Đề Xuất 5/2022 # Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2 Skkn Luyen Chu Viet Cho Hs Lop 2 Doc # Top Like

Xem 12,969

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2 Skkn Luyen Chu Viet Cho Hs Lop 2 Doc mới nhất ngày 24/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,969 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Biện Pháp Tránh Thai Lâu Dài Nhất Hiện Nay
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Nam Dùng Một Lần Hiệu Quả Lâu Dài
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Hiện Đại Hiệu Quả Tốt Nhất * Hi Bacsi
  • Tìm Hiểu 7 Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh An Toàn Và Khoa Học Nhất
  • 10 Cách Tránh Thai Sau Sinh Tạm Thời Và Ngừa Thai Vĩnh Viễn Tốt Nhất Hiện Nay
  • Tên đề tài: Một số kinh nghiệm hướng dẫn cho học sinh lớp 2 luyện chữ viết

    KINH NGHIỆM RÈN CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 2

    *. Lí do chọn đề tài:

    Đất nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xã hội phát triển mạnh đặc biệt là công nghệ tin học, đòi hỏi chất lượng giáo dục phải nâng cao. Chính vì thế con người đòi hỏi phải có tri thức, có khả năng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của đất nước.

    Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cơ bản là hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết giúp các em học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện thao tác tư duy. Xong mỗi phân môn của Tiếng Việt lại có một nhiệm vụ riêng như phân môn tập viết: Tập viết đúng tư thế, hợp lí, đúng cỡ chữ, viết đúng chữ hoa theo mẫu quy định. Với nhiệm vụ cơ bản như trên thì giáo viên hướng dẫn các em viết trên bảng con, trên vở viết từ dễ đến khó, tuỳ theo đối tượng học sinh và thời gian cho phép. Trong thực tế giảng dạy, cơ bản học sinh ngồi học đúng tư thế và viết đúng độ cao, độ rộng của con chữ.

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Trong những năm học gần đây chữ viết của học sinh trong các nhà trường tiểu học là vấn đề các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh học sinh hết sức quan tâm. Các phong trào ” Giữ vở sạch, viết chữ đẹp ” của giáo viên và học sinh được duy trì thường xuyên theo định kỳ hàng năm và phát triển sâu rộng trong phạm vi toàn quốc. Song vì nhiều lý do mà chất lượng chữ viết của học sinh chưa tốt. Bên cạnh học sinh viết chữ đẹp. Còn khá phổ biến học sinh viết chữ xấu, nét chữ nguệch ngoạc, không đúng mẫu, cỡ chữ qui định. Cá biệt còn có em mắc nhiều nỗi chính tả. Vì vậy có em nhận thức rất nhanh nhưng lại không đạt danh hiệu học sinh giỏi cũng chỉ vì chữ viết xấu. Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ. ở giai đoạn đầu tiên ( bậc tiểu học ) trẻ tiếp tục được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ. Nhà trường xuất phát từ dạng thức nói, từ hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ học chữ. Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác. Trẻ không biết chữ, không có điều kiên tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá, không thể tiếp thu trí thức văn hoá, khoa học một cách bình thường được. Biết chữ là biết phân biệt hình nét các ký hiệu, biết tạo ra ký hiệu ( chữ viết ), biết dùng chữ ghi lời nói, biết đọc và hiểu được ý nghiã chữ viết. Nói tóm lại, biết chữ là biết đọc thông viết thạo một ngôn ngữ.

    C hữ viết tiếng việt của chúng ta hiện nay ( còn là chữ Quốc ngữ) được xây dựng dựa theo các con chữ của hệ thống chữ cái La tinh gồm 24 chữ cái ( hay còn gọi là con chữ) được sắp xếp theo trật tự cố định gọi là Bảng chữ cái. Các chữ cái Tiếng Việt dùng để nghi nguyên âm và phụ âm.

    Trên thực tế, các chữ cái Tiếng Việt thoả mãn tương đối các điều kiện trên. Nhưng có những âm biểu thị bằng nhiều chữ cái do đó học sinh rất dễ nhầm lẫn, khó phân biệt.

