để Nhà nước tăng nguồn thu ngân sách.

4. Quy hoạch sử dụng đất đai

4.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai

Trước tiên ta có thể đặt câu hỏi quy hoạch đất đai là gỡ? Thật vậy về mặt thuật ngữ quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức một đối tượng nào đó nhằm sử dụng theo như mong muốn. Cũn “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định, có vị trí hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên theo thời gian hoặc mới tạo thành ( đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất thảm thực vật … ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.

Muốn sử dụng đất phù hợp với từng mục đích phải trải qua một quá trình nghiên cứu lao động sáng tạo, nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định, đó cũng là nội dung của quy hoạch sử dụng dất đai.

Về mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai ( gọi là các mối quan hệ đất đai ) và việc tổ chức sử dụng đất (coi đất đai như là tư liệu sản xuất đặc biệt ) gắn chặt với phát triển kinh tế- xã hội. Mọi hoạt động sản xuất sinh hoạt của con người đều gắn với một đơn vị lãnh thổ nhất định. Điều này cũng đồng nghĩa với quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế.

-Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất.

-Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật trong điều tra khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định xử lý số liệu …

-Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo đúng pháp luật.

-Từ đó có thể đưa ra định nghĩa: ” Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả caonhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai ( khoanh định cho các mục đích và các ngành ) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất ( các giải pháp sử dụng cụ thể ) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường…”

Như vậy, thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định để đưa đất đai vào sở dụng bền vững mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt.

Quản lý quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý sẽ ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sức sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế vận hành theo chính sách nền kinh tế thị trường hiện nay.

4.2. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

4.2.1. Quy hoạch sử dụng đất dai theo lãnh thổ

Đây là loại hình quy hoạch theo các đơn vị cấp hành chính. Mỗi cấp đều tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai cho đơn vị mình.

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ. Loại hình này được thực hiện theo nguyên tắc: Từ trên xuống dưới, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước.

Mục đích của quy hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính là:

Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn.

Làm căn cứ để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của địa phương.

Phục vụ cho công tác thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.

4.2.2. Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành

Các ngành kinh tế cũng chỉ là các ngành sản xuất do con người thực hiện trên một đơn vị đất đai nào đó, luôn gắn với đất đai nên mỗi ngành không thể thiếu quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình, nhằm đảm bảo cơ cấu sử dụng đất hợp lý trong mỗi ngành. Tuy nhiên khi quy hoạch phải có sự phối hợp của nhiều ngành.

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất trong phạm vi ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương ứng.

Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và theo ngành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội mang tính chiến lược, xác định mục tiêu phát triển nhiều ngành. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể này để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình.

Như vậy quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có định hướng cho quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành.

Quy hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ xác định cơ cấu sử dụng đất đai và vị trí những khoanh đất dùng cho các mục đích khác nhau và là một trong những yếu tố chủ yếu xác định bố cục không gian của khu vực đô thị.

4.3. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai

(1) Tính lịch sử- xã hội

Xã hội loài người từ trước tới nay, Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có một phương thức sản xuất nhất định, đặc trưng bởi mối quan hệ giữa người với sức tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Trong quy hoạch sử dụng đất đai luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai- là sức tự nhiên thông qua việc đo đạc khoanh định, thiết kế … và mối quan hệ giữa người với người ( xác nhận bằng văn bản- giấy CNQSDĐ ). Quy hoạch sử dụng đất đai vừa thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển các mối quan hệ sản xuất. Do đó nó luôn là một bộ phận quan trọng của phương thức sản xuất xã hội.

Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai luôn phát triển, biến đổi và hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển lịch sử-xã hội đáp ứng cho các nhiệm vụ kinh tế xã hội và chính trị khác nhau. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa, nặng về mặt pháp lý là phương tiện mở rộng củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai… ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do đó quy hoạch sử dụng đất đai đảm bảo lợi ích cho người sử dụng đất và phục vụ quyền lợi của toàn xã hội. Đặc biệt là góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn ( nếu như trong sản xuất nông nghiệp người nông dân gắn chặt với ruộng đồng, với đất đai thì khi có sự chuyển cơ cấu sử dụng đát sẽ làm thay đổi hình thức quan hệ sử dụng đất từ bị động sang chủ động.

Hiện nay trong nền kinh tế thị trường quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau. Vì vậy có thể nói sự phát triển của xã hội là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai.

Quy hoạch sử dụng đất đai điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các nghành, lĩnh vực xác định phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế-xã hội đảm bảo phát triển bền vững.

(3) Chiến lược dài hạn sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng trong 10 năm nhung có tính chiến lược từ 15-20 năm và trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Do vậy, cần phải lập dự báo cáo cho việc sử dụng đất đai trong thời gian dài hơn là 15- 20 năm. Việc dự báo không đòi hỏi chi tiết, chính xác cao mà cơ bản, nó xác định được đường lối sử dụng đất trong thời gian dài. Sau đó, dựa vào số liệu thống kê và đánh gia hiện trạng mới đưa ra phưong án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng và bảo vệ quỹ đất đai trong thời gian trước mắt và lâu dài.

