Đề Xuất 2/2023 # Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4. # Top 4 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4. # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4. mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ bảy – 22/02/2014 16:09

Đề tài Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 4

Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến

a. Sự cần thiết (Lí do nghiên cứu)

Giáo dục Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỉ 21 chứng kiến sự bứt phá ngoạn mục từ nội tại và cả sự tác động từ phía xã hội. Lộ trình đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp, thay sách giáo khoa như là một bước đột phá sống còn của giáo dục nhằm nâng cấp sản phẩm bắt kịp xu thế toàn cầu hóa của thời đại và bước đầu đã cho thấy những kết quả rất đáng ghi nhận. Trong đó, vai trò của thầy, cô giáo được xác định như là yếu tố mấu chốt để giải quyết kịp thời những bức bách, mâu thuẫn đang hiện hữu trong nền giáo dục chúng ta. Vì vậy, sự trăn trở cho mỗi giờ dạy, mỗi môn học là điều mà mỗi giáo viên như chúng tôi không thể không quan tâm. Qua nghiên cứu các tài liệu, tìm hiểu từ các phương tiện truyền thông và thông tin đại chúng và đặc biệt từ thực tế việc dạy, việc học tại Trường Tiểu học I Khánh Bình Tây Bắc, bản thân tôi nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề không thể không trăn trở. Cho dù lộ trình đổi mới phương pháp đã có một thời gian dài thực hiện và những ưu thế của nó là điều không thể phủ nhận, song chưa có ai dám khẳng đinh rằng ở mọi nhà trường đã thực hiện một cách hoàn hảo nhất các tiêu chí của dạy học hiện đại. Một bộ phận không ít giáo viên vẫn tỏ ra chần chừ, không thật mặn mà với phương pháp mới và thiếu sự quyết liệt trong quá trình thực hiện đổi mới. Một bộ phận học sinh tiếp cận với phương pháp mới một cách hờ hửng, thiếu sẳn sàng và thiếu tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong xử lí thông tin còn hạn chế.Trường Tiểu học I Khánh Bình Tây Bắc nơi tôi đang công tác cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết chung của nền giáo dục nước nhà. Trước thực tế đó, bản thân đã dành một thời gian đáng kể đầu tư cho việc đổi mới phương pháp, đặc biệt là đối với môn toán, sau nhiều lần thử nghiệm, bước đầu chúng tôi đã tìm được một số biện pháp hữu hiệu giúp học sinh tiếp cận nhanh với phương pháp dạy học hiện đại.Chính vì vậy tôi đã đi sâu vào tìm hiểu “Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 4 “, để giúp các em nắm vững các kiến thức trong môn học này.

2. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến

Từ thực tiễn dạy học tiểu học nói chung và thực tiễn dạy học ở Trường Tiểu học I Khánh Bình Tây Bắc nói riêng. Thu thập, tập hợp xử lí thông tin, tìm ra những giải pháp cần thiết để hoàn thiện dần phương pháp dạy học toán ở bậc tiếu học.

Với sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 4″. Tôi đã triển khai và thực hiện trong toàn khối 4. Ngoài ra, sáng kiến còn có thể áp dụng tại trường tiểu học I Khánh Bình Tây Bắc.

4.Mô tả sáng kiến:

4.1 Cơ sở lý luận

Môn toán ở tiểu học rất quan trọng với các em học sinh không chỉ biết cách tự học mà còn phát triển ngôn ngữ( nói, viết) để diển đạt chính xác, ngắn gọn và đầy đủ các thông tin, để giao tiếp khi cần thiết…mà còn giúp các em hoạt động thực hành vận dụng tăng chất liệu thực tế trong nội dung, tiếp tục phát huy để phát triển năng lực của học sinh.

4.2 THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP

– Bản thân nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở bậc tiểu học nên kinh nghiệm thực tế tích lũy được tương đối nhiều. – Hội đồng sư phạm trường nhiều đồng chí có kinh nghiệm, nhiều năm giảng dạy lại luôn có quyết tâm nhất quán trong đổi mới phương pháp nên bản thân học hỏi và rút kinh nghiệm được nhiều vấn đề hữu ích. – Học sinh phần lớn chăm ngoan và rất chịu khó, lại tiếp cận khá nhanh với phương pháp mới nên việc thử nghiệm đề tài luôn nhận được sự ủng hộ từ phía các em.