    Nhà trường có đủ các phòng học cho học sinh học hai buổi trên ngày. Tuy nhiên một số phòng học chưa bảo đảm về tiêu chuẩn như: Ánh sáng trong phòng học, bàn ghế của học sinh, bảng lớp…

    + Bảng lớp: Các lớp được trang bị một bảng chống loá to, sơn mầu xanh thẫm và được treo cân đối, hợp lý giúp học sinh quan sát dễ dàng. Nhưng bảng lại không có các dòng kẻ nên khi viết mẫu cho học sinh giáo viên còn gặp nhiều khó khăn như viết chậm, viết các nét không chuẩn. Nhiều giáo viên đã khắc phục bằng cách tự kẻ lấy các dòng kẻ cho nên các dòng kẻ không đều nhau và cũng chỉ trong thời gian ngắn các dòng kẻ đó lại mờ dần.

    a, Tài liệu dạy hoc.

    + Bảng con: Bảng con được coi là phương tiện hữu hiệu nhất để học sinh luyện tập kỹ năng viết chữ trước khi viết vào vở. Bảng của học sinh tuy đầy đủ về số lượng chất lượng chưa đảm bảo. Nhiều bảng không có dòng kẻ, trơn khi viết nét không ăn, chữ nguệch ngoạc, một số bảng lại xù xì, khi viết các nét chữ lần sau lại đè lên chữ trước nên khó nhìn và mất đi cái đẹp.

    + Vở ô li: Học sinh dùng loại vở ô li có 6 dòng kẻ chất lượng tương đối tốt để luyện viết các nét chữ cơ bản, các chữ, các nhóm chữ viết thường, viết hoa, từ, câu ứng dụng…

    Cũng như lớp 1, vở viết lớp 2 bám sát nội dung bài học trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (31 tuần): Ôn tập, cách viết 29 chữ cái viết hoa và một số tổ hợp chữ ghi câu đầu có chữ cái viết hoa ( Ví dụ: Ch, Gh, Gi,….) Luyện viết ứng dụng các tên riêng, các câu ( tục ngữ, ca dao, thơ) có số chữ dài hơn ở lớp 1. Tuy 4 tuần ôn tập và kiểm tra định kỳ không có tập dạy, tập viết trên lớp, nhưng vở tập viết lớp 2 vẫn có nội dung luyện viết thêm ( ở nhà) để học sinh luyện viết kỹ năng viết chữ và trìng bày. một đoạn văn ( hoặc một bài ngắn)

    viết hoa hoặc tổ hợp chữ ghi âm đầu có chữ cái viết hoa xuất hiện trong tên riêng hoặc câu ứng dụng) . Trọng tâm là luyện viết dòng thứ nhất.

    – Hai dòng viết ứng dụng tên riêng theo cỡ nhỏ.

    Bên cạnh những ưu điểm thì tập viết 2 cũng khônng tránh khỏi một số nhược điểm như: Học sinh chỉ được luyện viết các chữ viết hoa theo thứ tự bảng chữ cái A, B, C …mà không được luyện theo nhóm chữ đồng dạng cho nên các em không được luyện kĩ năng viết nhiều, hay có chữ dễ thì viết sau còn chữ khó thì viết trước như chữ C,Ê,…

    b. Đồ dùng dạy học.

    Các lớp được trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học như .

    + Bộ chữ rời từng chữ cái, kiểu chữ viết thường và kiểu chữ viết hoa ( do cô ng ty Thiết bị giáo dục Trung ương I Bộ giáo dục – Đào tạo sản xuất) . Bộ chữ gồm từng chữ cái phóng to, in từng chữ cái trên bìa cứng, có kẻ các ô vuông đơn vị chữ và hướng mũi tên biểu hiện qui trình viết chữ theo số thứ tự của từng nét chữ.

    2. Hoạt động dạy học.

    2.1 Hoạt động dạy của giáo viên

    Giáo viên nhiệt tình công tác, chịu khó học hỏi việc đổi mới phương pháp dạy học, thương yêu học sinh, coi trọng việc rèn chữ cho học sinh.

    + Chưa quen với cách viết hoa mới nên viết chưa đúng mẫu chữ.

    + Ngại nghiên cứu tài liệu, đọc sách báo, để tự bồi dưỡng nên dẫn đến tình trạng.

