Đề Xuất 12/2022 # Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Phát Triển / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Phát Triển / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Phát Triển / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam

Xác định vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đối với nền kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ đối tượng này phát triển. Các chính sách được ban hành và triển khai cơ bản đã theo sát yêu cầu thực tế trong ngắn hạn, trước mắt và có tính chiến lược. Cụ thể, phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNVV, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cho DN nói chung, nhất là đối với các DNNVV; tạo nguồn vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin thị trường và xúc tiến thương mại, nâng cao năng lực quản trị DN, đào tạo nghề cho lao động; đặc biệt là, thành lập Quỹ Hỗ trợ DNNVV…

Trên cơ sở đó, các DNNVV đã phát triển mạnh mẽ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN. Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta, hiện nay DNNVV có sức lan tỏa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Việt Nam hiện có khoảng trên 800 nghìn DN, DNNVV chiếm tỷ trọng 98%, đóng góp tới 45% trong GDP, khu vực này cũng đóng góp khoảng trên 31% tổng số thu ngân sách nhà nước và thu hút hơn 5 triệu lao động. DNNVV đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ. Hiện nay, DNNVV sử dụng khoảng 1/2 lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp (chiếm 49%) trong cả nước, và tại một số vùng đã sử dụng tuyệt đại đa số lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp. Ngoài lao động, DNNVV còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tuy đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng sự phát triển của khu vực DNNVV chưa đạt như mong muốn xét từ cả phía Nhà nước và DN, chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này. Theo thống kê, trong Top 10 DN đóng thuế cao nhất, có 5 DN nhà nước (DNNN) và 5 DN vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chưa xuất hiện DN tư nhân (DNTN) nào.

Theo khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong khối các DNTN, DNNN chiếm 99%, trong đó số lượng DN siêu nhỏ và nhỏ chiếm đa số (trên 90%) trong tỷ trọng DN ở cả 3 nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ. Mặc dù, chiếm ưu thế về số lượng (chiếm hơn 96% tổng số DN) nhưng tổng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực DNTN chỉ chiếm khoảng 50% tổng số tài sản cố định và đầu tư dài hạn của toàn bộ khối DN.

Bên cạnh đó, sự liên kết của các DNTN Việt Nam còn yếu, đặc biệt là có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ với DN có quy mô lớn hơn. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học – công nghệ chung theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực, như dịch vụ, bất động sản, các ngành, nghề thu hồi vốn nhanh…

Một nghiên cứu khác của Ban Kinh tế Trung ương và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, quy mô của hầu hết các DNTN Việt Nam còn nhỏ và siêu nhỏ; hiệu suất của khu vực kinh tế này còn thấp và có sự suy giảm. Chỉ số tỷ suất hoàn vốn của các DNTN rất thấp, chỉ bằng 1/5 của DN FDI và gần 1/2 của DNNN. Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của DNTN bình quân chỉ đạt 4% so với 16,3% của DN FDI và 11% của DNNN. Nghiên cứu này cũng đánh giá về liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu của các DN Việt Nam ở mức 21%, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 30%, Malaysia là 46%. Chi phí đầu tư cho đổi mới khoa học công nghệ của DN Việt Nam chưa đến 0,3% doanh thu, trong khi tại Ấn Độ tỷ lệ này là 5%, Hàn Quốc là 10%, Nhật Bản là 50%… Như vậy, việc nghiên cứu thực trạng phát triển của DNNVV Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát triển là việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

So với các quốc gia trên thế giới, DNNVV Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế gồm: Đa phần các DN này làm dịch vụ, chỉ khoảng 20% là hoạt động sản xuất; có tới 42% DN có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng và 85% DN hoạt động chính thức có doanh thu dưới 2 tỷ đồng; số lượng DN tư nhân tuy tăng hàng năm nhưng quy mô bình quân của mỗi DN là không lớn. Ở Việt Nam, hiện có khoảng gần 100 triệu dân và có khoảng 800 nghìn DN đang hoạt động, bình quân khoảng gần 130 người dân/DN (Tỷ lệ này ở khối các nước ASEAN là trên 80 người dân/DN).

Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của DNNVV chưa như kỳ vọng là do nhiều yếu tố, trong đó, có yếu tố xuất phát từ những vướng mắc về thể chế, chính sách, thủ tục hành chính, thiếu vốn, khó tiếp cận vốn vay, khoa học công nghệ, điều kiện đầu tư, kinh doanh, thiếu hụt lao động có kỹ năng; năng suất lao động còn thấp…

DNNVV còn khó khăn trong việc tiếp cận đất đai (các thủ tục giải phóng mặt bằng, thu hồi đất thường tốn thời gian gây ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của DN; phương pháp tính giá đất, thủ tục cấp phép, thông tin quy hoạch còn gây nhiều bức xúc, cản trở tốc độ thu hồi và bàn giao đất sạch cho các nhà đầu tư; giá cho thuê đất, chi phí kinh doanh cao…). Những yếu tố này đã làm giảm khả năng cạnh tranh cũng như hạn chế khả năng tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh của nhiều DN. Bên cạnh đó, nhiều DN chưa coi trọng việc đầu tư vào công nghệ do không có đủ năng lực tài chính để đầu tư vào tài sản cố định, máy móc công nghệ làm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, dẫn tới trình độ sản xuất, kỹ thuật chỉ ở mức thấp.

Một số giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Để tiếp tục phát huy vai trò của DNNVV, khắc phục các khó khăn, vướng mắc trong môi trường cạnh tranh, hội nhập hiện nay, cần quan tâm chú trọng một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, Nhà nước tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển DNNVV nhằm bảo đảm duy trì niềm tin và tăng cường đầu tư. Theo đó, cần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tăng cường cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập DN; thu hẹp những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

Thứ hai, tiếp tục có các chính sách hỗ trợ DNNVV phù hợp với yêu cầu thực tiễn của DN cũng như môi trường kinh doanh. Theo đó, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với DNNVV phải dựa trên những nền tảng pháp lý, các quy định của pháp luật quốc gia, tuân thủ các cam kết quốc tế trong các hiệp định đa phương, song phương mà Việt Nam là thành viên. Việc hỗ trợ trên nguyên tắc này sẽ đảm bảo không tạo ra những rào cản pháp lý hay sự phân biệt đối xử giữa các DN.

Thứ ba, các DNNVV cần tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ trong việc lập sổ sách kế toán, khai thuế và hải quan điện tử, giao dịch ngân hàng qua internet nhằm giảm chi phí giao dịch, kết nối và chia sẻ thông tin tài chính với các tổ chức tín dụng để dần minh bạch hóa thông tin tài chính, tạo lòng tin trên thị trường. Nâng cao chất lượng, trình độ quản trị DN, quản trị rủi ro và quản lý tài chính; Tích cực tham gia các hiệp hội doanh nghiệp để tiếp cận thông tin về các chính sách, chương trình hỗ trợ đối với DNNVV của Chính phủ, Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng. Hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của các đối tác lớn đặc biệt là khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu.

Thứ năm, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, song quy định về hỗ trợ tiếp cận vốn còn khá khiêm tốn, thiếu cơ sở triển khai trong thực tế. Do đó, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ cho DN hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cần tăng cường thực hiện hiệu quả các văn bản điều hành của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN; Nghị định số 34/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 39/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV…

Thứ sáu, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn. Cần thực hiện các biện pháp khuyến khích sự phát triển thị trường vốn để tạo điều kiện cho DN huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, cũng như các quỹ đầu tư, giảm sự lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng. Trong đó, cần tập trung thúc đẩy sự phát triển dịch vụ định mức tín nhiệm nhằm hỗ trợ thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, nâng cao tính công khai minh bạch, thúc đẩy huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư.

Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan: (i) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế thông qua ban hành chế độ quản lý rủi ro đối với các DN thuộc đối tượng thanh tra/kiểm tra về thuế; tiếp tục sửa đổi quy định về hồ sơ hoàn thuế, phần mềm hỗ trợ công tác tự động xây dựng báo cáo hồ sơ hoàn thuế; nộp hồ sơ hoàn thuế qua mạng; xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý công tác hoàn thuế và thực hiện công khai để người được hoàn thuế biết được thông tin về tình trạng giải quyết hồ sơ hoàn thuế; (ii) Triển khai đồng bộ, rộng khắp ứng dụng công nghệ thông tin trong kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, thanh toán tiền thuế qua di động, thanh toán qua internet; (iii) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đảm bảo việc triển khai đầy đủ hệ thống thông quan điện tử…

Thứ tám, cần khuyến khích, hỗ trợ DNNVV đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến; hoàn thiện và bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ; phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ; áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ; kết nối DN, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các nhà đầu tư, quỹ đầu tư.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), Báo cáo Phát triển bền vững khu vực doanh nghiệp tư nhân; VCCI, Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2018, http://pcivietnam.org/danh-muc-du-lieu/du-lieu-pci/; Phùng Thế Đông (2019), Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát triển trong giai đoạn hiện nay – Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 10/2019; Lê Thiết Lĩnh (2019), Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tiếp cận vốn tín dụng phát triển sản xuất, kinh doanh – Tạp chí Tài chính, kỳ 2 tháng 11/2019.

Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Hoạt Động Tiêu Thụ Sản Phẩm Ở Các Doanh Nghiệp Công Nghiệp Qui Mô Vừa Và Nhỏ / 2023

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ

1.Khái niệm:

Tiêu thụ sản phẩm(TTSP) là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa hai bên là sản xuất và phân phối bán hàng. Là việc đưa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng, thực hiện việc thay đổi quyền sở hữu tài sản. Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình từ việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng trên thị trường, tổ chức mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán hàng, các hoạt động hỗ trợ bán hàng tới việc thực hiện dịch vụ sau bán hàng. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động tiêu thụ trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho các đơn vị theo các địa chỉ và giá cả do Nhà Nước định sẵn. Tóm lại, trong nền kinh tế tập trung khi mà ba vấn đề trung tâm là: sản xuất cái gì ?, bao nhiêu ?, cho ai ? đều do Nhà nước quyết định thì việc tiêu thụ chỉ là việc tổ chức bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và giá cảđược ấn định từ trước hay theo quản trị kinh doanh truyền thống quan niệm, tiêu thụ là hoạt động đi sau sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm. Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuỳ thuộc vào khả năng tiêu thụ, nhịp độ tiêu thụ quy mô qui định nhịp độ sản xuất, thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm qui định chất lượng của sản phẩm sản xuất…Người sản xuất chỉ có thểvà phải bán cái mà thị trường cần chứ không thể bán cái mà mình có. Vì vậy quản trị kinh doanh hiện đại quan niệm công tác điều tra nghiên cứu khả năng tiêu thụ luôn phải đặt ra ngay từ khi trước khi tiến hành hoạt động sản xuất nên thực chất một số nội dung gắn với hoạt động tiêu thụ đứng ở vị trí trước hoạt động sản xuất và tác động mạnh mẽ có tính chất quyết định hoạt động sản xuất. 2.Vị trí, vai trò của hoạt động tiêu thụ. Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh nghiệp: tiêu thụ, sản xuất, hậu cần kinh doanh, tài chính, kế toán và quản trị doanh nghiệp. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu để sản xuất có thể có hiệu quả. Chất lượng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ( doanh nghiệp sản xuất, thương mại), phục vụ khách hàng ( doanh nghiệp dịch vụ, ngân hàng…) quyết định hiệu quả của hoạt động sản xuất hoặc chuẩn bị dịch vụ. Ở các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp cho các nhà sản xuất của mình và nhu cầu của khách hàng. Về phương diện xã hội, tiêu thụ san phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu vì nền kinh tế Quốc Dân là một thể thống nhất với những cân bằng, những tương quan tỉ lệ nhất định. Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường, trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội. Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị định phương hướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo. 3.Tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong bất kỳ một doanh nghiệp nào đều bao gồm một số mục tiêu cơ bản sau: -Thâm nhập thị trường -Tăng khối lượng hàng hoá để tăng doanh thu hoặc tối đa hoá lợi nhuận. -Tăng năng lực sản xuất kinh doanh. -Duy trì và phát triển tài sản vô hình của doanh nghiệp ( uy tín, thương hiệu….) -Mục tiêu cạnh tranh -Tăng giá trị của doanh nghiệp. Nguyên tắc tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp là: -Xác định và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng -Bảo đảm tính liên tục trong quá trình tiêu thụ sản phẩm -Tiết kiệm và nâng cao chất lượng của các bên trong quan hệ mua bán.

Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm trong các doanh nghiệp nói chung 1. Điều tra nghiên cứu thị trường Mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường, một mặt xác định thực trạng của thị trường theo các tiêu thức có thể lượng hoá được và về nguyên tắc có thể đạt được bằng khoa học thống kê. Mặt khác, nghiên cứu thị trường cũng tìm cách giải thích các ý kiến có thể về cầu của các hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, cũng như những lý do mua hay không mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp hay những lý do về sự trội hơn của các cơ hội cạnh tranh sản phẩm. đây là cơ sở để doanh nghiệp quyết định sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu và bán cho ai? Đây cũng là nhiệm vụ phải tiến hành trong công tác tiêu thụ sản phẩm để có thể hiểu được khách hàng của công tyvà các đối thủ cạnh tranh khác. Công việc này Đòi hỏi các nhà quản lý phải thực hiện nghiên cứu marketing và phải nắm tương đối tốt các đặc trưng của nó nhằm thu được những thông tin hữu íchvới chi phí phải chăng. Để làm được việc này, các nhà quản lý cũng phải hướng đến việc sử dụng các nhà nghiên cứu có chuyên môn cao, thành lập bộ phận nghiên cứu marketing cho doanh nghiệp tuỳ theo qui mô doanh nghiệp. Trước tiên cần phải xác định chính xác vấn đề và đề xuất mục tiêu nghiên cứu. Do thị trường có thể được nghiên cứu theo hàng trăm tham số khác nhau, vì vậy cần phải tiếp cận trực tiếp đến vấn đề đứng trước công ty và đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu vấn đề không rõ ràng thì chi phí nghiên cứu vẫn còn kém mà kết quả không được sử dụng. Điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường có thể tiến hành bằng cách: – Quan sát: theo dõi, quan sát, nghe ngóng xem khách hàng có ý kiến gì hoặc có hiểu biết gì về hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp. – Thực nghiệm: Mục tiêu là khám phá ra các mối quan hệ nhân quả bằng việc chọn lựa những giải thích đối lập nhau của các kết quả theo dõi. – Thăm dò: Để nhận thông tin về sự am hiểu, lòng tin và sự ưa thích về mức độ thoã mãn của khách hàng, cũng như đo lường sự bền vững vị trí của Công ty trong con mắt công chúng. Các công cụ phục vụ cho việc nghiên cứu có thể là: phiếu điều tra ( để thu nhập được các tài liệu sơ cấp ) với các dạng câu hỏi; phương tiện máy móc. Phương thức liên hệ với công chúng có thể là: phỏng vấn qua điện thoại, điều tra qua bưu điện, phỏng vấn cá nhân, nhóm… Ngoài ra còn có biện pháp mà ít doanh nghiệp Việt Nam ( DNVN ) thực hiện đó là phải tăng cường các lực lượng tai mắt của công ty ngay tại các điểm đại lý bán hàng hoặc cho người thăm dò ở các khu vực phân phối của đối thủ cạnh tranh. Khi đã có được những thông tin cần thiết ,doanh nghiệp phải giao cho những chuyên gia có trình đọ và hiểu biết để phân tích đưa ra kết quảvèe nhu cầu của thị trường ,cơ bản gồm : -Số lượng bao nhiêu -Giá cả hợp lý -Những người có khả năng cung cấp và thế lực của họ -Thị hiếu của khách hàng , khách hàng mong mứn những gì ? nhu cầu của họ được thị trường đáp ứng đến đâu?… Nghiên cứu nhu cầu thị trưòng còn bao gồm cả phân tích cầu (cầu co giản, cầu chuyển hoá, cầu cội nguồn, dự đoán cầu, nhân tố ảnh hưởng tới cầu,…);phân tích cạnh tranh, hành vi người tiêu dùng(NTD)…cũng góp phần cho quyết định trên. Tuy nhiên, trong nội dung bài viết chỉ đề cập đến như nhiệm vụ của công tác điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường để các nhà quản lý dựa vào các chuyên gia thuộc lĩnh vực này mà khai thác tỉ mỉ đem lại phương thức tiêu thụ sản phẩm tốt nhất, thoả mãn nhu cầu thị trường.

2. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu DA299 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

Tài liệu này không có hình ảnh khác

12 Giải Pháp Đột Phá Thúc Đẩy Phát Triển Doanh Nghiệp Công Nghệ Số / 2023

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/1/2020 về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Chỉ thị có mục tiêu và 12 giải pháp đột phá.

Theo Chỉ thị này, mô hình của một số nước có nền kinh tế phát triển dựa trên các doanh nghiệp công nghệ số cho thấy, đến năm 2030, Việt Nam cần ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số để phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, ứng dụng thành tựu công nghệ số rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội và thực hiện chuyển đổi số quốc gia. Bốn loại doanh nghiệp công nghệ số cần tập trung phát triển bao gồm: (1) Các tập đoàn, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ lớn trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực công nghệ số, đầu tư nghiên cứu công nghệ lõi; (2) Các doanh nghiệp công nghệ thông tin đã khẳng định được thương hiệu đảm nhận các sứ mệnh tiên phong nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ số và chủ động trong sản xuất; (3) Các doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới trong các ngành, lĩnh vực kinh tế – xã hội; và (4) Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo về công nghệ số.

Theo đó, Chỉ thị đặt ra 12 giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số, cụ thể: 1. Xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2030, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2020. 2. Xây dựng Kế hoạch phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam của từng ngành, từng địa phương theo giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030. 3. Xác lập 1 đầu mối ở Trung ương và 1 đầu mối ở mỗi địa phương để thực hiện việc tổng hợp, điều phối, tổ chức hoạt động tư vấn, hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ số. 4. Xây dựng khung chính sách thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ số tại Việt Nam, trình cấp có thẩm quyền ban hành trong giai đoạn 2020-2021. 5. Xây dựng chính sách, giải pháp tạo lập thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp trong xây dựng và triển khai các chương trình, đề án, dự án về chính phủ điện tử, chuyển đổi số, đô thị thông minh, nông nghiệp thông minh… 6. Cải cách các quy định về Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp để cho phép đầu tư vào hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, khởi nghiệp công nghệ đánh giá hiệu quả dựa trên tổng mức đầu tư theo chu kỳ 3-5 năm, hoàn thành trong năm 2021. 7. Đơn giản hoá các thủ tục quản lý và sử dụng Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp để tăng cường đầu tư cho ứng dụng và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. 8. Nghiên cứu, đề xuất thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam với nguồn vốn huy động từ xã hội, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong năm 2020. 9. Định hướng, hỗ trợ tối thiểu 5-10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam phát triển một số sản phẩm số trọng điểm quốc gia, trở thành trụ cột của hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, trước năm 2025. 10. Phát triển tối thiểu 5-10 nền tảng công nghệ số dùng chung để thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy phát triển sản phẩm số trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội, đưa vào sử dụng trước năm 2025. 11. Định kỳ tổ chức Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. 12. Tuyên dương các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tiêu biểu thực hiện tốt chiến lược “Make in Viet Nam” và tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá thương mại, thúc đẩy tiêu dùng trong nước và hỗ trợ xuất khẩu cho các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam. Chỉ thị cho thấy sự quan tâm và hành động kịp thời của Chính phủ trong việc góp phần triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Làm thế nào để vượt qua đối thủ cạnh tranh?

Bạn cần website để giới thiệu dịch vụ?

Cho đến lúc này, điều mà bạn đang quan tâm có lẽ là muốn tìm hiểu thêm về dịch vụ thiết kế website và Công ty chúng tôi?

SỞ HỮU NGAY WEB CHUYÊN NGHIỆP TẠI ADC VIỆT NAM ĐỂ VƯỢT QUA ĐỐI THỦ NGAY HÔM NAY!!!

Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tỉnh Sơn La Giai Đoạn 2022 / 2023

Tóm tắt:Sơn La là một tỉnh cửa ngõ khu vực Tây Bắc có các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội cho phát triển kinh tế, DNNVV của tỉnh hiện nay đang đóng góp tới 40% thu nhập của tỉnh. Mục tiêu đến năm 2020, DNNVV đóng góp tới 45% thu ngân sách của tỉnh và cần có các giải pháp hỗ trợ, phát triển DNNVV từ nay đến năm 2020.Từ khóa: Sơn La, doanh nghiệp nhỏ và vừa, giai đoạn 2018-2020.

1. Giới thiệu doanh nghiệp nhỏ và vừa Sơn LaSơn La là một trong những tỉnh cửa ngõ của khu vực Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội 320 km, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Phú Thọ và Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa; Sơn La có 250 km đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với cửa khẩu quốc gia Lóng Sập và Chiềng Khương. Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên là 14.174 km2, đứng thứ 3 trong 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước (sau Nghệ An và Gia Lai), bằng 4,28% diện tích tự nhiên toàn quốc và bằng 37,88% tổng diện tích tự nhiên vùng Tây Bắc, với 12 đơn vị hành chính cấp huyện (11 huyện và 01 thành phố). Trong những năm qua, hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những bước phát triển khá, hoạt động ngày một hiệu quả. 1.1. Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Sơn LaBáo cáo tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2017 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2018 của tỉnh Sơn La cho thấy, năm 2017 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh ước đạt 28.831,153 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước tăng 9,59% so với năm 2016 (Trong đó: khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 4,1%; công nghiệp – xây dựng tăng 18%; khu vực dịch vụ tăng 6,47%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,32%) [6].Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực: Chiếm tỷ trọng cao và tiếp tục đóng góp nhiều nhất cho nền kinh tế là khu vực dịch vụ tăng từ 39,6% năm 2016 lên 40,3% năm 2017; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng từ 33% năm 2016 xuống 33,6% năm 2017; khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 23,4% năm 2016 xuống 22,1% năm 2017; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm duy trì chiếm khoảng 4% trong cơ cấu kinh tế. [6]Tổng vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn năm 2017 ước đạt 14.533 tỷ đồng, bằng 107,7% kế hoạch và tăng 10,5% so với năm trước. Trong đó vốn đầu tư thuộc khu vực Nhà nước ước đạt 5.499,9 tỷ đồng, tăng 16,2% so với năm trước; vốn đầu tư thuộc khu vực ngoài nhà nước khoảng 9.012,5 tỷ đồng, tăng 7,2% so với năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 20,5 tỷ đồng, tăng 79,4% so với năm trước. [6] Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch: Chiếm tỷ trọng cao nhất và đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế là khu vực dịch vụ tăng từ 40,6% năm 2012 lên 42,3% năm 2014 với những con số đáng chú ý như: Giá trị sản xuất ngành Dịch vụ đến hết năm 2012 đạt 8.510 tỷ đồng, năm 2014 ước đạt 12.126,5 tỷ đồng, tăng bình quân 18,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu từ dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng cao qua các năm, năm 2012 đạt 12.486 tỷ đồng, ước năm 2014 đạt 15.642 tỷ đồng, bình quân tăng 16,9%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước đạt 69,5 triệu USD, tăng 15 lần so với năm 2012.Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, giảm dần từ 35,6% xuống 31%; khu vực công nghiệp – xây dựng trong giai đoạn có nhiều khó khăn nhưng vẫn tăng từ 23,7% lên 26,6% [5].Tỉnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện (11 huyện và 01 thành phố). Dân số toàn tỉnh đến năm 2014 khoảng 1.160.000 người, trong đó tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là 721,82 nghìn người, chiếm 62,7% tổng dân số, số lao động đã qua đào tạo là 227,37 nghìn lao động, số lao động phổ thông là 421,63 nghìn lao động. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và được tỉnh Sơn La chú trọng đào tạo về cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, nông, lâm, ngư nghiệp…Bên cạnh đó, văn hóa – xã hội có bước phát triển tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện, công tác xóa đói, giảm nghèo, các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm tập trung giải quyết; quốc phòng – an ninh đảm bảo, quan hệ hợp tác quốc tế không ngừng được củng cố, tăng cường, mở rộng và phát triển.1.2. Hiện trạng DNNVV tỉnh Sơn LaTheo số liệu thống kê của tỉnh Sơn La, đến hết tháng 12/2017, toàn tỉnh Sơn La có 1.801 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất – kinh doanh. Trong đó, phân theo loại hình: Doanh nghiệp tư nhân có 588 doanh nghiệp, chiếm 32,65%; Công ty TNHH có 709 doanh nghiệp, chiếm 39,37%; Công ty cổ phần 504 doanh nghiệp, chiếm 27,98%. Trong đó hầu hết các doanh nghiệp được xếp vào nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ (trong phạm vi bài viết này, được gọi chung là DNNVV). Hiện nay, DNNVV chiếm hơn 97%, sử dụng hơn 50% lao động, tạo 47% GDP và đóng góp khoảng 40% nguồn thu ngân sách của tỉnh [1], [5]Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong tháng 12/2017 toàn tỉnh có 20 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 108.586 triệu đồng, giảm 9,1% về số doanh nghiệp và giảm 72,6% số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 5.429 triệu đồng, giảm 70,0%. Tính chung toàn tỉnh có 306 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 3.011.339 triệu đồng, tăng 39,7% về số doanh nghiệp và giảm 6,4% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9.841 triệu đồng, giảm 33,0%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động là 52 doanh nghiệp, tăng 57,6%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 22 doanh nghiệp, giảm 66,2% so với cùng kỳ [4].2. Cơ hội và thách thức đối với phát triển DNNVV tỉnh Sơn La giai đoạn 2018-20202.1. Tiềm năng phát triển kinh tế của Sơn LaTiềm năng khoáng sản: Sơn La có trên 150 điểm khoáng sản, trong đó có những loại khoáng sản quý như: Niken – đồng, Ma nhê hít, than và những khoáng sản quý khác như vàng, thủy ngân… Đặc biệt, với đặc điểm địa hình đồi núi, Sơn La có nguồn đá vôi, sét cao lanh trữ lượng lớn, chất lượng tốt, cho phép phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, cát chất lượng cao, đá xây dựng, gạch không nung…Tiềm năng công nghiệp chế biến: Tỉnh Sơn La được biết đến là tỉnh có sản lượng các loại cây công trồng ngắn ngày vào loại cao của cả nước, đặc biệt là ngô và sắn (sản lượng ngô trung bình 670 nghìn tấn/ năm, sản lượng sắn 360 nghìn tấn/ năm), bên cạnh đó là các loại cây trồng khác như cây cà phê, cây chè, cây chuối, cây mận hậu…[2]Tiềm năng du lịch: Sơn La sở hữu cao nguyên rộng nhất Việt Nam là cao nguyên Mộc Châu với độ cao trung bình 1050m, khí hậu ôn đới trong lành. Mộc Châu có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, di tích lịch sử như Động Sơn Mộc Hương, Đồi Mộc Lỵ, Bia Tây Tiến, Thác Dải yếm, Rừng thông Bản Áng (quần thể rừng thông, công viên và hồ nước nhân tạo), những bản làng dân tộc, những lễ hội truyền thống như: Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội Nào Sồng, Lễ hội cầu mùa, ngày hội văn hoá các dân tộc Mộc Châu (diễn ra vào Quốc khánh 2/9 hàng năm), Hội thi Hoa hậu Bò sữa (do Công ty CP Giống bò sữa Mộc Châu tổ chức)… Cùng với những đồng cỏ, đồi chè bát ngát của vùng có khí hậu ôn đới trong lành, Mộc Châu vốn vẫn được