Đề Xuất 11/2022 # “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh / 2023 # Top 18 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BÁO CÁO KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1. Lời giới thiệu

Như chúng ta đã biết: Nhà giáo giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới GD&ĐT vì chính họ là những người thực thi công cuộc đổi mới. Nếu họ không có đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ thì vô tình họ sẽ trở thành lực cản cho công cuộc đổi mới. Trong khi đó, phát triển một đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn chất lượng, đủ về số lượng và đồng bộ về  trình độ cho các cấp học, bậc học là một việc rất khó khăn và phải thực hiện quyết liệt trong nhiều năm mới có được.         Trước xu thế phát triển của lịch sử, những thách thức lớn của thời đại, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong giai đoạn cách mạng mới, nhất là trong điều kiện đất nước đang trong thời kỳ hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng với thế giới thì vai trò của người giáo viên trong Nghị quyết trung ương II khoá VIII cũng chỉ rõ “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh, giáo viên phải có đủ đức tài”. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; có tinh thần đoàn kết, tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm …”.

Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn mới đòi hỏi người cán bộ quản lý không ngừng đổi mới công tác quản lý nhà giáo, không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả, quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành, các cơ quan quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

 Với vị trí vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục nói chung và của từng nhà trường nói riêng, ngành giáo dục đưa sự nghiệp giáo dục nước nhà ngày một đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Năm học 2016-2017 là năm học tiếp tục thực hiện chương trình  hành động  của Chính phủ, của Tỉnh ủy, kế hoạch của UBND tỉnh về  thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Thực hiện các giải pháp phát triển qui mô, mạng lưới trường, lớp đáp ứng nhu cầu gửi trẻ. Tăng cường huy động trẻ nhà trẻ độ tuổi 24-36 tháng ra nhóm trẻ. Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho vùng khó khăn; đẩy mạnh xây dựng trường Mầm non đạt Chuẩn Quốc gia.

Thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non. Tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình GDMN, đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Nâng cao chất lượng tổ chức bữa ăn bán trú cho trẻ; chất lượng phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi.

          Tiếp tục đổi mới công tác quản lý theo hướng phân cấp, hiệu quả; tăng cường tính tự chủ của cơ sở Giáo dục Mầm non. Tập trung quản lý chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các sơ sở GDMN. Tăng cường các biện pháp quản lý và hỗ trợ các cơ sở GDMN ngoài công lập.

Phát triển đội ngũ quản lý, GVMN theo hướng nâng cao phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDMN. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của Bộ về đổi mới và phát triển Giáo dục mầm non.

          Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”; đưa các nội dung của cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thành các hoạt động thường xuyên, tự giác trong các cơ sở GDMN.

Với trách nhiệm lớn lao của một người cán bộ quản lý, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà trường. Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần phải có sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao. Cần phải chú trọng công tác nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm duy trì và phát triển chất lượng giáo dục trong nhà trường ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục mầm non trong thời đại hiện nay, góp phần thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự hoc và sáng tạo” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục bởi giáo viên là người trực tiếp thực hiện công tác giáo dục. Đội ngũ  có trẻ, khỏe, nhiệt tình, có “vừa hồng- vừa chuyên” thì mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục mà Đảng và Nhà nước giao phó. Đội ngũ có vai trò quan trọng, góp phần thắng bại cho nhà trường nói riêng, cho ngành học nói chung, và đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước của toàn nhân loại.

Bản thân được giao nhiệm vụ Phụ trách nhà trường. Trăn trở với mục tiêu chung của giáo dục bậc học mầm non có nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ phát triển một cách toàn diện kể cả thể chất lẫn tinh thần. Cùng với nhiệm vụ chung của năm học tiếp tục thực hiện “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” và các cuộc vận động lớn của ngành. Đảm bảo tốt về chất lượng giúp cho trẻ phát triển ngày càng khỏe mạnh và thông minh để mai này làm những chủ nhân trong tương lai góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước góp phần thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua vì trẻ ở lứa tuổi mầm non ngoài sự dạy dỗ của ông bà, cha mẹ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của trẻ là sự dạy dỗ của cô giáo mầm non. Để thực hiện tốt việc đó thì đội ngũ cán bộ giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng để góp phần cho sự thành công. Từ những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, tôi đã quyết định nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ trong nhà trường nhằm năng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.

2. Tên sáng kiến:

“Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường mầm non ĐồngTĩnh – huyện Tam Dương-  tỉnh Vĩnh Phúc”.

3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

– Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Dung

– Địa chỉ tác giả sáng kiến: Xã Đồng Tĩnh- huyện Tam Dương- Vĩnh Phúc

– Số điện thoại: 01684.850.188   

  Email: nguyenthikimdung.c0dongtinh@vinhphuc.edu.vn

4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Thực hiện nâng cao chất lượng  đội ngũ ở trường mầm non ĐồngTĩnh – huyện Tam Dương-  tỉnh Vĩnh Phúc

5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:

Tháng 07/2016 đến tháng 02/2017.

6. Bản chất của sáng kiến:

6.1. Về nội dung của sáng kiến:

  6.1.1. Cơ sở lý luận.

Chất lượng giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non.

 Trách nhiệm lớn đặt trên vai ngành giáo dục, đòi hỏi ngành phải có đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên giỏi, vì đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non. Mục tiêu của giáo dục nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục để theo kịp những yêu cầu của xã hội. Để đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phẩm chất chính trị, trình độ năng lực, có lương tâm nghề nghiệp và nhân cách nhà giáo, có lòng nhân ái tận tuỵ, thương yêu trẻ hết mình, có như vậy thì chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mới đạt hiệu quả cao.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên là lực lượng nòng cốt của toàn bộ sự nghiệp giáo dục nói chung và sự nghiệp giáo dục mầm non nói riêng, bởi vì: Họ là lực lượng đông đảo nhất trong nhà trường, hàng ngày họ trực tiếp chăm sóc giáo dục hàng triệu trẻ em từ tuổi nhà trẻ đến tuổi các em vào học lớp 1 trường tiểu học. Họ là những người hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người, là người quyết định, người chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ; chuẩn bị nguồn lực ban đầu cho giáo dục phổ thông, cung cấp nguồn lực trực tiếp cho giáo dục tiểu học. Sự nghiệp giáo dục mầm non thành hay bại quyết định phần lớn là đội ngũ cán bộ, giáo viên trường mầm non.

Quan điểm của Đảng về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên. Chỉ thị số 40CT/TW ngày 15 tháng 06 năm 2004 của Ban Bí thư trung ương về việc xây dựng, nầng  cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu rõ: Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập như: Số lượng giáo viên còn thiếu, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Một số bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục; chế độ chính sách còn bất hợp lý. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Mục tiêu là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đặc biệt chú trọng nầng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo”

6.1.2. Thực trạng về đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên trường mầm non Đồng Tĩnh- Tam Dương- Vĩnh Phúc

Trường mầm non Đồng Tĩnh trong những năm qua luôn có sự thay đổi về công tác đội ngũ, số lượng quản lý, giáo viên, nhân viên nghỉ hưu; chuyển đến và đi do yêu cầu công tác; giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm giảng dạy, giáo viên lớn tuổi không còn năng động sáng tạo; giáo viên cũ trình độ chuyên môn đào tạo trước đây là trung cấp học tại  chức.  Với trình độ chuyên môn, tay nghề của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, vì vậy trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ gặp nhiều khó khăn; không đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

Tình hình đội ngũ đầu năm học 2016- 2017 như sau:

– Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường là: 26 người

              + Ban giám hiệu : 03

              + Giáo viên :        22

              + Nhân viên:        01

– Trình độ đào tạo:

             + Đại học:     16

                      + Trung cấp: 10 (trong đó đang học đại học 4 )

* Thuận lợi:

– Trường mầm non Đồng Tĩnh có 100% cán bộ giáo viên nhân viên đã đạt chuẩn đào tạo. Đội ngũ giáo viên nhà trường tích cực tham gia học tập nâng cao

 trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho bản thân.

– Phần đông, đội ngũ nhà trường có tuổi đời tương đối trẻ khỏe, nhiệt tình, tận tụy, tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và phần lớn là người địa phương nên thuận tiện trong việc đến trường và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục.

* Khó khăn:

– Tỷ lệ giáo viên trên lớp thiếu, thiếu nhân viên kế toán

– Sự thay đổi về công tác đội ngũ, số lượng nghỉ hưu,  đến và đi do yêu cầu công tác nên ảnh hưởng đến việc phân công, bố trí công việc.

– Một số giáo viên lớn tuổi (trên 45 tuổi 5/22 chiếm 22,7 %), không ứng dụng được công nghệ thông tin vào giảng dạy, lúng túng trong việc lập kế hoạch. Còn có giáo viên mới vào ngành (3/22 chiếm 13,6 %), nên chưa có kinh nghiệm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và công  tác chủ nhiệm lớp.

– 4/22=18,2 % giáo viên có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, nên còn lo làm kinh tế gia đình;  một số giáo viên trẻ con nhỏ (chiếm khoảng 50%); một số nhà xa…. chưa có sự đầu tư cho việc giảng dạy.

– Một số giáo viên (5/22 chiếm 22,7%) không có năng lực chuyên biệt của bậc học mầm non: Không có năng khiếu hát, múa, kể chuyện đọc thơ, …Còn một số ít giáo viên chưa cố gắng  đầu tư vào công tác giảng dạy, chưa tiếp thu sự góp ý của đồng nghiệp để tiến bộ.

 Từ thực tế trên đã thúc đẩy tôi tìm biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên sao cho phù hợp với thực tế của đơn vị, phù hợp với đặc thù của trường vùng nông thôn, đồng thời tìm những bước chuyển biến mới để bồi dưỡng cho đội ngũ nhà trường, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành đánh giá chất lượng đội ngũ như sau:

Bảng 1: Tình hình đội ngũ tháng 7/2016

Số lượng: 26

Trình độ

CBQL

GV

NV

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

3

22

1

16

0

10

0

61,5%

38,5%

Nhận xét:

Nhân viên thiếu; Tỷ lệ giáo viên trên lớp còn thiếu so với quy định.

Bảng 2: Đánh giá chất lượng đội ngũ tháng 7/2016

Tổng số : 26 người

Tiêuchí

Kết quả

Tư tưởng nhận thức

Năng lực chuyên môn

Kết quả kiểm tra, dự giờ

Hồ sơ sổ sách

Các hoạt động khác

TT

KK

TTB

TT

K

TTB

TT

KK

TTB

TT

KK

TTB

TT

KK

TB

SL

115

112

2

113

114

110

112

110

117

114

113

%

557

443

448

552

445

555

559

441

552

448

Nhận xét:

Qua đánh giá tháng 07/2016, kết  quả chất lượng giảng dạy, chất  lượng hồ sơ sổ sách; trình độ chuyên môn, tay nghề của một số giáo viên chưa cao.

Việc nhận thức, tư tưởng và tinh thần tham gia các hoạt đông của một số giáo viên trong nhà trường còn  hạn chế.

Bảng 2: Đánh giá chất lượng học sinh tháng 9/2016

Tổng số: 442 học sinh

Lĩnh

vực

Kết quả

Phát triển thể chất

Phát triển nhận thức

Phát triển ngôn ngữ

Phát triển tình cảm -kỹ năng xã hội

Phát triển thẩm mỹ

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

SL

304

138

310

132

302

140

304

138

300

142

%

69

31

70

30

68

32

69

31

68

32

Nhận xét:

Qua đánh giá tháng 09/2016, số lượng trẻ chưa đạt ở các lĩnh vực phát triển còn cao.

Trước tình hình thực trạng về chất lượng của nhà trường, tôi suy nghĩ và tìm ra một số biện pháp chỉ đạo như sau:

6.1.3. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ trong trường mầm non Đồng Tĩnh

Biện pháp 1: Phân công, sắp xếp, đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

Con người là tổng hợp các mối quan hệ của xã hội vì thế con người có đầy đủ những mặt xấu, hay tốt, điều quan trọng là chúng ta phát huy mặt tốt một cách tích cực và hạn chế mặt tiêu cực. Muốn làm điều đó việc đầu tiên ta phải hiểu được giáo viên, nắm bắt được khả năng, năng lực của từng giáo viên, nếu chúng ta làm tốt việc này sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc quản lý và phân công nhiệm vụ được hoàn thành tốt đẹp. Phân công nhiệm vụ hợp lý sẽ tạo nên hiệu quả bất ngờ.

Tập thể cán bộ giáo viên- nhân viên  trường mầm non Đồng Tĩnh

Trong Ban giám hiệu, bản thân tôi phụ trách chung nhà trường và phần nhân sự, tài chính, tài sản. Đồng chí Thảo phụ trách về mảng chuyên môn, phổ cập, kiểm định chất lượng, công nghệ thông tin. Đồng chì Hoan phụ trách bán trú, chăm sóc sức khỏe, phòng cháy chữa cháy, giúp đỡ công việc cho kế toán vì nhà trường không có nhân viên kế toán phải cho giáo viên kiêm nhiệm. Các hoạt động khác BGH phối hợp với các đoàn thể (công đoàn, đoàn thanh niên… ) cùng thực hiện

Thật vậy, những giáo viên yếu không chỉ noi gương mà còn tiến bộ rõ rệt về mọi mặt.  Đứng trước những con người giỏi ai cũng nhìn lại mình để suy xét, để xem lại bản thân mình  từ đó mà cố gắng học tập noi gương người bên cạnh để phấn đấu vươn lên. Còn những giáo viên giỏi vì tinh thần trách nhiệm chung, vì danh hiệu và thành tích của lớp, và hơn hết vì tình đồng nghiệp đồng cam cộng khổ  sẽ tích cực giúp đỡ giáo viên yếu, tận tình chỉ bảo, trao hết kinh nghiệm những kiến thức mình có để đồng nghiệp có thể tiến bộ hơn.

Bên cạnh việc nắm bắt năng lực và khả năng của từng thành viên để bố trí lớp chúng tôi còn phân công, công việc hợp lý, mỗi người với những đặc điểm khác nhau sẽ phù hợp với từng công việc khác nhau.

Ví dụ: 

Giáo viên có năng khiếu âm nhạc thì bố trí và tổ chức các phong trào văn nghệ như: (Cô giáo Nguyễn Thị Thuỷ, Cô giáo Trần Thị Hải Oanh)

Những giáo viên linh hoạt có khả năng về công nghệ thông tin phân công chuyên tìm hiểu về các chương trình phần mềm hỗ trợ cho việc soạn giáo án điện tử để tập huấn lại cho các giáo viên trường như: (Cô giáo Đào Hồng Ngọc, Cô giáo Nguyễn Thị Thuỳ Dung).

Việc sắp xếp, phân công nhiệm vụ sao cho mặt tích cực luôn được phát huy tối đa, mặt tiêu cực hạn chế tối thiểu đồng thời cũng phải biết tổ chức phân công theo từng nhóm tùy từng nhiệm vụ tạo cho giáo viên có tinh thần tập thể, làm việc theo nhóm.

Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó của các thành viên trong mái nhà chung vừa hình thành ý thức xây dựng một đội ngũ, một tập thể luôn luôn có trách nhiệm chung, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân làm cho mọi công việc của nhà trường được hoàn thành tốt đẹp. Đây là một biện pháp quan trọng dẫn dắt đến nhiều thành công trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường.

Việc lựa chọn tổ trưởng, tổ phó chuyên môn chúng tôi chọn các đồng chí giáo viên có năng lực tốt nhất để đồng chí này sẽ “ lôi kéo” các thành viên trong tổ, để phát triển năng lực của đội ngũ. Cho nên việc phát hiện đúng nhân tài của đội ngũ và khuyến khích họ thể hiện và cống hiến hết khả năng của mình là một việc làm không thể thiếu của người cán bộ quản lý.

Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ

       Xác định rõ mục tiêu đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ theo từng giai đoạn đảm bảo  đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú ý bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

      Xây dựng Kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ cụ thể theo từng giai đoạn :

* Bồi dưỡng dài hạn:

– Đối với giáo viên tham gia học nâng chuẩn trường sẽ phân công hợp lý

 để tạo điều kiện cho giáo viên đó tham gia học, không bố trí những công việc

 kiêm nhiệm nhiều, để khỏi chồng chéo thời gian học

– Hiện nay trường  có 04 giáo viên đang theo học đại học tại trung tâm giáo dục thường xuyên

Kế hoạch quy hoạch, đào tạo dài hạn:

Quy hoạch đào tạo

2016

2017

2018

2019

2020

Tổng

Chính trị

Trung cấp

01

01

01

01

04

CC, CN

Chuyên môn

Đại học

04

02

02

03

11

Sau đại học

01

01

02

Quản lý

QLNN

QLGD

01

01

Tin học

A

02

02

01

01

06

B

02

02

02

01

07

Ngoại ngữ

A

02

02

02

02

02

10

B

01

02

02

02

01

08

 ơ                    Bồi dưỡng ngắn hạn:

 Nhà trường phân công dạy thay và sự hỗ trợ giúp đỡ đồng nghiệp để tạo điều kiện cho giáo viên  tham gia học các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về chuyên môn cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ

 Tham gia các lớp bồi dưỡng khi phòng tổ chức, nhà trường sẽ sắp xếp thời gian tạo điều kiện cho đội ngũ tham gia .

Bồi dưỡng giáo viên mới: Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mớivề thực hiện chương trình giáo dục mầm non về các hoạt động, thiết kế bài giảng điện tử….

Bồi dưỡng nhân viên:

Song song với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu

cầu giảng dạy cho các cháu thì việc nâng cao chất lượng bữa ăn, An toàn thực phẩm trong nhà trường cũng rất quan trọng do đó trong năm học 2016- 2017 nhà trường tạo điều kiện  cho 4 nhân viên cấp dưỡng mới tham dự lớp tập huấn về An toàn thực phẩm nhằm nâng cao kiến thức cho bộ phận cấp dưỡng

Bồi dưỡng thường xuyên:

Nhà trường tăng cường bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ với nhiều hình thức như sau:

+ Tăng cường việc dự giờ thăm lớp.

+ Tạo điều kiện cho tất cả các giáo viên mới được dự giờ học tập rút kinh nghiệm qua các chuyên đề do tổ cũng như nhà trường, phòng tổ chức.

+ Tạo mọi điều kiện cho giáo viên được đi tham quan học tập,  tham gia dự giờ học tập, rút kinh nghiệm  ở các trường bạn trong và ngoài huyện.

Tiếp tục thực hiện kế hoạch cử CBGVNV học các lớp nâng chuẩn, các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ và khả năng thực hành: Học các lớp Đại học, trung cấp chính trị, bồi dưỡng công tác y tế trường học, thiết kế bài giảng điện tử và các lớp tập huấn bồi dưỡng của ngành cấp trên triệu tập.

          Tiếp tục chỉ đạo chuyên môn nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, lấy đơn vị tổ nhóm chuyên môn nhà trường là nơi chỉ đạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học.Tiếp tục tăng cường hoạt động của tổ chuyên môn, tổ cốt cán trong kiểm tra, bồi đưỡng cho đội ngũ giáo viên. Nâng cao chất lượng nội dung về việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại các tổ chuyên môn, cấp trường và giao lưu học tập các trường bạn.

           Từng CBGVNV tự bồi dưỡng và bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lí; năng lực chỉ đạo chuyên môn cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dạy.        Biện pháp 3: Nâng cao tư tưởng và nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên.

Cán bộ giáo viên nhân viên tham gia học tập, bồi dưỡng chính trị.

Trong từng thời điểm của năm học, nhà trường tổ chức cho cán bộ, giáo viên học tập: Đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Xây dựng nề nếp, kỷ cương trong trường. Triển khai chỉ thị 16 của Bộ trưởng  Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đạo đức nhà giáo. Tuyên truyền những tấm gương tiêu biểu trong trường. Phát động phong trào“ giỏi việc trường đảm việc nhà”,  đăng ký gia đình nhà giáo văn hóa. Trường đã có tổ chức công đoàn chăm lo đời sống,  động viên tinh thần cho cán bộ giáo viên yên tâm học tập công tác.

Với những việc làm trên, đã từng bước nâng cao tư tưởng nhận thức cho đội ngũ nhà trường; mọi người đều nổ lực cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.

Biện pháp 4: Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên

Có thể nói đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên Mầm non nói riêng  là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, đội ngũ này giữ vai trò quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Bởi vậy phải nhanh chóng cũng cố và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn vững vàng về nghiệp vụ tay nghề có phẩm chất đạo đức tốt, có phong cách sư phạm đẹp, là điều kiện tiên quyết, là khâu đột phá, cần làm ngay để chuẩn bị cho việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT nước nhà. 

Bồi dưỡng chuyên môn là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

     a) Chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn thông qua sinh hoạt chuyên môn

Đầu năm học, nhà trường phân công hiệu phó chuyên môn tổ chức bồi dưỡng những điểm yếu trong chuyên môn của giáo viên, đồng thời cũng thông tin cho giáo viên nắm những điểm mới trong chuyên môn theo sự chuyển biến và phát triển của ngành học nên giáo viên có vận dụng được phương pháp mới vào trong giảng dạy được hay không chính là nhờ ở điểm này. Lựa chọn và sàng  lọc những điểm phù hợp với sự phát triển của ngành học để bồi dưỡng cho giáo viên, giúp cho giáo viên tiếp cận được thời đại của giáo dục và ngược lại. Bên cạnh việc lựa chọn những nội dung phù hợp để bồi dưỡng giáo viên còn phải lựa chọn thời điểm bồi dưỡng phù hợp như: Đầu năm học triển khai việc thực hiện chương trình, qui chế chuyên môn, các chuyên đề của năm học, trong năm học sẽ tổ chức bồi dưỡng những điểm yếu của giáo viên.

Hàng tháng, chỉ đạo hiệu phó chuyên môn triển khai họp chuyên môn toàn trường để rút kinh nghiệm chuyên môn tháng , lấy hoạt động sinh hoạt chuyên môn làm trung tâm, là động lực thúc đẩy mọi mặt hoạt động của trường. Phải đánh giá đúng thực chất họat động chuyên môn của trường trong tháng, phân tích và tìm ra nguyên nhân của từng ưu điểm và hạn chế của từng thành viên nhằm có hướng phấn đấu tốt hơn cho công việc mình đảm nhiệm và triển khai công tác chuyên môn tháng tới. Thời gian để thực hiện công việc phải rõ ràng, nhiệm vụ giao cho từng người phải cụ thể, đảm bảo nguyên tắc “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Họp chuyên môn phải mang tính thực tiễn, không máy móc rập khuôn.

Tổ trưởng chuyên môn triển khai hoạt động chuyên môn của tổ theo kế họach của trường, trao đổi chuyên môn, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong chuyên môn. Hàng tháng tổ chức sinh hoạt chuyên môn 02 lần theo đúng Điều lệ tạo nề nếp trong sinh hoạt, có đánh giá kết quả và kế hoạch tiếp theo.

Tôi bổ trí, phân công BGH sắp xếp thời gian, mỗi tháng dự họp chuyên môn của tổ 1 lần để tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong chuyên môn như: Làm thế nào để có nhiều đồ dùng đồ chơi mới lạ hấp dẫn trẻ? Cách sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào cho đạt hiệu quả? Cách thiết kế các hoạt động như thế nào để phù hợp với tình hình thực tế của lớp? Phương pháp dạy như thế nào để phát huy tính tích cực của trẻ?  Trong phiên họp chuyên môn của tổ cuối tháng, tôi chỉ đạo tổ chuyên môn bình bầu, xếp loại giáo viên trong tháng và báo cáo bằng văn bản với nhà trường, để từ đó có cơ sở đánh giá từng cá nhân trong mỗi tổ

Dự  sinh hoạt tổ chuyên môn

Từ đó năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên nhà trường từ các đồng chí giáo viên nhiều tuổi cho đến các đồng chí giáo viên mới ra trường trong đã có bước chuyển biến đáng kể. Nề nếp sinh hoạt chuyên môn được duy trì nghiêm túc, chất lượng và nội dung sinh hoạt chuyên môn của các tổ chuyên môn đã được nâng cao, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học tập nâng cao trình độ chuyên môn được nhà trường hết sức chú trọng với nhiều hình thức như dự giờ thăm lớp, giảng dạy trước tổ,… Tổ chức trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, phương pháp truyền thụ kiến thức…. Qua đó giúp cho đội ngũ giáo viên nắm vững phương pháp giảng dạy chương trình giáo dục mầm non mới, hệ thống kiến thức cần truyền đạt tới học sinh.

     a) Chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn qua việc tổ chức hội thảo chuyên đề, kiến tập, dự giờ, xây dựng tiết mẫu.

Đầu năm học, tôi chỉ đạo bộ phận chuyên môn triển khai các chuyên đề của năm học và. Cần nghiên cứu kỹ chuyên đề, đồng thời học tập kinh nghiệm ở đơn vị bạn và sau đó triển khai cho giáo viên nắm. Phụ trách chuyên môn cùng các đồng chí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn xây dựng các tiết mẫu chuyên đề cho mỗi tổ,  cung cấp cho giáo viên tài liệu để thực hiện các chuyên đề. Tạo điều kiện để 100% giáo viên được dự tập huấn chuyên môn do các cấp tổ chức.

Trong công tác quản lý chỉ đạo chuyên môn tôi đặc biệt chú ý đến hoạt động như tổ chức hội thảo chuyên đề, đây là mộtviệc làm rất cần bởi vì các hoạt động với các đề tài cụ thể sẽ là những ví dụ sinh động giúp cho giáo viên mắt thấy, tai nghe những gì mình được học ở lý thuyết và nghe qua hội thảo. Nhận thức vấn đề này tôi thường xuyên chỉ đạo tổ chức chuyên đề mới theo kế hoạch đầu năm của trường, cấp trên đề ra cho toàn giáo viên được dự và đúc kết rút kinh nghiệm sau thực hiện chuyên đề, đồng thời tiến đến công tác kiểm tra và đánh giá chuyên đề, bổ sung những khiếm khuyết giáo viên kịp thời chỉnh sửa những sai sót của mình.

Trước đây mỗi khi tổ chức kiến tập dự giờ thường chỉ định một giáo viên khá hoặc giáo viên lớp điểm dạy cho cả tổ cùng dự, sau khi dự giờ mức độ tiếp thu của mỗi giáo viên chưa rõ, một số giáo viên đi dự giờ chưa có ý thức nghiêm túc ghi chép không đầy đủ nên kết quả quả không cao. Ban giám hiệu đã cải tiến lại cách tổ chức như sau: Mỗi hoạt động nào đó từng giáo viên ai cũng tổ chức hoạt động và được góp ý;  giáo viên nào chưa mạnh dạn thì được góp ý giúp đỡ để lần sau dạy tiếp cho đến khi đạt kết quả cao hơn. Với biện pháp này giúp giáo viên học tập lẫn nhau rất nhiều. Khi dự giờ, giáo viên đã có ý thức tốt hơn, chuẩn bị chu đáo, theo dõi ghi chép đầy đủ để tham gia ý kiến cùng rút kinh nghiệm.

Từ những hình thức này sẽ tạo cơ hội cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm về việc thực hiện, đối chiếu với việc thực hiện của đồng nghiệp để rút ra những tồn tại cần khắc phục, học hỏi những cái hay, cái tốt. Chúng tôi thực sự thấy hiệu quả với những buổi dự giờ kiến tập và hội thảo chuyên đề, sau mỗi hoạt động  là những bài học không chỉ cho chính người giảng dạy mà cho tất cả thành viên trong Hội đồng sư phạm, những lời góp ý sâu sắc, chính xác, chân thành và đầy tinh thần xây dựng, luôn được tôn trọng, xem xét và hưởng ứng.

b) Bồi dưỡng qua các phong trào thi đua, các hội thi…

Có thể nói, biện pháp bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua, tổ chức các hội thi, hội giảng thường xuyên sẽ giúp cho giáo viên mạnh dạn, bình tĩnh tự tin khi lên lớp. Để đạt được thành tích đòi hỏi mỗi người phải trau dồi năng lực sư phạm, nghệ thuật lôi cuốn trẻ, phải chịu khó suy nghĩ tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp, bạn bè …Từ đó trình độ chuyên môn và tay nghề của giáo viên được nâng lên. Phong trào thi đua gắn liền với các hội thi sẽ làm cho phong trào thi đua trong nhà trường càng sôi nổi, có tác dụng tuyên truyền đến đa số  phụ huynh; Trong các  phong trào thi đua nhà trường luôn xác định rõ mục tiêu, luôn thể hiện tốt  tinh thần công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng và dân chủ trong các Hội thi. Hằng năm trường đã tổ chức các hội thi: “Thi trang trí lớp, thi thiết kế giáo án điện tử, thi hội giảng chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam, thi giáo viên giỏi cấp trường, thi làm đồ dùng dạy học…” đều đạt kết quả tốt.

Việc tổ chức các hội thi trong nhà trường có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của các giáo viên. Trong các hội thi, họ có điều kiện khẳng định mình trước tập thể. Song bên cạnh đó, việc tổ chức các hội thi cũng tạo được mối quan hệ thân ái, giúp đỡ nhau trong tập thể giáo viên nhà trường để cùng nhau tiến bộ.

Để các hội thi thành công và có kết quả tốt, tôi  xây dựng kế hoạch chuyên môn cụ thể cho từng tháng, thông báo với toàn chị em để họ nắm được nội dung, thời gian thi.

Ví dụ:

– Tháng 9, 10: Thi trang trí nhóm lớp.

– Tháng 11: Thi thiết kế bài giảng điện tử,  Hội giảng chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

             -  Tháng 12: Thi giáo viên giỏi cấp trường, Thi làm đồ dùng dạy học

-  Tháng 3:  Thi chế biến món ăn ngon vào dịp 8/3 .

Tổ chức thi giáo viên giỏi cấp trường có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên vì khi tham gia giáo viên dạy giỏi đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ nghiên cứu nội dung chương trình kỹ hơn, tìm tòi những phương pháp, biện pháp thật linh hoạt, sáng tạo trong khi lên lớp, tạo những tình huống mới lạ để trẻ tập trung chú ý hơn, hứng thú trong giờ học, bên cạnh đó giáo viên đầu tư nhiều hơn về việc làm đồ dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi, đồ dùng có nhiều sáng tạo để tham gia dự thi đạt kết quả cao. Và một điều quan trong hơn đây là đợt sinh hoạt, giao lưu học hỏi, trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ. Cứ sau mỗi lần tổ chức thi, thì số giáo viên tham gia nhanh chóng nắm vững chuyên môn, tạo được uy tín đối với đồng nghiệp với các bậc cha mẹ trẻ.

Riêng giáo án thi giáo  viên dạy  giỏi; thao giảng của giáo viên trong trường và ở đơn vị bạn được đóng lại thành quyển để cho giáo viên tham khảo.

Trong các đợt thi,  giáo viên  luôn có sự chuẩn bị và nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả cao nhất. Sau hội thi, trường có tổng kết rút kinh nghiệm khen thưởng các cá nhân có thành tích xuất sắc. Chính vì vậy nên phần nào cũng đã động viên tinh thần của chị em, nâng dần chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường .

Nâng cao trình độ chuyên môn qua viết sáng kiến kinh nghiệm: Đầu năm đăng ký đề tài; tổ chức chấm sáng kiến kinh nghiệm và chọn sáng kiến hay vào cuối năm. Nhờ có việc tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm mà những kinh nghiệm hay đã được phổ biến áp dụng, chất lượng giảng dạy trong trường ngày một tốt hơn.