    – Nhầm lẫn khi đổi tên chữ cái, lúng túng khi sử dụng thuật ngữ để hướng dẫn học sinh.

    + Đổi mới phương pháp dạy học chưa có chất lượng.

    + Chưa đầu tư thời gian và công thức cho việc rèn chữ cho học sinh. Có giáo viên cho rằng trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay máy móc làm thay con người nên không cần phải vất vả viết chữ,…

    + Chưa coi trọng phương pháp làm gương, vẫn còn giáo viên viết chưa đẹp, viết bảng các môn học khác còn cẩu thả, không đúng mẫu.

    + Chưa kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết cho học sinh mà mới dừng lại ở phần môn tập viết.

    + Chưa coi trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học mà chỉ khi nào có người dự giờ mới đem ra sử dụng.

    + Hướng dẫn học sinh viết qua loa, đại khái rồi cho học sinh viết ngay vào vở không sợ hết giờ.

    + Chưa kịp thời sửa chữa các sai sót của học sinh nên lâu ngày tạo thành thói quen xấu cho các em như tư thế ngồi, cách cầm bút, để vở, viết các nét không đúng mẫu,…

    – Ngoan, nhiều em chăm chỉ, có ý thức phấn đấu trong học tập, thích thi đua.

    – Thiếu tính kiên trì, ham chơi, nhiều em còn cẩu thả, ý thức luyện chữ chưa cao.

    – Kỹ năng viết chưa thành thạo.

    ChÝ nh v× vÊn ®Ò ®ã mµ t”i k hảo sát chữ viết lớp 2A2 qua bài chính tả nghe viết ” Mẹ” Tiếng Việt 2 / tập 1 tuần 11 (tám dòng thơ cuối ). Kết quả sau khi chấm điểm:

    Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 nhằm đưa chất lượng chữ viết được đi lên

    III. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh.

    1, Rèn tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở.

    Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào canh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách mặt vở từ 23 cm đến 30 cm. Cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn. Với cách để tay như vậy, khi viết, bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải dễ dàng.

    Khi viết, học sinh cầm bút và điều khiển bút viết bằng ba ngón tay ( ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) của bàn tay phải. Đầu ngón tay trỏ đặt ở bên trái của đầu bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay, kh öyu tay và cánh tay.

    Khi viết chữ, vở viết cần đặt so với mép bàn một góc khoảng 30 độ (nghiêng về bên phải ). sở dĩ phải đặt như vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải.

    2. Củng cố các nét cơ bản tạo nên chữ viết thường.

    Để viết đúng mẫu, đảm bảo không gây nhầm lẫn các chữ cái với nhau, học sinh phải nắm được hệ thống nét cấu tạo chữ cái La tinh nghi âm Tiếng Việt. Đây là cơ sở để viết nhanh, nâng cao tính thẩm mỹ của chữ viết.

    a, Các nét thẳng:

    + Nét ngang ( ) Nét có trong các chữ đ, t…

    + Nét xiên: Xiên phải ( / ), xiên trái ( )

    + Nét hất ( / ) : Nét có trong các chữ : i, u, ư…

    b. Các nét cong.

    + Nét cong kín ( hình bầu dục đứng O ) : Nét có trong các chữ o, ô, ơ, a,…

    + Nét cong hở: Cong phải ( ….), cong trái ( C )…Nét có trong các chữ x, c.

    + Nét móc xuôi (móc trái) (l) … Nét cong trong các nét cong các chữ như: a, ă, i, u,…

    + Nét móc ngược (móc phải) ( …): Nét có trong các chữ: m, n, v.

    + Nét móc hai đầu có thắt ở gữa ( …): Nét có trong chữ k.

    d, Nét khuyết.

    + Nét khuyết trên ( …) : Nét có trong các chữ: y, g.

    + Nét khuyết dưới (…): Nét có trong các chữ: b, h, k, l.

    Kích thước của chữ viết thường được chia thành năm nhóm.

    + Nhóm chữ có độ cao một đơn vị: a, ă, â, c, e, ê, i, m, n, o, ô, ơ, ư, v, x.

