Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủĐề cương tuyên truyền

Một số kinh nghiệm trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 

Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh. 

Thời gian qua, cùng với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp công đoàn trên địa bàn huyện Quảng Ninh đã tích cực tham mưu cho cấp ủy Đảng, tham gia với chính quyền, chuyên môn đồng cấp triển khai thực hiện tốt quy chế dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

Liên đoàn Lao động huyện đã chủ động tham mưu với huyện ủy, phối hợp với UBND huyện triển khai nhiều giải pháp trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ phát huy dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trong việc tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Các công đoàn cơ sở đã chủ động đề xuất và phối hợp với chuyên môn tổ chức tốt hội nghị CBCC trong các cơ quan HCSN; hội nghị người lao động trong các doanh nghiệp… Thông qua hội nghị dân chủ, CĐCS đã đề xuất với chuyên môn đưa vào quy chế nội bộ những nội dung đảm bảo quyền của người lao động được biết, được bàn, được tham gia và kiểm tra giám sát; tổ chức lấy ý kiến người lao động; chủ động phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung quy chế đến người lao động; giám sát thực hiện quy chế dân chủ…

Thông qua thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã góp phần đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, tăng cường vai trò chủ động của thủ trưởng, người sử dụng lao động, đồng thời phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Các quy định của Đảng, Nhà nước được cụ thể hóa vào các quy định, quy chế nội bộ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phù hợp. Hội nghị cán bộ công chức, hội nghị người lao động được tổ chức dân chủ, cởi mở, tạo sự đồng thuận cao. Công tác cải cách thủ tục hành chính có những chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phát huy tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ theo hướng trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với dân, từ đó củng cố được lòng tin của nhân dân, tạo thêm động lực thúc đẩy việc thực hiện thành công các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng, góp phần ổn định chính trị tại địa phương.

Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Ban chỉ đạo từ huyện đến cơ sở, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có tầm quan trọng trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Kế hoạch triển khai của ban chỉ đạo huyện phải được xây dựng chu đáo, phân công trách nhiệm rõ ràng.

Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác, nhằm làm cho mỗi cán bộ, công chức khi thực thi công vụ, thực sự trở thành những người cán bộ mẫu mực, phát huy dân chủ trong từng công việc cụ thể và lĩnh vực, nhiệm vụ được phân công.

Thứ hai: Phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở. Quan tâm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ gắn với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính. Nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, mở rộng dân chủ trực tiếp; nêu cao tinh thần phục vụ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cán bộ công chức, tăng cường đối thoại tháo gỡ khó khăn từ cơ sở, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thứ ba: Tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị về chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ ở cơ sở gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở cơ sở. Phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, xem xét, đánh giá kết quả thực hiện; khen thưởng và động viên kịp thời; tạo phong trào sâu rộng, có hiệu quả ở từng loại hình cơ sở. P

hối hợp hoạt động giữa các tổ chức ở cơ sở mở ra các cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất trong triển khai, thực hiện, trong quản lý, điều hành của chính quyền. Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức, người lao động phát huy năng lực, trí tuệ, nâng cao trách nhiệm tham gia về hoạch định cơ chế, chính sách, tham gia giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động, sản xuất kinh doanh…

Thứ tư: Phát huy vai trò, trách nhiệm của ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở các ngành, các cấp; nâng cao chất lượng tham mưu cho cấp ủy, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Thường xuyên đề cao vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong ban chỉ đạo, tiếp tục phân công theo dõi và trực tiếp giúp đỡ cơ sở, phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến, thí điểm việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở chưa thực hiện; kịp thời thay thế, bổ sung, kiện toàn ban chỉ đạo; sửa đổi, bổ sung quy chế, kinh phí hoạt động. Phối hợp với các cơ quan chính quyền, tập trung chỉ đạo, nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ và ý thức chấp hành pháp luật, xây dựng xã hội đồng thuận, đoàn kết, giúp đỡ nhau, tạo sự đồng đều về kết quả xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Thứ năm: Phát huy dân chủ gắn với kỷ cương pháp luật, xử lý nghiêm minh đối với các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; kiên quyết xử lý đối với những trường hợp lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo chống phá Nhà nước ta, gây mất ổn định về an ninh, trật tự. Nâng cao ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, phẩm chất và năng lực của cán bộ, công chức để thực hiện các quy chế, quy định, quy trình công khai, dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát hiện, tố giác các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; tham gia giám sát các vụ, việc vi phạm pháp luật và kết quả xử lý, giải quyết sau thanh tra. Phát huy sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng dân cư, nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia ngăn chặn các tệ nạn xã hội gây mất ổn định an ninh, trật tự ở cơ sở.

