Đề Xuất 2/2023 # Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung # Top 4 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Một số giải pháp phát triển bền vững ngành Điện Việt Nam

Để đảm bảo phát triển ngành Điện lực Việt Nam bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cần tập trung nỗ lực vào việc tăng cường khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, kiên định theo đuổi kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon và thúc đẩy đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, mặt trời và sinh khối.

8 đề xuất hoàn thiện Đề án điều chỉnh Quy hoạch điện VII

TS. NGUYỄN MẠNH HIẾN – Hội đồng Khoa học VEA

Phát triển điện lực nói riêng và phát triển năng lượng nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Vì vậy, để đảm bảo phát triển điện lực bền vững cần nghiên cứu triển khai các giải pháp chủ yếu sau:

Khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Có thể nói đây là giải pháp hữu hiệu nhất mà nhiều nước trên thế giới áp dụng, nhằm giảm nhu cầu điện năng để từ đó giảm chi phí đầu tư vào phát triển nguồn lưới cung cấp điện, giảm tác động xấu đến môi trường sinh thái (giảm phát thải ô nhiễm, chiếm dụng đất đai…) và giảm giá thành điện năng…

Theo nghiên cứu, đánh giá của một số chuyên gia năng lượng trong nước và quốc tế, giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả có thể giảm nhu cầu điện năng của cả nước khoảng 11-12% vào năm 2030.

Ví dụ: giả sử, tổng sản lượng điện yêu cầu của toàn quốc năm 2030 bình thường được dự báo khoảng 500 tỷ kWh, thì khi có tính đến khả năng thực khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, sản lượng điện có thể giảm được là khoảng 55-60 tỷ kWh (nghĩa là nhu cầu tổng sản lượng phát điện năm 2030 chỉ còn là 440 – 445 tỷ kWh), tương ứng giảm yêu cầu bổ xung công suất nguồn phát điện khoảng 9 đến 10 ngàn MW trong giai đoạn 2016-2030, kèm theo một khối lượng đáng kể lưới điện truyền tải và phân phối từ nguồn đến phụ tải điện. Tổng chi phí vốn đầu tư tiết kiệm được theo giải pháp ước tính tới vài trục tỷ USD.

Theo đuổi kịch bản phát triển năng lượng phát thải ít carbon

Khí carbon dioxyt (CO2) phát thải từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than trong năng lượng và dầu mỏ trong giao thông vận tải) được coi là tác nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Vì vậy, hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới trong chiến lược phát triển của mình đều hết sức quan tâm đến cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu và theo đuổi các kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon. Đối với nước ta, hiện tại và trong tương lai, lượng phát thải CO2 từ các nhà máy nhiệt điện than chiếm tỷ trọng rất lớn, tiêu thụ than có thể lên đến trên dưới 100 triệu tấn vào năm 2030, trong khi đó lượng than khai thác trong nước có khả năng cung cấp cho sản xuất điện dự báo chỉ có thể hạn chế khoảng 40 triệu tấn/năm, khoảng 2/3 lượng than còn lại sẽ là than nhập.

Để đáp ứng yêu cầu giảm phát thải khí CO2, cần phải nghiên cứu xem xét giảm tỷ trọng cac nhà máy nhiệt điện than trong cơ cấu phát triển nguồn điện mà thay thế bằng các nguồn không/ít phát thải carbon như: tăng cường tỷ trọng nguồn điện từ năng lượng tái tạo và nhập khẩu; xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và các nhà máy điện sử dụng khí hóa lỏng…

Việc giảm tỷ trọng nguồn nhiệt điện than còn có ý nghĩa hết sức quan trọng, là giảm bớt sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn than nhập khẩu, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo

Như trên đã nêu, giải pháp hữu hiệu và chủ động nhất để bù đắp lượng nhiệt điện than suy giảm trong cơ cấu phát triển nguồn điện theo kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon là tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo, mà chủ yếu là thủy điện nhỏ, sinh khối, gió và mặt trời. Thời gian qua, trong các loại nguồn này, ngoài nguồn thủy điện nhỏ đã có truyền thống phát triển từ lâu và đang được tiếp tục duy trì tại các tỉnh miền núi, các loại nguồn khác vẫn chưa được quan tâm đúng mức về các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển và ưu đãi trợ giá bán điện. Tuy nhiên, từ nay trở đi việc đầu tư phát triển các dự án điện từ năng lượng tái tạo sẽ có được các điều kiện thuận lợi, vì các lý do cơ bản sau:

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định “Phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, trong đó đã nêu lên định hướng phát triển các dự án điện sinh khối, gió và mặt trời đến gần 90 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng khoảng 15% tổng sản lượng phát điện vào năm 2030. Chiến lược cũng đề xuất các cơ chế chính sách về ưu tiên, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, về xây dựng giá bán điện, đảm bảo thu hồi chi phí đầu tư và lợi nhuận hợp lý đối các dự án năng lượng tái tạo nối lưới.