Khuyến khích và tạo điều kiện để giáo viên làm nhiều đồ dùng dạy học từ nguyên vật liệu mở: 

Tôi chỉ đạo giáo viên các lớp xin các vật liệu phế thải của phụ huynh như: vỏ hộp bánh, vỏ hôp sữa, vỏ hộp thuốc lá, vỏ hộp kem đánh răng… và các nguyên vật liệu ở địa phương như: mo cau, quả bàng, bông dừa, hột hat…. Mỗi học kỳ tổ chức cho giáo viên làm đồ dùng dạy học 1,2 lần. Trong buổi làm đồ dùng chủ yếu là mỗi người đưa lên 1 ý tưởng mới, hoặc tạo ra mẫu mới, hoặc sưu tầm được mẫu mới phổ biến lại cho đơn vị, phần còn lại thì giáo viên tự làm ở nhà.

          c) Công tác bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường.

Như chúng ta đã biết một điều vô cùng quan trọng cần thiết hơn phải làm trước mắt đó là giảm tải sức lao động cho cán bộ, giáo viên, nhân viên. Vì vậy giáo viên mới có hứng thú và có thời gian đến với công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin là phương tiện giúp cho giáo viên học hỏi, nâng cao trình độ hiểu biết, chứ không chỉ đơn thuần chỉ soạn những giáo án điện tử để dạy trẻ.

Chính vì lẽ đó hằng năm nhà trường đã xây dựng kế hoạch, phổ biến cho toàn trường đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và dạy học. Ban giám hiệu tổ chức tập huấn cho tất cả cán bộ giáo viên- nhân viên toàn trường bồi dưỡng và bổ sung về kĩ năng vi tính, đồng thời khuyến khích tinh thần tự học ở mỗi cán bộ giáo viên- nhân bởi kiến thức công nghệ thông tin là vô tận. Qua đó tổ chức thi đua dạy và soạn giáo án điện tử ở tất cả các khối lớp, trao đổi thông tin lẫn nhau. Chỉ đạo và động viên cho số giáo viên trẻ giảng dạy bằng giáo án điện tử, được Ban giám hiệu, Ban công nghệ thông trường học và các bạn đồng nghiệp trong toàn trường dự giờ, rút kinh nghiệm.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng đã triển khai cho giáo viên tổ chức cho trẻ ở khối các lớp mẫu giáo làm quen với máy vi tính thông qua các phần mềm phát triển trí tuệ: Kidsmart nhằm hình thành cho trẻ thói quen và kĩ năng sử dụng máy tính đơn giản cũng như tạo điều kiện cho hoạt động tương tác giữa trẻ và cô trong giờ học bằng giáo án điện tử.

Ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả: Do cơ sở vật chất thiếu thốn, trường chưa trang bị máy tính đầy đủ cho giáo viên, nhưng tôi đã tạo điều kiện để giáo viên được ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy và đã tổ chức được những tiết dạy thao giảng khá thành công mà tôi muốn chia xẻ cùng đồng nghiệp: Giáo viên phải là người có kế họach bài dạy phù hợp. Trong khi xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy, giáo viên cần có sự đầu tư cao, phải tính đến khả năng của trẻ, kiến thức trọng tâm để sử dụng các thiết bị hổ trợ tiết dạy cũng như các nội dung ứng dụng công nghệ sao cho tiết dạy hấp dẫn được trẻ và đạt hiệu quả cao. Sưu tầm tranh ảnh, hình ảnh sinh động để đưa vào bài dạy. 

Nếu chỉ dừng lại ở mức độ tranh ảnh với những hình ảnh mờ nhạt, hình ảnh chết thiếu sinh động, không có nhiều tác dụng tình huống thì sự hứng thú của trẻ và sự tiếp thu kiến thức ở trẻ sẽ không cao. Vì vậy, giáo viên phải tìm tòi và sưu tầm tranh ảnh, những hình ảnh động gần gũi thực tế với trẻ gây cho trẻ sự hứng thú hơn. Nhờ đó trẻ tiếp thu được bài một cách nhẹ nhàng theo phương châm “ Học mà chơi – Chơi mà học”. Trong quá trình xây dựng bài nên kết hợp nhiều phần mềm khác nhau để dạy có âm thanh tự nhiên, quen thuộc, gần gũi với trẻ hàng ngày. Âm thanh là cần thiết những hình ảnh động cũng cần thiết không kém. Vì vậy, giáo viên phải đưa ra những hình ảnh động và âm thanh cùng cách thể hiện phù hợp với nội dung kiến thức của bài, giúp cho trẻ tri giác cụ thể và cuốn hút vào bài học.

Giờ dạy ứng dụng CNTT của lớp 5TA

Hưởng ứng việc ứng dụng công nghệ thông tin nhà trường đã phát động phong trào xây dựng và sử dụng soạn giáo án bằng vi tính  trong suốt cả năm học. Nhằm tạo cho giáo viên có tính chủ động, có nhiều biện pháp tích cực và hình thức sáng tạo trong các hoạt động chung…

Ví dụ:

Khi chẳng may bấm nhằm quá hình ảnh thì khôi phục bằng cách nào? Hay giáo án đã hoàn thiện muốn thêm chữ minh họa thì làm thế nào?… Mỗi giáo viên nghiêm túc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ, tổ chức đầy đủ các hoạt động trong ngày như: Hoạt động chung; hoạt động góc; hoạt động ngoài trời; hoạt động chiều… Giáo án soạn đầy đủ, đúng nội dung, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng phát triển ngôn ngữ, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Biết lựa chọn, vận dụng phương pháp giáo dục tích cực tạo tình huống, cơ hội nhằm phát huy trí tuệ, tính sáng tạo của trẻ.

Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ, đánh giá giáo viên.

Kiểm tra là một chức năng quan trọng, vừa là một biện pháp quản lý có hiệu quả. Kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn là trách nhiệm của cán bộ quản lý. Kiểm tra là một việc làm thường xuyên, kiểm tra bằng nhiều hình thức, kiểm tra toàn diện, chuyên đề, kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra đột xuất… một số nội dung: Kiểm tra việc thực hiện chương trình, kiểm tra hồ sơ, giáo án, kiểm tra thực hiện chế độ sinh hoạt, kiểm tra việc đánh giá chất lượng….

Qua kiểm tra, cán bộ quản lý nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về tình hình thực hiện chuyên môn, đánh giá đúng phẩm chất năng lực của giáo viên, phát hiện đúng những lệch lạc, thiếu sót để kịp thời bổ sung, điều chỉnh và uốn nắn giáo viên nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động chuyên môn của giáo viên. Trong công tác quản lý nhà trường nếu thiếu kiểm tra chuyên môn thì việc chỉ đạo chuyên môn của người Hiệu phó sẽ mất đi một nội dung quan trọng. Mặt khác qua kiểm tra chuyên môn, cán bộ quản lý tác động đến hành vi của giáo viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc, nâng cao ý thức tự bồi dưỡng phấn đấu đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của nhà trường.

Vì vậy để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý không được phép buông lỏng công tác kiểm tra. Để công tác kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý cần đảm bảo:

+ Xác định rõ mục đích yêu cầu của từng đợt kiểm tra dựa trên yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của nhà trường của năm học.

+ Phải có kế hoạch cụ thể trên cơ sở kế hoạch kiểm tra cả năm , học kỳ, đi sâu vào kế hoạch từng đợt kiểm tra xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra.

+ Làm tốt công tác tuyên truyền giúp cho giáo viên thông suốt việc kiểm tra, khuyến khích tinh thần tự giác, trung thực của giáo viên để giáo viên chuẩn bị mọi phương tiện và điều kiện tích cực góp phần thực hiện tốt cùng đợt kiểm tra đó

Về nội dung kiểm tra: kiểm tra về qui chế chuyên môn, hồ sơ sổ sách ( Kế hoạch, bài soạn, sổ chuyên đề, sổ theo dõi trẻ, sổ ghi chép cá nhân về các buổi bồi dưỡng chuyên môn…), phương pháp dạy của bộ môn, cách trang trí nhóm lớp để đánh giá tình hình triển khai và thực hiện chuyên môn. của giáo viên có đúng như kế hoạch mà trường đã chỉ đạo hay không.

Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra dự giờ có báo trước đột xuấtvề các tiết dạy cũng như hoạt động thông qua phiếu dự giờ

Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá

+ Trong công tác kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan và công khai, công bằng và dân chủ.

+Sau kiểm tra phảicó những nhận xét đánh giá chính xác, phân tích các ưu điểm, tồn tại của giáo viên để giúp họ phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế áp dụng vào thực tế chăm sóc giáo dục trẻ.

Thời gian kiểm tra: Trong một tháng ít nhất giáo viên phải được dự ít nhất một giờ dạy hoặc một hoạt động. trong một học kỳ, mỗi giáo viên phải được kiểm tra 3- 4 lần. Ngoài ra, tôi còn kiểm tra đột xuất hàng ngày, hàng tuần để kịp thời nhắc nhở giúp đỡ giáo viênvề chuyên môn

Tổng số dự giờ các tiết dạy và hoạt động của giáo viên từ tháng 9 cho đến nay:  Tổng số tiết được kiểm tra 121 tiết.

 Xếp loại: Tốt : = 108/121= 89%

                Khá: 13/121= 11%      

 Kiểm tra toàn diện 11 giáo viên trong đó: Tốt =8/11=73% ; Khá=3/11=27%

 Kiểm tra HSSS được 22 bộ ;  Tốt: 16/22 bộ = 72,7% ; Khá: 6/22 = 27,3%

          Có thể nói, kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Có kiểm tra, đánh giá chính xác thì mới tìm ra những ưu điểm, tồn tạicủa giáo viên trong giảng dạy. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường

Dự Hoạt động học của lớp 4TC

Biện pháp 6: Xây dựng khối đoàn kết nhất trí, chăm lo đời sống cho đội ngũ

Trong sự nghiệp giáo dục, Lê- nin đã nói: “Sự nhất trí trong một tập thể sư phạm là yếu tố quyết định mọi sự thành công trong nhà trường”. Do đó, muốn xây dựng tập thể đoàn kết, thì Hiệu trưởng phải là trung tâm xây dựng khối đoàn kết trong nhà trường. Xác định được yêu cầu trên, Hiệu trưởng phải thực sự là con chim đầu đàn, gương mẫu trong công tác, trong sinh hoạt, đầu tư nghiên cứu để tạo được niềm tin thật sự của tập thể, luôn gần gũi tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh từng giáo viên để có những giúp đỡ, giải quyết phù hợp, chân tình, giải toả những mâu thuẫn để tránh “Bằng mặt nhưng không bằng lòng”. Phối hợp với các đoàn thể trong trường, địa phương để làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xây dựng đơn vị thực sự là tổ ấm, trao đổi giúp đỡ nhau trong công tác, trong chuyên môn, trong đời sống để từ đó tình cảm gắn bó và yên tâm công tác.

 Để làm được việc trên, BGH luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, lập trường tư tưởng vững vàng, sẵn sàng giúp đỡ những khó khăn vướng mắc của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong công tác, đời sống, biết lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh của từng  giáo viên qua đồng nghiệp, qua các đợt kiểm tra, qua các lớp bồi dưỡng hay những lúc tâm tư, trò chuyện cùng đồng nghiệp,

Để có biện pháp giải quyết, giúp đỡ đội ngũ kịp thời, phù hợp từng hoàn cảnh BGH thường xuyên thăm hỏi động viên nhau cùng công tác tốt và điều quan trọng là phải tạo được uy tín, niềm tin đối với từng cán bộ giáo viên về mọi mặt nhất là những hiểu biết về chuyên môn, về quản lý, về tham gia học tập … Đồng thời tạo điều kiện để cùng thăm hỏi, quan tâm giúp đỡ nhau tạo thành một tập thể yêu thương, tôn trọng nhau, cùng chung sức và hoàn thành nhiệm vụ.

Từng bước thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định hiện hành của Nhà nước. Bên cạnh việc đầu tư để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ trên các mặt cơ bản về chuyên môn, năng lực sư phạm, phẩm chất nghề nghiệp, một điều mà người quản lý nào cũng cần quan tâm sâu sát, đó chính là đời sống tinh thần vật chất cho đội ngũ giáo viên là yếu tố cần thiết đây là một trong những vấn đề mà ngành học mầm non nói chung và trường mầm non Đồng Tĩnh  nói riêng, chế độ giáo viên không đảm bảo đã làm hạn chế khả năng làm việc của đội ngũ.

Nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, cũng như hiểu được những vất vả khó khăn của giáo viên, ngay từ đầu năm học, nhà trường phối hợp với phụ huynh thống nhất thỏa thuận mức bồi dưỡng công tác bán trú tại trường tuy mức bồi dưỡng không cao nhưng đó cũng là nguồn động viên tinh thần rât lớn với chị em để chị em yên tâm công tác, ngoài ra trong các ngày lễ, ngày tết nhà trường tham mưu với địa phương,  phối hợp với Hội phụ huynh tặng quà cho chị em kịp thời.

Bên cạnh đời sống vật chất thì đời sống tinh thần cũng không thiếu được, BGH thường xuyên phối hợp với công đoàn tổ chức sinh hoạt, tọa đàm, giao lưu văn nghệ trong các ngày lễ 20/10, 20/11 và ngày 8/3, …với nội dung phong phú, thể hiện bầu không khí đầm ấm, vui vẻ yêu thương, đoàn kết rất cao trong nhà trường, 100% chị em thực hiện ba giúp, mỗi khi chị em nào bị ốm hoặc có tâm sự gì không vui thì toàn thể hội đồng thăm hỏi, động viên giúp đỡ nên chị em

 gắn bó, đoàn kết thực hiện tốt công việc

Tọa đàm kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam

Những biện pháp trên không phải là điều kiện để nâng cao chất lượng đội ngũ nhưng đó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ. Nếu giải quyết thỏa mãn những nhu cầu về chế độ đời sống, có khen thưởng vật chất và tinh thần kịp thời, công bằng, dân chủ sẽ giúp cho giáo viên, các thành viên trong hội đồng làm việc tốt hơn, tạo được động cơ phấn đấu rèn luyện học tập trong đội ngũ, các yếu tố này đảm bảo sẽ tạo năng suất và chất lượng lao động cao, đồng thời làm cho chất lượng đội ngũ ngày càng cao hơn.

           6.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:                                       

Đề tài được nghiên cứu, áp dụng tại trường mầm non Đồng Tĩnh – xã Đồng Tĩnh – huyện Tam Dương – tỉnh Vĩnh Phúc.

Có thể áp dụng ở các đơn vị khác cũng có điều kiện thực tế giống như ở

 trường tôi.

7. Những thông tin cần được bảo mật: Không

8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

 - Cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi…

– Con người: Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trường mầm non Đồng Tĩnh

9. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến:

Giáo dục là dạy làm người, là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Đó cũng chính là hai mục tiêu nhằm mà ngành giáo dục nói chung, trường mầm non Đồng Tĩnh nói riêng đã và đang thực hiện để đạt được .

Khi nói về sự tác động của xã hội đến con người, Bác Hồ đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò giáo dục của xã hội, nhất là với lớp người trẻ. Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn. Phát triển Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò rất quan trọng.

 Ngành học mầm non là nền tảng đầu tiên của ngành giáo dục và đào tạo, chất lượng giáo dục trẻ tốt góp phần vào việc xây dựng và phát triển trường học, đưa chất lượng giáo dục đảm bảo yêu cầu xây dựng trường tiên tiến và yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện về “Đức – Trí – Thể – Mỹ”. Hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.

Chính vì vậy cần tập trung vào việc thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp,  phát huy hiệu quả cao nhất trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác giảng dạy, giáo dục học sinh. Chất lượng giáo dục của chúng ta mới đáp ứng được sự kỳ vọng mà sự nghiệp đổi mới giao cho ngành giáo dục.

`        Nhờ sự nỗ lực của bản thân trong công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường đã đẩy mạnh chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo được niềm tin trong phụ huynh và các bạn đồng nghiệp. Với những biện pháp nêu trên đã đạt kết quả như sau:

Bảng 4: Tình hình đội ngũ tháng 2/2017

Số lượng: 27

Trình độ chuyên môn

CBQL

GV

NV

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

3

22

2

16

0

11

0

59,3%

40,7,5%

Nhận xét:

Số lượng đội ngũ tăng hơn 01 so với  đầu năm, nhà trường được bổ sung thêm nhân viên kế toán; Tỷ lệ giáo viên trên lớp còn thiếu so với quy định.