Thứ sáu: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Kiên trì chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở, đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, phát huy dân chủ của cán bộ, công chức. Gắn xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị ở từng địa bàn, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của quê hương.

Bùi Văn Miêng

[Trở về]

Các tin đã đăng

Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam với ngày Quốc tế Lao động 1/5 

Vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong Hiến pháp năm 2013 

Để Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự đi vào cuộc sống 

Bản chất của Đảng cầm quyền và những nội dung cơ bản Đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước qua 30 năm đổi mới 

Cần Đẩy Mạnh Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở / 2023

Đó là thông tin được đồng chí Hà Ngọc Anh, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC ở cơ sở đưa ra tại Hội nghị “Đánh giá kết quả kiểm trao đổi kinh nghiệm về thực hiện QCDC ở cơ sở Cụm các tỉnh Bắc Trung bộ” do Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC ở cơ sở phối hợp với Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức vào chiều ngày 14/11 tại Thanh Hóa.

Hình ảnh tại Hội nghị (Ảnh: Kim Cương)

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC cơ sở; Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; Trịnh Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chủ tịch HĐND tỉnh; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương.

Theo đồng chí Hà Ngọc Anh, từ năm 2016 đến nay, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội 6 tỉnh trong Cụm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Chính quyền các cấp đã chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; tiếp tục triển khai thực hiện “Năm dân vận chính quyền”. Công tác tiếp dân có chuyển biến rõ nét và mang lại hiệu quả thiết thực. Một số tỉnh có cách làm linh hoạt, sáng tạo, như: Nghệ An, năm 2019 đã tổ chức 2 cuộc tiếp xúc, đối thoại lớn nhất trên địa bàn tỉnh, giữa Thường trực Tỉnh ủy và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các xã, phường, thị, trấn với hơn 1034 đại biểu; giữa Thường trực Tỉnh ủy với cán bộ lãnh đạo cấp phòng và tương đương trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh với hơn 800 đại biểu; Thanh Hóa, từ 2016 đến nay, UBND các cấp đã tổ chức được 750 cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp; Hà Tĩnh lồng ghép, kết hợp tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy, UBND, HĐND tỉnh thành một cuộc (3 trong 1) được tiến hành trong một ngày… Thông qua đó, góp phần xử lý kịp thời những kiến nghị, đề xuất và bức xúc từ cơ sở, từng bước củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Kết quả rõ nét nhất trong thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn là việc tổ chức công tác bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới;… đã tạo ra động lực to lớn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh các tỉnh trong Cụm. Việc thực hiện QCDC ở cơ sở xã, phường, thị trấn cũng tiếp tục góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở theo hướng dân chủ, cụ thể, bám sát thực tiễn, khắc phục biểu hiện quan liêu, cửa quyền, phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhân dân thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

Việc triển khai và thực hiện “Năm dân vận chính quyền” được các cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục quan tâm, đã đề ra nhiều giải pháp tập trung xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh theo phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”. Việc thực hiện QCDC trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; phát huy dân chủ, đổi mới phong cách, lề lối làm việc, tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Việc thực hiện QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc cũng đã tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; ổn định đời sống, việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; góp phần không nhỏ trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại Hội nghị (Ảnh: Kim Cương)

Cùng với đó, việc triển khai thực hiện QCDC trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, phần lớn không có quy chế và hoạt động tùy tiện; việc chấp hành pháp luật về lao động còn hạn chế, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia các loại hình bảo hiểm cho người lao động còn thấp, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể còn mang tính chất đối phó, có nội dung không có lợi cho người lao động. Tình trạng lợi dụng dân chủ để tụ tập, lôi kéo, gây mất trật tự, mất đoàn kết nội bộ, tạo tình hình phức tạp, gây bất ổn ở một số nơi còn xảy ra.

Một số cán bộ, công chức, viên chức còn có biểu hiện nhũng nhiễu, phiền hà, làm khó doanh nghiệp, người dân. Một số sở, ngành cấp tỉnh và địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân dẫn đến đơn thư có xu hướng gia tăng, nhất là lĩnh vực quản lý đất đai; một số địa phương chỉ đạo giải quyết các vụ việc tồn đọng chậm, để xảy ra khiếu kiện tập trung đông người, tạo tiềm ẩn phức tạp tình hình ở cơ sở…

Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở, theo Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương Hà Ngọc Anh, trong thời gian tới cần tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về dân chủ và thực hành dân chủ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện QCDC ở cơ sở; nhất là đến các đối tượng nhân dân là người dân tộc thiểu số, vùng sâu và trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước.