    + Nhóm chữ có độ cao 1,25 đơn vị: r, s.

    + Nhón chữ có độ cao 1,5 đơn vị: t.

    + Nhóm chữ có độ cao 2 đơn vị: d, đ, p, q.

    + Nhóm chữ có độ cao 2,5 đơn vị: g, h, l, k, b, y.

    + Các chữ viết hoa có độ cao giống nhau cao 2,5 đơn vị, trừ chữ G, Y cao 4 đơn vị.

    Ví dụ: Quê hương tươi đẹp.

    4. Luyện viết các chữ cái theo nhóm.

    a, Chữ cái viết thường.

    + Nhóm chữ cái có cấu tạo từ nét cong là cơ bản. c, o, ô, ơ, e, ê, x.

    + Nhóm chữ cái có cấu tạo nét cong phối hợp với nét móc: a, ă, â, d, đ, q.

    + Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, u, ư, n, m, p.

    + Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét cong : r, v, s,.

    b, Chữ cái viết hoa:

    + Nhóm chữ A: A, Ă, Â, N, M.

    + Nhóm chư U: U, Ư, Y, V, X, N, M.

    + Nhóm chữ V: V, Y, K, H.

    + Nhóm chữ L: L, S, C, G, E, Ê, C, T.

    + Nhóm chữ P: P, B, R, D, Đ.

    + NHóm chữ O: O, Ô, Ơ, Q.

    5. Luyện viết liền mạch.

    Trong thực tiễn viết chữ ghi tiếng của Tiếng Việt có thể xảy ra các trường hợp viết liên kết như sau:

    a, Trường hợp viết nối thuận lợi:

    a n ối với ….. an AN.

    x nối với inh… .. xinh , XINH.

    Ở lại liên kết này có thể xảy ra hai kiểu.

    + Liên kết trong nội bộ phần vần.

    Vần không có âm đệm: Chú ý khoảng cách giữa âm chính và âm chính và âm cuối vần để khoảng cách không hẹp quá hoặc rộng quá.

    Nét nối của chữ cái đứng sau là nét nhọn đầu trong các chữ: u, i, y… nét nối tròn đầu của chữ n, m: chú ý điều tiết nét kết thúc của chữ cái đứng trước sao cho điểm gặp gỡ với điểm đặt bút của nét chữ đi sau cần tự nhiên không có chỗ gẫy.

    Đó là những trường hợp nối các chữ cái mà ở vị trí liên kết không thể viết các nét nối từ nét cuối của chữ cái đứng trước với điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau.

    + Liên kết một đầu:

    Chữ cái đứng trước có liên kết, chữ cái thứ hai không có liên kết.

    Khi viết chữ ” xinh “, cần nối liền nét cuối chữ x với nét đầu chữ i, nét cuối chữ i với nét đầu chữ n, nét cuối chữ n với nét đầu chữ h rồi nhấc bút viết nét chấm của chữ i. Từ chữ xinh cách một khoảng bằng con chữ o rồi viết tiếp chữ ”xắn”.

    6. Hướng dẫn dấu thanh.

    Vị trí của dấu thanh có tác dụng khác biệt các chữ nghi tiếng. Dấu thanh chỉ đặt vào chữ cái. Các dấu thanh: huyền ( ), sắc ( / ), hỏi ( ? ), ngã ( …) đặt phía trên các chữ cái. Dấu nặng ( .) đặt phía dưới của chữ

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    + Ở các chữ nghi tiếng không có âm đệm và không có âm cuối vần, dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.

    + Ở các chữ nghi tiếng có âm chính là nguyên âm đơn và âm cuối vần cũng là bán nguyên âm, dấu thanh đặt trên chữ nghi âm đơn làm âm chính.

    + Ở các chữ nghi tiếng có âm đệm đầu vần, dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng có nguyên âm đôi ở vần.

    – Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi.

    – Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi nhưng lại có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng mà nguyên âm ở phần đầu có dấu phụ thì dấu thanh viết như sau:

    – Ở các nguyên âm có dấu mũ ( A) : â, ê, ô dấu sắc ( / ) dấu huyền ( ), dấu hỏi ( ? ) được viết hơi cao hơn và hơi lệch về phía phải của mũ.