Bảng 5: Đánh giá chất lượng đội ngũ tháng 2/2017

Tổng số : 27 người

Tiêu chí

Kết quả

Tư tưởng nhận thức

Năng lực chuyên môn

Kết quả kiểm tra, dự giờ

Hồ sơ sổ sách

Các hoạt động khác

T

K

TB

T

K

TB

T

K

TB

T

K

TB

T

K

TB

SL

18

9

20

7

17

5

18

9

22

5

%

67

33

74

26

77

23

67

33

82

18

Nhận xét:

Qua đánh giá tháng 02/2017,  kết quả các tiêu chí đều nâng lên rõ rệt, đảm bảo yêu cầu.

Chất lượng giảng dạy, chất  lượng hồ sơ sổ sách; trình độ chuyên môn, tay nghề của cán bộ, giáo viên đều nâng cao.

Việc nhận thức, tư tưởng và tinh thần tham gia các hoạt đông của cán bộ,  giáo viên, nhân viên trong nhà trường được nâng cao hơn rất nhiều

Bảng 6: Đánh giá chất lượng học sinh tháng 2/2017

Tổng số: 442 học sinh

Lĩnh

vực

Kết quả

Phát triển thể chất

Phát triển nhận thức

Phát triển ngôn ngữ

Phát triển tình cảm -kỹ năng xã hội

Phát triển thẩm mỹ

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

SL

422

20

414

28

430

12

404

38

400

42

%

95

5

94

6

97

3

91

9

90

10

Nhận xét:

Qua đánh giá tháng 02/2017, số lượng trẻ đạt ở các lĩnh vực phát triển tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với đầu năm.

Chính vì vậy tôi nhận thấy cần tập trung vào việc thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp,  phát huy hiệu quả cao nhất trong việc tổ chức, phân công đúng người đúng việc; chỉ đạo công tác giảng dạy, giáo dục học sinh. Chất lượng giáo dục của chúng ta mới đáp ứng được sự kỳ vọng mà sự nghiệp đổi mới giao cho ngành giáo dục. 

Muốn đạt được điều điều đó, người cán bộ quản lý phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, học tập, nghiên cứu, chỉ đạo sát sao trong việc đánh giá chất lượng giáo dục, đưa chất lượng giáo dục ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu đổi mới góp phần thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ tốt sẽ là cơ sở tốt để nhà trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục mà Đảng và nhà nước đã giao phó.

9.1. Đối với bản thân:

          Giáo dục mầm non là một bậc học đòi hỏi có nghệ thuật khoa học khác với các bậc học khác. Vì vậy, trước hết người cán bộ quản lý phải có sự năng động, sáng tạo, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức lối sống, chủ động trong công tác chỉ đạo nhà trường, chỉ đạo chuyên môn, chất lượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Bản thân tôi  tuổi đời tuy không còn trẻ, song với lòng quyết tâm trong quá trình rèn luyện, tích cực học tập nghiệp vụ chuyên môn đã giúp tôi vượt qua những khó khăn và gặt hái được thành công trong công tác.

Biết lắng nghe ý kiến tâm sự của đồng nghiệp, biết phát huy quyền dân chủ trong hội họp. Mạnh dạn, năng động, sáng tạo tìm tòi những biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà trường. 

Biết rõ đặc điểm tình hình của đội ngũ về mọi mặt: Tư tưởng, tình cảm,

chuyên môn nghiệp vụ, điều kiện, hoàn cảnh… để có biện pháp phân công, bồi dưỡng cụ thể và phải có khả năng phát triển năng lực của đội ngũ.

Trong công tác bồi dưỡng đội ngũ phải chú ý xây dựng bằng được nền nếp, phong cách làm việc nghiêm túc, tạo sự công bằng trong tập thể qua kiểm tra dự giờ, đánh giá khen thưởng, phát huy tinh thần tự học, tự rèn về chuyên môn, phẩm chất đạo đức ở mỗi cán bộ, giáo viên Mầm non.

Vai trò của người quản lý hết sức quan trọng, phải thực sự gương mẫu, phải giỏi về chuyên môn, có uy tín, phải xây dựng được sự tin yêu và tin tưởng đối với đội ngũ. Xây dựng kế hoạch một cách khoa học và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc .

Tham mưu tích cực với các cấp lãnh đạo để mua sắm, bổ sung đầy đủ các trang thiết bị, đồ dùng dạy học.

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, khảo sát chất lượng trẻ đúng quy trình.

Chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn.       

Chỉ đạo đội ngũ luôn học tập không ngừng nâng cao phẩm chất, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nắm bắt kịp thời các thông tin đổi mới về phương pháp giáo dục góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong Trường mầm non, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

            9.2. Đối với nhà trường:

Nhờ sự nỗ lực của bản thân trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường đã đẩy mạnh chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo được niềm tin trong phụ huynh và các bạn đồng nghiệp đã  đạt được kết quả như sau:

– Cán bộ, giáo viên, nhân viên  có  nhận thức, tư tưởng vững vàng, tích cực tham gia các phong trào nhà trường.  Đánh giá chất lượng chuẩn có 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên  đạt từ khá trở lên về chuẩn đạo đức nhà giáo. CBGV đều phát huy tốt vai trò gương mẫu thực hiện tốt các nghĩa vụ tại địa phương nơi cư trú. Đánh giá công chức hàng năm đối với CBGV có 82% đạt loại xuất sắc.

– Giáo viên có năng lực chuyên môn đồng đều, 100% giáo viên có khả năng vận dụng sáng tạo hiệu quả các hoạt động theo chương trình đổi mới và 82% ứng dựng tốt CNTT vào trong giảng dạy, qua CNTT đã nâng cao trình độ kiến thức và năng lực chuyên môn của giáo viên: 91% giáo viên soạn bài vi tính 82% giáo viên biết dạy giáo án điện tử đồng thời biết sử dụng các phần mềm, biết sử dụng chương trình  Kidsmart, và vận dụng tốt vào các hoạt động giáo dục cho trẻ.

– 100% giáo viên sáng tạo trong việc làm đồ dùng đồ chơi và trang trí môi trường thân thiện, tạo hướng mở theo chương trình GDMN  đạt hiệu quả cao; 100% giáo viên tham gia  thi làm đồ dùng đồ chơi cấp trường, có: 20 giáo viên tham gia và đạt giải Ba trở lên; thi giáo viên giỏi cấp trường có 20 giáo viên tham gia và có 07 giáo viên đạt giải Nhì; có 04 giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi cấp huyện và 01 giáo viên đạt giải Nhì.

– Nhờ sự xây dựng những biện pháp đảm bảo, phù hợp với đặc điểm và tình hình của trường nên trong năm học này từng giáo viên có nhiều đầu tư sáng tạo đã dẫn đến kết quả Kiểm tra toàn diện, Kiểm tra Hồ sơ sổ sách 100% GV đạt khá, tốt, không còn giáo viên đạt yêu cầu.

– Tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường luôn đoàn kết, nhất trí, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

10. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu.

Số TT

Tên tổ chức/cá nhân

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực

áp dụng sáng kiến

1

Trường MN Đồng Tĩnh

Thôn Đông Trung,

xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Thực tế hoạt động và một số biện pháp mới nâng cao chất lượng đội ngũ trường Mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

2

Nguyễn Thị Kim Dung

Xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Thực tế hoạt động và một số biện pháp mới nâng cao chất lượng đội ngũ trường Mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đồng Tĩnh, ngày 26 tháng 02 năm 2017

Thủ trưởng đơn vị

Đồng Tĩnh, ngày 22 tháng 02 năm 2017

Tác giả sáng kiến

Nguyễn Thị Kim Dung

Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Chiềng Mung / 2023

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”.

Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu.

Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non.

Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành.

Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010.

Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”.

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu. Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non. Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành. Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010. Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”. II.BIỆN PHÁP THỰC HIỆN. 1,Khảo sát thực trạng: a.Đặc điểm tình hình nhà trường. *Về thuận lợi: Nhà trường luôn được đón nhận sự quan tâm của huyện uỷ – HĐND – UBND huyên, phòng giáo dục và đào tạo Mai Sơn và của cấp uỷ chính quyền địa phương. Trường có đội ngũ giáo viên trẻ khoẻ, nhiệt tình, có tâm huyết với nghề, có tinh thấn trách nhiệm với công việc được giao, luôn có ý thức phấn đấu và rèn luyện học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chất lượng giáo dục tăng lên so với các năm học trước đây. *Về khó khăn: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trang thiết bị của cô và trẻ chưa đáp ứng được việc dạy và học, đặc biệt là khi triển khai chương trình giáo dục mầm non mới. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh học sinh còn hạn chế, hiểu về ngành học chưa đầy đủ. -Nhà trường có nhiều điểm trường(8 điểm), các điểm nằm rải rác không tập trung, còn một số lớp không phân được độ tuổi, phải học ghép. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. b. Khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường: Qua quá trình kiểm tra, dự giờ tham lớp, tìm hiểu thực trạng của nhà trường, tôi kết hợp điều tra đánh giá về phẩm chất chính trị, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và hiệu quả giáo dục, kết quả như sau: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 37 37 7 16 4 31 1 0 0 1 *Phẩm chất đạo đức: Tổng số CBGV Tốt Khá Trung bình Kém 37 37 0 0 0 *Trình độ đào tạo: Tổng số CBGV Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp 37 2 3 32 0 *Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Số lượng học sinh đầu năm: Nhà trẻ Mẫu giáo Số lớp Số trẻ Số lớp Số học sinh 6 53 17 378 *Khảo sát chất lượng học sinh: -Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đạt chuẩn 85% 91,5% 89,75 Chưa đạt 15% 8,5% 10,25 -Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao Phát triển bình thường Suy dinh dưỡng Béo phì Cân đối Suy dinh dưỡng Nhà trẻ 94,8% 5,2% 0 98% 2% Mẫu giáo 906% 9,4% 0 93,4% 4,6% Chung toàn trường 93,2% 6,8% 0 96,6% 3,4% Qua kết quả điều tra tôi nhận thấy: -Nhà trường có đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có nhiều giáo viên giỏi các cấp, đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. -Tập thể sư phạm luôn đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. -Nhà trường được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp uỷ chính quyền địa phương và của phòng GD&ĐT Mai Sơn. Bên cạnh đó còn một số tồn tại, đó là: -Công tác xã hội hoá giáo dục mầm non chưa cao. -Chưa có đủ biên chế giáo viên theo yêu cầu. -Trình độ nghiệp vụ, tay nghề chưa đồng đều, vẫn còn một số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đa số giáo viên khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn yếu, chưa có khả năng sáng tạo, áp dụng lý luận vào thực tiễn cho phù hợp với thực tế địa phương. -Chất lượng giáo dục và chất lượng nuôi dưỡng còn thấp. c.Nguyên nhân: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, phòng học chưa đủ, các phòng chức năng không có, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi chưa đáp ứng được việc dạy và học. Đặc biệt, chưa trang bị được máy vi tính cho các lớp. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh về ngành học còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa có sự phối hợp với giáo viên trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. 2.Các biện pháp: Từ những lý luận và thực tiễn nhà trường, tôi mạnh dạn đề ra các biện pháp nhằm năng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, đó là: Biện pháp 1. Có kế hoạch xây dựng bộ máy tổ chức và sắp xếp, sử dụng đội ngũ giáo viên. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, người cán bộ quản lý sắp xếp tốt bộ máy tổ chức thì công việc chỉ đạo sẽ có nhiều thuận lợi. Bộ máy này sẽ là cánh tay đắc lực giúp người quản lý điều hành công việc. Chính vì vậy, cùng với ban giám hiệu nhà trường tôi đã tìm hiểu, cân đối và bố trí công việc cho đội ngũ cán bộ giáo viên phù hợp với phẩm chất đạo đức, uy tín, trình độ và năng lực của mỗi người. Đồng thời cử đội ngũ cốt cán nhà trường làm tổ trưởng các tổ chuyên môn, thư ký chuyên môn. Việc sắp xếp bố trí giáo viên hợp lý, phù hợp với năng lực sở trường, vận dụng được thế mạnh của giáo viên đồng thời kích thích được ý chí phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân. Đồng thời cần phải dựa vào tình hình thực tế của từng điểm nhóm lớp để bố trí đội ngũ giáo viên sao cho mỗi điểm đều có giáo viên giỏi các cấp xen kẽ với các giáo viên còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ để chị em có thể kèm cặp giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Bên cạnh đó, tôi cũng bố trí để các điểm đều có sự cân bằng trong độ tuổi của cán bộ giáo viên. Những giáo viên trẻ có điều kiện và khả năng tiếp cận với kiến thức mới và với khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ là cầu nối để đưa các kiến thức, nội dung, phương pháp mới đến tất cả các giáo viên trong trường. Có sự chỉ đạo thống nhất từ chi uỷ chi bộ, Ban giám hiệu, Công đoàn, chi đoàn… trong việc sắp xếp bố trí công việc cho cán bộ giáo viên. Tham mưu với cấp trên bổ sung thêm biên chế cán bộ giáo viên cho nhà trường. *Bảng 1. Cách bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giáo viên. Khối lớp Tổng số GV Trình độ đào tạo Năng lực chuyên môn Đại học Cao đẳng Trung cấp Giỏi Khá Trung bình Nhà trẻ 6 0 0 6 2 3 1 Mẫu giáo bé 7 1 0 6 4 2 1 Mẫu giáo nhỡ 8 0 1 7 4 3 1 Mẫu giáo lớn 10 1 1 8 5 5 0 Cộng: 31 2 2 27 15 13 3 Biện pháp 2. Nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất nhà giáo. Để có được một tập thể sư phạm vững vàng về tư tưởng chính trị, có phẩm chất đạo đức nhà giáo, tôi đã chủ động cùng với chi bộ, nhà trường và các đoàn thể quán triệt đầy đủ các văn bản, chỉ thị, Nghị quyết của các cấp để cán bộ giáo viên học tập. Đồng thời cụ thể hoá các chỉ thị Nghị quyết đó vào thực tế nhà trường cho phù hợp. Đặc biệt là đưa các cuộc vận động lớn của Đảng và của Ngành giáo dục và đào tạo như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gươngđạo đức tự học và sáng tạo”… vào kế hoạch năm học và kế hoạch từng tháng cụ thể. Hướng dẫn cho cán bộ giáo viên đưa vào chương trình hành động của mỗi lớp, mỗi cá nhân. Mỗi cán bộ giáo viên phải là tấm gương cho học sinh noi theo. Cụ thể hoá tiêu chuẩn người giáo viên mầm non, thường xuyên học tập Điều lệ trường mầm non do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành. Cùng với đó, tôi cùng tập thể sư phạm nhà trường xây dựng quy chế của nhà trường và nghiêm túc thực hiện. Biện pháp 3.Nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề và khả năng vận dụng khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Để người giáo viên tự tin, chủ động trong việc thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì phải nâng cao trình độ nghiệp vụ và khả năng sư phạm, kỹ năng cơ bản của người giáo viên phải thuần thục. Do đó, tôi cùng với nhà trường động viên, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được đi học nâng cao trình độ. Trong năm học nhà trường có 12 cán bộ giáo viên đang theo học lớp Đại học Mầm non hệ vừa học vừa làm, tiếp tục tạo điều kiện để giáo viên được đi học trong hè nâng trình độ trên chuẩn. Để giáo viên có kỹ năng sư phạm thuần thục, tôi thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để chị em trực tiếp dạy mẫu, rút kinh nghiệm, thống nhất phương pháp. Đặc biệt, khi đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy, ngoài việc hướng dẫn giáo viên nghiên cứu tài liệu, tôi tiến hành xây dựng tiết mẫu ở từng lĩnh vực cho toàn trường thực hiện và đưa về các tổ chuyên môn. Tiến hành cho giáo viên đi tham quan, học tập các trường trong huyện và trong tỉnh.Từ đó, chị em hiểu rõ về chương trình, những điểm mới và cách thức thực hiện chương trình sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tế địa phương. Đất nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiệm vụ của giáo dục mầm non cũng phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin là việc làm rất cần thiết đối với các trường mầm non nói chung và với trường chúng tôi nói riêng. Vì vây, bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và giảng dạy. Qua đó, hướng dẫn chị em cùng học tập như việc soạn bài trên máy vi tính, làm các đồ dùng dạy học qua máy, học tập trên mạng internet, thiết kế các bài giảng điện tử từ các phần mềm trình chiếu như Power Point… Biện pháp 4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cô và trẻ. Để giáo viên có điều kiện thực hiện tốt chương trình thì cơ sở vật chất trang thiết bị là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, tôi cùng với Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch, tham mưu với các cấp các ngành, phối hợp với phụ huynh học sinh đầu tư làm mới, tu sửa các phòng học,các công trình phụ trợ như nhà bếp, sân trường, tường rào, đồ chơi ngoài trời, các nhà vệ sinh riêng cho trẻ nam và nữ; mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, học liệu cho cô và trẻ. Chính vì vậy, nhà trường đã từng bước khắc phục khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Đảng và nhân dân giao phó. III. KẾT QUẢ Từ việc áp dụng các biện pháp nêu trên, cuối năm học chất lược đội ngũ giáo viên cũng nhữ chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đã tăng lên rõ rệt. Cụ thể là: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 38 38 7 16 4 31 1 1 0 1 *Năng lực chuyên môn của đội nggũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Kết quả dự giờ đột xuất và thao giảng trong năm học: Thời gian TSGV Dự giờ đột xuất Thao giảng Giỏi Khá Đạt KĐ Giỏi Khá Đạt KĐ Từ 21/9-30/10 19 2 14 3 0 Từ 02/11-17/11 32 9 22 1 0 Từ 30/11-5/2 10 1 6 3 0 Từ01/3-19/3 37 21 16 0 0 Từ 29/3-22/4 7 2 4 1 *Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đat chuẩn 92,3% 92,5% 92,4% Chưa đạt 7,7% 7,5% 7,6% *Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao PTBT SDD PTBT SDD SL % SL % SL % SL % Nhà trẻ 52 98,1 1 1,9 53 100 0 0 Mẫu giáo 358 94,7 20 5,3 372 98,4 6 1,6 Chung toàn trường 410 95,1 21 4,9 425 98,6 6 1,4 IV.BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Từ thực tế quản lý và chỉ đạo về “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên” tại trường mầm non Chiềng Mung, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Trước hết, người cán bộ quản lý cần phải có năng lực, phẩm chất, có uy tín trước đội ngũ giáo viên, có khả năng quản lý chỉ đạo điều hành các hoạt động theo mảng được phân công phụ trách. Thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận và khoa học công nghệ. Phân công đúng người, đúng việc, làm cho mọi nười hiểu rõ chức trách nhiệm vụ của mình, biết phối hợp với nhau trong công tác. Xây dựng được kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về công tác chuyên môn dựa vào các văn bản chỉ đạo của các cấp và của Nhà trường, tình hình thực tế của địa phương và tổ chức triển khai có hiệu quả. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặc biệt trong điều kiện hiện nay cần đẩy mạnh ứng dụng kiến thức khoa học mới vào chương trình cho phù hợp. Cần đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động trong ngày cho linh hoạt, phù hợp với tình thình thực tế của địa phương. Biết tạo ra kỷ cương trong nội bộ, đồng thời phải là trung tâm đoàn kết, quy tụ mọi người cùng chung tay xây dựng tập thể sư phạm nhà trường. Quan tâm tìm hiểu để nắm được tâm tư tình cảm, vướng mắc của cán bộ giáo viên để có hướng khắc phục. Tạo điểu kiện để giáo viên được học tâp ở mọi lúc, mọi nơi, nâng cao trình độ cho giáo viên. V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 1. Kết luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ngày một vững vàng, chủ động, sáng tạo trong công tác, thường xuyên đổi mới đáp ứng được yêu cầu của toàn xã hội trong bất cứ thời kỳ nào là mục tiêu quan trọng trong công tác chỉ đạo công tác chuyên môn trong trường mầm non. Để đạt được mục tiêu này, người cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường phải thực sự nâng cao tư tưởng chính trị, trình độ và năng lực chuyên môn và phát huy vai trò đầu tầu gương mẫu, là người đi trước về sau, nêu cao vai trò lãnh đạo trong công tác. Luôn đặt mình trong khối thống nhất chung của tập thể sư phạm nhà trường, nghiêm túc thực hiện nội quy tập thể. Có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác cho đội ngũ giáo viên để đội ngũ giáo viên thực sự có trình độ và năng lực công tác, biết áp dụng những kiến thức khoa học mới vào công việc hàng ngày của mình. 2. Đề xuất ý kiến: *Đối với nhà trường: -Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên để thực hiện tốt mọi công việc được giao. -Tiếp tục có kế hoạch bổ sung, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho cô và trẻ. -Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục mầm non trên địa bàn. *Đối với phòng giáo dục và đào tạo huyện Mai Sơn: -Điều động, bổ sung thêm biên chế cán bộ, giáo viên đủ theo kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà trường. -Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non đi tham quan học tập trong và ngoài tỉnh. -Bổ sung thêm tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các nhà trường. Chiềng Mung, ngày 20 tháng 5 năm 2010 NGƯỜI VIẾT Đặng Thị Thu XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. HIỆU TRƯỞNG

