Đề Xuất 5/2022 # Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở # Top Like

Xem 13,563

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 13,563 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Môn Hóa Học
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh
  • Thầy Cô Cần Làm Gì Để Thay Đổi Phương Pháp Dạy Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC

    BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do nghiên cứu đề tài:

    Theo “chiến lược con người” của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với mục tiêu:

    “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá trong

    nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế mục

    tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn “Hiền tài là

    nguyên khí quốc gia”. Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những người tài để

    giúp nước. Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia

    nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự

    tiến bộ khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Thực tế hiện nay ở các trường THCS về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã

    được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như:cách phát hiện, tuyển chọn,

    phương pháp giảng dạy chưa tối ưu, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công

    tác này. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý

    muốn.

    Trong các môn học ở bậc trung học cơ sở cụ thể là khối 8 thì bộ môn sinh học hiện

    nay vẫn còn xem là bộ môn phụ ít được phụ huynh và học sinh quan tâm, do đó khi

    được nhà trường phân công bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh 8 bản thân tôi rất trăn

    trở vì những lý do đó nên để đảm bảo chất lượng đại trà ổn định và vững chắc là một

    điều khó đối với bộ môn sinh mà ở đây đỏi hỏi chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi

    phải ngang tầm với các trường có chất lượng cao nên bản thân rất lo lắng và sợ mình

    không thực hiện tốt được nhiệm vụ nhà trường giao. Nhưng cùng với sự phát triển

    giáo dục của cả nước, của tỉnh, của huyện chất lượng giáo dục của nhà trường đã có

    những sự phát triển vượt bậc. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, của các cấp

    chính quyền, của nhà trường, đồng nghiệp nên bản thân tôi cũng như những giáo viên

    khác lại càng suy nghĩ nhiều hơn phải làm như thế nào đây để nâng cao chất lượng

    công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh 8. Chính những điều đó đã thôi thúc tôi suy

    nghĩ, trăn trở qua nhiều năm bồi dưỡng. Câu hỏi làm thế nào để chất lượng bộ môn

    sinh học ngày càng cao và bền vững, mũi nhọn học sinh giỏi bộ môn này ngày càng

    sánh được với các bộ môn học khác và ngang tầm với chất lượng các trường có chất

    lượng cao. Nhận thức được vai trò của việc bồi dưỡng học sinh giỏi và muốn góp

    phần vào công tác phát triển và bồi dưỡng HSG môn sinh học 8 ở trường tôi đang

    -1-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    công tác do đó tôi chọn đề tài : ” Một số biện pháp nâng chất lượng bồi dưỡng học

    sinh giỏi môn sinh 8 ở trường THCS”

    Nội dung đề cập của đề tài là những biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng

    HSG giúp các em tìm hiểu sâu về một loài động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa con người, về những điều bí ẩn trong chính bản thân các em. Khi đã hiểu rõ, nắm chắc

    các kiến thức đó, các em sẽ tự tin trong học tập, trong thi cử, vận dụng được những

    kiến thức khoa học bộ môn vào cuộc sống, góp phần giữ vững cái nôi học sinh giỏi

    của nhà trường của quê hương tôi. Đồng thời sáng kiến này cũng góp phần vào việc

    “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho địa phương, cũng như cho đất nước.

    Trong những năm gần đây với đề tài này đã có một số người nghiên cứu song vẫn

    còn chung chung, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể. Nếu có thì giải pháp chưa

    trọng tâm và khả năng ứng dụng chưa cao.

    2. Điểm mới của đề tài:

    Đề tài: ” Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn

    sinh 8 ở trường THCS” đã đưa ra được một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất

    lượng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học 8, đã xác định được tư

    tưởng cho học sinh làm cho học sinh yên tâm và có hứng thú trong học tập, không còn

    xem môn sinh là môn phụ. Đã biết tích hợp bộ môn mình với bộ môn khác đặc biệt là

    môn toán, môn lý, môn mỹ thuật để tăng thêm hứng thú và sự say mê học tập cho học

    sinh .

    Đề tài còn nêu lên được việc đổi mới cách dạy của thầy và đổi mới cách học của

    trò nhằm góp phần tích cực vào việc thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW ngày 04

    tháng 11 năm 2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về

    Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,

    hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

    nhập quốc tế.

    3. Phạm vi áp dụng đề tài:

    – Phạm vi đề tài của tôi đề cập đến là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng

    học sinh giỏi bộ môn sinh học 8 được áp dụng tại nơi tôi công tác từ năm 2014-2015

    và có thể tiếp tục áp dụng trong các năm học sau với tinh thần rút ra những bài học

    kinh nghiệm và có sửa đổi,bổ sung cho phù hợp với các đối tượng và giai đoạn cụ

    thể . Mặt khác đề tài có thể áp dụng đối với các đơn vị có những nét tương đồng với

    đơn vị ở vùng khá thuận lợi.