– Năng lực và thói quen nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên cho dù đã rất cố gắng, kết quả thu được vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. – Tài liệu tham khảo thiếu, thời gian và điều kiện nghiên cứu hạn hẹp ảnh hưởng khá nhiều đến việc sử dụng các giải pháp mới. – Một bộ phận học sinh chây lười trong học tập, gia đình lại không quan tâm nên việc tự học của các em cho dù đã được giáo viên hướng dẫn rất kĩ nhưng chưa thể đáp ứng được yêu cầu đề ra. – Đối tượng học sinh trong mỗi lớp không đồng đều, nhiều em quá yếu. Việc chú ý đối tượng đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình nghiên cứu. – Phương tiện dạy học vẫn chưa thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thực tiễn dạy học hiện đại.

c.Số liệu thống kê

Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán lớp 4A2 đầu năm học 2012 – 2013 như sau:

Từ kết quả khảo sát cho thấy , việc nắm bắt kiến thức môn toán của các em còn chậm. vì vậy, tôi nghiên cứu ” Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 4″.

4.3 Các biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp 4

* Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH vấn đáp kết hợp với một số PPDH khác trong hình thành tri thức mới. Học sinh muốn tiếp thu tri thức mới cần có sự hướng dẫn của giáo viên bắng một hệ thống câu hỏi phù hợp. Giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của trò. Ví dụ trong bài: ” Phép nhân phân số“. Hình thành phép tính nhân của 2 phân số và. Hình thành phép tính nhân của 2 phân số và cho học sinh là một vấn đề mới. nếu giáo viên chỉ giới thiệu quy tắc tính sau đó áp dụng vào luyên tập thì không phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh. Do đó, giáo viên cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp để hướng dẫn học sinh tiếp thu tri thức mới một cách tích cực, sáng tạo. Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu hỏi sau: Dựa vào cách tính diện tích hình chữ nhật bằng đồ dùng trực quan hãy cho biết x = ? (HS nêu: x = ) – Quan sát hình và cho biết 8 là gì của hình chữ nhật mà ta phải tính diện tích? (8 là tổng số ô của hình chữ nhật.) * HS giải thích: Chiều dài HCN bằng 4 ô và được xếp thành 2 hàng nên tính được tổng số ô bằng cách lấy 4 x 2 = 8. – 4 và 2 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 4 và 2 là tử số của các phân số trong phép nhân x ). – Để tính số ô vuông có trong hình vuông diện tích 1 m 2 ta làm thế nào? ( lấy 5 x 3 = 15 (ô)). – Vậy 5 và 3 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 5 và 3 là mẫu số của các phân số trong phép nhân x ). – Như vậy, khi muốn nhân hai phân số với nhau ta làm thế nào? ( … ta lấy tử số nhân tử số, mẫu số nhân mẫu số). – Giáo viên nêu công thức tổng quát: = và yêu cầu học sinh nêu quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố.

*.Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học.

Ví dụ trong bài: ” Phép cộng phân số ” ( tiếp theo ). * : Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy băng giấy, Bạn An lấy băng giấy. Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phấn băng giấy màu? ( Toán 4 trang 127 ). Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số và rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh Hướng dẫn giải như sau: Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện phép tính gì? ( phép cộng: + ). Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học sinh chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số). Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho thành hai phân số có cùng mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề kết hợp với PPDH vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2 phân số khác mẫu số.

*. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.

Mục tiêu, nội dung bài học yêu cầu hình thành tri thức mới cho học sinh. Tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh khác nhau, cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh cần phải đo đạc, thu thập các số liệu điều tra thống kê. Ví dụ bài: Diện tích hình thoi. – Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m, BD = n (hình a) – Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau: * Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b). Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) = m * Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c). Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) ( Hình a ) ( Hình b ) ( Hình c ) Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động dạy học.

*. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán là cơ sở giải loại toán sắp học.

Giải các bài toán có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra được kết quả dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ vào các mối quan hệ toán học và các từ mới chứa trong đầu bài toán: Ví dụ 1: Để chuẩn bị cho việc học loại toán: “Tìm 2 số biết tổng và tỉ số của 2 số đó”. Có thể cho học sinh giải bài toán sau: ” Cô có 30 bút chì, chia thành 3 phần bắng nhau. Bạn nam được 1 phần, bạn nữ được 2 phần. Hỏi bạn nam được mấy bút chì?”. Ví dụ 2: Để chuẩn bị cho việc học loại toán: “Tìm 2 số biết tổng và hiệu của 2 số đó”. Có thể cho học sinh giải bài toán sau: “Hai bạn Nam và Hùng có tất cà 15.000 đồng, Nam có nhiều hơn Hùng 5.000 đồng. Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu tiền?”. – Tổ chức cho học sinh làm việc trên đồ dùng học tập: +Mỗi học sinh lấy 15 que tính (tượng trưng cho 15.000 đồng ). Chia bảng con làm 2 phần, phần lớn là số tiền của Nam, phần nhỏ là số tiền của Hùng. +Nam nhiều hơn Hùng 5.000 đồng. Vậy ta lấy 5 que tính cho Nam trước rồi chia đôi phần còn lại:! Học sinh lấy 5.000đồng cho nam trước (đặt 5 que tính vào phần lớn). – Còn mấy nghìn đồng ? (15.000 – 5.000 = 10.000 đồng ). – Vậy chia đều cho 2 bạn, mỗi bạn được mấy nghìn ? ( 10.000 : 2 = 5.000 đồng ). – Bỏ vào hai phần mỗi phần 5.000 đồng ( 5 que tính ) – Vậy Hùng được mấy nghìn ? ( 5.000 đồng ). – Còn Nam được mấy nghìn ? ( 5.000 +5.000 = 10.000 đồng ). – Tương tự hướng dẫn bài toán trên sơ đồ và giải.