Đồng thời gắn việc thực hiện QCDC với việc phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, tiếp tục nâng cao trình độ dân trí, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng biên giới. Đẩy mạnh triển khai các nội dung của “Năm dân vận của chính quyền” trong năm 2019 và những năm tiếp theo, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, trong mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân; tăng cường đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng, thước đo lớn nhất trong thực hiện QCDC ở cơ sở đó là sự phát triển kinh tế – xã hội. Về cơ bản, thời gian qua, nhận thức của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính quyền về công tác dân vận ngày càng rõ hơn; dân chủ mở rộng hơn, đã tạo sự thúc đẩy cả bộ máy vào cuộc. Pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn với tinh thần là vì lợi ích của nhân dân…Hiện nay, trình độ dân trí ngày càng cao, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, chính vì vậy, việc triển khai thực hiện cần phải thực thi theo đúng quy định, luật pháp của Nhà nước trên tinh thần vì nhân dân phục vụ. Cùng với đó, cần phải thực hiện tốt việc minh bạch hóa, công khai hóa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Quan tâm đến việc thực hiện QCDC ở cơ sở tại các xã, phường, các đơn vị sự nghiệp, nhất là trường học, cơ sở y tế…

Đồng chí Trương Thị Mai phát biểu chỉ đạo Hội nghị (Ảnh: Kim Cương)

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện QCDC ở cơ sở ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được trong thực hiện QCDC ở cơ sở của 6 tỉnh Bắc Trung bộ. Đồng chí nhấn mạnh: Trong những qua, việc thực hiện QCDC ở cơ sở của 6 tỉnh Bắc Trung bộ đã tạo bước chuyển trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc phát huy vai trò làm chủ của người dân; thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị. Việc thực hiện QCDC ở cơ sở đã đi vào nền nếp và chuyển biến tích cực hơn.

Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Ở Hà Nam / 2023

Đại diện Ban Tổ chức Huyện ủy Kim Bảng trả lời ý kiến của đại biểu tại hội nghị đối thoại giữa người đứng đầu huyện Kim Bảng với cán bộ, hội viên phụ nữ huyện

Một trong những nội dung quan trọng thể hiện sự cụ thể hóa và vận dụng, thực hiện tốt QCDC đó là phát huy vai trò của cấp ủy, người đứng đầu trong đối thoại trực tiếp với nhân dân. Trong những buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các huyện: Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên, Bình Lục, các đồng chí bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện đã thể hiện rõ phong cách gần gũi, chân thành, cầu thị, cởi mở, chủ động khuyến khích đại biểu đại diện các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân trao đổi, đặt câu hỏi… qua đó nắm bắt chính xác, đầy đủ tình hình cơ sở.

Năm 2018, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đình Khang đã dự 2 hội nghị đối thoại trực tiếp với nhân dân xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm và đại biểu hội viên phụ nữ trong tỉnh. Cùng với đó, 5/6 bí thư, chủ tịch các huyện đối thoại trực tiếp với nhân dân, đoàn viên, hội viên các hội, đoàn thể.

Không chỉ ở cấp tỉnh, huyện, tại nhiều đơn vị cấp xã và một số ban, ngành, đoàn thể cũng rất chú trọng thực hiện đối thoại trực tiếp với nhân dân. Năm 2018, toàn tỉnh có 56/116 xã, phường, thị trấn tổ chức hội nghị bí thư, chủ tịch đối thoại với nhân dân.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng, thực hiện QCDC ở cơ sở theo Kết luận số 120 của Bộ Chính trị khóa XI, cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.

Trước hết, các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu địa phương, đơn vị quan tâm hơn tới việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về QCDC ở cơ sở; kịp thời kiện toàn ban chỉ đạo, xây dựng quy chế làm việc, triển khai thực hiện quy chế đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân.

Cùng với đó, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nội quy, quy chế, quy ước phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn ở mỗi cấp, ngành, địa phương, đơn vị. Năm 2018, lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh cũng đã chú trọng tập trung đẩy mạnh cải cách TTHC, tạo điều kiện thuận lợi, rút ngắn thời gian chờ đợi, công sức, chi phí của tổ chức, cá nhân khi giao dịch, giải quyết công việc.