    -2-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn sinh học 8 ở trường

    THCS hiện nay .

    * Thuận lợi:

    Hiện nay, giáo dục ở các trường luôn được các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm.

    Vì thế cơ sở vật chất, điều kiện dạy học đã có nhiều đổi mới. Đa số là trường đạt

    chuẩn quốc gia. Học sinh được ngồi học trong các phòng học khang trang đầy đủ

    trang thiết bị cần thiết cho mỗi lớp học. Hệ thống điện, đường, trường trạm đã được

    đầu tư trực tiếp đến các hộ gia đình do đó đời sống vật chất tinh thần của bà con được

    nâng cao. Chế độ chính sách hỗ trợ học sinh nghèo học sinh vượt khó được thực hiện

    kịp thời nên đã giải quyết được những khó khăn cho học sinh trong cuộc sống và

    trong học tập.

    Nhận thức của phụ huynh về việc học đã có sự chuyển biến tích cực vì thế gia đình

    đã dành một sự đầu tư cơ bản cho con em học tập. Chất lượng học tập của các em đã

    có những tiến bộ rõ rệt và mang tính ổn định vững chắc. Phong trào thi đua học tập

    trong học sinh ngày càng rõ nét. Từ đó đã xuất hiện nhiều tấm gương học tốt tiêu biểu.

    Các em đã mạnh dạn tham gia các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu

    do nhà trường tổ chức và đã gặt hái được những thành tích đáng kể góp phần xây

    dựng phong trào học tập của xã nhà ngày một đi lên.

    Bên cạnh đó, nhà trường rất quan tâm đến công tác mũi nhọn học sinh giỏi, học

    sinh năng khiếu. Từ việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đến phân công chỉ đạo

    giáo viên phụ trách đều chi tiết, lựa chọn kĩ càng. Tài liệu tham khảo cho giáo viên và

    học sinh đã được đầu tư cơ bản, đáp ứng đủ nhu cầu dạy học trong quá trình bồi

    dưỡng. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát mũi nhọn bồi dưỡng

    từng môn học. Luôn động viên tiếp sức cho giáo viên và học sinh trong quá trình bồi

    dưỡng. Tham gia dự giờ để tư vấn thêm cho giáo viên trong quá trình bồi dưỡng. Đề

    ra những chính sách mang tính thi đua thiết thực, khen thưởng rõ ràng để thầy và trò

    có động lực cố gắng phấn đấu đạt hiệu quả cao.

    Chất lượng đội ngũ giáo viên công tác tại các trường đã đạt và vượt chuẩn trên 70

    %, đáp ứng kịp thời nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới và hiện đại. Giáo viên đã

    nắm chắc được hệ thống các phương pháp dạy học bộ môn, biết phối hợp khá linh

    hoạt các phương pháp dạy học; tổ chức được các hình thức học tập của học sinh khá

    đa dạng, phong phú nên đã tạo ra nhiều tiết dạy sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học

    sinh vào quá trình khám phá, tìm tòi lí thú. Sự hỗ trợ tích cực của công nghệ thông tin

    -3-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    học nên không tham gia bồi dưỡng có những em tham gia thì đa số với tình trạng

    không hứng thú với bộ môn. Số lượng học sinh có đủ điều kiện bồi dưỡng ít, số môn

    bồi dưỡng khá nhiều nên việc lựa chọn có khi trùng lặp học sinh ở các bộ môn. Ban

    giám hiệu nhà trường có khi phải can dự vào việc lựa chọn học sinh bồi dưỡng. Thực

    trạng đó dẫn đến có sự ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và kết quả bồi dưỡng bộ

    môn.

    Điều kiện hoàn cảnh gia đình của một số em còn khó khăn nên việc quan tâm của

    gia đình đến học tập của các em còn hạn chế nhiều, nhìn chung còn phó mặc cho giáo

    viên và nhà trường. Tài liệu tham khảo của các em hoàn toàn do giáo viên sưu tầm và

    mượn thêm từ thư viện nhà trường, sưu tầm ở trên mạng. Bên cạnh đó, công tác tự

    học, tự nghiên cứu ở nhà của học sinh còn hạn chế. Các em chưa có thói quen tự học,

    sáng tạo trong học tập. Việc học còn phụ thuộc quá nhiều vào việc giảng dạy trên lớp

    chính khóa và bồi dưỡng của giáo viên nên vấn đề học bài, khắc sâu kiến thức ở nhà

    của các em chưa thật chu đáo, thiết thực.