    – Ở các nguyên âm có dấu thanh ở vị trí phía trên của dấu ( V )

    Do ở tư thế nằm ngang nên khi xuất hiện trong các chữ mà phần vần có nguyên âm mang dấu phụ, dấu ngã được viết trên các dấu phụ.

    7. Kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết như phân môn. Chính tả. Tập đọc.

    7.1 Phân môn Chính tả.

    – Cho học sinh học lại qui tắc đánh dấu thanh và thường xuyên kiểm tra lại như trong lúc kiểm tra bài cũ, luyện viết chữ khó, chữa lỗi.

    Ví dụ: Trong chữ ‘ ‘lúa ” dấu sắc đặt ở vị trí nào? hay trong chữ ” cười ” dấu huyền đặt ở vị trí nào?

    – Nhắc lại qui tắc viết hoa.

    * Tên người, địa danh viết hoa tất cả những con chữ đầu của tiếng.

    – Lập bảng để học sinh ghi nhớ qui tắc phân bổ các ký hiệu cùng biểu thị một âm rôi cho học sinh học thuộc.

    – Tìm từ so sánh giải nghĩa những từ dễ lẫn.

    – Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài khoa học, sạch sẽ đúng mẫu cỡ chữ. Ở mỗi kiểu bài, nhất là những bài đầu tiên của năm học, tôi hướng dẫn các em rất cẩn thận.

    Đối với những bài chính tả là văn xuôi thì mỗi lần xuống dòng đều phải viết lùi vào một ô vuông so với dòng kẻ lề.

    – Đối với bài chính tả ở thể loại thơ lục bát, câu sáu chữ viết lùi vào so với câu tám chữ một ô vuông.

    – Ở những bài thơ có chia thành khổ thơ thì giữa các khổ thơ để một dòng trống ngăn cách.

    Khi đọc những bài đầu tiên cho học sinh viết, tôi thường đọc chậm để cho tất cả học sinh trong lớp đều viết được, sau đó mới đọc nhanh dần đạt đúng tốc độ qui định.

    Chấm một số bài ngay trên lớp, phát hiện lỗi, cho học sinh chữa ngay những lỗi sai cơ bản. Số bài còn lại chấm ở nhà.

    – Cho học sinh làm một số bài tập ngay trên lớp như: Điền vào chỗ trống, tìm và viết các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ( L,n) thì tìm nhanh các từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt đầu bằng ( L, n).

    Cho học sinh luyện viết chữ sai vào vở.

    – Luôn nhắc nhở học sinh giữ gìn vở viết sạch đẹp, không làm quăn mép, vẽ bậy, giây mực vào vở, nhàu vở…Chú ý khi viết tay, chân, quần áo, mặt mũi phải sạch sẽ,…

    7.2 Phân môn tập đọc.

    Trong khi dạy Tập đọc, tôi thường luyện cho học sinh phát âm đúng các từ ngữ dễ lẫn.

    + Giáo viên nêu: “l” là phụ âm xát vang bên, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm đầu lưỡi chạm hàm trên, lưỡi cong, hơi phát ra ngoài.

    ”n” là phụ âm tắc, vang mũi, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm lưỡi không cong lên mà đầu lưỡi hơi đưa vào đẩy hơi qua hai hàm răng.

    + Cho học sinh luyện phát âm l/n bằng cách: Lấy hai ngón tay ( ngón cái và ngón trỏ ) bịt mũi và phát âm l/n. Học sinh dễ nhận thấy khi phát âm “l” hơi không đi qua mũi, còn khi phát âm ”n ‘ ‘ hơi sẽ đẩy ra lỗ mũi.

    Na, no, nô, nu, ni.

    Đi Hà Nội mua cái nồi về nấu cơm nếp.

    Lúa lổ lung linh.

    Cô nàng ăn nói nết na.