Ngoài ra, theo nghiên cứu, đánh giá của các chuyên gia năng lượng quốc tế, chi phí đầu tư các dự án điện từ năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và mặt trời có xu hướng ngày càng giảm mạnh, dẫn tới giá thành điện năng các dự án gió, mặt trời hoàn toàn có thể cạnh tranh được tại một số thị trường, ngay cả khi không có trợ giá và không chỉ vì có nguồn tài nguyên tốt. Theo khảo sát đánh giá của chuyên gia Ngân hàng Thế giới – Ts. Pierre Audinet trong báo cáo “Khảo sát con đường phát triển phát thải ít carbon cho Việt Nam” tại Hội nghị “Định hình tương lai phát triển bền vững điện lực Việt Nam”, Đà Nẵng, tháng 11/2015, hiện tại điện mặt trời trên mái nhà rẻ hơn giá điện bán lẻ tại ít nhất 11 quốc gia, điện gió cũng cạnh tranh được với điện than tại các nước: Australia, Chile, Mexico, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại một số nước hoặc khu vực có điện gió, mặt trời, giá cụ thể như sau: Ai Cập, giá điện gió 4cent/kWh; Ấn Độ, tại một số khu vực giá điện gió ở mức 6-10 cent/kWh, so với điện than là 5-8 cent/kWh; Brazil, điện gió 4,5 cent/kWh, rẻ hơn bất kỳ nguồn năng lượng nào khác; Hoa Kỳ, điện gió ở mức 5-8 cent/kWh, rẻ hơn nhiệt điện than mới; Nam Phi, điện gió 7 cent/kWh, rẻ hơn 30% so với nhiệt điện than mới; Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), điện mặt trời 5,6 cent/kWh.

Kết luận

Để đảm bảo phát triển ngành Điện lực Việt Nam bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cần tập trung nỗ lực vào việc tăng cường khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và sinh hoạt; kiên định theo đuổi kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon trong Quy hoạch phát trển Điện lực với quy định bắt buộc áp dụng công nghệ than sạch (công nghệ lò hơi siêu tới hạn) đối với các dự án nhiệt điện than mới và thúc đẩy đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, mặt trời và sinh khối.

Huy P1 ST- NangluongVietnam Online

Công Ty Cổ Phần Điện Tam Long Thủy Điện Hòa Phú

Cấu tạo của một nhà máy thủy điện

Khi chúng ta nhìn một dòng sông cuồn cuộn chảy, chúng ta thật khó để tưởng tượng ra được năng lượng mà nó mang lại. Nếu bạn đã từng đi bè vượt những con thác tung bọt nước trắng xóa thì bạn có thể cảm nhận thấy một phần nhỏ năng lượng của con sông. Những thác nước trắng xóa được tạo ra bởi dòng sông, mang theo một số lượng lớn nước đổ xuống dốc thông qua một lối nhỏ. Khi dòng sông buộc phải chảy thông qua lối hẹp này này, dòng chảy của nó trở nên nhanh hơn. Lũ lụt là một ví dụ khác thể hiện năng lượng mà một khối lượng lớn nước có thể có.

Nhà máy thủy điện khai thác năng lượng nước và sử dụng máy móc đơn giản để chuyển đổi năng lượng này thành điện năng. Đây là những thành phần cơ bản của một nhà máy thủy điện thông thường:

1. Đập (Dam) – Hầu hết các nhà máy thủy điện dựa vào một con đập chứa nước lại, tạo ra một hồ chứa lớn. Thông thường, hồ chứa này được sử dụng như một hồ giải trí như hồ Roosevelt tại đập Grand Coulee tại tiểu bang Washington.

2. Ống dẫn nước (Penstock) – Cửa trên đập mở và lực hấp dẫn đẩy nước chảy qua các đường ống chịu áp. Đường ống dẫn nước đến tuabin. Nước làm tăng dần áp lực khi nó chảy qua đường ống này.

3. Tua bin (Turbine) – Nước hướng về và làm quay các cánh lớn của tuabin, tuabin này gắn liền với máy phát điện ở phía trên nó nhờ một trục. Loại phổ biến nhất của tua bin dùng cho nhà máy thủy điện là Turbine Francis, trông nó giống như một đĩa lớn có những cánh cong. Một tua bin có thể cân nặng khoảng 172 tấn và quay với tốc độ 90 vòng mỗi phút .

Ảnh: Trục kết nối các tua-bin và máy phát điện

4. Máy phát điện (generator) – Khi các cánh tua-bin quay, một loạt các nam châm trong các máy phát điện cũng quay theo. Những nam châm khổng lồ này quay quanh cuộn dây đồng, sản sinh ra dòng điện xoay chiều (AC).

5. Biến áp (Transformer)- Máy biến áp được đặt bên trong nhà máy điện tạo ra dòng điện xoay chiều AC và chuyển đổi nó thành dòng điện có điện áp cao hơn.

6. Đường dây điện (Power Lines) – Trong mỗi nhà máy điện có đến bốn dây : ba dây pha của năng lượng điện được sản xuất đồng thời với một dây trung tính.

7. Cống xả (Outflow) – Đưa nước chảy qua các đường ống – gọi là kênh , và chảy vào hạ lưu sông .

Ý tưởng khai thác các dòng nước để tạo ra điện có từ rất sớm. Ban đầu là các bánh xe lớn đặt thẳng đứng có gắn các gàu múc để đưa nước lên cao. Vào cuối những năm 1820, con người đã biến bánh xe thành tuabin và 50 năm sau, con người đã gắn nó với một máy phát điện ở hạ lưu của một đập giữ nước hồ.