Đồng thời, tập trung giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ngay tại cơ sở. Từ đầu năm đến nay, các cấp, ngành đã tiếp 4.611 lượt người; tiếp nhận 107 vụ việc khiếu nại, tố cáo; đã giải quyết 97 vụ việc (đạt gần 91%); 100% sở, ngành thuộc UBND tỉnh đều đăng ký thực hiện tiếp nhận và trả kết quả tại Trung tâm Hành chính công tỉnh; các dịch vụ hành chính công đều đã triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4.

Hằng năm, ban chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp đều có kế hoạch tổ chức kiểm tra việc thực hiện QCDC ở các lĩnh vực, tập trung vào một số lĩnh vực nhạy cảm, dễ nảy sinh tham nhũng tiêu cực như: quản lý đất đai, tài chính, xây dựng cơ bản, giải quyết chế độ, chính sách xã hội… HĐND tỉnh cũng xây dựng kế hoạch, tập trung giám sát những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, tiếp tục cải tiến, đổi mới phương pháp tiếp xúc cử tri theo hướng ý kiến, kiến nghị của cử tri được trả lời, giải trình trực tiếp; với những ý kiến tập hợp trình HĐND tỉnh xem xét đều có thời hạn trả lời, giải quyết cụ thể, rõ ràng.

Việc chú trọng thực hiện nghiêm túc QCDC ở cơ sở của cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp trong tỉnh thời gian qua chính là yếu tố quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết và huy động các nguồn lực góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh. Đồng thời, củng cố mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

Nguyễn Hằng/ chúng tôi

Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Chính trị học

Hà Nội – 2013

1

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học Mã số: 60 31 02 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thu Hƣơng

Hà Nội – 2013

2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” là công trình khoa học của riêng tôi. Các nội dung, số liệu được nêu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Tôi xin chịu trách nhiệm về cam kết của mình.

Tác giả

Hoàng Trung Dũng

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNH

:

Công nghiệp hóa

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HĐH

:

Hiện đại hóa

KTXH

:

Kinh tế – xã hội

MTTQ

:

Mặt trận Tổ quốc

QCDC

:

Quy chế dân chủ

QPAN

:

Quốc phòng – an ninh

UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

4

MỞ ĐẦU

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN

1.1. Nhận thức chung về Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và Dân chủ xã hội chủ nghĩa 1.1.3. Thực hiện Quy chế dân chủ, nội dung quan trọng của dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở nước ta 1.2. Thực hiện Quy chế dân chủ xã, phường, thị trấn là phương thức phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta 1.2.1. Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn 1.2.2. Những định hướng phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Vị trí địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, VHXH của tỉnh Hà Tĩnh 2.2. Những điều kiện tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ 2.3. Nội dung, cách thức triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh 2.4. Kết quả trên các lĩnh vực, nguyên nhân thành công, hạn chế 2.5. Một số bài học kinh nghiệm trong việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN

31

2.1.

QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Dự báo tình hình và phương hướng thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh Những giải pháp chủ yếu thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ là mục tiêu, là khát vọng hướng tới của con người và xã hội loài người, là nhu cầu khách quan đối với sự phát triển bền vững của tất cả các nước. Ngày nay, cuộc đấu tranh vì dân chủ, vì sự tiến bộ xã hội đang trở thành một xu thế tất yếu của thời đại. Đối với nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của dân chủ. Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề dân chủ lại càng được đề cao, dân chủ XHCN được khẳng định là bản chất của chế độ, là mục tiêu, động lực của sự phát triển. Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo dân chủ ở Việt Nam không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hoá và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, kể từ khi Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 30 CT/TW, ngày 18/12/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, nền dân chủ XHCN được triển khai đồng bộ, rõ nét hơn. Theo đó, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là sự thể hiện quyết tâm củng cố, hoàn thiện, phát triển nền dân chủ XHCN trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta; phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Là một địa phương ở khu vực Bắc miền Trung, sau hơn 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 30 – CT/TW của Bộ Chính trị về Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhìn chung trên mọi mặt đời sống, chính trị, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Dân chủ ở cơ sở) đã tạo động lực giúp Hà Tĩnh khơi dậy tiềm năng, nguồn lực