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Trẻ Ở Trường Mầm Non / 2023

Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong trường mầm non. Mục tiêu chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Để trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh ngay từ đầu chúng ta cần phải có một chế độ dinh dưỡng ăn uống hợp lý.

Thời gian hoạt động, ăn, ngủ của trẻ ở trường mầm non chiếm tỷ lệ khá lớn so với thời gian trong ngày. Vì vậy, cùng với gia đình, trường mầm non có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ.Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non cần có những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ lứa tuổi mầm non. “Cẩm nang dinh dưỡng cho trẻ mầm non”.

Mỗi chúng ta ai cũng biết: “Sức khỏe là vốn quý nhất của con người”. Đặc biệt là đối với trẻ mầm non, sức khỏe của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền, môi trường… Trong đó chế độ dinh dưỡng là yếu tố có vai trò quyết định, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển về thể lực và trí lực của trẻ. Thiếu ăn, ăn không đủ chất, dinh dưỡng không hợp lý kể cả thiếu hoặc thừa đều ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ, do đó việc quan tâm đến chế độ dinh dưỡng của trẻ là việc làm cần thiết.

Nuôi dưỡng tốt là phải có cách để đảm bảo cho cơ thể có đủ chất dinh dưỡng, mà cách tốt nhất đảm bảo bữa ăn hợp lý, đủ lượng, đủ chất. Chính vì vậy hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sức khỏe trong trường mầm non luôn được đặt lên hàng đầu.

Ở Trường Mầm non chúng tôi trong những năm học vừa qua công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trong trường mầm non có nhiều hạn chế về cơ sở vật chất và trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác nuôi dưỡng. Vì vậy từ giáo viên, cấp dưỡng đến các bậc phụ huynh đã và đang từng bước khắc phục khó khăn và thực hiện công tác tổ chức bán trú nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học.

Trước thực trạng đó để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đạt hiệu quả, đó là sự băn khoăn trăn trở của ban giám hiệu nhà trường, tôi thấy vấn đề này cần được đào sâu nghiên cứu để tìm ra các giải pháp về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở Trường Mầm non”

Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

Nhà trường thường xuyên tổ chức hội thi cho trẻ như: ” Bé nhanh trí, bé tài năng”. Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng chú trọng rèn luyện nề nếp cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Phối hợp với trạm y tế khám sức khỏe định kỳ và tiêm chủng mở rộng dịch sởi Ebulla, thường xuyên cân đo theo dõi biểu đồ tăng trưởng nhằm phát hiện trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi và trẻ béo phì để tìm ra biện pháp trao đổi với phụ huynh học sinh về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ đòi hỏi phải xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị đảm bảo cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và tiến hành các bước xây dựng khẩu phần ăn thực hiện cho năm học 2014-2015 cụ thể như sau

– Ẩn định số năng lượng của độ tuổi được tính bằng Kcal, xác định nhu cầu chất dinh dưỡng tại trường cả ngày, tính Kcal cho từng độ tuổi.

– Lựa chọn cách cân đối Kcal thích hợp.

– Lên thực đơn 1 tuần

– Lựa chọn thực phẩm

– Bổ sung cho đạt năng lượng với dầu mỡ và đường

Hàng tuần, nhà trường phải công khai thực đơn cho cha mẹ biết để phối hợp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

* Tổ chức tốt các bữa ăn ở nhóm lớp.

Bố trí địa điểm tổ chức bữa ăn cho trẻ từng nhóm lớp, nơi ăn phải thoáng mát, sạch sẽ, dễ dàng vận chuyển thức ăn và quan sát trẻ ăn.

Tổ chức bữa ăn cho trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng và hết suất là công việc quan trọng nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe trẻ.

Hướng dẫn giáo viên thực hiện tốt quy trình bữa ăn cho trẻ: Cho trẻ rửa sạch tay, sắp xếp bàn ghế có lối đi quanh bàn dễ dàng. Chuẩn bị khăn mặt, bát thìa, cốc uống nước đầy đủ cho số lượng trẻ. Trước khi chia thức ăn, cô cần rửa tay sạch, quần áo đầu tóc gọn gàng, cô chia thức ăn và cơm ra bát trộn đều thức ăn, không để trẻ chờ ăn lâu.

Trong khi ăn giáo viên vui vẻ, nói năng dịu dàng, tạo không khí thoải mái, khuyến khích trẻ ăn hết suất, kết hợp giáo dục dinh dưỡng, hành vi vệ sinh văn minh trong ăn uống; Dạy trẻ ăn biết mời cô và các bạn, ngồi ăn ngay ngắn, cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn một cách gọn gàng, ăn không rơi vãi ra, ăn từ tốn, nhai kĩ, không nói chuyện riêng trong khi ăn. Sau khi ăn cô hướng dẫn trẻ sắp bát, thìa, ghế vào nơi quy định, uống nước, lau miệng, lau tay sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh.

Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên kiểm tra trẻ ăn để nắm bắt tình hình có biện pháp kịp thời.

Chăm sóc bữa ăn cho trẻ có tầm quan trọng đặc biệt nhằm làm cho trẻ ăn ngon, hấp thụ tốt các chất đạm cho sự phát triển của cơ thể, vì vậy nhà trường chỉ đạo đến giờ ăn giáo viên ở các nhóm lớp đã được phân công phải có mặt đầy đủ, phải có sự chuẩn bị trước khi ăn, chăm sóc trẻ ăn dọn dẹp vệ sinh sau khi ăn.

Chuẩn bị trước khi ăn tất cả dụng cụ đựng thức ăn như bát, thìa, thau, nồi phải được khử trùng qua nước sôi 1000C, cấp dưỡng phụ trách công việc chia cơm, chia thức ăn phải rửa tay sạch sẽ, chia xong phải có đậy nắp tránh ruồi, tránh bụi. Trước khi trẻ ăn giáo viên cho trẻ rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ, sắp xếp bàn ăn, bố trí ngồi ăn của trẻ hợp lí, thuận tiện cho việc bao quát lớp, không nên bắt trẻ ngồi chờ quá lâu khiến trẻ mệt mỏi làm giảm sự thèm ăn của trẻ, cho trẻ ăn đúng bữa, đúng giờ.

Chăm sóc khi trẻ ăn: Cô giới thiệu các món ăn với trẻ, nói cho trẻ nghe ích lợi của các món ăn, khi ăn giáo viên động viên khuyến khích để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết khẩu phần, cô cần chú ý xử lí nhanh những tình huống trẻ bị hóc, sặc có thể sảy ra. Đối với trẻ ăn chậm, biếng ăn cô phải quan tâm chú ý nhiều hơn. Trẻ càng bé việc tổ chức ăn càng phức tạp hơn.

Do đó đối với trẻ lớp mầm cô cần ngồi ở vị trí thuận tiện để thể bao quát những trẻ khác. Đối với trẻ suy dinh dưỡng, trẻ mới ốm dậy cô chú ý nhắc nhở để trẻ ăn hết suất.

Trong quá trình chăm sóc trẻ ăn cô chú ý rèn luyện cho trẻ các hành vi thói quen tốt như: Không nói chuyện trong giờ ăn, không để thức ăn rơi vãi, khi ăn phải nhai kĩ, không được vừa ăn vừa nói, qua đó hình thành cho trẻ có nề nếp trong bữa ăn và các hành vi thói quen tốt.

Vệ sinh sau khi ăn: Khi trẻ ăn xong cô hướng dẫn trẻ rửa tay lau miệng bằng khăn sạch, uống nước, chơi nhẹ nhàng. Cô thu dọn lau bàn ăn bằng khăn ướt, lau bàn ăn sau mỗi bữa ăn, bát thìa phải được rửa bằng nước rửa chén và rửa lại nhiều lần bằng nước sạch, phơi nắng cho khô sau đó cất vào nơi qui định. Hàng ngày ban giám hiệu cùng với y tế học đường thường xuyên kiểm tra giờ ăn theo dõi lượng thức ăn, cơm canh, thức ăn mặn sau mỗi bữa để tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục từ đó tạo điều kiện cho nhà trường dễ dàng trong công việc tổ chức nuôi dưỡng cũng như theo dõi sức khỏe của trẻ ngày một cách hiệu quả hơn.

Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa quan trọng trong việc phục hồi sức khỏe làm việc của hệ thần kinh, trẻ ngủ đủ giấc cũng là biện pháp hỗ trợ tích cực hấp thụ các chất dinh dưỡng. Tuy không thuộc lĩnh vực dinh dưỡng nhưng những trẻ em thiếu ngủ, ngủ ít, việc tiêu hóa, hấp thụ thức ăn sẽ kém, dễ gây ức chế ăn uống, ăn không ngon. Trẻ ngủ đủ giấc thì việc tận dụng chất dinh dưỡng để tái tạo và sản sinh tế bào mới tốt. Ăn đủ mà thiếu ngủ trẻ cũng chậm lớn, do đó việc quan tâm đến giấc ngủ của trẻ được nhà trường thường xuyên tổ chức tốt.

+ Chuẩn bị tốt cho trẻ trước khi ngủ.

Nền nhà được thường xuyên lau sạch hàng ngày, tránh gây mùi hôi tạo không khí trong lành để trẻ ngủ ngon giấc, phòng học phải mở cửa thoáng về mùa hè, ấm về mùa đông có đầy đủ nệm, chăn, gối để trẻ có thể ngủ ngon giấc.

+ Chăm sóc khi trẻ ngủ.

Để tạo cho trẻ có tinh thần thoải mái và đi vào giấc ngủ nhanh, trước khi ngủ cô có thể kể cho trẻ nghe một câu chuyện cổ tích, hát cho trẻ nghe những bài hát ru êm ái, dịu dàng đưa trẻ nhẹ nhàng vào giấc ngủ hoặc mở băng đĩa những bài hát ru trong chương trình mầm non, thiếu nhi. Khi trẻ mới ngủ cô nên tôn trọng thói quen, tư thế ngủ của trẻ, sau khi trẻ đã ngủ say cô mới nhẹ nhàng sửa lại tư thế để trẻ ngủ thoải mái, ngon giấc và đắp chăn cho trẻ ngủ nhất là về mùa đông cần quan tâm cho trẻ ngủ đủ thời gian theo yêu cầu của từng độ tuổi, trẻ 3-5 tuổi ngủ từ 11giờ đến 14 giờ.

Trong khi trẻ ngủ giáo viên phải có mặt bên cạnh để chăm sóc theo dõi tạo cho trẻ có giấc ngủ yên tĩnh, tránh tiếng động làm trẻ giật mình. Đối với những trẻ khó ngủ, ngủ ít, trẻ mới đi học cô nên cho trẻ nằm riêng, nằm cạnh cô để chăm sóc riêng không làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ khác. Khi hết giờ ngủ cô cho trẻ thức dậy từ từ tránh đột ngột khi trẻ chưa tỉnh hẳn.