Ngày nay, có khoảng 45000 con đập rải rác trên địa cầu, cung cấp khoảng 1/5 lượng điện tiêu thụ trên toàn thế giới, tức khoảng 2,4 triệu mêga oát. Tại Pháp, khoảng 15% điện là thủy điện. Tại châu Âu, Mỹ, Canada, tiềm năng thủy điện đã được khai thác đến 70%.

Một Số Giải Pháp Góp Phần Phát Triển Bền Vững Các Đô Thị Du Lịch Biển Việt Nam

Thế kỷ 21 là “Thế kỷ của biển và đại dương”. Khai thác vùng biển đã trở thành chiến lược của hầu hết các quốc gia nhằm tìm hiểu và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên vật liệu, thực phẩm, phát triển du lịch và không gian sinh tồn cho tương lai.Việt Nam là quốc gia bên bờ tây của Biển Đông có vùng biển lớn, bờ biển dài và rộng.Theo công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, thì Việt Nam có một vùng biển gấp ba diện tích đất liền, khoảng một triệu km2. Vùng biển Việt Nam có một vị trí địa kinh tế chính trị rất quan trọng và giàu tiềm năng phát triển, đặc biệt là ngành du lịch.Kiến Việt xin giới thiệu tới quý bạn đọc những tham luận sâu sắc được trình bày tại Hội nghị Ban chấp hành và hội thảo Kiến trúc du lịch biển đảo Việt Nam tại Phú Quốc vừa qua.

Việc khai thác biển ngày càng được tăng cường, nhưng còn mang tính tự phát, cát cứ, bộc lộ nhiều nhược điểm và tiềm ẩn những nguy cơ phát triển không bền vững. Nhiều dự án quy hoạch du lịch sinh thái biển đã được lập, nhưng còn thiếu sự kết nối và không có hệ thống theo một chiến lược thống nhất.

Quy hoạch chi tiết khu đô thị du lịch Cái Giá – Đảo Cát Bà – Hải Phòng

Tổ chức lãnh thổ và quy hoạch các đô thị biển, trong đó có những đô thị du lịch biển là một trong những đề tài lớn nhằm thiết lập công cụ điều tiết vĩ mô và biện pháp quan trọng nhất trong chiến lược khai thác và phát triển bền vững, toàn diện vùng biển Việt Nam trong thế kỷ chúng tôi nhiên, các cơ sở khoa học của công tác này còn hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức.

Vùng biển Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọngnằm ở rìa bán đảo Đông Dương, có chiều dài bờ biển 3260 km, ôm ba mặt lãnh thổ: Đông, Nam, TâyNam; bình quân 100 km 2 đất liền /1km bờ biển (gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới).Trên một số tuyến hàng hải quốc tế chính qua biển Đông, trong đó có tuyến qua eo biển Malayxia, có tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới. Trong tương lai, nếu kênh KRA ở Thái Lan được xây dựng, sẽ thu hút một số thuyền biển lớn qua đây. Vùng biển Việt Nam sẽ trở thành “Cầu nối” quan trọng để phát triển thương mại và giao thương quốc tế. (Dẫn theo Biển và đảo ViệtNam, tr.59)

Về tài nguyên du lịch, vùng biển Việt Nam có tiềm năng vô cùng lớn với hơn 300 bãi biển lớn, trong đó có 25 bãi biển đạt quy mô quốc tế, trong đó đang khai thác trên 30 bãi thu hút 14 triệu khách quốc tế, cảnh quan thiên nhiên đẹp, khí hậu ôn hòa, môi trường văn hóa xã hội đa dạng phong phú. Có nhiều di sản văn hóa lịch sử có giá trị: Vịnh Hạ Long, Nha Trang, tài nguyên khoáng sản đa dạng: Than (Cẩm Phả); sắt (Thạch Khê); Titan (Kỳ Anh); cát (Khánh Hòa, Văn Hải, Ba Đồn, Nam Ô, Hòn Gốm, Thủy Triều); đá vôi xi măng (Hoành Bồ, Kim Sơn, Hoàng Mai, Bố Trạch, Hà Tiên).

Là địa bàn thu hút đầu tư và thúc đẩy hậu phương phát triển:

Hình 2- Sơ đồ đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam(Theo Cục Đo đạc và bản đồ Nhà nước vẽ tháng 7 năm 1982)

Thực trạng phát triển các đô thị du lịch biển Việt Nam

Các đô thị bố trí tại vùng biển của Việt Nam là 129 đô thị trong đó:

– Đô thị cấp quốc gia (thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà Nẵng): (03);– Đô thị cấp vùng (Hạ Long, Huế, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Quy Nhơn):(06) ;– Đô thị cấp khu vực (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Sầm Sơn, Cửa Lò, Hà Tĩnh, Đồng Hới, Đông Hà, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Cam Ranh, Phan Rí, Hàm Tầm, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Gía, Hà Tiên):(22);– Đô thị cấp cơ sở (thị trấn): (80);– Đô thị mới (Vân Đồn, Nhơn Hội, Long Hải, Chu Lại, Vân Phong, Điện Nam- Điện Ngọc, Vạn Tường, Chân Mây, Kỳ Anh, Nghi Sơn, Quảng Yên, Phát Diệm, Vạn Tường): (13);– Đô thị đảo (Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà, Trường Sa, Hoàng Sa):(05);