*.Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.

Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động mang tính chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực quan. Từ đó các em sẽ tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học. Ví dụ: Trong bài “Phép cộng phân số”. Để hình thành phép cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau, giáo viên và học sinh cùng thực hành trên băng giấy – Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách gấp đôi ba lần theo chiều ngang: + Tô màu vào băng giấy + Tô màu vào băng giấy Nhìn vào băng giấy HS dễ nêu được hai lần đã tô màu được băng giấy. Học sinh nêu: + = . Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số bằng cách lấy tử số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu số.

*. Khi dạy thực hành luyện tập GV cần lưu ý giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình, bằng cách:

– Cho các em làm các bài theo thứ tự trong sách giáo khoa, không bỏ bài nào, kể cả bài dễ, bài khó. – Không bắt học sinh chờ đợi nhau trong khi làm bài. Làm xong chuyển sang bài tiếp theo. – Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác: – Ví dụ: Khi dạy bài : ” Tính bằng cách thuận tiện nhất “ – + + = + ( + ) = + = Có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự của các phép tính trong biểu thức, ra kết quả đúng nhưng chưa nhanh và chưa hợp lí. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh các tính chất đã học của phép cộng để tìm ra cách giải thuận tiện. Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học sinh nhớ lại kiến thức đã học đó là: Tính chất giao hoán của phép nhân. Tính chất kết hợp của phép nhân. Tính chất nhân một số với một tổng ( Hoặc một tổng nhân với một số ). Tính chất nhân một hiệu với một số ( Hoặc một số nhân với một hiệu ). Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải toán: Khi nào vận dụng tính chất này, khi nào vận dụng tính chất kia: Ví dụ: 2 10 + 10 5 = 10 ( 2 + 5 ) = 10 10 = 20 ( Áp dụng tính chất nhân một số với một tổng ).

Từ việc đổi mới các phương pháp dạy học như trên tôi thấy chất lượng học sinh dần dần được nâng cao. Học sinh đã tự giác, hứng thú, chủ động và tích cực tham gia các hoạt động dạy học, không rụt rè, tự ti như trước nữa. Chất lượng học sinh ngày một tiến bộ do trình độ nhận thức của các em ngày càng được nâng cao, tích cực phát biểu xây dựng bài hứng thú và ham thích học toán, làm bài, học bài đầy đủ . học sinh dần dần chiếm lĩnh kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống. Sự tiến bộ của các em biểu hiện cụ thể qua kết quả như sau: Khảo sát chất lượng đầu năm 2012-2013:

Kết quả kiểm tra cuối năm học 2012 – 2013:

Qua bảng thống kê chất lượng trên phần nào cho thấy số lượng học sinh khá giỏi tăng lên giảm được học sinh yếu, số học sinh ham thích học môn toán cũng tăng lên so với đầu năm học. Nếu chúng ta vận dụng linh hoạt việc đổi mới phương pháp dạy học thì chắc chắn chất lượng cuối năm sẽ tăng cao.

6. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:

-Trước hết phải nói đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy tích cực và nhiệt tình trong đổi mới PPDH, góp phần chứng minh ưu thế và hiệu quả việc giảng dạy môn toán. – Muốn nâng cao chất lượng dạy học toán ở tiểu học chúng ta cần lưu ý: + Linh hoạt trong đổi mới PPDH. + Tạo cho học sinh hứng thú và ham thích học môn toán. + Nắm được từng đối tượng học sinh, tạo được nhu cầu học tập trong các em. + Tổ chức hướng dẫn các phương pháp học tập chu đáo( học nhóm, học tổ,…) + Công tác chuẩn bị từng bài dạy thật kĩ phù hợp từng nội dung, soạn giảng chu đáo gọn nhẹ. + Dụng cụ, phương tiện dạy- học phải đầy đủ. + Tổ chức nhiều hình thức học tập cho có tính hấp dẫn. + Thường xuyên kiểm tra, củng cố hệ thống kiến thức. + Phát huy tính tích cực, tính tự học, tìm tòi, tự phát hiện cái mới, cái hay,… để tự chiếm lĩnh tri thức.