    BẢNG SỐ 1

    Chất lượng khảo sát đầu năm môn sinh học 8 để lựa chọn học sinh giỏi:

    Năm học: 2014-2015

    Lớp

    Giỏi

    Khá

    SL

    %

    SL

    %

    Yếu

    Kém

    %

    SL

    %

    SL

    %

    8A

    29

    4

    13,8

    8

    27,6 13

    48,8

    4

    13,8

    0

    0

    25 86,2

    8B

    35

    0

    0

    8

    22,9 17

    48,6

    10 28,6

    0

    0

    25 71,4

    8C

    31

    0

    0

    7

    22,6 17

    54,8

    9

    0

    0

    22

    95

    4

    4,2

    23

    24,2 47

    49,5

    23 24,2

    0

    0

    73 76,8

    29

    71

    Kết quả cho thấy tỉ lệ học sinh giỏi còn thấp 4,2 %, trước thực trạng trên, để

    khơi dậy trong các em sự hứng thú học tập, yêu thích bộ môn, say mê khám phá, tìm

    tòi kiến thức, phát triển tư duy, tính sáng tạo cho học sinh, nhằm nâng cao chất lượng

    dạy học, và giúp học sinh học giỏi hơn môn sinh 8 tôi đi vào nghiên cứu và áp dụng

    thực tiễn đề tài: ” Một số biện pháp nâng cao chất bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh

    8 ở trường THCS”

    -5-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    thời để ta có nguồn để chúng ta tiến hành kiểm tra đánh giá và loại dần những em

    không tiến bộ, không đạt theo yêu cầu đã đưa ra qua các lần kiểm tra, thi chọn, để lựa

    chọn chính xác đối tượng học sinh giỏi. Giáo viên cần đánh giá học sinh một cách

    khách quan, chính xác, không chỉ qua bài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng dưỡng

    hằng ngày, việc thực hiện bài tập về nhà, việc chuẩn bị bài mới. Việc lựa chọn đúng

    không chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, mà còn tránh bỏ sót học sinh giỏi và không bị

    quá sức đối với những em không có tố chất.

    Biện pháp 2 : Xác định tư tưởng để học sinh yên tâm và có hứng thú học tập

    bồi dưỡng bộ môn.

    Như phần trên tôi đã nêu, đối tượng học sinh tôi bồi dưỡng đa số là học sinh không

    có sự hứng thú và đam mê đối với bộ môn, các em xem môn sinh là môn phụ, có tư

    tưởng đứng núi này trong núi nọ tìm cách để chuyển môn bồi dưỡng. Vì vậy giáo viên

    phải tích cực động viên, xác định tư tưởng để các em thấy được tầm quan trọng của

    việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học: như là hiện nay đời sống con người ngày

    càng cao nhu cầu về sức khoẻ ngày càng lớn do đó đòi hỏi phải có Bác sĩ giỏi mà

    muối thi Bác sĩ phải học 3 môn trong đó không thể thiếu được bộ môn sinh học …

    Ngoài việc xác định rõ tư tưởng cho các em bản thân tôi còn phải đổi mới cách dạy

    tạo ra sự hứng thú, tính tò mò cho các em, tạo niềm vui cho các em khi được học bồi

    dưỡng môn sinh học 8 ; Đồng thời bản thân tôi đã giúp cho các em có cách học mới

    giúp cho các em tự tin hơn, chủ động, sáng tạo hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức

    mới, …từ đó các em có yên tâm và có hứng thú trong học tập hơn. Mặt khác giáo viên

    bồi dưỡng phải tham mưu cho ban giám hiệu nhà trường, GVCN, các giáo viên cùng

    bộ môn và các bộ môn khác để làm tốt công tác tư tưởng cho các em.

    Biện pháp 3 :Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng một cách cụ thể tránh tình trạng

    thích đâu dạy đó và biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng cụ thể chi

    tiết cho từng chuyên đề, từng mảng kiến thức( Theo tôi dạy theo chuyên đề là biện

    pháp hữu ích nhất ).

    Đầu năm học, giáo viên phải quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù

    hợp với đặc trưng bộ môn và tình hình dạy học của đơn vị. Để làm được điều đó,

    tôi dựa vào các căn cứ như sau:

    Căn cứ vào kế hoạch thi học sinh giỏi của phòng, kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi

    tổng thể của nhà trường, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với tình hình

    đơn vị, thời gian dạy học chính khóa và dung lượng kiến thức cần đạt trong bồi

    -7-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    dưỡng. Kế hoạch phải mang tính định hướng và mục tiêu yêu cầu cần đạt trong và kết

    thúc quá trình bồi dưỡng, kết quả dự thi.

    Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và tài liệu bồi dưỡng của phòng phát hành, các

    tài liệu tham khảo, đề thi học sinh giỏi các năm trước, ngườn tài liệu ở trên

    mạng …. song chương trình bồi dưỡng chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng

    tiết, từng buổi học như trong chương trình chính khoá. Vì thế soạn thảo chương

    trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng

    ta không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt. Giáo viên cần biên soạn nội

    dung bồi dưỡng dẫn dắt học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học

    chính khoá, tiến dần tới chương trình nâng cao (tức là trước hết phải khắc sâu kiến

    thức cơ bản của nội dung học chính khóa, từ đó vận dụng để mở rộng và nâng cao

    dần).

    Cần soạn thảo chương trình từ cơ bản tới nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp để

    các em học sinh bắt nhịp dần. Đồng thời phải có ôn tập củng cố, kiểm tra, rút kinh

    nghiệm qua mỗi bài kiểm tra.

    Không nên xây dựng chương trình như sách giáo khoa nâng cao hiện nay vì như

    thế học sinh khó nắm chắc kiến thức, dễ nhầm lẫn. Mặt khác trong sách nâng cao

    số lượng kiến thức nâng cao quá nhiều nếu lạm dụng sẽ ôm đồm, làm học sinh

    hoang mang bởi quá nhiều kiến thức không biết nắm kiến thức nào bỏ kiến thức

    nào …

    Một số tiết ôn tập, giáo viên bồi dưỡng cần giúp các em tổng hợp các kiến thức,

    các dạng bài, các phương pháp giải bài tập theo từng chuyên đề theo hệ thống. Vì

    hầu hết các em chưa tự mình hệ thống được kiến thức mà đòi hỏi phải có sự hướng

    dẫn, giúp đỡ của giáo viên.

    Điều cần thiết, giáo viên đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu để đúc

    rút, soạn thảo cô động nội dung chương trình bồi dưỡng. (Cần lưu ý : Tùy thuộc vào

    thời gian bồi dưỡng, khả năng tiếp thu của học sinh mà mức độ kiến thức cao hay

    thấp, số lượng bài khó và ôn tập củng cố kiểm tra nhiều hay ít)

    Biện pháp 4 : GV Chuẩn bị bài ( soạn bài ) chu đáo cho việc bồi dưỡng và phải

    xác định rõ trọng tâm kiến thức cho từng buổi, từng tiết để tránh trùng lặp.

    Công tác soạn bài có tầm quan trọng đặc biệt. Nó quyết định sự thành công hay

    thất bại của một tiết trên lớp. Nó chính là bản hướng dẫn hành động cho người giáo

    viên. Do vậy, không được xem thường, qua loa, máy móc, xa rời đối tượng học sinh.

    -8-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Phải tận dụng điều kiện thiết bị dạy học hiện có để giúp các em quan sát trực quan,

    khắc sâu thêm kiến thức.

    Trong bài soạn phải thể hiện rõ được phương pháp dạy của giáo viên (hướng dẫn,

    điều khiển hoạt động học tập của học sinh theo hướng tích cực và thể hiện rõ hoạt

    động của học sinh (học sinh tích cực chủ động hoạt động, tự nghiên cứu và tìm ra kiến

    thức dưới sự điều khiển của giáo viên, của nhóm, …).

    Ngoài ra trong soạn bài tôi còn đặc biệt chú ý lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học

    minh họa, tài liệu tham khảo giúp các em khám phá cái mới, mở rộng kiến thức hoặc

    củng cố và khắc sâu kiến thức cho các em sau mỗi buổi bồi dưỡng tạo cho các em

    hứng thú hơn khi được bồi dưỡng môn sinh….

    Biện pháp 5 : Lựa chọn, kết hợp và sử dụng phương pháp bồi dưỡng phù hợp

    với nội dung chuyên đề bồi dưỡng.

    Môn sinh học 8 (môn cơ thể người và vệ sinh) là môn khoa học thực nghiệm mà

    phương pháp nghiên cứu chủ yếu là quan sát và thí nghiệm (Thực nghiệm). Như

    chúng ta đã biết, con người có nguồn gốc động vật, thuộc lớp Thú nên cấu tạo cơ thể

    và các hoạt động sinh lí về đại thể giống với động vật thuộc lớp Thú. Do đó người ta

    thường tìm hiểu cấu tạo và hoạt động sinh lí của phần lớn các cơ quan, hệ cơ quan trên

    cơ thể động vật để hiểu về con người. Vì thế, trong dạy học, bồi dưỡng bộ môn này

    khi có điều kiện sẵn mẫu vật tự nhiên (tim, phổi, thận, não…) mà giáo viên hay học

    sinh có được, có thể cho học sinh quan sát các mẫu vật đó để tìm hiểu hình thái (màu

    sắc, hình dạng, kích thước), giải phẩu (cấu tạo bên trong các cơ quan và cơ thể) kết

    hợp với tranh vẽ, mô hình cơ quan, hệ cơ quan của người để so sánh, đối chiếu từ đó

    giúp học sinh ghi nhớ kĩ hơn và chính xác hơn.