Hình 3- Bản đồ mạng lưới các đô thị Việt NamNhận xét1. Phân bổ và phát triển các đô thị biển khá đồng đều dọc theo 3260 km bờ biển.2. Địa điểm xây dựng: Tại vùng cửa sông ven biển, vịnh, nơi có điều kiện xây dựng hải cảng, phát triển du lịch, khai thác tài nguyên biển và quĩ đất dồi dào.3. Chức năng:– Đô thị du lịch biển: 16- (12%)– Đô thị có chức năng tổng hợp, trong đó có tính chất du lịch biển: 115- (87%)– Đô thị di sản quốc gia, quốc tế: 03 (2%)4. Phần lớn các đô thị du lịch biển đã được lập quy hoạch và được quản lý xây dựng, phát triển theo qui hoạch được duyệt.5. Tại vùng biển khơi, các đô thị du lịch chưa phát triển.Những vấn đề còn tồn tại và một số giải pháp góp phần phát triển bền vững đô thị du lịch biển Việt Nam

Sự phát triển bền vững các đô thị du lịch biển Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại.

1.Các nhóm tiêu chí đánh giá của WB

– Chất lượng cuộc sống;

– Sự lành mạnh về tài chính;

– Khả năng cạnh tranh;

4- Năng lực quản lý đô thị.

2.Các vấn đề còn tồn tại

– Chưa có một nhận thức đầy đủ và một khái niệm rõ ràng về đô thị du lịch cũng như các điều kiện để công nhận đô thị du lịch: Điều 31,32,33. Mục 2_Luật Du lịch năm 2005; Điều 11_Nghị định số 92/2007/NĐ_CP ngày 01tháng 06 năm 2007 của Chính phủ. Nghị định số 42/2009/NP-CP ngày 07 tháng 05năm 2009 về phân loại đô thị của Chính phủ.

– Thiếu một chiến lược thống nhất về tổ chức lãnh thổ và phát triển hệ thống đô thị du lịch biển

– Không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lọai qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, qui hoạch phát triển du lịch, qui hoạch sử dụng đất đai, qui hoạch môi trường với qui hoạch đô thị.

– Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ, cán bộ ngành và chính quyền của 28 tỉnh, thành phố trực thuộc TW có biển.

– Cơ sở khoa học để xây dựng mô hình và các giải pháp cấu trúc đô thị sinh thái du lịch biển Việt Nam.

– Thiếu những định hướng phát triển, và quản lý kiến trúc- cảnh quan, môi trường, khai thác tài nguyên biển dẫn đến diện mạo kiến trúc thiếu bản sắc, sự phát triển không gian tùy tiện mất trật tự về xây dựng và sử dụng đất dọc theo 3260 km ven biển và biển.

-Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu: Nước biển dâng, ngập úng; Nhiệt độ tăng; Thiên tai;

– Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc khu vực liền kề;

– Ngành du lịch có vị trí quan trọng trong việc tạo lập cơ sở kinh tế, trong đó tỷ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng số thu nhập của các ngành dịch vụ;

– Tỉ lệ lao động làm việc trong ngành dịch vụ du lịch lớn;

– Tỉ lệ khách du lịch trên qui mô dân số tối thiểu là 40%

– Có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ phục vụ nhu cầu khách du lịch;

– Có các sản phẩm du lịch phong phú phục vụ cho nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

(Tham luận trình bày tại Hội thảo Kiến trúc du lịch biển Việt Nam do Hội kiến trúc sư Việt Nam tổ chức tại Phú Quốc ngày 16/11/2012)Đề xuất 2: Tổ chức lãnh thổ và sắp xếp lại mạng lưới đô thị du lịch biển cả nước.

Dựa vào hệ thống các vùng kinh tế-xã hội;Qui hoạch phát triển du lịch;Định hướng qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam làm căn cứ đề xuất

+ Từ đó đề xuất hình thành bốn vùng du lịch biển:

– Vùng Bắc Bộ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình;

– Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế;

– Vùng Nam Trung Bộ: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Trung Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận;

– Vùng Nam Bộ: Barịa-Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang;

+ Quy hoạch sử dụng đất hợp lý các vùng du lịch biển, gồm 04 khu vực sau:

– Khu vực tiền phương gồm: Biển và thềm lục địa;

– Khu vực ven biển khoảng 1000m-1500m, gồm: bờ biển, cửa sông dành để bố trí cảng, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, bãi tắm và vùng bảo vệ thiên nhiên;

– Khu vực xây dựng đô thị khoảng 3-5 km: dùng để bố trí các khu chức năng đô thị như: (các khu du lịch, nghỉ dưỡng, các khu nhà nghỉ cuối tuần, các khu trung tâm dịch vụ, các khu trung tâm chuyên nghành, các khu dân cư);

– Khu vực hậu phương bao gồm: Vùng trung chuyển giữa đô thị du lịch biển với hậu phương và hậu phương cảng, nơi dành để bố trí các đô thị vệ tinh, giao thông đối ngoại và vùng bảo vệ thiên nhiên – cân bằng sinh thái, các tour, trung tâm và đô thị du lịch đồng bằng, miền núi.