    8. Chữ viết của giáo viên.

    Để học sinh có chữ viết đẹp thì người giáo viên phải có kỹ năng viết chữ thành thạo, phải có khả năng viết chữ mẫu cho học sinh noi theo trong mỗi tiết học. Chữ viết của thầy cô sẽ để lại một ấn tượng và kết quả lâu dài đối với nhiều thế hệ học sinh rèn chữ mà mỗi giáo viên phải có ý thức rèn chữ viết để có chữ viết chuẩn mực, là tấm gương để học sinh nôi theo. Ở bậc Tiểu học, chữ viết của thầy cô chính là nội dung giảng dạy và đồ dùng trực quan để học sinh học tập. Viết trình bày bảng cần thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cho nên khi trình bày trên bảng cũng giống như trình bày trên trang giấy cần phải để lề, viết thẳng hàng, nét phấn thanh mảnh, đều nét, …từ các vị trí trong lớp học sinh nhìn thấy rõ, không bị loá,…

    IV. Một số bài tập luyện viết chữ đẹp.

    1. Bài tập luyện viết chữ thường được sắp xếp theo từng nhóm chữ từ dễ đến khó, viết ứng dụng.

    2. Bài tập luyện viết chữ hoa được sắp xếp theo từng nhóm chữ từ dễ đến khó, viết ứng dụng.

    C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

    – Sau khi áp dụng biện pháp rèn chữ viết. Tôi cũng tiến hành kiểm tra chữ viết của học sinh qua bài ”Sông Hương” Tiếng Việt 2/ tập 2 (tuần 26) đoạn 2 từ ” Sông Hương là một … dát vàng ” đối tượng học sinh tham gia cũng là học sinh lớp 2A2 kết quả sau khi chấm bài như sau:

    Việc rèn chữ đẹp cho học sinh là một công việc hết sức tỉ mỉ đòi hỏi giáo viên và học sinh phải kiên trì, diễn ra thường xuyên, liên tục. Rèn chữ viết cho học sinh là trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo. Học sinh viết chữ đẹp là niềm vui của thầy cô giáo, hạnh phúc của trẻ là niềm vui , tự hào của cha mẹ các em. Trong các biện pháp rèn chữ viết nêu trên, muốn đạt được kết quả như mong muốn thì cần phải kết hợp hài hoà giữa các biện pháp. Cần tạo điều kiện để các em tự tìm ra, chiếm lĩnh kiến thức bằng khả năng của mình. Người thầy chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các em học tập. Các em học sinh tiểu học rất thích khen, những lời khen, động viên kịp thời giúp các em tiến bộ hơn. Viết chữ đẹp sẽ giúp các em học tập tiến bộ hơn, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, đạt được mục tiêu đã đề ra.

    D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    Muốn nói gì thì nói trong nghề dạy học thì chất lượng thực của học sinh cũng phải đặt lên hàng đầu. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội ngày nay.

    – Phải hết lòng yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với con đường mà mình đã chọn, coi học sinh là niềm vui, niềm hy vọng lớn trong đời.

    – Không ngừng học tập, bồi dưỡng, áp dụng các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở Tiểu học, tìm tòi sáng tạo, thay đổi linh hoạt các biện pháp giáo dục, các hình thức tổ chức học tập, nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. Biết phân loại đối tượng học sinh, sắp xếp chỗ ngồi hợp lý phù hợp chiều cao, nhận thức từng em, có kế hoạch kèm cặp học sinh yếu, viết chữ xấu, bồi dưỡng rèn kỹ năng viết đẹp cho những em có năng khiếu vào những buổi học ( 6, 7, 8, 9, 10) trong tuần.

    Trong quá trình dạy viết cho học sinh chữ viết của thầy phải mẫu mực, đẹp, trình bày bảng khoa học để gây ấn tượng tốt cho học sinh các em đồng thời thời phát âm chuẩn, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu thầy luôn tận tình chu đáo, kiên trì luyện chữ viết cho học sinh theo tinh thần đổi mới, Luôn khơi dậy ở học sinh hứng thú, lòng say mê trong học tập.

    Phải chấm, chữa bài thường xuyên, kịp thời thông tin đến các bậc phụ huynh, bàn biện pháp hướng dẫn các em luyện viết tốt ở lớp cũng như ở nhà. Kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường, gia đình nhà trường, đoàn thể cùng giáo dục rèn luyện các em trở thành con ngoan, trò giỏi.