    Ngoài tác dụng về mặt nhận thức, các phương pháp đặc trưng này còn rèn luyện,

    tập dượt cho học sinh phương pháp nghiên cứu, giúp các em phát triển tư duy khoa

    học, tác phong cẩn thận, chính xác và có lòng say mê tìm hiểu nghiên cứu .

    Con người là đối tượng nghiên cứu của môn sinh học 8, là đối tượng rất gần gũi

    với các em, là chính bản thân các em, là bạn bè thân thiết xung quanh các em là một

    phương tiện trực quan sống cần được khai thác trong quá trình dạy các kiến thức hình

    thái, giải phẫu. Chẳng hạn, mắt với màng giác, mống mắt, con ngươi; lưỡi với các gai

    vị giác, da với các sản phẩm của da (lông, móng); tai ngoài… các chi, xương đai, các

    loại khớp, các bắp cơ… có thể quan sát trực tiếp trên cơ thể mình hoặc bạn. Do đó có

    thể khai thác những vốn hiểu biết của các em về các cơ quan, bộ phận cơ thể người,

    vào quá trình dạy học. Giáo viên có thể dùng phương pháp hỏi – đáp gợi mở từ thực tế

    -9-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    các bộ phận cơ thể để các em dễ nhớ, dễ vận dụng và nắm chắc hơn. Hoặc về phía học

    sinh có thể dùng những hiểu biết khoa học để tìm hiểu, giải thích những hiện tượng

    thường gặp trong đời sống. Chẳng hạn, vì sao máu người có màu đỏ, vì sao người say

    rượu thường có biểu hiện chân nam đá chân chiêu trong lúc đi, vì sao ta nhai cơm lâu

    trong miệng lại có cảm giác ngọt ……..

    Học sinh lớp 8 là học sinh có độ tuổi từ 13-14 tuổi. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

    của lứa tuổi này rất thất thường. Vì ở lứa tuổi này học sinh đang bước vào lứa tuổi

    dậy thì, giai đoạn quá độ chuyển từ thiếu niên sang thanh niên, cơ thể phát triển mạnh

    về kích thước và thể lực, đồng thời có những chuyển biến mạnh về mặt sinh lí. Do đó

    các em thích tìm hiểu về bản thân, hay tò mò, ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới,

    muốn khẳng định mình, các em tự cho mình là người lớn và cũng muốn mình được

    coi là người lớn, muốn được tham gia vào các hoạt động một cách độc lâp, muốn thử

    sức mình. Tuy nhiên mức độ phát triển của hệ thần kinh chưa đạt đến sự hoàn thiện,

    do đó các em chóng mệt mỏi, dễ hưng phấn song cũng dễ chuyển sang trạng thái ức

    chế khi phải tiếp thu bài một cách thụ động, kém hào hứng. Vì thế khi sử dụng những

    phương pháp dạy học theo chuyên đề phải giúp các em động não và tích cực hoá hoạt

    động học tập của các em để học tập đạt kết quả cao .

    Sự thành công của việc bồi dưỡng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học

    mà giáo viên lựa chọn. Do đó trong quá trình bồi dưỡng để đạt kết quả cao trong bồi

    dưỡng tôi thường lựa chọn, kết hợp sử dụng những phương pháp sau :

    – Phương pháp hỏi đáp, tạo tình huống giải quyết vấn đề.

    Giáo viên dùng lời nói để dẫn dắt, giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi kiến thức cần

    nghiên cứu. Giáo viên đưa ra tình huống cho học sinh giải quyết vấn đề. Đây là một

    trong những phương pháp phổ biến và đặc trưng trong công tác bồi dưỡng học sinh

    giỏi.

    Ví dụ : khi ôn tập nội dung về các loại mô, tôi cho học sinh có thời gian để ghi nhớ

    đặc điểm của các loại mô. Tôi đặt câu hỏi : Trong cơ thể người có mấy loại mô

    chính nào ? Em hãy lập bảng so sánh các loại mô đó về cấu tạo và chức năng ?

    Học sinh trình bày :

    – Có 4 loại mô chính : Mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh.

    – So sánh các loại mô :

    Mô biểu bì

    Mô liên kết

    – 10 –

    Mô cơ

    Mô thần kinh

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    Bảo vệ, hấp

    thụ, tiết ( mô

    sinh sản làm

    nhiệm vụ

    sinh sản)

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Tế bào dài, xếp

    thành lớp ,thành

    Noron có thân nối với

    sợi trục và sợi nhánh

    – Tiếp nhận kích

    thích

    – Dẫn truyền xung

    Co, dãn tạo nên

    thần kinh

    sự vận động của

    các cơ quan và

    – Xử lí thông tin, điều

    vận động của cơ

    hòa các hoạt động

    thể

    các cơ quan

    Sau khi học sinh trình bày xong kết quả, tôi nhận xét bổ sung và nêu câu hỏi vận

    dụng: Máu thuộc loại mô gì ? Vì sao xếp máu vào loại mô đó ?