+ Sắp xếp lại mạng lưới đô thị du lịch biển theo 4 vùng du lịch biển, trong đó:

– Vùng Bắc Bộ:Thành phố Hạ Long; thành phố Hải Phòng là hạt nhân;

– Vùng Bắc Trung Bộ: Thành phố Huế, Đồng Hới, Vinh- Cửa Lò và Thanh Hóa-Sầm Sơn là hạt nhân;

– Vùng Nam Trung Bộ: Thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, Phan Thiết là hạt nhân;

– Vùng Nam Bộ: Thành phố Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cà Mau và Rạch Giá- Phú Quốc là hạt nhân;

Hình 6- Các Vùng du lịch Việt Nam – Các tuyến điểm chủ yếu3. Đề xuất 3. Mô hình cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam

– Dùng các chủ trương của Chính phủ: Phát triển bền vững trên nền tảng đô thị sinh thái và Kiến trúc xanh;Cấu trúc địa mạo và phong thổ các vùng ven biển và biển;Cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển phát triển tự nhiên trên cơ sở tổng kết 16 đô thị du lịch biển Việt Nam;

– Xu thế qui hoạch đô thị du lịch biển hiện đại.

+ Khái niệm du lịch sinh thái?° Dựa vào thiên nhiên; các hệ sinh thái tự nhiên có đa dạng sinh học cao ( Natural-based tourism)- (N)° Gắn với bản sắc văn hóa địa phương -(C)° Có sự tham gia của cộng đồng- (P)Hình 8- Ba trụ cột của du lịch sinh thái

+ Các dự án qui hoạch phát triển du lịch sinh thái biển hấp dẫn hàng đầu thế giới từ năm 1970 đến nay

Đảo Phú Kẹt (Thái Lan)Đảo Madivo,Bali(Indonesia)Hình 9- Hình ảnh các khu du lịch sinh thái biển Các nguyên tắc qui hoạch đô thị du lịch sinh thái biển hiện đại Hạn chế: Kiểm soát chặt chẽ; Bảo tồn và nuôi dưỡng.Các giải pháp qui hoạch theo kinh nghiệm thế giới Phân vùng cảnh quan môi trường: Vùng bảo vệ tuyệt đối từ 100-500 m; Khống chế phát triển bằng hai nhóm chỉ số: Sức chứa và thị trường thông qua các chỉ tiêu xây dựng các công trình phục vụ du lịch; Hạn chế chiều cao xây dựng, tăng diện tích cây xanh(40-60m2/người) và dành ít nhất 1/3 không gian cho bảo tồn; Phát triển và đa dạng hóa các loại hình du lịch sinh thái biển: Thể thao, nghỉ dưỡng, tắm biển, thăm quan, nghiên cứu; Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch; Tăng cường vai trò của các Hiệp Hội du lịch.Các nguyên tắc hoàn thiện mô hình cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam

+ Đô thị du lịch sinh thái biển là một hệ sinh thái gồm 2 phân hệ: Tự nhiên và Xã hội, được gắn kết với môi trường xung quanh tạo thành một thể thống nhất;

+ Đô thị du lịch là một hệ thống lãnh thổ du lịch gồm hai bộ phận chủ yếu cấu thành là: Môi trường với các điều kiện phát sinh nhu cầu du lịch (I) và hệ thống lãnh thổ du lịch(II);

1-Giao thông; 2- Khách du lịch; 3-Dân cư địa phương;4- Tài nguyên du lịch; 5- Hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội

Hình 10 – Hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Buchovarop, 1975)

– Các nguyên tắc hình thành cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển trong các điều kiện của ViệtNam:

+ Hạt nhân hoặc hệ thống lãnh thổ, du lịch là vùng ưu tiên phát triển các bộ phận cấu thành du lịch gồm: Các khu du lịch, các khu dân cư, tài nguyên du lịch, dịch vụ công cộng, hạ tầng kỹ thuật, không gian bảo tồn.

+ Vành đai xanh;

+ Vùng dự trữ phát triển và cân bằng sinh thái;

+ Môi trường xung quanh với các điều kiện phát sinh du lịch và nuôi dưỡng đô thị du lịch.

+ Kết cấu hạ tầng giao thông diện rộng gắn kết với môi trường và thị trường du lịch

– Kiến nghị sơ đồ nguyên tắc hình thành cấu trúc đô thị du lịch sinh thái biển Việt Nam (hình11)

Đề xuất 4- Phát triển Kiến trúc đô thị du lịch biển có bản sắc riêng

Căn cứ đề xuất

– Thực trạng Kiến trúc đô thị du lịch biển;

– Định hướng phát triển kiến trúc ViệtNam;

– Lý luận và thực tiễn thiết kế đô thị.

Nội dung đề xuất

– Kiến nghị 1: Hình thành diện mạo kiến trúc tổng thể đô thị du lịch biển đặc trưng

– Kiến nghị 2: Tạo lập hình ảnh Kiến trúc đô thị du lịch biển: Dễ đọc, dễ tưởng tượng , dễ nhận dạng với cấu trúc riêng;

+ Các yếu tố cấu thành cần được sắp xếp theo trật tự:

+ Các điểm nhấn(mốc không gian)

+ Các trọng điểm(trung tâm thu hút các hoạt động công cộng)

+ Các lưu tuyến(đường bộ, sông ngòi…)

+ Các quần thể kiến trúc đồng nhất: Các khu chức năng: Nhà ở, công trình công cộng, công nghiệp, resort, công viên .v.v..