– Tất cả các giáo viên giảng dạy ở tiểu học phải sử dụng các PPDH linh hoạt, phù hợp với lớp, với từng học sinh. – Nhiệt tình trong giảng dạy, đảm bảo đầy đủ ĐDDH, thiết bị dạy học. – Tổ chuyên môn cần thường xuyên tổ chức hội thảo các chuyên đề về đổi mới phương pháp, đố vui để học, thi học tốt môn toán. – Có kế hoạch bồi dưỡng và phụ đạo học sinh về môn toán.

– Tăng cường tài liệu nghiên cứu, sách tham khảo cho giáo viên. – Bổ sung đồ dùng dạy học đủ cho các lớp sử dụng.

Dạy toán, học toán ở trường Tiểu học là một phạm trù rộng lớn. Nó chứa đựng một chuỗi hệ thống các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học. Vì thế, bản thân luôn xác định đổi mới phương pháp dạy học toán ở bậc tiếu học không hề đơn giản và cũng không thể thực hiện nhanh chóng trong ngày một ngày hai. Vì thế, khi nghiên cứu đề tai này, thực sự chúng tôi không có tham vọng tạo chuyển biến có tính chất đột phá trong việc dạy, việc học môn toán ở trường tiểu học mà chỉ hi vọng góp một phần nhỏ tháo gỡ một vài khía cạnh để góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán tại trường tiểu học I Khánh Bình Tây Bắc nói riêng và bậc tiểu học nói chung. Tuy nhiên, do ràng buộc hạn chế về kinh nghiệm, sự thiếu hụt về mặt thời gian và tầm nhìn. Chúng tôi biết chắc đề tài vẫn còn chứa đựng quá nhiều khiếm khuyết. Vì vậy, rất mong được quan tâm tham gia bàn bạc của quý cấp quản lí và các đồng nghiệp.

Trần Kim Cương Giáo viên Trường TH 1 Khánh Bình Tây Bắc, TVT, CM.

Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp Một

PHÒNG GD & ĐT THỌ XUÂN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP MỘT Người thực hiện: Trần Thị Hà Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thọ Xương – Thọ Xuân SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán THANH HÓA NĂM 2017 MỤC LỤC Nội dung Trang 1. Mở đầu 01 1.1. Lí do chọn đề tài. 01 1.2. Mục đích nghiên cứu. 01 1.3. Đối tượng nghiên cứu 01 1.4. Phương pháp nghiên cứu. 02 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm. 02 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. 02 2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 02 2.3.Các biện pháp thực hiện. 03 2.3.1. Xây dựng lớp học thân thiện. 03 2.3.2. Dạy toán thông qua đồ dùng trực quan của giáo viên, học sinh và áp dụng công nghệ thông tin vào việc dạy toán. 03 2.3.3. Dạy học sinh nắm được bản chất các kiến thức toán học. 07 2.3.4. Bồi dưỡng cho học sinh năng lực quan sát, biết suy nghĩ lập luận, phân tích đề toán. 9 2.3.5. Dạy toán thông qua các trò chơi. 11 2.3.6. Kết hợp việc kiểm tra bài cũ để học tốt bài mới. 14 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 15 3. Kết luận 15 Tài liệu tham khảo 1. Mở đầu. 1.1. Lí do chọn đề tài. Như chúng ta đã biết, toán học là khoa học suy diễn trừu tượng nhưng toán học ở tiểu học lại mang tính trực quan, cụ thể bởi vì mục tiêu của môn toán học ở Tiểu học là hình thành những biểu tượng toán học ban đầu và rèn luyện kĩ năng toán cho học sinh, tạo cơ sở phát triển tư duy và phương pháp toán sau này. Một mặt khác toán học còn có tính thực tiễn. Các kiến thức toán học đều bắt nguồn từ cuộc sống. Mỗi mô hình toán học là khái quát từ nhiều tình huống trong cuộc sống. Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có trong học sinh, cho học sinh làm và ghi lại một cách chính thức các kiến thức toán học bằng ngôn ngữ và các kí hiệu toán học. Mỗi tiết học là dịp để học sinh hình thành những kiến thức và kĩ năng mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất, thông minh nhất. Môn Toán còn góp phần giáo dục những đức tính tốt như: trung thực, cần cù, cẩn thận, ý thức vượt khó, tìm tòi sáng tạo và nhiều kĩ năng tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Môn Toán lớp Một mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán học. Sau này lớn lên các em có thể trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất. Các em sẽ không bao giờ quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm, tập viết 1, 2, 3, học các phép tính cộng, trừ. Những con số, những phép tính đơn giản ấy lại rất cần thiết cho suốt cuộc đời của các em. Ở lứa tuổi học sinh lớp Một thì nhận thức cảm tính chiếm ưu thế hơn nhận thức lý tính. Các em dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ công thức, kiến thức dựa trên mô hình, sơ đồ, hình ảnh động mà các em được trực tiếp quan sát. Các em rất tò mò, ham thích tìm hiểu toán học, tìm hiểu không gian xung quanh và các em cũng rất thích tham gia các hoạt động mang tính thực tiễn. Muốn làm được điều này, giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh phát huy năng khiếu tiềm ẩn, đồng thời giúp các em khơi nguồn sáng tạo ngay từ khi học lớp Một. Khơi dậy những tiềm năng này sẽ tạo nên hứng thú học tập, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Là giáo viên trực tiếp dạy lớp Một. Tôi rất băn khoăn làm sao để các em có hứng thú, học tốt môn Toán vì vậy tôi đã đi sâu nghiên cứu “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp Một” 1.2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh có hứng thú trong giờ học Toán. Phát huy tính tích cực, chủ động, rèn luyện phương pháp suy nghĩ từ đó giúp học sinh nắm bài tốt hơn, nhớ bài lâu hơn. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu về các biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp Một. 1.4. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: – Phương pháp điều tra. – Phương pháp trực quan. – Phương pháp đàm thoại. – Phương pháp trò chơi học tập. – Phương pháp luyện tập thực hành. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Trí thông minh là sự tổng hợp, phối hợp nhịp nhàng các năng lực trí tuệ như: quan sát, ghi nhớ, óc tưởng tượng, năng lực tư duy mà đặc trưng là năng lực tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo, vận dụng những hiểu biết đã học để giải quyết vấn đề được đặt ra một cách tốt nhất. Môn Toán là môn học có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết. Muốn cho học sinh thích học môn toán thầy, cô giáo phải tìm mọi cách để gây hứng thú trong quá trình dạy học, gợi ra sự tò mò, ham hiểu biết, nắm được cái mới lạ mà giờ học toán sẽ đem lại cho các em. Một điểm đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Chính vì vậy, ở lớp Một, việc giúp học sinh học tốt môn Toán là hết sức cần thiết. 