    Học sinh vận dụng kiến thức và trả lời, giáo viên nhận xét và khẳng định lại :

    – Máu thuộc mô liên kết .

    – Nếu quan niệm huyết tương của máu là chất nền và xét về nguồn gốc các tế bào

    máu được tạo ra từ các tế bào giống như nguồn gốc tế bào sụn, xương thì có thể xếp

    máu thuộc mô liên kết.

    Ngoài câu hỏi vận dụng trên, tôi còn nêu lên một số câu hỏi khác như : Nêu điểm

    giống nhau và khác nhau giữa mô mỡ và mô máu về cấu tạo và chức năng ? Học sinh

    trả lời và tôi nhận xét bổ sung thêm.

    Phương pháp vấn đáp, tạo tình huống giải quyết vấn đề là phương pháp phổ biến

    nhất trong dạy học bồi dưỡng. Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện, bao quát

    được nhiều lượng kiến thức cần bồi dưỡng trong cùng một đơn vị thời gian. Rèn luyện

    kĩ năng liên hệ, vận dụng của học sinh để giải quyết các bài tập.

    – Phương pháp trực quan.

    Là phương pháp sử dụng phương tiện trực quan như mô hình, mẫu vật thật, tranh

    ảnh … giúp các em đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Hiện tại mẫu vật

    và tranh ảnh về bộ môn sinh 8 ở các trường học khá đầy đủ. Tôi đã vận dụng những

    thiết bị sẵn có này để giúp học sinh nắm rõ kiến thức, khắc sâu thêm kiến thức trong

    quá trình bồi dưỡng.

    – Phương tiện trực quan sẽ đóng vai trò chủ yếu và tích cực trong quá trình

    nhận thức khi chúng được sử dụng như một “nguồn” để dẫn tới kiến thức. Ở đây

    học sinh độc lập quan sát dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới

    – 11 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    củng cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực cho học sinh, nhất là

    những học sinh khá, giỏi. Học sinh có thể tự học ở nhà rất hiệu quả, không tốn kém.

    Tóm lại dạy học dựa trên bản đồ tư giúp học nắm bài học có hệ thống và đảm bảo

    tính logic cao. Giúp giáo viên trình bày bảng khoa học và ngắn gọn. Sử dụng bản đồ

    tư duy trong bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trong việc hệ thống hóa kiến

    thức cũng như phát triển ý tưởng của học sinh trong quá trình học tập.

    Ví dụ:

    Sau khi kết thúc chuyên đề hệ tiêu hoá tôi dùng sơ đồ tư duy để hệ thống hóa lại

    kiến thức, cụ thể là thể hiện mảng kiến thức về tiêu hoá và các cơ quan tiêu hoá như

    sau:

    – 14 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Các phương pháp này phát huy được tính tự giác, tính tích cực, tự lực, tính chủ

    động, sáng tạo, học sinh tự giành lấy kiến thức dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo

    viên, iến thức thu được sẽ trở thành tài sản riêng của các em.Vì vậy các em nắm bài

    sâu và nắm chắc hơn.Ngoài ra, còn gây được hứng thú nhận thức rất lớn đối với các

    em, mà hứng thú là yếu tố tâm lý ban đầu có tác dụng tíc cực đối với quá trình nhận

    thức của học sinh.

    Qua quá trình bồi dưỡng cũng như giảng dạy trên lớp tôi rút ra một điều thì dù lựa

    chọn và kết hợp các phương pháp dạy học nào đi chăng nữa thì nghệ thuật sư

    phạm( nghệ thuật khen – chê đúng lúc) là một điều không thể thiếu trong quá trình bồi

    dưỡng vì nhờ nghệ thuật sư phạm mà tiết dạy sẽ được nhẹ nhàng hơn, thân thiện hơn,

    – 15 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    để thay thế bởi sự quát nạt, mắng mỏ học sinh trong quá trình dạy học. Có như thế

    mới tạo được sự mạnh dạn, hứng thú học tập bộ môn, tạo nên được lòng ham thích,và

    đam mê bộ môn.