Trong quá trình tổ chức tốt bữa ăn, giấc ngủ cho trẻ, với tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ giáo viên trong nhiều năm qua nhà trường chưa để xảy ra một trường hợp tai nạn nào trong khi ăn uống như hóc, sặc và giờ ngủ của trẻ cũng luôn được đảm bảo theo qui định. Song vì điều kiện cơ sở vật chất chưa đầy đủ theo yêu cầu của ngành học, phòng học chưa đủ diện tích, chưa có phòng ngủ riêng cho trẻ nên chưa đáp ứng được yêu cầu như mong muốn. Sau khi trẻ ngủ dậy giáo viên cũng hướng dẫn cho trẻ vệ sinh cá nhân và thực hiện tổ chức ăn bữa xế theo trình tự như sự hướng dẫn của giáo trong bữa ăn chính. Sau khi trẻ ăn xong vệ sinh cá nhân sạch sẽ và cho trẻ hoạt động chiều ở mọi lúc, mọi nơi.

* Đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh nguồn nước sạch.

Để có được nguồn thực phẩm sạch, an toàn cho trẻ nhà trường tổ chức kí hợp đồng kinh tế mua bán thực phẩm với các cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận, có biên bản hợp đồng đảm bảo tính pháp lí. Các thực phẩm mua về phải tươi ngon không dập nát, các loại thực phẩm đã chế biến sẵn phải có nguồn gốc rõ ràng.

Nhà trường xây dựng nội qui, quy chế nhà bếp, vệ sinh, bếp ăn, dụng cụ ăn uống, cấp dưỡng luôn giữ bếp ăn, đồ dùng tuyệt đối sạch sẽ, khăn lau bát, thìa phải được thay đổi mỗi ngày và luộc qua nước sôi trước khi sử dụng, cây lau nhà cũng phải được giặt thường xuyên. Cấp dưỡng thực hiện khi chế biến thức ăn phải rửa tay và rửa dao thớt, thức ăn chín cũng có thể bị nhiễm khuẩn khi tiếp xúc với thức ăn sống. Vì vậy những thực phẩm như cá ,thịt gà, thịt heo, thịt bò… phải được nấu kĩ, không nên để thức ăn quá nguội lạnh mới cho trẻ ăn như vậy thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn, gây bệnh. Để đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường với những năm học tiếp theo cần tham mưu với ban đại diện phụ huynh và các cấp chính quyền địa phương di dời điểm trường và xây dựng bếp ăn một chiều để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phân công cấp dưỡng làm theo từng khu vực rõ ràng khi chế biến thức ăn, sau đó chia thức ăn, tuyệt đối không để lẫn lộn giữa thức ăn sống với thức ăn chín, kể cả dao thớt cũng phải dùng riêng và không để thức ăn dưới sàn nhà.

Hàng ngày nhân viên y tế học đường lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định 24 giờ, mẫu thức ăn được lấy khi vừa nấu xong, khi vừa chia cho trẻ. Hộp đựng mẫu thức ăn phải rửa sạch và nhúng nước sôi sau đó mới cho mẫu thức ăn vào chờ cho mẫu thức ăn nguội mới đưa vào lưu giữ trong tủ lạnh, sau 24 giờ mới bỏ đi.

Hàng năm trường phối hợp với bệnh viện đa khoa trong huyện tổ chức khám sức khỏe cho toàn bộ giáo viên. cấp dưỡng nếu phát hiện ra bệnh có kế hoạch điều trị dứt điểm. Ngoài ra trường còn đầu tư mua sắm áo quần, tạp dè… cho cấp dưỡng sử dụng khi chế biến thực phẩm.

Đảm bảo đủ nguồn nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày, trường có giếng nước hợp vệ sinh, lượng nước cho trẻ uống hàng ngày, nhà trường đã kí hợp đồng mua nước QUALITY đã được qua kiểm định chất lượng của cơ quan đảm bảo an toàn về vệ sinh thực phẩm, bình nước của các lớp đều có giá đựng, có tủ để ca cho trẻ uống nước sạch sẽ hợp vệ sinh.

Chính vì vậy trong nhiều năm qua trường vẫn duy trì được khâu vệ sinh đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không có trường hợp nào bị ngộ độc do thức ăn và dịch bệnh lây lan trong nhà trường.

Bên cạnh đó Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm và phối kết hợp với y tế ở địa phương tổ chức cho cán bộ, giáo viên cô nuôi học tập kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm để nắm bắt thực hiện.

Tham khảo tài liệu, tranh ảnh có nội dung về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách chọn thực phẩm tươi, sạch. 10 nguyên tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn, những điều cần biết về VSATTP (Vệ sinh an toàn thực phẩm),10 lời khuyên ăn uống hợp lý, dinh dưỡng và bữa ăn của trẻ, tháp dinh dưỡng cân đối.

Nhà trường hợp đồng mua thực phẩm tươi và an toàn với các đơn vị cung cấp thực phẩm có uy tín. Triển khai đến từng cán bộ giáo viên, nhân viên thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng.

Chế biến phải rửa với nước sạch, nấu chín và đảm bảo chất dinh dưỡng.

Thực phẩm phải bảo quản tốt đề phòng nhiễm bẩn, ôi thiu.

– Xây dựng bếp ăn.

Giữa các khu có ngăn cách tránh gây ô nhiễm giữa các vùng, đảm bảo thuận tiện cho công tác làm vệ sinh.

– Tổ chức công tác đánh giá trẻ

+ Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình cân đo hàng tháng, hàng quý, phân tích và đối chiếu trẻ suy dinh dưỡng, theo dõi biểu đồ làm cơ sở điều chỉnh kế hoạch, biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự phát triển của trẻ phù hợp với mục tiêu giáo dục đề ra.

Căn cứ vào mục đích yêu cầu về tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, giáo viên đánh giá trẻ theo những vấn đề sau: Tình trạng sức khỏe của trẻ, trạng thái cảm xúc hành vi, kiến thức, kỹ năng.

Phương pháp đánh giá: Quan sát theo dõi, trò chuyện với trẻ trong các giờ học, giờ ăn, giờ ngủ, trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trẻ, trả trẻ.

Đối với những trẻ đạt mục đích yêu cầu trong mục tiêu của từng lứa tuổi và các hoạt động để giáo viên theo dõi và đánh giá.

+ Đánh giá sau đợt cân đo:

Nội dung: Căn cứ vào mục tiêu và đối chiếu với kết quả cân đo của trẻ cần nêu rõ tên cá nhân trẻ đạt tốt hoặc trẻ suy dinh dưỡng trong lĩnh vực phát triển của trẻ.

Phương pháp: Tổng hợp cân sau từng đợt cân đo để biết kết quả của trẻ trao đổi với phụ huynh.

+ Lưu kết quả đánh giá:

Ghi chép nhận xét tổng hợp trong sổ cân do và theo dõi biểu đồ

+ Đánh giá cuối độ tuổi:

Thực hiện đánh trẻ ở tất cả các nhóm, lớp sau mỗi lần cân do trong năm học.

Đánh giá nội dung, phương pháp, lưu kết quả theo dõi biểu đồ.

* Công tác xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng.

Cơ sở vật chất trong trường là một trong những điều kiện nhất định trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Nếu trang thiết bị thiếu thốn sẽ ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, dựa trên cơ sở vật chất hiện có của nhà trường đối chiếu với nhu cầu và tiêu chuẩn của bậc học mầm non, nhà trường tích cực tham mưu với ban đại diện phụ huynh, các cấp lãnh đạo địa phương, xây dựng công trình vệ sinh có hệ thống thoát nước theo ống ngầm vào bể có nắp đậy hợp vệ sinh, có bếp ga, tủ đựng thức ăn, chén bát, giá đựng xoong nồi, thau chậu đảm bảo tránh được các côn trùng bò vào.

Nhờ có sự chỉ đạo sát sao và công tác tham mưu tích cực của ban giám hiệu, nhà trường cũng đã có được một khuôn viên tuy chưa được rộng rãi nhưng thoáng mát và rất sạch sẽ. Lãnh đạo nhà trường không dừng lại ở đó mà tich cực tham mưu, đề xuất với các cấp lãnh đạo UBND huyện, Phòng giáo dục, lãnh đạo địa phương quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để di dời điểm trường sang nơi khác để trường có diện tích rộng rãi hơn.

* Tăng cường công tác kiểm tra.

Công tác kiểm tra là hoạt động không thể thiếu được trong nhà trường. Đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non, việc kiểm tra của hiệu trưởng là rất cần thiết và hết sức quan trọng.Vì vậy hiệu trưởng đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, thường xuyên tổ chức kiểm tra tổ nuôi dưỡng, kiểm tra bếp ăn, về chất lượng, số lượng thực phẩm, cách chế biến, kiểm tra khâu chia thức ăn, cách tổ chức bữa ăn, tổ chức giờ ngủ ở mỗi nhóm lớp. Đặc biệt kiểm tra chế độ thu chi ăn uống hàng ngày để phát hiện những sai sót trong chi ăn hàng ngày và có biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Kiểm tra định kì và kiểm tra đột xuất, thống nhất trước nội dung và lịch kiểm tra. Ngoài ra trường còn tổ chức kiểm tra khi giao nhận thực phẩm, cân thức ăn hàng ngày từ khâu sơ chế đến khâu chia thức ăn để đảm bảo đủ số lượng thức ăn cân bằng trên mỗi nhóm lớp, theo sĩ số các lớp báo hàng ngày. Sau khi kiểm tra có nhận xét ra những ưu nhược điểm để tìm cách khắc phục những hạn chế và phát huy những kết quả tốt đã làm được nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn.

Vì vậy trong nhiều năm qua công tác kiểm tra trong nhà trường được duy trì thường xuyên nên không có trường hợp nào vi phạm khuyết điểm trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng. Song cũng không tránh khỏi đôi khi còn rập khuôn trong công việc chế biến thức ăn, nguồn thực phẩm còn phụ thuộc vào sẵn có từ địa phương.

* Đẩy mạnh phong trào thi đua trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng.

Hàng năm nhà trường thường xuyên tổ chức các hội thi cũng giúp những người tham gia hiểu rõ về các nguyên tắc chăm sóc, nuôi dưỡng giúp giáo viên, phụ huynh, học sinh học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp và người xung quanh.

Trong những năm gần đây phong trào thi đua trong nhà trường hoạt động rất sôi nổi, nội dung thi đua rất đa dạng và phong phú như hội thi ” Bé khỏe, bé ngoan”, ” Bé tài năng nhanh trí”, thi trên mạng Internet thi ” Nữ công gia chánh” nhân ngày 8 – 3. Sau mỗi hội thi nhà trường đều trích một phần kinh phí cho giáo viên, cấp dưỡng và học sinh đạt giải nhằm động viên khuyến khích kịp thời. Ngoài ra nhà trường còn chỉ đạo đưa tỉ lệ giảm suy dinh dưỡng vào tiêu chuẩn thi đua hàng tháng để chị em tự bình bầu, xếp loại, nhằm thúc đẩy chị em tích cực chăm lo đến việc ăn uống, dinh dưỡng cho trẻ nhất là với trẻ bị thấp còi, suy dinh dưỡng, đồng thời giúp giáo viên, cấp dưỡng nâng cao tay nghề về cách chế biến thức ăn, cách nấu ăn. Nhờ vậy mà hiện nay công tác thi đua cũng góp phần quan trọng trong việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học hàng năm và đề nghị cấp trên khen thưởng.

* Các lực lượng kết hợp hỗ trợ.

Nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non rất cần sự hỗ trợ giúp đỡ của gia đình, cộng đồng về mọi mặt. Gia đình là nơi trực tiếp nuôi dạy trẻ cùng với nhà trường cần có mối quan hệ khăng khít với nhau về nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Để có được sự giúp đỡ đó, nhà trường có trách nhiệm tuyên truyền rộng rãi đến các bậc phụ huynh về kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng con theo khoa học để họ hiểu được tầm quan trọng của việc nuôi trẻ những hình thức như: Qua trao đổi hàng ngày giữa giáo viên và phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ, thông qua bảng tin góc tuyên truyền của các lớp, qua các buổi họp phụ huynh, bảng công khai thực đơn và tài chính hàng ngày của trường.

Nhà trường cũng làm tốt công tác tham mưu với chính quyền địa phương về các hoạt động công tác chăm sóc, nuôi dưỡng của trường. Kết hợp với bệnh viện đa khoa khám sức khỏe cho giáo viên và cô nuôi, trạm y tế địa phương khám sức khỏe định kì cho trẻ 2 lần/ năm, y tế học đường phối kết hợp với giáo viên 3 tháng cân, 6 tháng đo trẻ một lần để tiện theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng, nếu trẻ ở kênh C có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời tránh tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng

Tổ chức tốt các buổi họp giáo viên, cấp dưỡng, phụ huynh để tìm ra phương pháp tối ưu để chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, mở lớp tập huấn chuyên đề về dinh dưỡng để trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy trẻ theo khoa học.

Nhà trường tạo điều kiện cho cấp dưỡng tham gia học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề.

Tuyên truyền vận động phụ huynh học sinh, công ty, doanh nghiệp đóng trên địa bàn hỗ trợ thêm kinh phí mua sắm trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng. Kết hợp với trạm y tế địa phương kiểm tra sức khỏe định kì, công tác vệ sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm trong nhà trường.

Thực hiện công tác khen thưởng kịp thời trong các phong trào thi đua của nhà trường.

Trong những năm học qua nhà trường đã thực hiện tuyên truyền về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, hầu hết các bậc phụ huynh đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường, có nhiều sự quan tâm của phụ huynh học sinh hơn tạo thuận lợi cho nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

* Phối hợp với với cha mẹ trẻ trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ

– Phối hợp chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ.

– Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.

– Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác đánh giá công tác chăm sóc, giáo dục trẻ của trường.

– Tham gia xây dựng cơ sở vật chất.

* Phối hợp của nhà trường với gia đình.

– Thông qua góc tuyên truyền.

– Thông qua trao đổi trực tiếp với cha mẹ trẻ.

* Thưc hiện chế độ chính sách, bảo vệ quyền trẻ em.

– Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của nhà nước, của sở, ngành giáo dục.

– Quán triệt trong tập thể hội đồng sư phạm nhà trường các chế độ chính sách đối với trẻ mầm non và luật bảo vệ chăm sóc trẻ em.

– Tuyên truyền đến cha mẹ trẻ và cộng đồng xã hội các chế độ chính sách theo quy định.

Năm năm học 2014-2015 được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường, ban đại diện phụ huynh, quan tâm đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo trẻ, luôn động viên giáo viên tìm ra những phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động thông qua bữa ăn hàng ngày, tổ chức các hội thi về “dinh dưỡng”, “Bé tài năng nhanh trí” tập huấn các chuyên đề để đúc rút những kinh nghiệm, trao đổi với đồng nghiệp và tìm hiểu qua sách báo, mạng Internet… Trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đã mua sắm một số đồ dùng phục vụ cho nhà bếp và các cháu đặc biệt thông qua các tranh ảnh, bảng tin về dinh dưỡng nhu cầu cần cung cấp cho trẻ hàng ngày để phụ huynh nắm được một số kiến thức cơ bản và kết hợp với nhà trường để làm tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

– Bồi dưỡng đội ngũ về nâng cao nhận thức và kiến thức.

Tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường là nhiệm vụ của cán bộ quản lí, giáo viên, cấp dưỡng nên ngay từ đầu năm học trường kết hợp với trung tâm y tế huyện tổ chức cho toàn bộ đội ngũ trong nhà trường học tập về vệ sinh an toàn thực phẩm, thông qua các buổi họp chuyên môn, hội đồng, để triển khai về điều lệ trường mầm non, công ước về quyền trẻ em và các văn bản của ngành về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Giúp giáo viên nắm được chế độ dinh dưỡng đối với những loại thức ăn nào giàu dinh dưỡng.

Khi trẻ đến trường không những học tập và vui chơi mà phải được chăm sóc từng bữa ăn đến giấc ngủ và chế độ sinh hoạt hàng ngày nên nhà trường đã phổ biến kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng đến toàn thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội đồng, tập huấn chuyên đề nhằm giúp giáo viên làm tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ tốt hơn.