(4) Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô

Đây là đặc điểm do đặc tính trung và dài hạn của giai đoạn quy hoạch quy định. Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất ở mức độ khái quát. Vì vậy quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang tính vĩ mô. Do khoảng thời gian dự báo dài, khó xác định các yếu tố ảnh hưởng nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái quát thì quy hoạch sẽ càng ổn định và có tính thực tiễn cao.

(6) Tính khả thi

Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mơí thích hợp hơn trong một thời kỳ nhất định. Sự biến động của các nhân tố trong quy hoạch sử dụng đất theo nhiều phương diện khác nhau ta không dự báo trước được và khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ, những dự báo trước đây không còn phù hợp thì phương án quy hoạch sẽ được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là một quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc: quy hoạch-thực hiện-quy hoạch lại-tiếp tục thực hiện với tính khả thi ngày càng cao.

Từ các đặc điểm trên cho thấy quy hoạch sử dụng đất đai có sự kế thừa và có sự tham gia của nhiều nghành được hoạt động dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thông qua các chính sách cụ thể. Mức độ phù hợp của chính sách đất đai có tác động lớn đến tính khả thi của một phương án quy hoạch.

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là đất đai, vì vậy để đạt được tính đầy đủ, hợp lý, khoa học, và có hiệu quả đòi hỏi công tác quy hoạch sử dụng đất đai phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc, xem xét chi tiết các yếu tố tác động đến sử dụng đất, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ đất và môi trường.

Tuy nhiên sự ảnh hưởng của các yếu tố trên luôn được xem xét trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật. Một phương án quy hoạch không thể thực hiện được khi nó đi ngược với những quy định của pháp luật. Vì vậy xem xét những căn cứ pháp lý là cần thiết và được xem là điều kiện đủ trong quy hoạch sử dụng đất đai.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực / 2023

Giải pháp nâng cao chất lượng ng

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

BT- Với mục tiêu phát triển trọng tâm 3 trụ cột kinh tế chính là công nghiệp, du lịch, thể thao biển và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với xây dựng chuỗi giá trị trong giai đoạn 2020 – 2025, công tác dự báo nhu cầu và đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tỉnh là cần thiết và cấp bách.

Ảnh: Đình Hòa.

Nguồn nhân lực còn yếu và thiếu

Hiện nay, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trên địa bàn tỉnh có 25 cơ sở GDNN, trong đó có 16 cơ sở GDNN công lập và 9 cơ sở GDNN ngoài công lập tuyển mới, đào tạo nghề cho 14.327 người. Trường Đại học Phan Thiết và Cao đẳng Cộng đồng đã tuyển mới 1.814 sinh viên sau đại học, đại học, cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm, trong đó đại học sư phạm 1.614 sinh viên, cao đẳng sư phạm 132 sinh viên.

Năm 2019, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 726.800 người. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 16,34%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động phổ thông trong độ tuổi năm 2019 là 2,94%, trong đó khu vực thành thị 5,2%, khu vực nông thôn 1,58%. Các số liệu trên cho thấy tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp. Nguyên nhân quan trọng nhất là chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng chưa cao, lao động mới tốt nghiệp đa số chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của cơ quan, doanh nghiệp.

Ngoài ra, công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực tỉnh có phần chưa theo kịp sự phát triển của thực tế, các nguồn lực đầu tư đào tạo nguồn nhân lực còn thấp, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao. Theo Tiến sĩ Trần Tình – Trưởng Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế – Trường Đại học Phan Thiết, thị trường lao động của tỉnh chưa phát triển, vai trò của các trung tâm giới thiệu việc làm chưa phát huy tối đa. Bên cạnh đó, quản lý doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng nhân lực chưa quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ lao động hiện có, vì họ cho rằng đây là hoạt động mất nhiều thời gian và tốn kém. Đồng thời, các cơ sở giáo dục chậm đổi mới chương trình đào tạo, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Đẩy mạnh giải pháp

Để hiện thực hóa phát triển nguồn nhân lực, tỉnh cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ và phát triển các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ. Cần đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với dạy nghề theo nhu cầu của thị trường và yêu cầu cụ thể của người sử dụng lao động. Tiến sĩ Tình chia sẻ thêm: Nhà trường và doanh nghiệp cần có mối liên kết chặt chẽ hơn để có lực lượng lao động lành nghề. Doanh nghiệp phải là nơi đặt hàng cho các trường đại học về nhu cầu nhân lực; đẩy mạnh hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung. Từ đó 2 bên cùng chủ động nắm bắt và đón đầu các nhu cầu thị trường lao động. Các trường đại học cũng cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực và phù hợp. Đào tạo theo hướng đa ngành thay vì chuyên ngành như trước đây, tăng cường sự phản biện của người học, kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin…

Tại hội thảo “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, ông Lương Thanh Sơn – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nhấn mạnh: Để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng và đãi ngộ. Muốn thành công trong chiến lược phát triển phải chú trọng đến vai trò quan trọng của yếu tố con người, việc thu hút người tài cần trở thành ưu tiên hàng đầu đối với những người làm công tác quản lý. Bên cạnh đó, việc đào tạo phải dựa trên xu hướng, nhu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

M.Vân

Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ngành Du Lịch / 2023

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, vẫn còn một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hình ảnh cũng như chất lượng DL của tỉnh. Một trong những hạn chế đó là do nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động DL còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng.