    Ví dụ : Khi chúng ta nêu một câu hỏi mà học sinh không trả lời được, lúc này học

    sinh đang đứng trước một áp lực rất lớn, đó là không biết cô sẽ xử sự với mình như

    thế nào đây ? chắc là mình bị 0 điểm rồi. Nếu lúc này giáo viên chúng ta không có

    nghệ thuật thì giáo viên chúng ta vô tình làm mất đi niềm đam mê của học sinh đối

    với bộ môn ( em không học bài cô cho 0 điểm, em như thế này như thế kia (chê học

    sinh …), chúng ta thay bằng những lời chê này bằng tình yêu thương học sinh đó là

    giáo viên tìm hiểu nguyên nhân vì sao em không thuộc bài (không trả lời được) và

    mình phải tin vào lý do đó dù là chưa chắc hẳn là như thế để cho các em có cơ hội

    chuộc lỗi, sau đó giáo viên đưa ra một yêu cầu mới mà chắc chắn học sinh đó sẽ đáp

    ứng được chứ đừng chọn yêu cầu cao có như vậy học sinh mới tự tin vào khả năng

    của mình không bất mản vào giáo viên và bộ môn mà mình đang học mà càng ngày

    càng yêu thích bộ môn hơn.(câu hỏi thường dùng của tôi khi gặp trường hợp này: Em

    hãy nêu cho cô kiến thức bất kỳ của môn sinh học 8 mà em biết, thì lúc này học sinh

    rất phấn khởi nhớ lại những kiến thức đã học ở các tiết trước để trả lời ). Cuối cùng

    giáo viên phải xử phạt phân minh : bây giờ cô trừ em 1 điểm hoặc nhiều hơn tuỳ giáo

    viên vì em không thực hiện ngay yêu cầu thứ nhất mà em thực hiện yêu cầu thứ 2 do

    đó em bị trừ điểm. Qua đây học sinh rút ra được một bài học là phải học bài chuyên

    cần để được điểm cao nếu không sẽ bị trừ điểm và từ đó học sinh sẽ say mê học bài củ

    hơn, đam mê đối với bộ môn hơn và điều này đã được thực tiễn chứng minh.

    Biện pháp 6: Xây dựng nề nếp học tâ âp ngay từ những tuần đầu :

    Điều trước tiên tôi quan tâm đó là nề nếp học tâ pâ trên lớp. Không phải chỉ

    nghiêng về trâ ât tự lớp học mà tôi còn chú ý ở các em cách dùng sách, vở, thước, bút,

    … nói chung là dụng cụ học tâ âp.

    Khi nào sử dụng vở học để làm bài, khi nào dùng vở nháp và sử dụng vở nháp

    như thế nào ? Trình bày ở vở nháp có khoa học và cẩn thận không…? Khi nào phải

    làm bài mô ât cách đô âc lâ pâ , khi nào thì thảo luâ ân nhóm. Điều này, trong khoảng 2 đến

    3 tuần đầu các em sẽ quen và hiểu được ý tôi muốn các em lúc nào phải làm gì?

    Có như thế, các em sẽ biết tâ pâ trung nghe giảng lúc nào? Biết khi nào phải làm

    bài? Khi nào cần phải thảo luâ nâ và phát biểu ý kiến đóng góp cùng các bạn hay cùng

    với giáo viên để xây dựng bài mới.

    – 16 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Biện pháp 7: Giáo viên bồi dưỡng có sổ theo dõi học sinh (Ghi chép sự chuyên

    cần và kết quả của các lần kiểm tra của học sinh, ưu khuyết điểm của học sinh

    qua mỗi bài kiểm tra – Hướng khắc phục.)

    I. Theo sự chuyên cần của học sinh trong các buổi học

    (Đi học không đánh dấu – Vắng đánh dấu nhân)

    Thứ ,Ngày

    T

    T

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    2 5

    Họ và tên học sinh

    Lớp

    Kết quả kiểm tra

    Họ và tên học sinh

    Nguyễn Văn A

    Dương Minh B

    Ngô Đức C

    ……

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Thay vào công thức tính công ta có : A = 800.8 =800(J)

    Ví dụ 2: Xương dài ra nhờ đâu ? Hãy vẽ sơ đồ và mô tả thí nghiệm chứng minh điều

    đó. Đối với bài tập này muốn hoàn thành bài tập này phải vận dụng kiến thức mỹ

    thuật để hoàn thành ( Phải vẽ được sơ đồ thí nghiệm). Do đó giáo viên phải luyện

    cho học sinh vẽ được sơ đồ thí nghiệm thông qua vận dụng môn mỹ thuật.

    Biện pháp 9 : Hướng dẫn cho học sinh phương pháp học tập phù hợp ở lớp

    cũng như ở nhà.

    Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi phải yêu cầu học sinh tự giác, tích cực và

    có thói quen tư duy logic và mạnh dạn trình bày bài làm của mình với thầy cô. Từ đó

    giáo viên mới nắm được các em còn yếu ở những điểm nào để củng cố thêm.