2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1. Thực trạng Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp Một, tôi nhận thấy các em học sinh lớp Một chưa có hứng thú khi học môn Toán. Nhiều em còn mơ hồ, lúng túng, chưa nắm chắc được kiến thức, nhanh quên các kiến thức đã học, một số em làm đúng kết quả nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được bản chất các kiến thức đã học. Kết quả khảo sát môn Toán của lớp 1d cuối năm học 2015 – 2016 Tổng số bài kiểm tra Điểm 9 – 10 Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6 Điểm dưới 5 SL TL SL TL SL TL SL TL 27 bài 7 bài 25.9% 7 bài 25,9% 11 bài 40.8% 2 bài 7.4% 2.2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên. Do các em mới chuyển giai đoạn từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang hoạt động học tập là chủ đạo nên nhiều em chưa làm quen, bắt nhịp được với việc học tập đặc biệt là học môn Toán. Một số em tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng tính toán chậm, khả năng phân tích tổng hợp, tư duy còn hạn chế. Một số em chưa có động cơ học tập, chưa tự giác. Một số em còn rụt rè, nhút nhát, tự ti chưa dám bộc lộ hết khả năng của mình. 2.3. Các biện pháp thực hiện 2.3.1. Xây dựng lớp học thân thiện Đối với học sinh lớp Một, đi học thực sự là một bước chuyển, một bước ngoặt có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ, tâm lí và nhân cách của các em. Đa số các em khi mới chuyển từ Mầm Non sang Tiểu học các em còn bỡ ngỡ, rụt rè, lạ lẫm, chưa thích ứng được với môi trường mới, kém hứng thú với hoạt động học tập. Vì vậy tôi thấy việc đầu tiên phải làm đó là xây dựng “Lớp học thân thiện” Bởi vì: “Lớp học thân thiện” là nơi mà ở đó các em luôn vui vẻ, hoà đồng, đoàn kết thương yêu nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong học tập, sinh hoạt. Nơi đây, các em luôn nhận được sự thương yêu đoàn kết của bạn bè, của thầy cô giáo. Sự thân thiện đó thể hiện qua những việc làm cụ thể sau: Ngay từ ngày đầu vào lớp Một giáo viên phải trò chuyện với các em để tìm hiểu về gia đình, về sở thích, về tâm tư nguyện vọng của các em. Tạo bầu không khí vui vẻ, gần gũi, tôn trọng học sinh để các em cảm nhận được sự thoải mái khi tham gia việc học tập của mình. Nhẹ nhàng uốn nắn, sửa sai cho học sinh kịp thời, thường xuyên. Khen ngợi, động viên khi các em tiến bộ dù là rất nhỏ, để các em tự tin hơn, giúp các em thấy được thế mạnh của mình, đồng thời tạo dựng cho các em lòng tin vào bản thân, xoá đi nổi lo âu, sợ hãi trong lòng khi các em không làm được bài. Trong lớp tôi luôn nhắc nhở các em phải xưng hô với bạn bè đúng mực. Nhắc nhở các em thực hiện tốt nội qui của trường, của lớp. Biết đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như khi tham gia các hoạt động của lớp. Môi trường học tập xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện là yếu tố rất quan trọng góp phần thu hút học sinh đến trường, đến lớp. Vì vậy tôi cũng rất quan tâm đến việc sắp xếp bàn, ghế cho ngay hàng, thẳng lối, lớp học luôn sạch sẽ. Trang trí thêm cho lớp học các câu khẩu hiệu “Thi đua dạy tốt, học tốt”, “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, các bảng biểu, lẳng hoa, Được học tập trong môi trường, lớp học sạch đẹp, thân thiện, học sinh sẽ cảm thấy tự tin hơn, thích học hơn, yêu thầy, mến bạn hơn. Phát huy được tính tự giác, tích cực, phấn đấu học tốt hơn. 2.3.2. Dạy toán thông qua đồ dùng trực quan của giáo viên, học sinh và áp dụng công nghệ thông tin vào việc dạy Toán. Trong quá trình dạy học tôi nhận thấy học sinh lớp Một muốn học tốt môn Toán thì phải có đồ dùng trực quan. Đây là yêu cầu không thể thiếu được đối với từng học sinh ngay từ buổi đầu đến trường. Bởi vì xuất phát từ đặc điểm nhận thức của học sinh lớp Một từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Đồ dùng của học sinh là một hộp gồm: 10 que tính, 10 hình tròn, tam giác, hình vuông. Bộ số từ 1 đến 10 và các dấu cộng, trừ bằng, dấu lớn, dấu bé. Muốn đạt được yêu cầu này giáo viên phải thông báo cho phụ huynh biết và chuẩn bị cho con mình ngay từ đầu năm học. Bộ đồ dùng toán này sẽ giúp cho học sinh lớp Một tự hình thành và xây dựng