– Các ranh, ngưỡng: Đường phân định giới hạn giữa các vùng và khu chức năng hoặc không gian trung chuyển;

– Các mối quan hệ tương hỗ: Tỷ lệ xích và các mối quan hệ tương hỗ giữa các

Đề xuất 5: Đối với đảo Phú Quốc

Chiến lược phát triển Đảo là Ngành du lịch;

Du lịch sinh thái là nền tảng xây dựng và phát triển bền vững Đảo;

Không nên tập trung quá nhiều dân cư thường trú và tăng tỉ lệ đất phi nông nghiệp. Lưu ý đảm bảo 6 điều kiện để xây dựng Đảo thành đô thị du lịch sinh thái

Nghiên cứu vận dụng các kinh nghiệm và mô hình qui hoạch đô thị sinh thái biển nổi tiếng thế giới để xây dựng đảo Phú Quốc trở thành một ” Đô thị du lịch quốc tế tự do” nổi tiếng;

Nghiên cứu một đề án riêng về phát triển kiến trúc và cảnh quan cho đảo Phú Quốc.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010, tr 96. Tổng cục du lịch 1994)PGS.TS.KTS. Trần Trọng HanhTham luận tại Hội nghị Ban chấp hành và hội thảo Kiến trúc du lịch biển đảo Việt Nam tại Phú Quốc

Phát Triển Bền Vững Thủy Sản Xuất Khẩu Của Việt Nam

Tổng quan tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam thời gian gần đây

Trong 5 năm qua, ngành Thủy sản Việt Nam đã nắm bắt được điều kiện thuận lợi, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu để đạt được kết quả ấn tượng, đóng góp đáng kể vào GDP quốc gia, giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động địa phương, tạo ra nhiều doanh nghiệp (DN) mũi nhọn đối với nền kinh tế và làm thay đổi bộ mặt phát triển nhiều địa phương trong cả nước. Từ 2012 đến 2016, ngành Thủy sản có “bước phát triển vàng” với tổng giá trị xuất khẩu đạt khoảng 46 tỷ USD, lớn hơn nhiều tổng giá trị xuất khẩu trong 11 năm trước đó.

Giai đoạn này, Việt Nam đã mở rộng xuất khẩu hàng thủy sản đến 50 thị trường trên thế giới. Những thị trường chính đem lại nguồn lợi lớn là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Đức, Australia… Trong đó, Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất mặt hàng thủy sản Việt Nam và Trung Quốc là thị trường tiềm năng của nước ta.

Để đảm bảo nguồn cung cho thị trường, thời gian qua Chính phủ và các cơ quan chức năng có nhiều chính sách về khai thác, đánh bắt bền vững nguồn thủy sản biển, mở rộng quy mô nền sản xuất. Việt Nam cũng tập trung đối phó các vấn đề pháp lý, chính sách bảo hộ thương mại và tác động từ thị trường đến nền sản xuất – xuất khẩu thủy sản của nước ta.

Bên cạnh các yếu tố thuận lợi, ngành Thủy sản nước ta cũng gặp phải không ít khó khăn, trong đó, phải kể đến là tình trạng chênh lệch giữa quy mô, khối lượng sản xuất và giá trị xuất khẩu, đời sống của người lao động chưa được cải thiện và ô nhiễm môi trường gia tăng.

Từ nay đến năm 2020, Chính phủ đề ra mục tiêu phấn đấu giữ ổn định sản lượng khai thác thủy sản ở mức 2,4-2,6 triệu tấn/năm, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 11%/năm. Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ sẽ nỗ lực, tạo điều kiện về chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển ngành Thủy sản. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, có nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động tới sự phát triển bền vững của ngành Thủy sản xuất khẩu:

– Về tác động tích cực: Việt Nam có nhiều yếu tố thiên nhiên ban tặng như đường bờ biển dài, hệ thống sông, hồ đa dạng rất thuận lợi cho nuôi trồng các loại thủy sản. Biển của Việt Nam có nhiều dòng hải lưu nóng, lạnh khác nhau nên nguồn cá, hải sản khá phong phú. Ngư dân Việt Nam có truyền thống đi biển khai thác hải sản lâu đời, hình thành các làng nghề đánh cá xa bờ cũng như có đặc điểm tính cách phù hợp với phát triển ngư nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã quan tâm và tập trung phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này, tạo lập hệ thống sản xuất – kinh doanh có chiến lược, bài bản. Nhờ đó, hải sản Việt Nam đã xây dựng được thương hiệu uy tín, được người tiêu dùng trong khu vực và thế giới ưa chuộng.

– Về tác động tiêu cực: Ngành Thủy sản nước ta hiện nay đang phải đối mặt với yếu tố thời tiết, biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng tới quy hoạch, cơ cấu sản xuất và tập quán nuôi trồng thủy sản của người dân. Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm môi trường ở sông, hồ, một số vùng biển khiến thủy sản chết hàng loạt.

Tình trạng tăng trưởng “nóng” của một số thị trường thủy sản cũng để lại nhiều hệ lụy, nhất là “tình trạng được mùa mất giá”. Ngoài ra, sự thay đổi tỷ giá, biến động thị trường cũng tác động mạnh đến DN và toàn ngành Thủy sản.