    Như chúng ta đã biết thời lượng lên lớp với đội tuyển là không nhiều, việc nâng

    cao kết quả bồi dưỡng phải kết hợp với hoạt động dạy học chính khoá trên lớp và đặc

    biệt là việc hướng dẫn học sinh tự học là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả

    bồi dưỡng. Thực tế cho thấy học sinh nào có tinh thần và phương pháp tự học tốt thì

    sẽ thành công cao hơn các bạn khác. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách sử

    dụng quỹ thời gian của mình một cách hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí thời gian,

    nhưng cũng đảm bảo thời gian nghỉ ngơi giải trí. Thực tế cho thấy, có học sinh học rất

    nhiều, thâu đêm suốt sáng, không thu xếp được thời gian nghỉ ngơi, nên hậu quả là

    không những không thành công mà còn gây mụ mẫm đầu óc, cơ thể mệt mỏi kéo

    dài…Do đó giáo viên phải dạy cho học sinh cách học (biết cách tự học) .

    Cụ thể :

    Giáo viên cần hướng dẫn học sinh khi học trước hết phải nắm chắc kiến thức cơ

    bản từ đó mới có cơ sở kiến thức để liên hệ, so sánh, để giải quyết các vấn đề trong

    thực tiễn cuộc sống từ thấp đến cao, từ dễ đến khó.

    Không những thế học sinh cần phải có thói quen đặt ngược vấn đề, như đặt câu hỏi

    tại sao lại như vậy? Để từ đó hiểu bài một cách cặn kẽ, giúp các em ghi nhớ có chủ

    định.

    Giáo viên cần tập cho học sinh có thói quen ghi chép lại những hiện tượng sinh học

    quan sát được từ thực tế và tự đặt câu hỏi để giải thích, đưa ra nhận định khoa học.

    Tập cho học sinh có ý thức làm bài tập nâng cao để rèn luyện kiến thức chuyên sâu và

    trí thông minh.

    Giáo viên ra bài tập về nhà với dung lượng và kiến thức phù hợp với đối tượng học

    sinh. Việc học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng, đó là một hình thức học tập độc lập

    – 19 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    của học sinh. Muốn học sinh thực hiện hiệu quả công việc này thì giáo viên cần sự

    hướng dẫn kĩ càng chu đáo cho các em định hướng cách làm các bài tập đó.

    Ví dụ: Khi dạy xong chuyên đề tuần hoàn, tôi ra bài tập về nhà cho học sinh phần

    bài tập nâng cao như sau :

    1. Phân tích hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ. Từ

    đó so sánh vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ .

    2. Vì sao máu chảy trong mạch không bao giờ đông hể ra khỏi mạch là đông ngay ?

    Hướng dẫn hoàn thành câu hỏi 1: Tôi yêu cầu các em về xem lại đường đi của

    máu trong vòng tuần hoàn nhỏ và trong vòng tuần hoàn lớn thông qua việc quan sát

    lại hình 16.1 nghiên cứu chú thích và quan sát kỹ hướng mũi tên, từ đó các em sẽ phân

    tích được hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ. Khi

    các em phân tích được hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần

    hoàn nhỏ thì các em sẽ dễ dàng thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa vòng tuần

    hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ (so sánh vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ)

    Hướng dẫn hoàn thành câu hỏi 2: Tôi hướng dẫn các em vận dụng kiến thức ở

    chuyên đề tuần hoàn cụ thể là dựa vào kiến thức phần I. Đông máu trang 48 sách giáo

    khoa của bài 15 “Đông máu và nguyên tắc truyền máu” để giải thích bằng cách trả lời

    hai câu hỏi nhỏ đó là : máu chảy trong mạch không bao giờ đông là do đâu ? Tại sao

    máu ra khỏi mạch là đông ngay .

    Biện pháp 10 : Giáo viên bồi dưỡng phải tích cực tích lũy nâng cao kiến thức bộ

    môn, sử dụng tốt tài liệu tham khảo trong công tác bồi dưỡng.

    Muốn có học sinh giỏi thì người giáo viên bồi dưỡng luôn có ý thức tự tìm tòi, rèn

    luyện, tích luỹ tri thức và kinh nghiệm, trao dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là

    ” người dẫn đường tin cậy ” cho học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi tư liệu ,

    có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng. Lựa chọn trang

    Web nào hữu ích nhất, tác giả nào hay nhất để sưu tầm tài liệu…..

    Giáo viên cần phải xác định rõ việc tự học, tự rèn là yếu tố nội lực quyết định sự

    thành công. Vì thế cần có sự đầu tư, nghiên cứu tài liệu bộ môn để tích lũy kiến thức

    và chắt lọc, vận dụng vào quá trình bồi dưỡng.

    Khi đã tích lũy được vốn kiến thức chuyên sâu về bộ môn, giáo viên bồi dưỡng

    phải biết chắt lọc, lựa chọn kiến thức để chuyển tải phù hợp với đối tượng học sinh

    mình bồi dưỡng. Phải ra những câu hỏi, bài tập vận dụng từ thấp đến cao, tránh ôm

    – 20 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100