Có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có đầy đủ kiến thức về dinh dưỡng trong các bữa ăn, tham gia các lớp tập huấn, các buổi trao đổi về dinh dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, cách chế biến các món ăn phù hợp với trẻ. Ngoài ra còn nghiên cứu về bảng phân loại bốn nhóm thức ăn: Đạm, đường, béo, vitamin, muối khoáng để có thể chọn lựa, mua sắm các thực phẩm cho phù hợp mang lại giá trị dinh dưỡng cao và sưu tầm các tài liệu về chế biến các món ăn để cấp dưỡng tranh thủ nghiên cứu nhằm nâng cao tay nghề trong nấu ăn.

* Chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ.

Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ là một qui trình hoạt động trong ngày cũng như việc ăn. ngủ, nghỉ ngơi một cách hợp lí. Vì thế xây dựng và thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục toàn diện đối với trẻ, vào đầu năm học nhà trường chỉ đạo giáo viên xây dựng chế độ sinh hoạt phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ ở từng độ tuổi và phải phù hợp với tình hình thực tế của trường.

Chế độ sinh hoạt được thực hiện một cách thường xuyên nhằm góp phần hình thành các thói quen hành vi, vệ sinh, tính tổ chức kỉ luật và một số đức tính tốt để tạo nên kỹ năng sống ở trẻ.

Ngoài ra giáo viên cần cho trẻ tham gia đầy đủ các hoạt động trong ngày, tạo cho trẻ tâm trạng thoải mái, vui vẻ… Đồng thời chỉ đạo cho giáo viên phải thường xuyên kết hợp với phụ huynh cùng thực hiện chế độ sinh hoạt đúng giờ có hiệu quả.

* Tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng.

Thực hiện chế độ dinh dưỡng.

Dinh dưỡng là cung cấp thực phẩm, những nguyên liệu cần thiết cho ăn, uống cung cấp năng lượng, dinh dưỡng để cơ thể phát triển và hoạt động. Ngoài ra ăn uống còn cung cấp Vitamin, muối khoáng là những chất cần thiết cho sự phát của cơ thể. Nếu thiếu hoặc thừa những chất nói trên đều có thể gây bệnh hoặc ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe. Hiểu rõ được tầm quan trọng đó nhà trường đã thực hiện chế độ một cách hợp lí. Phân công phó hiệu trưởng phụ trách công tác nuôi dưỡng, qui định chế độ dinh dưỡng đối với từng độ tuổi và thực tế sức khỏe của trẻ, phù hợp với các mùa trong năm và rau, củ quả của địa phương. Đối với trẻ mới ốm dậy, trẻ suy dinh dưỡng hàng ngày hàng tuần có kế hoạch bồi dưỡng, điều chỉnh thực đơn để phù hợp với trẻ và vận động phụ huynh tăng thêm tiền ăn hàng ngày cho trẻ từ 12.000đ lên 15.000đ. Về mùa hè, thời tiết nóng cho trẻ ăn các loại thực phẩm như rau ngót, rau má, rau đay, mồng tơi…Ngoài ra trường giành một phần đất ở ngoài khuôn viên trường để trồng thêm rau xanh, nhằm cải thiện bữa ăn cho trẻ và đảm bảo nguồn rau sạch trong trường. Xây dựng thực đơn theo mùa, tận dụng nguồn thực phẩm sản xuất tại trường, tại địa phương, khuyến khích cán bộ giáo viên, công nhân viên trồng rau sạch tại gia đình và bán lại cho nhà trường vừa rẻ về kinh tế, đảm bảo an toàn về thực phẩm.

Hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày nhà trường tính khẩu phần ăn bằng phương pháp ghi sổ để theo dõi định lượng Kcal. Các chất dinh dưỡng nếu chưa đảm bảo, chưa cân đối tỉ lệ giữa năng lượng và chất dinh dưỡng, giữa chất đạm, chất béo của động vật và thực vật để có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp. Qua đó trường còn biết lựa chọn các thực phẩm giàu dinh dưỡng để thay thế những thực phẩm ít dinh dưỡng làm tăng thêm khẩu phần năng lượng và dinh dưỡng vào cơ thể trẻ.

Trường hợp đồng kinh tế an toàn thực phẩm và chỉ đạo thực hiện đúng cam kết về vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc tiếp phẩm theo đúng thực đơn hàng ngày, có sự kiểm tra chặt chẽ của ban giám hiệu nhà trường về số lượng và chất lượng. Thực phẩm phải tươi sống, giá cả hợp lí, tuyệt đối không mua thực phẩm không rõ nguồn gốc, ôi thiu, không rõ hạn dùng hoặc quá hạn sử dụng. Không mua thực phẩm đã qua sơ chế biến nhưng không ghi rõ nguồn gốc nơi sản xuất…Hàng tháng tổ chức họp bán trú rút kinh nghiệm trong tổ nuôi dưỡng, công khai tài chính rõ ràng, kịp thời không để thất thoát làm ảnh hưởng đến chế độ ăn của trẻ.

Chế biến thức ăn cho trẻ cần thực hiện nghiêm túc theo 10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm an toàn từ khâu vệ sinh cá nhân, người chế biến phải ăn mặc quần áo, đầu tóc gọn gàng, rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn, thực phẩm trước khi chế biến phải được rửa bằng nước sạch, rửa xong mới cắt, đảm bảo kĩ thuật chế biến, để không bị hao hụt chất dinh dưỡng, đảm bảo các món ăn ngon miệng. Các loại rau khi nấu không để quá chín sẽ làm giảm lượng VitaminC.

Khi nấu phải đậy vung, đảo đều tay, nấu cơm đổ vừa nước không chắt nước cơm, khi chín cho trẻ dùng luôn. Người nuôi dưỡng thường xuyên rút kinh nghiệm, cải tiến kĩ thuật chế biến các món ăn, thay đổi cách chế biến hàng ngày để tạo cho trẻ các món lạ ăn ngon miệng, ăn hết xuất của mình. Ngoài ra trường còn thường xuyên tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Qua các buổi họp phụ huynh, qua bảng tin dinh dưỡng của trường để phụ huynh hiểu và hỗ trợ thêm kinh phí ,tăng khẩu phần ăn cho trẻ hàng ngày và vận động phụ huynh đóng góp thêm tiền ăn cho trẻ, uống thêm sữa vào buổi sáng. Đối với các cháu ở điểm lẻ thì chưa thực hiện ăn bán trú thì vận động phụ huynh cho trẻ ăn thêm các chất dinh dưỡng và bổ sung uống sữa hàng ngày để tạo điều kiện tăng thêm lượng dinh dưỡng vào trong cơ thể trẻ. Nhà trường còn kết hợp với trạm y tế tổ chức khám sức khỏe cho trẻ theo định kì 2 lần/1 năm.

Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Qua nghiên cứu thực hiện nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non tôi thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân từ 10,3% xuống 6,7%; Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi: 9,7% xuống 7,7%

Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non cho thấy đội ngũ giáo viên, cấp dưỡng đã có những thay đổi trong công tác chăm sóc trẻ, đã chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của từng trẻ, đến nhu cầu cá tính của mỗi trẻ trong những bữa ăn, tạo cơ hội cho trẻ ăn ngon, ngủ ngon, môi trường chăm sóc từng bước được cải thiện rõ rệt.

Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường phần lớn phụ thuộc vào sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường và lòng nhiệt tình của đội ngũ giáo viên, cấp dưỡng và sự nhận thức của các bậc phụ huynh, trong đó hiệu trưởng là người đứng đầu trong công tác chỉ đạo điều hành. Đặc biệt đối với công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đang được nhà trường quan tâm và chỉ đạo công việc này muốn thực hiện được cần nhiều yếu tố, điều kiện trong đó yếu tố quyết định nhất vẫn là sự quản lí, chỉ đạo chặt chẽ sát sao của hiệu trưởng. Hiệu trưởng phải nắm vững các nội dung, biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ phấn đấu xây dựng về cơ sở vật chất, sáng tạo trong công việc, khắc phục mọi khó khăn để tìm ra nhiều biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhằm góp phần thực hiện mục tiêu chung của bậc học mầm non và đưa chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trong trường Mầm non đạt hiệu quả cao hơn.

Muốn đạt kết quả cao trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đòi hỏi mỗi cán bộ giáo viên, công nhân viên đều nâng cao nhận thức, ý thức được trách nhiệm của mình trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng được giảm dần so với năm học trước, số trẻ học bán trú ngày càng tăng, ý thức và trách nhiệm của phụ huynh học sinh ngày được nâng cao.

Cán bộ quản lí phải tâm huyết với nghề nghiệp, nắm bắt những cái mới, lên kế hoạch chỉ đạo kịp thời và xây dựng các chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của nhà trường và của địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng kế hoạch kiểm tra một cách khoa học, nắm bắt và xử lí thông tin kịp thời, có sự điều chỉnh nếu sai sót, hạn chế, tạo điều kiện giúp đỡ các bộ phận nuôi dưỡng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Từng bước đổi mới, sáng tạo về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng của giáo viên và cấp dưỡng.

Bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ giáo viên học tập trao đổi kinh nghiệm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.

Tổ chức tốt các hội thi về dinh dưỡng, xây dựng thực đơn phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.

Tuyên truyền về kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học cho các bậc phụ huynh, vận động và làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, phối kết hợp với cha mẹ học sinh hộ trợ kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dưỡng để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng mức thấp nhất.

Phải có tổng kết, khen thưởng động viên kịp thời với những giáo viên, nhân viên, học sinh đạt được thành tích cao.

Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Nhà Trường Thcs / 2023

một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường THCS I – Đặt vấn đề Đội ngũ giáo viên (GV) có vai trò rất quan trọng việc thực hiện nhiệm vụ Giáo dục của Đảng. Họ là những người thực thi những nhiệm vụ, các kế hoạch của đơn vị, họ quyết định chất lượng giáo dục đào tạo của một nhà trường. Bàn về vị trí vai trò của người thầy giáo, trong sự nghiệp giáo dục, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Thầy giáo là nhân vật trung tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những con người mới XHCN”. Thủ tướng còn chỉ rõ thêm ” Vấn đề lớn nhất trong giáo dục của ta hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũ GV dần dần trở thành một đội quân đủ năng lực, đủ tư cách làm tròn sứ mệnh của mình. Chất lượng giáo dục trước mắt và tương lai tuỳ thuộc vào đội ngũ này. Cho nên lo cho chất lượng, lo cho CCGD thì khâu quan trọng bậc nhất là lo cho đội ngũ GV. Phải thực sự lo và có một biện pháp từ Bộ đến địa phương. Bộ phải coi đây là công tác trọng yếu nhất, phải kiên trì làm trong nhiều năm, phải làm cho GV có đạo đức tốt hơn, có ý thức với nghề, có tâm hồn với trẻ. Không có GV tốt thì không có nhà trường tốt, không có giáo dục tốt thì không có chất lượng cao. Muốn đạt được như vậy điều quan trọng trước tiên là phải lo bồi dưỡng đội ngũ GV của ta làm sao để có đủ trình độ về chính trị, nghiệp vụ văn hoá để ngày mai dạy tốt hơn bây giờ”. Nghị quyết TƯ 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Vấn đề trên đòi hỏi chúng ta – Những nhà làm công tác quản lý phải nhận thức sâu sắc là phải bồi dưỡng đội ngũ GV mới đáp ứng được công cuộc CNH – HĐH đất nước. Nghị quyết thứ lần thứ 2 BCH TƯ Đảng khoá VIII đã chỉ rỏ: ” Đội ngũ GV vừa thiếu, vừa yếu, nhìn chung chất lượng GV chưa đáp ứng yêu cầu phát triển GD – ĐT trong giai đoạn mới”. Đội ngũ GV Trường THCS Văn Thuỷ cũng nằm trong nhận định đó: Vừa thiếu vừa không đồng bộ, nguồn đào tạo đa dạng. Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỷ thuật, trước sự đòi hỏi ngày càng cao của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, đội ngũ GV gặp rất nhiều khó khăn trước nhiệm vụ được giao. Vậy cần phải làm gì đây để có một đội ngũ có trình độ chuyên môn vững vàng? Từ vai trò vị trí của người GV, từ thực tế của trường, từ sự băn khoăn của bản thân, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường THCS “. II. Tình hình đội ngũ trường THCS Văn Thuỷ: *Tổng số cán bộ giáo viên 22 (Nữ: 12). Trong đó: – 2 cán bộ quản lý, 4 nhân viên (2 nhân viên hợp đồng ngắn hạn), 16 giáo viên (3 GV mới vào biên chế đang thời kỳ tập sự). – Tuổi đời cao nhất: 53. Tuổi đời thấp nhất 29. Bình quân tuổi đời: 32,5. – Tuổi nghề cao nhất: 29. Tuổi nghề thấp nhất: < 1. Bình quân tuổi nghề: 10,4 – Trình độ đào tạo: 4 Đại học, 14 CĐSP và 4TC. – Trình độ Tin học: 21/22 có chứng chỉ A và chứng chỉ B Tin học. – Trình độ Ngoại ngữ: 6/22 có chứng chỉ ngoại ngữ trở lên. – Đảng viên: 10/22. Trong đó có 2 Đảng viên đạt trình độ TCCT. – Năng lực sư phạm: + Tốt: 6 đạt 27,3% + Khá: 10 đạt 45,5% + TB: 4 đạt 18,2% + TB yếu: 2 đạt 9% * Một số nhận định về đội ngũ: – Thuận lợi: Đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm , yêu nghề, nhiệt tình công tác, hầu hết được đào tạo chính quy và phần lớn đạt chuẩn trở lên, có chí tiến thủ, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ được giao. – Khó khăn: + Trường thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, số lớp ít (8 lớp, 2 lớp/ khối) nên cường độ làm việc của GV lớn, nhất là khâu soạn bài. Cơ cấu đội ngũ không đồng bộ, một số GV không thuộc hệ đào tạo phải dạy chéo môn ( Môn Thể dục) + Một số GV mới ra trường chưa được bồi dưỡng thay sách, loại hình đào tạo đa dạng nên gặp nhiều trở ngại trong công tác dạy học. + Một số GV lớn tuổi, sức khỏe không đảm bảo, chủ nghĩa kinh nghiệm còn nặng, ít có nhu cầu học tập nâng cao kiến thức, do đó thực hiện chương trình đổi mới giáo dục phổ thông còn hạn chế. III-Xác định tiêu chuẩn nội dung và hình thức bồi dưỡng của người GV trong nhà trường THCS. 1-Tiêu chuẩn của người giáo viên trong xã hội hiện nay: – Trước tiên người GV phải là người công dân tốt, có đầy đủ phẩm chất “Tài và Đức”. Đây là hai mặt để tạo nên nhân cách con người phát triển toàn diện. Người GV phải có trình độ sư phạm tối thiểu: CĐSP trở lên đối với bậc THCS và phải phấn đấu để nâng chuẩn từ CĐSP lên Đại học, trên Đại học. – Người GV phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, nên phải là người có đạo đức tư tưởng trong sáng, có tác phong mẫu mực, có lối sống lành mạnh, nhận thức đúng đắn đường lối của Đảng nhất là lĩnh vực giáo dục, vận dụng quan điểm chính thống vào giảng dạy, kiên định đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ đã chọn. Thông qua các buổi học Nghị quyết, nghe thời sự, đọc báo, tài liệu để từng bước nâng cao nhận thức của bản thân . Có thể nói tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá GV là sự tiến bộ của học sinh. 2-Nội dung cần bồi dưỡng: 2.1. Bồi dưỡng về tư tưởng đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp – Về tư tưởng chính trị, đạo đức: Bồi dưỡng GV có ý thức tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng, phải yêu lao động, trọng lẽ phải, không ngừng học tập tu dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bồi dưỡng GV có phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống trong sáng, giản dị, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mỗi thầy giáo, cô giáo phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. – Về phẩm chất nghề nghiệp: Bồi dưỡng cho GV có lí tưởng nghề nghiệp đúng đắn; bồi dưỡng lòng yêu nghề, mến trẻ; bồi dưỡng tinh thần “Dân chủ – kỉ cương- tình thương – trách nhiệm”, thực hiện tốt cuộc vận động ” Hai không” với 4 nội dung. 2-2 Bồi dưỡng về văn hoá chuyên môn nghiệp vụ . – Kho tàng tri thức của nhân loại là vô tận và luôn có sự đổi mới. Tri thức là chìa khoá vạn năng giúp con người mở cửa cuộc đời. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỉ thuật và công nghệ đang diễn ra như vũ bảo, đội ngũ giáo viên là người đi dạy người khác mà không tự bồi dưỡng, không bổ sung chuyên môn nghiệp vụ cho mình thì sẽ bị mai một kiến thức và tụt hậu. – Năng lực chuyên môn của GV được thể hiện qua việc: + Nắm chương trình, SGK từng môn, từng lớp, nắm chuẩn kiến thức, kỉ năng từng môn, từng chương, từng phần . + Xác định đúng, đủ mục tiêu bài dạy. + Truyền thụ rỏ ràng chính xác , có hệ thống kiến thức cơ bản bài dạy. + Tổ chức và sử dụng phương pháp dạy học, phương tiện dạy học hiện đại, linh hoạt phù hợp với nội dung bài học và đặc trưng bộ môn. + Đánh giá đúng khả năng của học sinh, chấm bài, cho điểm đánh giá học sinh chính xác, công bằng, khách quan. – Hoạt động nghiệp vụ của GV được thể hiện qua 3 khâu cơ bản: Soạn bài- lên lớp- chấm chữa, đánh giá xếp loại học sinh. Ba khâu này tạo thành một chu trình khép kín công việc của người thầy. Vì thế, khâu nào cũng rất quan trọng không thể xem nhẹ. Vì vậy, người cán bộ quản lí phải biết tiếp sức cho GV cả 3 khâu: Soạn bài ( thiết kế xây dựng bài soạn điển hình cho từng kiểu dạng bài), lên lớp ( qua thao giảng dự giờ), chấm chữa xếp loại học sinh ( qua việc kiểm tra thực hiện quy chế chuyên môn). Muốn tiếp sức bồi dưỡng kịp thời cho đội ngũ, người cán bộ quản lí phải làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học. IV.Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV của người cán bộ quản lí. 1-Xác định đúng tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng cán bộ GV. Đội ngũ GV là lực lượng lao động chủ yếu, giử vai trò quan trọng có tính chất quyết định đến sự thành công của nhà trường. Thế nhưng trên thực tế đội ngũ GV nói chung còn gặp khó khăn và nhiều mặt hạn chế trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục . Trước tình hình đó, việc chăm lo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV có đủ phẩm chất năng lực công tác là vấn đề quan trọng đối với người Hiệu trưởng trong nhà trường THCS nói riêng, trong nhà trường phổ thông nói chung. Đối tượng quản lí của Hiệu trưởng là GV, là “Con người” một yếu tố năng động nhất, quyết định nhất để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Có thể khẳng định: Xây dựng bồi dưỡng đội ngũ GV là công tác quan trọng hàng đầu và lâu dài của người Hiệu trưởng (HT). 2-Lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV: HT phải biết nghiên cứu, phân tích, điều tra nắm tình hình, đánh giá phân loại giáo viên với các công việc cụ thể: Ngay từ đầu năm học điều tra để nắm đội ngũ GV, để phân loại chi tiết cụ thể chất lượng đội ngũ GV. Qua đó, Ban giám hiệu (BGH) lập danh sách từng GV cần bồi dưỡng những mặt nào? Từ đó, lập kế hoạch bồi dưỡng từng mặt: tư tưởng, đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn… Đồng thời, sau khi đã nắm được mặt mạnh, mặt hạn chế của đội ngũ để xây dựng chương trình bồi dưỡng ngắn hạn hay dài hạn cho từng giai đoạn, từng học kì , từng năm. 3-Phối hợp sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ GV. Người HTphải biết dựa vào tổ chức nồng cốt là chi bộ Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên để tổ chức tốt các phong trào thi đua tu dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ GV, bồi dưỡng cho đội ngũ GV về tư tưởng, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thông qua việc học tập nghiên cứu, nghe báo cáo sinh hoạt tập thể, duy trì tốt phong trào “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo”, ” Dân chủ – kỉ cương – tình thương – trách nhiệm”, ” Dạy tốt, học tốt”. Người HT phải biết kết hợp các đoàn thể để bồi dưỡng đạo đức, tác phong, nâng cao tầm hiểu biết cho đội ngũ GV. 4-Thực hiện nề nếp sinh hoạt chuyên môn và đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng, tự bồi dưỡng cho đội ngũ. 4-1:Thực hiện có nề nếp sinh hoạt chuyên môn ở HĐSP và tổ chuyên môn: Tổ chuyên môn đóng vài trò hết sức quan trọng trong nhà trường nếu được sinh hoạt tốt thì rất có tác dụng thiết thực trong công tác bồi dưỡng đội ngũ, nếu sinh hoạt qua loa, chiếu lệ thì sẽ trở thành hình thức, ít hiệu quả. Trước đây, sinh hoạt chuyên môn thường nặng về đánh giá kiểm điểm, như vậy không đem lại hiệu quả thiết thực cho GV và lảng phí thời gian . Để nâng cao chất lượng đội ngũ GV, là người HT phải biết định rỏ cụ thể nội dung sinh hoạt chuyên môn, giành thời gian ưu tiên cho việc giải quyết những vướng mắc trong chuyên môn, tổ chức đúc rút kinh nghiệm về xây dựng giáo án bài soạn, về dự giờ thăm lớp, thao giảng giờ dạy. Nội dung sinh hoạt tổ cần đi sâu ôn lại, có dạy minh hoạ lại các chuyên đề, từ đó góp ý hoàn chỉnh chuyên đề rồi mới áp dụng đại trà. 4-2: Đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng – Tự bồi dưỡng cho đội ngũ: – Bồi dưỡng theo chuyên đề do Phòng GD-ĐT tổ chức – Tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và tham gia hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học từng bộ môn, để nắm bắt một cách tường minh về phương pháp giảng dạy . – Sau mỗi lần tiếp thu chuyên đề về trường, BGH cùng tổ trưởng đi sâu nghiên cứu kỉ chuyên đề, bàn bạc và thống nhất phương án triển khai, đồng thời cử GV dạy giỏi hoặc giáo viên có năng lực khá dạy mẫu, để đội ngũ nắm bắt cụ thể hơn về tinh thần của chuyên đề. – Mỗi một chuyên đề như vậy yêu cầu GV xem xét nghiên cứu và qua thực tế để rút ra những ưu điểm và tồn tại . Đây cũng là hình thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho mỗi GV. – Mặt khác, HT còn mời các chuyên viên, màng lưới chuyên môn nghiệp vụ của Phòng GD-ĐT về bồi dưỡng thêm cho đội ngũ GV. – Những đồng chí chưa đạt chuẩn, HT lập danh sách đề nghị với Phòng GD-ĐT cử đi học các lớp chuẩn hoá tại chức hoặc từ xa. Những GV dạy giỏi, những GV có năng lực đã đạt chuẩn đào tạo thì đề nghị Phòng GD-ĐT cho đi học để nâng chuẩn đào tạo để có kế hoạch tạo nguồn lâu dài. Từ những việc làm đó, HT đã kích thích động viên đội ngũ GV hăng say thi đua có ý thức trong công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của mình. 5- Đẩy mạnh dự giờ thăm lớp và thao giảng cho đội ngũ GV: 5-1: Tổ chức thường xuyên dự giờ thăm lớp đúc rút kinh nghiệm giờ dạy: Đây là hoạt động thường xuyên của nhà trường. Hàng tuần, HT đều có lịch dự giờ GV, bố trí chúng tôi tổ trưởng chuyên môn và GV có năng lực khá giỏi dự giờ ( Có thể báo trước hoặc báo trước 15 phút) để nắm bắt tình hình giảng dạy của đội ngũ. Qua dự giờ nhằm đúc rút kinh nghiệm chỉ ra mặt mạnh – yếu để đội ngũ khắc phục phát huy. Trong lĩnh vực này, nhà trường ưu tiên dự giờ nhiều đối với GV yếu, GV mới ra nghề và GV khá giỏi để tiếp sức cho đội ngũ và xây dựng GV dạy giỏi. 5-2: Thao giảng Nhà trường tổ chức thường xuyên hoạt động này nhân các ngày lễ lớn. Qua thao giảng đã tạo nên không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường, là dịp để đội ngũ GV “Thi tài, đua sức”. Qua đó, nhà trường nắm bắt những thành công, những hạn chế của đội ngũ để góp ý giúp đỡ. Những tiết thao giảng này, người lên lớp chủ yếu là GV có năng lực nên rất có ý nghĩa đối với GV mới ra trường, GV có tay nghề còn non. 6- Duy trì tốt hoạt động SHCM liên trường: – Xác định đây là chủ trương đúng đắn của Phòng GD-ĐT nên trường đã nghiêm túc thực hiện khá tốt. Đặc thù trường có số lớp ít, GV trong một khối ít nên rất hạn chế về trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ. Qua sinh hoạt chuyên môn (SHCM) liên trường nhằm tháo gỡ những vứng mắc khó khăn và học tập kinh nghiệm của trường bạn. Do vậy, ngoài lịch của Phòng, trường chủ động liên hệ với trường bạn cùng hợp tác tổ chức SHCM các trường trong cụm để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ. 7- Làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học: – Đây là hoạt động không thể thiếu trong một nhà trường góp phần tích cực trong việc bồi dưỡng GV. Kiểm tra không ngoài mục đích là để nắm bắt tình hình đội ngũ, đánh giá chất lượng đội ngũ, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng cho họ, tiếp sức cho họ hoàn thành nhiệm vụ. HT phải làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học. Cụ thể: +Lên kế hoạch kiểm tra (Năm, tháng, tuần) phù hợp tình hình thực tại của đơn vị. Kế hoạch kiểm tra phải bám sát Hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Ngành. + Thành lập Ban kiểm tra nội bộ trường học, phân công rõ người, rõ việc và thực hiện kiểm tra theo kế hoạch. + Kiểm tra phải thực hiện theo một chu trình khép kín: Thông báo kế hoạch kiểm tra – Kiểm tra – Xữ lý thông tin kiểm tra – Trả thông tin cho đối tượng kiểm tra – Thông báo kết quả kiểm tra trong HĐSP. 8- Làm tốt công tác thi đua khen thưởng: – Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ, tạo chất xúc tác cho đội ngũ luôn luôn tự học, tự rèn, tự phấn đấu để nâng cao trình độ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao người HT phải làm tốt công tác thi đua khen thưởng trong đơn vị. – Xây dựng tiêu chí thi đua sát đúng phù hợp đồng thời định ra mức thưởng hợp lý. – Công tác thi đua phải đảm bảo công bằng, khách quan, công khai dân chủ. V- Kết quả: – Qua nhiều năm tích cực bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, nhất là năm học vừa qua, đội ngũ GV trường THCS Văn Thuỷ ngày càng vững vàng đạt các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của một nhà giáo. – Về phẩm chất: Tất cả CB -GV-NV có phẩm chất đạo đức tốt, có tác phong lối sống trong sáng lành mạnh, chấp hành tốt mọi đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Ngành, đảm bảo danh dự uy tín của người thầy. – Về năng lực, tay nghề: 100% đội ngũ đạt TB trở lên, không có GV yếu. Số GV khá giỏi ngày càng tăng. Năm học 2007-2008 trường xây dựng đạt thêm 2 GV dạy giỏi cấp Huyện. Đến nay, trường đã bồi dưỡng được 8 GV dạy giỏi cấp huyện, trong đó có 1 GV dạy giỏi cấp tỉnh. Số GV đạt khá giỏi theo đánh giá xếp loại của trường đạt 95,5%. Trường có một đội ngũ bồi dưỡng HS giỏi, bồi dưỡng HS năng khiếu khá vững vàng hàng năm đều có giải đồng đội và nhiều giải cá nhân. Đặc biệt, năm học này trường đạt thành tích khá cao về các Hội thi. Thi HS giỏi huyện trường đạt 1 giải ba và 3 giải KK. Thi năng khiếu, trường đạt giải ba đồng đội về Hội thi “Phòng chống ma túy”, giải ba đội bóng chuyền nữ, 3 giải nhất, 1giải nhì và 2 giải ba HKPĐ huyện; 2 huy chương vàng, 1 huy chương bạc HKPĐ tỉnh và 1 huy chương vàng HKPĐ cấp quốc gia tại khu vực miền Trung. Hội thi cấp xã đạt giải ba đội bóng chuyền nữ và giải nhất thi kể chuyện về ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” – Kết quả bồi dưỡng thường xuyên: 100% đạt TB trở lên. Trong đó trên 70% khá giỏi. – Trong năm, trường đã tạo điều kiện cho 2 đ/c đi học Đại học tại chức, 1 đ/c đi học Cao đẳng, 1 đ/c đi học TCCT. Đến nay, trường đã có: 5 đại học, 15 cao đẳng và 2 Trung cấp. Đã kết nạp thêm 1 Đảng viên nữa là 10 đ/c. Trong đó, ba Đảng viên có trình độ TCCT. – Trong năm học này, Phòng thanh tra chuyên đề trường về thực hiện cuộc vận động “Hai không” và xây dựng chuẩn quốc gia. Kết quả, Ngành nhận xét, đánh giá khá tốt về kế hoạch, triển khai thực hiện của nhà trường, của GV, không có CB-GV-NV bị nhắc nhở phê bình. – Kết quả thi đua cuối năm, trường có: 5 CSTĐ cơ sở đạt 22,7%%, 11 LĐTT đạt 50%, 6 HTNV đạt 27,3%. Trường tự nhận đạt danh hiệu tập thể lao động Tiên tiến. Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đều đạt danh hiệu vững mạnh, riêng Liên đội được Hội đồng đội huyện xếp loại vững mạnh xuất sắc. – Xếp loại năng lực sư phạm đội ngũ: + Loại tốt: 6 đạt 27,3% + Loại khá: 15 đạt 68,2% + Loại TB: 1 đạt 4,5% + Không có yếu. – Xếp loại công chức: + Loại xuất sắc: 6 đạt 27,3% + Loại khá: 15 đạt 27,3% + Loại TB: 1 đạt 4,5%. Không có kém. – Nhờ vậy, chất lượng dạy học đạt chỉ tiêu giao của PGD, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100%. VI- Bài học kinh nghiệm: Qua thực tiễn bồi dưỡng đội ngũ chúng tôi rút ra những bài học sau: Để nâng cao chất lượng đội ngũ người cán bộ quản lý phải: – Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn nghiệp vụ. – Có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với tình hình điều kiện của đội ngũ. – Tiến hành thường xuyên tạo nên nề nếp ổn định. Nội dung bồi dưỡng, kết quả bồi dưỡng phải được kiểm tra theo dõi chặt chẽ. – Coi trọng vai trò tự bồi dưỡng của cá nhân và tổ chuyên môn. – Quan tâm xây dựng lực lượng nồng cốt, hạt nhân của chuyên môn để đảm đương các công việc trọng yếu của nhà trường vừa lấy đó làm mới cho phong trào tự học, tự bồi dưỡng cho đội ngũ. – HT tham mưu tích cực cho Ngành trong việc giới thiệu GV đi học. Đồng thời Ngành phải tạo mọi điều kiện bố trí đội ngũ đi học để đạt chuẩn và nâng chuẩn đào tạo. VII- Kết luận: Là người HT cần quán triệt và nhận thức đúng đắn về công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường phổ thông. Xác định công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV là hướng đi đúng đắn và đóng vai trò quan trọng của người HT. Nếu chúng ta không có kế hoạch bồi dưỡng thì không có một đội ngũ đủ mạnh cả về lượng lẫn về chất. Công việc này khó khăn, gian khổ, lâu dài thường xuyên, đòi hỏi người Hiệu trưởng linh hoạt, sáng tạo, kiên trì và phải biết vận dụng sức mạnh tổng hợp trong quá trình bồi dưỡng. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ là trách nhiệm của các cấp, trong đó vai trò của người Hiệu trưởng là điều kiện tiên quyết. Văn Thuỷ, ngày 20 tháng 5 năm 2008 Người viết Lê Quý Thành

Bạn đang đọc nội dung bài viết “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!