bài mới. Giúp cho học sinh nào cũng được làm việc độc lập. Tự mình khám phá, hiểu và vận dụng kiến thức Toán một cách chắc chắn, vững vàng, tự tin. Dựa vào đồ dùng toán của học sinh và bộ đồ dùng Toán của giáo viên, kết hợp với việc áp dụng công nghệ thông tin của giáo viên để giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn sao cho học sinh đi đúng hướng. Qua đó rèn cho các em tính độc lập, cẩn thận, chính xác, hào hứng khi học Toán. Ví dụ 1: Dạy bài: Số 6. Học sinh lấy 5 hình tròn lấy thêm 1 hình tròn có tất cả 6 hình tròn. Học sinh lấy 5 hình vuông lấy thêm 1 hình vuông có tất cả 6 hình vuông. Các em kiểm tra đếm lại 1, 2, 3, 4, 5, 6 trên các hình. Đếm lại theo nhóm. 5 1 ® 6 Chú ý học sinh lấy theo nhóm (5 hình tròn vàng thêm 1 hình tròn xanh) Giáo viên (sử dụng bộ đồ dùng của giáo viên) đưa hình ảnh nhóm 5 hình tròn màu vàng thêm 1 hình tròn màu xanh tất cả là 6 hình tròn, tiếp tục giáo viên đưa ra 6 bông hoa, 6 con gà để học sinh nhận biết số lượng là 6. Để học sinh nắm chắc cấu tạo số 6, giáo viên hướng dẫn học sinh lấy 6 que tính tách thành 2 phần tùy ý để có khái niệm như: 6 gồm 5 và 1 6 gồm 1 và 5 6 gồm 4 và 2 6 gồm 2 và 4 6 gồm 3 và 3 Qua đồ dùng học Toán của cô và trò đã giúp học sinh nhận biết khái niệm về số 6 một cách chắc chắn, nắm được cấu tạo số 6, nhận biết được số lượng trong phạm vi 6, số sáu được viết bằng chữ số 6 không phụ thuộc vào hình dáng, kích thước to lớn, nhỏ bé. Ví dụ 2: Khi dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 6. Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng cộng như sau: Yêu cầu học sinh lấy 5 hình tròn rồi lấy thêm 1 hình tròn nữa. (Tất cả học sinh cùng lấy) Từ mô hình học sinh lập đề toán, lập phép tính: 5 + 1 = 6 1 + 5 = 6 Yêu cầu học sinh lấy 4 hình tam giác rồi lấy thêm 2 hình tam giác nữa. (Tất cả học sinh cùng lấy) Từ mô hình học sinh lập đề toán, lập phép tính: 4 + 2 = 6 2 + 4 = 6 Tương tự như thế giáo viên yêu cầu học sinh lấy 3 hình vuông lấy tiếp 3 hình vuông nữa. Nhìn vào mô hình học sinh lập đề toán và sử dụng số, dấu +, dấu = trong bộ đồ dùng Toán để cài phép tính tương ứng 3 + 3 = 6 Như vậy học sinh đã lập được các phép cộng trong phạm vi 6 và khắc sâu được khái niệm phép cộng, thực hành làm tính cộng trong phạm vi 6 tương đối tốt. Được làm việc trên đồ dùng trực quan như vậy học sinh rất hứng thú, nhớ bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn. Ví dụ 3: Khi dạy bài: Bài toán có lời văn (Toán 1 trang 115) Bài toán có lời văn đang còn rất mơ hồ đối với các em nên tôi đã sử dụng hình ảnh động để hướng dẫn: Bài 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán. Giáo viên xuất hiện bài toán: Bài toán: Có .. bạn, có thêm bạn nữa đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn? Giáo viên hiệu ứng 1 bạn ra trước sau đó hiệu ứng tiếp 3 bạn chạy tới. Nhìn vào hình ảnh này học sinh dễ dàng viết ngay được số vào chỗ chấm để có bài toán đầy đủ. Tôi tiến hành tương tự như thế với bài 2 trang 115, bài 4 trang 116 sách Toán 1. Bài 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán. Bài toán: Có con thỏ, thêm con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con thỏ?         Bài 4: Nhìn tranh viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán. Bài toán: Có . Con chim đậu trên cành, có con chim nữa bay đến. Hỏi..? Việc đưa hình ảnh như vậy tôi thấy học sinh học rất sôi nổi, nắm bài tương đối tốt. Nhìn vào các hình ảnh này học sinh dễ dàng hoàn thành những phần còn thiếu của bài toán. Ví dụ 4: Khi dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 4 (Toán 1 trang 47) Tôi dạy bài này (bằng giáo án điện tử) tôi đã sử dụng hình ảnh động. Khi hình thành kiến thức mới, giáo viên hiệu ứng đưa hình 3 con chim đậu trên cành ra trước học sinh rất thích thú với hình ảnh này, sau đó giáo viên hiệu ứng tiếp thêm 1 con chim từ từ bay đến với ảnh này đã thu hút được sự chú ý của học sinh. Học sinh nhìn vào hình ảnh sẽ lập được đề toán và lập được phép tính tương ứng 3 + 1 = 4 với hình ảnh giáo viên vừa đưa ra, các em hào hứng quan sát để tiếp tục phát hiện ra phép tính khác như: 1 + 3 = 4 và đưa ra 3 + 1 cũng bằng 1 + 3 đều bằng 4 Qua việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán ở lớp Một đã giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp, kĩ năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi. Biện pháp này tạo cho lớp học sôi động, học sinh hào hứng học tập, 100% các em được tham gia vào bài mới. 2.3.3. Dạy học sinh nắm được bản chất các