2

vật chất, tinh thần trong nhân dân; củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, nhân dân; là cơ sở để các địa phương xây dựng phong cách ứng xử của người lãnh đạo, quản lý; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp ủy, chính quyền; làm cầu nối cho nhân dân sát cánh bên Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, việc triển khai thực hiện QCDC trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình sự phát triển. Nhận thức về QCDC của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, của cán bộ, đảng viên, trong đó có một số người đứng đầu chưa đầy đủ. Một số quy định của Đảng và Nhà nước về thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Tình trạng phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung cả nước. Điều kiện tiếp cận các dịch vụ giáo dục, văn hóa trong nhân dân giữa các vùng, miền chưa đồng đều. Một số nơi quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm. Nhân dân chưa được hưởng đầy đủ quyền được biết, được bàn, được kiểm tra, thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của địa phương, nhất là huy động nguồn lực đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, tham gia đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện chế độ, chính sách, cung cấp thông tin về công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách…Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của công, sách nhiễu chưa được ngăn chặn triệt để. Trình độ dân trí nhìn chung chưa đồng đều; ý thức về dân chủ chưa cao, khả năng nhận thức về văn hóa dân chủ còn nhiều bất cập; một bộ phận nhân dân chưa thấy hết nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, đi ngược lại lợi ích cộng đồng xã hội. Hiện tượng lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, vi phạm pháp luật còn xảy ra ở không ít các địa phương. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tôn giáo” để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 3

4

Các công trình nêu trên nhìn chung tập trung đề cập đến đặc điểm, tình hình, quá trình lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trên lĩnh vực KTXH, QPAN, xây dựng đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ. Bàn về dân chủ, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thực sự rõ nét. Như vậy, qua việc nghiên cứu các công trình, đề tài đề cập đến vấn đề dân chủ nói chung cũng như vấn đề dân chủ trong các lĩnh vực, địa bàn, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầy đủ, toàn diện về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở lý luận về dân chủ và dân chủ ở cơ sở của Việt Nam nói chung, cùng với việc phân tích đánh giá quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, luận văn chỉ ra thực trạng, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ – Hệ thống hóa và làm rõ vấn đề lý luận về dân chủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội, chính trị của tỉnh Hà Tĩnh tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1998 đến nay. 7

8

Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN 1.1. Nhận thức chung về dân chủ và Quy chế dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn 1.1.1. Một số khái niệm Dân chủ là hiện tượng lịch sử – xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người và xã hội loài người. Theo nguồn gốc của tiếng Hy Lạp, dân chủ gồm 2 từ “demos” có nghĩa là nhân dân, “kratos” có nghĩa là quyền uy, sự cai trị. Như vậy theo nghĩa gốc, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, là trạng thái tổ chức xã hội trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: chỉ chế độ xã hội; chỉ quyền của người dân và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản lý, lãnh đạo [59, tr.137]. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Dân chủ là có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, được tôn trọng quyền lợi của từng thành viên trong xã hội”. Dân chủ là khái niệm để chỉ “Chế độ chính trị theo đó quyền làm chủ thuộc về nhân dân”. Ban đầu, khái niệm dân chủ được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, về sau mang ý nghĩa rộng hơn, thể hiện ở các lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, VHXH, mối quan hệ giữa con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước… Khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, dân chủ được thể hiện dưới hình thức tự quản của cộng đồng. Mọi thành viên có quyền tham gia và quyết định những công việc chung. Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm ra dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, hình thức tổ 9

chức xã hội Nhà nước ra đời, trạng thái sơ khai của dân chủ dần bị tan rã. Với sự xuất hiện của Nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành quyền lực Nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại. Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình. V.l Lê nin tổng kết: “Chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước. Cho nên cũng như mọi Nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” [40, tr.123]. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân được thể hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội cộng sản nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm hữu nô lệ) được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước với sự cưỡng bức là chủ yếu. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định, đó là chủ nô. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà vua, quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp. Với sự phát triển của nền đại công nghiệp, thương nghiệp, quan hệ sản xuất phong kiến dần bị xóa bỏ. Giai cấp tư sản ra đời, nền dân chủ tư sản xuất hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước đó nhưng phạm vi của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột. Nhân dân lao động và người nghèo vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ thực sự. Khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân mới trở thành thực chất. Mục đích cao nhất của nền dân chủ XHCN là giải phóng con người và xã hội loài người, xây dựng một xã hội không có giai cấp, mọi người đều bình