khách du lịch ví như Đà Lạt của miền Bắc.Tiềm năng phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, rau và hoa: Sơn La có 927.514,95 ha đất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp lớn là điều kiện thuận lợi để đầu tư sản xuất các vùng nguyên liệu tập trung có quy mô lớn. Đa số đất đai còn màu mỡ, tầng canh tác dày thuận lợi để thâm canh tăng năng suất cây trồng. Sơn La có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau là lợi thế để đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp và đầu tư phát triển những sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương. Đặc biệt với 2 cao nguyên lớn (Mộc Châu và Nà Sản) với đất đai phì nhiêu là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như chè, mía, cà phê, cao su… và các loại cây ăn quả như xoài, nhãn, dứa, na, chuối…các loại rau, hoa và cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới, cây dược liệu. [2]Tiềm năng phát triển chăn nuôi: Tỉnh Sơn La có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi như có nhiều đồng bãi chăn thả, tổng diện tích đồng cỏ gieo trồng lớn, hiện có 2.505 ha cỏ trồng, kế hoạch phát triển đến năm 2015 đạt 5.000 ha, là tiềm năng lớn để phát triển các loại gia súc ăn cỏ như: trâu, bò, dê… Đàn vật nuôi của tỉnh có quy mô lớn về số lượng, đa dạng về chủng loại theo vùng sinh thái và có nhiều giống có giá trị kinh tế cao như: Bò sữa, bò thịt chất lượng cao, gà đen, nhím… là tiềm năng, lợi thế để đầu tư có hiệu quả các dự án phát triển chăn nuôi. [2]Tiềm năng phát triển rừng: Tổng diện tích quy hoạch 3 loại rừng toàn tỉnh là 934.039 ha, chiếm tỷ lệ 66% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó quy hoạch rừng đặc dụng là 62.987,7 ha (đất có rừng 46.653,2 ha, đất chưa có rừng 16.325,5 ha); Quy hoạch rừng phòng hộ 423.992,6 ha (đất có rừng 296.945,8 ha, đất chưa có rừng 127.044,8 ha); Quy hoạch rừng sản xuất 447.067 ha (đất có rừng 229.253,2 ha, đất chưa có rừng 217.814,5 ha). Như vậy tiềm năng về diện tích đất để đầu tư các dự án trồng và bảo vệ rừng tại tỉnh Sơn La là rất lớn. [2]Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản: Tỉnh Sơn La có tiềm năng mặt nước rất lớn để phát triển thủy sản bao gồm 2.443 ha ao, trên 500 hồ đập công trình thủy lợi lớn, nhỏ, gần 5.000 ha ruộng lúa có kết hợp nuôi cá, 02 con sông lớn là sông Đà và sông Mã, 35 dòng suối lớn nhỏ, 02 hồ thủy điện lớn là hồ chứa thủy điện Hòa Bình và Sơn La với diện tích lòng hồ 432 km2. Điều đó khẳng định, Sơn La là một trong những tỉnh Tây Bắc có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển thủy sản. Ngoài ra Sơn La có nhiều tiểu vùng khí hậu thích hợp để phát triển các loại thủy đặc sản như ba ba, các loại các nước lạnh như cá hồi vân, cá tầm, cá lồng… [2]2.2. Cơ hội và thách thức Thách thức chung của Sơn LaPCI năm 2016 của Sơn La so với 2015 tụt 1,72 điểm và tụt xếp hạng 14 bậc. Mức tụt hạng của Sơn La tương đối sâu, đặc biệt là một số tiêu chí vốn dĩ đã là khó khăn của DNNVV nay lại tiếp tục giảm sâu: (Bảng 2.1)

Cơ hội và thách thức của DNNVV Sơn La (Bảng 2.2)

SOLUTIONS TO DEVELOP SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN SON LA PROVINCE IN 2018-2020

MA. LE MINH HIEN

Institute of Agriculture and Rural Development

ABSTRACT:

Son La is a gateway province in the Northwest with natural and socio-economic conditions for economic development. The province’s SMEs are contributing 40% of the provincial income. In 2020, SMEs are expected to contribute up to 45% of provincial budget revenues, hence, it is necessary to have solutions to support and develop SMEs from now to 2020.

Keywords: Son La, small and medium enterprises, period 2018 – 2020.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Phát Triển / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!