Ưu tiên phát triển bền vững xuất khẩu thủy sản

Những năm gần đây, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã tập trung xây dựng và ban hành nhiều chính sách, văn bản quy định nhằm phát triển xuất khẩu thủy sản bền vững. Cụ thể là Chính phủ đã tập trung vào 3 lĩnh vực trụ cột như: Nâng cao chất lượng tăng trưởng; Gắn việc sản xuất – xuất khẩu thủy sản với công tác bảo vệ môi trường (BVMT); Đồng thời, sản xuất – kinh doanh thủy sản phải góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Với quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế cao như Việt Nam, Quốc hội đã sớm ban hành Luật Thủy sản (11/2003) quy định về hoạt động thủy sản, bao gồm các hoạt động khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Đáng chú ý, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Trong đó, ngành Thủy sản điều chỉnh sản xuất từ phát triển theo số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm tăng giá trị và lợi nhuận. Chính phủ cũng khuyến khích DN áp dụng công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế khác để nâng cao giá trị hàng thủy sản xuất khẩu.

Cơ quan chức năng cũng đã nghiên cứu và tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Quy hoạch chỉ rõ bất cập trong tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu thủy sản, đề ra mục tiêu, định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản bền vững; Đồng thời, ban hành một số chính sách phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có giá trị như cá tra, tôm…

Để thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường lớn, Việt Nam cũng đề ra các chính sách khuyến khích sản xuất các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, BVMT. Các quy định này khá cụ thể, nhất là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điệu kiện an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu; Quy phạm thực hành VietGAP nhằm kiểm soát lĩnh vực an toàn thực phẩm, giảm tác động đến môi trường.

Ngoài ra, còn có nhiều chính sách hiệu quả khác về mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thủy sản, tăng cường xúc tiến thương mại; về quản lý, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thủy sản; chính sách tín dụng; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hậu cần dịch vụ thủy sản phục vụ xuất khẩu.

Bên cạnh các chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, nền sản xuất thủy sản của Việt Nam cũng được đặt trong sự thống nhất, gắn kết với các chính sách, quy định về BVMT. Luật BVMT được Quốc hội thông qua năm 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển nền thủy sản bền vững.

Chính phủ ban hành Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 nêu rõ, cấm sử dụng công cụ mang tính hủy diệt môi trường nước để khai thác; quy định khai thác, đánh bắt thủy sản trưởng thành nhằm tránh tận diệt nguồn thủy sản; cấm đánh bắt thủy sản quý hiếm, nguy cơ tuyệt chủng; quy định về việc giao các khoán các khu vực biển cho tư nhân khai thác phải đảm bảo yếu tố môi trường… nhằm tăng cường công tác BVMT trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành một số văn bản có những nội dung quy định rõ về việc hạn chế khai thác tài nguyên, bảo tồn nguồn lợi thủy sản như Thông tư 64/2010/TT-BNNPTNT ngày 04/11/2010; Thông tư 39/2013/TT-BNNPTNT ngày 12/8/2013; Quyết định 375/QĐ-TTg ngày 1/3/2013.

Cơ quan chức năng cũng tích cực tham mưu Chính phủ ban hành nhiều chính sách kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm về BVMT trong hoạt động sản xuất – xuất khẩu thủy sản. Các quy định trên góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, BVMT, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản…

Ngoài những nội dung trên, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Một nền xuất khẩu thủy sản bền vững thì phải góp phần đảm bảo an sinh – xã hội. Do đó, Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách gắn hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản cùng với giải quyết các vấn đề xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô.

Chính phủ đặc biệt quan tâm tới các đối tượng dễ bị tổn thương trước những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp như người nông dân, các trang trại, DN vừa và nhỏ. Nhiều trường hợp chịu thiệt hại nặng dẫn tới không thể tái sản xuất, lâm vào cảnh phá sản, nợ xấu.

Để hỗ trợ hiệu quả nhóm đối tượng này, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành GAP trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở DN, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động; Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 có các quy định về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.

Bên cạnh các ưu đãi này, Chính phủ thông qua các thiết chế, chính sách để đảm bảo chia sẻ lợi ích hợp lý giữa những người tham gia quá trình sản xuất – xuất khẩu thủy sản; đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người nông dân, DN, giới tiểu thương…

Thách thức với ngành Thủy sản và kiến nghị đặt ra

Trong tăng trưởng chất lượng xuất khẩu, thách thức lớn với ngành Thủy sản thời gian tới là các DN, hộ nuôi trồng thủy sản phá vỡ quy hoạch; không tuân thủ các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, môi trường. Quá trình sản xuất chưa chú trọng quy hoạch phát triển theo chiều sâu gắn với thị trường tiêu thụ.

Thực trạng này đã tồn tại từ lâu song chưa thể cải thiện nhanh trong thời gian tới. Các DN thủy sản chưa làm tốt công tác tổ chức sản xuất, chưa xây dựng chuỗi liên kết giữa sản xuất nguyên liệu đầu vào với chế biến xuất khẩu; thị trường nguyên liệu thủy sản trong nước có nguy cơ bị thâu tóm bởi thương lái Trung Quốc.

Về thị trường, trong thời gian tới, chủ nghĩa bảo hộ thương mại sẽ tiếp tục diễn biến tiêu cực đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó, các biện pháp rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe hơn và chính sách, thủ tục nhập khẩu của nhiều nước cũng sẽ thường xuyên được điều chỉnh ở nhiều cấp độ trong khi việc cạnh tranh nguồn cung cũng khốc liệt.