Chủ trang trại nho Ba Mọi (xã Phước Thuận, Ninh Phước) thuyết minh về cách trồng nho sạch với du khách

đến tham quan.Ảnh: Bảo Bình

 Thực trạng nhân lực DL

Hoạt động kinh doanh DL từ năm 2003, Resort Bàu Trúc, Khu DL Bình Sơn-Ninh Chử hiện có 72 lao động làm việc ở các bộ phận khác nhau. Trong đó, có 6 người có trình độ đại học, còn lại hầu hết là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghiệp vụ du lịch. Ông Nguyễn Đình Luân, Giám đốc Resort Bàu Trúc, cho biết: Nguồn nhân lực có chất lượng cao hiện vẫn còn là vấn đề nan giải, sau khi tuyển dụng lao động vào làm việc, đơn vị phải cho đi đào tạo lại nghiệp vụ, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu chuyên môn.

Ông Nguyễn Công Minh, Phó Giám đốc Resort Con Gà Vàng, cho biết: Tác phong làm việc của một bộ phận người lao động tại địa phương còn quá kém, thái độ phục vụ khách chưa thân thiện. Có những lao động có bằng cấp chuyên môn về DL nhưng khi vào làm việc thực tế thì không đáp ứng được yêu cầu. Do vậy, Ban quản lý Resort phải thường xuyên tập huấn, hướng dẫn công tác chuyên môn cho người lao động.

Nhân lực là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của doanh nghiệp DL, vì họ là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách, nếu nhân lực có trình độ chuyên môn tốt sẽ góp phần tạo ấn tượng và sự hài lòng của khách DL, không những khách sẽ chọn Ninh Thuận là điểm đến trong những lần tiếp theo mà họ còn giới thiệu bạn bè, người thân về sự thân thiện, mến khách của DL tỉnh nhà. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỉnh ta hiện có 97 cơ sở lưu trú và 9 cơ sở lữ hành, với 1.461 người làm việc trực tiếp trong ngành DL và ước tính có khoảng 3.000 lao động gián tiếp. Số lượng nhân lực ngành DL trong những năm gần đây tăng trưởng mạnh, trong đó nhân lực gián tiếp có xu hướng tăng với quy mô lớn hơn, phản ánh vai trò của ngành DL và tính hiệu quả của việc xã hội hóa hoạt động DL. Trong đó, 10% nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học, 61,8% nhân lực có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng chuyên nghiệp, là lực lượng trực tiếp phục vụ khách, cung cấp sản phẩm DL, được đào tạo, học nnghiệp vụ buồng, lễ tân… còn lại là bảo vệ, lái xe, y tế, chăm sóc cây xanh.

Ông Hồ Sỹ Sơn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết: Lực lượng lao động DL trong những năm qua tăng theo sự phát triển của ngành nhưng vẫn chưa đảm bảo cho phát triển DL một cách bền vững; nhiều bộ phận vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là lao động có khả năng ngoại ngữ khá thấp, chỉ chiếm 37,5% tổng số nhân lực; ngoài ra, tư duy và kỹ năng làm DL của người lao động còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp..

Giải pháp nào để nâng cao chất lượng nhân lực ngành DL

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII xác định DL là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc quảng bá hình ảnh DL Ninh Thuận, đầu tư cơ sở vật chất… thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định, tạo sự bền vững trong phát triển DL.

Ông Hồ Sỹ Sơn cho biết thêm: Ngành DL của tỉnh đã và đang tích cực thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nếu như năm 2012 chỉ có 1 lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ DL thì trong năm 2015, dự kiến sẽ có 7 lớp. Trong thời gian tiếp theo, sở sẽ tiếp tục mở thêm nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ DL cho người lao động tại các cơ sở kinh doanh DL, với mục tiêu nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phục vụ khách. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển DL thì các cơ sở hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực DL cũng cần chủ động trong công tác tuyển dụng ngay từ đầu vào, đồng thời tích cực phối hợp với ngành cử người đi đào tạo và đào tạo lại, có như vậy mới đảm bảo được chất lượng nguồn nhân lực DL.

Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng, tác động trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và sự phát triển ngành DL địa phương. Các doanh nghiệp DL có phát triển kinh doanh được hay không phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ nhân viên của mình. Vì vậy, cùng với sự gia tăng của lượng khách và cơ sở vật chất, ngành DL tỉnh ta đã và đang chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là một trong những mục tiêu để DL Ninh Thuận hướng tới sự phát triển bền vững… 

Thế Quang

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nâng Cao Chất Lượng Quy Hoạch Để Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Lực Đất Đai / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!