10

đẳng, tự do; đây là nền dân chủ tiến bộ nhất. Nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; tác động mạnh mẽ đến các quyền tự do về chính trị, tư tưởng, văn hóa và các lĩnh vực khác. Ở nền dân chủ XHCN, những giá trị dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, thành hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước là trụ cột. Dân chủ là mục tiêu, động lực của phát triển. Các giá trị dân chủ trở thành phổ biến, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội. Mọi công dân và tổ chức xã hội đều có khả năng nhận thức, vận dụng làm chủ bản thân và làm chủ xã hội. Theo C.Mác một nền dân chủ thật sự phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước…ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân” [42, tr.349]. Dân chủ XHCN là dân chủ của đa số nhân dân lao động, được thực hiện bằng Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong nền dân chủ XHCN, nhà nước là công cụ quyền lực để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, luôn chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên. Cán bộ, công chức Nhà nước là người đại diện cho pháp luật để bảo vệ nhân dân. Để tồn tại và khẳng định rõ vị thế, Nhà nước phải đề ra những cơ chế, biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, xử lý tệ quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trong cán bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức pháp luật. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất XHCN đang trong quá trình phát triển, dân chủ từng bước được hoàn thiện nên quyền dân chủ của nhân dân có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ. Sau cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến, nền dân chủ mới được hình thành. Trong giai đoạn đổi mới, Đảng tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển cơ sở vật chất cho nền dân chủ XHCN.

11

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, trong đó có tư tưởng về dân chủ. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Về khái niệm Quy chế được hiểu: Mang tính chất ràng buộc. Tùy vào phạm vi chức năng của cơ quan ban hành, quy chế có những tác động trong phạm vi khác nhau. Về khái niệm Quy chế dân chủ ở cơ sở: Đây là cụm từ viết tắt nói về Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Như vậy: Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn là những quy định cụ thể về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân theo quy định của pháp luật; đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện, được kiểm tra các công việc của chính quyền cơ sở. 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng dân chủ của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra những quan điểm, giải pháp sát với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với xu thế khách quan để xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong thời đại mới. Khi bàn về vai trò dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [43, tr.279]. Người cho rằng làm cách mạng phải biết dựa vào sức dân, dựa vào quần chúng. Là cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn đức, luyện tài, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống tham ô, lãng phí, xây dựng một thiết chế vững mạnh để thực hành dân chủ. Dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, tự do, bình đẳng, hạnh phúc; dân chủ không chỉ

12

là quyền lực thuộc về nhân dân mà làm sao để nhân dân được hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền của mình để thể hiện trách nhiệm, bổn phận. Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [44, tr.698]. Để thực hiện quyền làm chủ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ có quyền mà điều quan trọng là phải có năng lực làm chủ. “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [43, tr.40]. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích, trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận đối với nhiệm vụ xây dựng quê hương, đất nước. Người yêu cầu “Bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” [45, tr.233]. Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó [22, tr.368]. Trong các bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê bình tệ quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, mất dân chủ của một bộ phận cán bộ. 13

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất bình [44, tr.334]. Người khẳng định “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được, không có thì việc gì cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” [44, tr.335]. Trong Di chúc của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [43, tr.624]. Thực hiện tư tưởng của Người, hơn 82 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay (3/2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là nội dung quan trọng của đường lối cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nội dung dân chủ trong giai đoạn đầu của cách mạng là đem lại ruộng đất cho dân cày. Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cách mạng XHCN nhằm mục đích giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại ấm no, hạnh phúc và những giá trị tiến bộ, cao cả cho nhân dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN. Đến Đại hội lần thứ V của Đảng (1982), quan điểm đó tiếp tục được cụ thể hoá.

14

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), mở đầu sự nghiệp đổi mới của Đảng đã khẳng định “Đổi mới phải lấy dân làm gốc”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh: Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ và toàn bộ tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân [21, tr.19]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), tiếp tục khẳng định: Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở [22, tr.43]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) đã tạo nên một bước ngoặt lớn, được đánh giá là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội, nội dung dân chủ được nêu thông qua tổng kết toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng từ 1930 đến 2001, 15 năm đổi mới (1986 – 2001). Đại hội đã khẳng định, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.22]. Để phát huy sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra chủ trương củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức. Đại hội xác định, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy

15

định cụ thể việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với các tổ chức và cán bộ cơ sở; củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với dân theo phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhận thức về vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, trong xã hội đã có nhiều bước phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI sửa đổi (Điều 9) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc…Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức…”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [30, tr.70]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được 16

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!