    Các điểm còn hạn chế:

    Bên cạnh những ưu điểm trên còn một số hạn chế sau:

    – Do tình hình phát âm của địa phương chưa chuẩn, bản thân giáo viên và học sinh phát âm cũng chưa chuẩn do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chữ viết của trò.

    – Trong thực tế dù cố gắng đến đâu song không phải chữ viết của thầy cô nào cũng đẹp chữ viết mẫu của thầy cô chưa chuẩn cũng ảnh hưởng đến chữ viết của trò.

    – Ý thức học tập của các em còn chưa cao, ít suy nghĩ, ít rèn luyện đẫn đến chữ viết xấu.

    – Gia đình một số em còn khó khăn, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng học tập của các em, có em còn thiếu sách, đồ dùng học tập, vở viết dân tới việc luyện chữ viết ở trường cũng như ở nhà còn khó khăn.

    E. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

    Rèn chữ viết cho học sinh là vấn đề cấp bách trong các nhà trường Tiểu học hiện nay. Để đạt được kết quả mong muốn ta không chỉ tiến hành ở môn Tiếng Việt mà kết hợp rèn chữ cho các em ở tất cả các môn, môn nọ rèn bổ trợ cho môn kia và tiến hành thường xuyên liên tục ở tất cả các lớp, sự quan tâm của nhà trường, gia đình, đoàn thể, các cấp, các ngành chắc chắn rằng chất lượng chữ viết của học sinh ngày sẽ càng tiến bộ.

    2- Đối với gia đình: Tạo mọi điều kiện cho chúng tôi nghiên cứu, áp dụng sáng

    kiến vào giảng dạy.

    3- Đối với học sinh: Có đầy đủ sách vở, đồ dùng phục vụ học tập như: sách, vở, bút, phấn bảng, đúng mẫu theo quy định. Các em có ý thức học tập tốt, kiên trì,

    cẩn thận, sáng tạo khi luyện chữ. Các bậc phụ huynh quan tâm, tạo điều kiện về mọi mặt, cả vật chất lẫn tinh thần.

    4, Đối với đoàn thể: Đoàn thanh niên, công đoàn cùng nhà trường luôn góp ý, động viên, kích lệ kịp thời những thành quả mà thầy trò lớp chúng tôi đạt được.

    6, Đối với bản thân: Không ngừng học tập, nghiên cứu rèn chữ viết, luyện phát âm chuẩn, tận tâm, tận lực, kiên trì, tỉ mỉ trong quá trình truyền thụ trí thức và rèn chữ viết cho học sinh.

    7, Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ việc dạy học.

    – Có đủ phòng học 10 buổi/ tuần. Phòng học đủ ánh sáng, bảng lớp đẹp, rõ dòng kẻ ( bảng chống loá) Bàn ghế đúng qui cách, phù hợp chiều cao học sinh lớp 2. Qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu tôi đã rút ra kinh nghiệm ” rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 ” áp dụng vào lớp 2A2 do tôi thực dạy. Kết quả cho thấy chất lượng chữ viết của học sinh được nâng lên rõ rệt so với những năm chưa áp dụng sáng kiến. Các em đều nắm kĩ thuật viết. Có nhiều em viết đúng, viết đẹp và viết tương đối nhanh, giảm đáng kể những em viết sai, viết xấu. Song vì trình độ có hạn, sáng kiến của tôi còn nhiều thiếu sót so với các đồng nghiệp dầy dạn kinh nghiệm. Rất mong ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, sự chỉ đạo giúp đỡ của các cấp lãnh đạo để đề tài của tôi được hoàn hảo và áp dụng giảng dạy trong các trường Tiểu học hiện nay.

    Kim Thư, ngày tháng , năm 2014 Người viết

    Lưu Thị Kim Oanh

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……

    Sáng kiến kinh nghiệm, năm học 2013 – 2014 – Tác giả: Lưu Thị Kim Oanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non: Dạy Con Kỹ Năng Sống Mầm Non Tự Lập
  • Biện Pháp Dạy Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Như Thế Nào Là Phù Hợp?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biệp Pháp Rèn Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Hiệu Quả Nhất
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2 Skkn Luyen Chu Viet Cho Hs Lop 2 Doc trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100