Đối với những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, nguy cơ lượng hàng thủy sản bị trả về tăng cao, gây thiệt hại cho các DN và uy tín của ngành Thủy sản Việt Nam.

Với cơ cấu tỷ trọng xuất khẩu thủy sản Việt Nam hiện nay, mặt hàng có giá trị xuất khẩu trong thời gian tới còn thấp, DN sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và chế biến xuất khẩu, đồng nghĩa là sẽ làm giảm lợi nhuận và sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt.

Cơ hội về thu nhập và việc làm dựa vào xuất khẩu thủy sản chưa thật sự bền vững. Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng lao động trong sản xuất – xuất khẩu thủy sản chưa cao, thiếu kiến thức kinh doanh, không đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Dù vậy, có tín hiệu đáng mừng là lợi ích từ sản xuất – xuất khẩu sẽ được cải thiện, phân phối đồng đều hơn cho các bên tham gia trong thời gian tới, góp phần kéo gần khoảng cách giàu nghèo và giảm mâu thuẫn lợi ích giữa các bên.

Từ những thách thức trên, Việt Nam cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách, văn bản hướng dẫn về phát triển bền vững ngành Thủy sản theo hướng thiết thực, bám sát diễn biến thực tiễn.

Đồng thời, tập trung chủ yếu vào 3 trụ cột quan trọng là nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản; gắn tăng trưởng thủy sản với yêu cầu, nhiệm vụ BVMT; nuôi trồng thủy sản xuất khẩu phải góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người lao động.

Thứ nhất, triển khai các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản cần được ưu tiên hàng đầu. Hiện nay, các DN và người nông dân rất cần định hướng trong nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản để tăng lợi nhuận nhưng giảm quy mô đầu tư.

Đây là vấn đề sống còn trong cạnh tranh thương mại với đối thủ kinh doanh khác. Chính phủ sớm ban hành các văn bản định hướng, tạo lập các chiến lược, kế hoạch cụ thể đối với từng vùng nhằm phát triển các mặt hàng thủy sản có giá trị. Cơ quan chức năng cần làm việc với các DN và hỗ trợ họ trong tìm kiếm thị trường nhập khẩu hàng thủy sản giá trị cao.

Mở rộng thị trường xuất khẩu, Chính phủ và cơ quan chức năng cần rà soát lại các thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp, giảm thời gian kiểm nghiệm, cấp chứng thư; đẩy mạnh áp dụng việc đăng ký điện tử thông quan hàng hóa. Tuy nhiên, các chính sách cần đảm bảo không để thất thoát thuế, phí mà vẫn tạo thuận lợi cho DN.

Ngoài ra, để tăng cường chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản, sớm đề ra chính sách đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, quản lý và chất lượng nguồn nhân lực; khuyến khích các DN phát huy sáng kiến, ứng dụng giải pháp công nghệ trong sản xuất. Chính phủ và Bộ Thông tin Truyền thông sớm có chính sách nâng cao năng lực của các trung tâm khuyến ngư, phổ biến kiến thức khoa học, kinh nghiệm về đánh bắt, nuôi trồng thủy sản.

Thứ hai, đề cao yêu cầu, nhiệm vụ BVMT trong chính sách xuất khẩu thủy sản. Để có chính sách bám sát tình hình thực tế, trước hết cơ quan chức năng sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thăm dò các nguồn tài nguyên thủy sản ở các vùng biển của Việt Nam; Xây dựng bản đồ số hóa về phân bổ nguồn lợi hải sản tạo cơ sở để cơ quan chức năng dự báo, tham mưu các biện pháp phát triển ngành Thủy sản với nhiệm vụ BVMT.

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tiếp tục thực hiện hiệu quả, thực chất các đề án, dự án bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học; áp dụng mô hình chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ven bờ không thân thiện với môi trường sang các ngành nghề khác có hiệu quả kinh tế cao. Bộ Công an và các bộ, ngành khác tham mưu Chính phủ ban hành chế tài “mạnh tay” hơn trong kiểm soát các loại thủy sản bị cấm xuất khẩu; thực hiện nghiêm quy định xử phạt theo Luật BVMT.

Thứ ba, tình hình phân phối lợi ích trong quá trình sản xuất và xuất khẩu thủy sản hiện nay còn nhiều bất cập, giá trị thu được từ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản chưa đóng góp nhiều vào giải quyết vấn đề xã hội. Do đó, cơ quan chức năng sớm tạo lập các chính sách mới, hiệu quả để giải quyết tồn tại này.

Thứ tư, trong quá trình sản xuất và xuất khẩu thủy sản bền vững, DN đóng vai trò rất quan trọng, là nguồn lực chính để thúc đẩy tăng trưởng. Vì vậy, Chính phủ tăng cường chỉ đạo, định hướng, kết nối và khai thông các vướng mắc trong hoạt động của DN, trong đó chú trọng các chính sách thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến thủy sản xuất khẩu; quy hoạch lại sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm, đảm bảo phát triển đồng bộ. Các chính sách mới nên tập trung vào biện pháp nâng cao sức cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường và sản xuất thủy sản xuất khẩu, xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm thủy sản Việt Nam.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!