kiến thức toán học Để học sinh học tốt môn toán người giáo viên cần phải dạy cho học sinh nắm chắc kiến thức từng bài, từng phần trong chương trình toán 1, hiểu cặn kẽ bản chất của kiến thức đó. Vì vậy khi dạy cho học sinh học toán, giáo viên cần phải biết lựa chọn phương pháp, biện pháp thích hợp để học sinh nắm được các kiến thức bản chất nhất rồi từ đó làm cơ sở cho việc học các kiến thức tiếp theo. Ví dụ 1: Khi dạy học sinh làm tính cộng: 2 + 3 = 5. Bằng kinh nghiệm sống của trẻ, các em có thể trả lời ngay được kết quả là 5, song nếu chỉ nghĩ rằng học sinh chỉ học thuộc các phép tính làm đúng kết quả thôi thì chưa đủ mà người giáo viên cần làm cho học sinh hiểu cặn kẽ bản chất, ý nghĩa của phép cộng. Cụ thể giáo viên cho học sinh thực hiện thao tác “gộp” hai nhóm đồ vật một nhóm có (2 đồ vật ) với một nhóm (có 3 đồ vật ) để tạo thành một nhóm lớn hơn bao gồm tất cả các đồ vật của hai nhóm đó (5 đồ vật). Để tìm được kết quả của phép cộng trên học sinh cần thực hiện đếm toàn bộ các đối tượng trong hai nhóm đồ vật và từ đây học sinh sẽ hiểu được vì sao 2 cộng 3 lại bằng 5 (2 + 3 = 5). Bằng các hình ảnh trực quan, động tác, hoạt động của học sinh để từ đó các em nắm được “động tác gộp các nhóm đồ vật vào nhau chính là cơ sở của phép cộng hay nói cách khác đó chính là ý nghĩa của phép cộng.” Từ các hình ảnh cụ thể, từ những hoạt động của chính mình, học sinh đã biết vận dụng các kiến thức về ý nghĩa phép cộng. Dần dần các em hiểu về phép cộng một cách trừu tượng, khái quát hơn, thông qua việc hình thành cấu tạo số để hình thành phép cộng một cách có cơ sở, từ đó mở rộng sự hiểu biết của mình. Ví dụ 2: Khi dạy phép cộng trong phạm vi 3, sau khi hiểu ý nghĩa phép cộng là: 2 gộp 1 là 3 thì sẽ có phép tính 2 + 1 = 3, học sinh đã biết khái quát hơn về ý nghĩa bằng cách dựa vào cấu tạo số Từ việc hiểu ý nghĩa để vận dụng dựa vào cấu tạo số như trên, học sinh cần được hiểu ý nghĩa phép tính cộng một cách toàn diện hơn, khái quát hơn, đầy đủ hơn: 2 gộp 1 được 3 2 thêm 1 được 3 ð 2 + 1 = 3 2 tăng 1 được 3  Khi dạy các số tròn chục, giáo viên gợi ý cho học sinh nắm chắc cấu tạo số rồi hướng dẫn học sinh là nét đặc biệt của các số tròn chục là hàng đơn vị luôn bằng 0. Từ nhận biết cơ bản này, học sinh sẽ áp dụng vào việc thực hiện phép cộng, trừ các số tròn chục một cách thuận lợi. 30 + 50 = 80 80 – 30 = 50 Vì chữ số hàng đơn vị của các số tròn chục luôn bằng 0 (nên 0 đơn vị cộng với 0 đơn vị cho ta kết quả ở hàng đơn vị bằng 0) và (0 đơn vị trừ đi 0 đơn vị cũng cho ta kết quả ở hàng đơn vị bằng 0). Vì vậy học sinh chỉ cần cộng, trừ các chữ số ở hàng chục thì sẽ ra kết quả của phép tính. Ví dụ 3: Khi hình thành khái niệm “ Một chục” tôi hướng dẫn học sinh: + 10 que tính bó lại ta được 1 chục que tính + 10 quả trứng gà ta nói 1 chục trứng gà + 10 cái bát ta nói 1 chục cái bát. + 10 quả cam là 1 chục quả cam để rồi dẫn dắt học sinh nêu được: 10 đơn vị bằng 1 chục. (10 đơn vị = 1 chục) – Như vậy “chục” là đơn vị hàng cao hơn “đơn vị”. Trong cuộc sống ta hay nói: mua hai chục trứng, mua một chục bát, – Về số lượng 10 đơn vị và 1 chục là bằng nhau nhưng khác nhau về bản chất khái niệm. “Chục” là đơn vị hàng cao hơn, được hình thành qua đơn vị, để rồi chục lại là cơ sở hình thành các số lớn hơn tiếp theo. Ví dụ 4: Khi dạy giải toán có lời văn: Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như “thêm, và, tất cả, ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , ” (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn. Trước tiên giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại “Bài toán cho biết gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh phân tích đề toán. Bài toán: Nhà Lan có 5 con gà, mẹ mua thêm 3 con nữa. Hỏi nhà Lan có tất cả mấy con gà? Giáo viên hướng dẫn: – Bài toán cho biết gì? (Nhà Lan có 5 con gà) – Bài toán còn cho biết gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà) – Bài toán hỏi gì? (Nhà Lan có tất cả mấy con gà?) Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà Lan có tất cả mấy con gà em làm thế nào? (Lấy 5 + 4 = 9); hoặc: “Nhà Lan có tất cả mấy con gà ?” (có tất cả 9 con gà). – Em tính như thế nào để được 9 ? (Lấy 5 + 4 = 9). Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “9 này là 9 con gà”, nên ta viết “con gà” vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà). Sau đó nhấn mạnh để học sinh hiểu từ “con gà” phải viết trong ngoặc đơn vì nếu viết 5 + 4 = 9 con gà là sai. Nếu muốn được kết quả là 9 con gà thì phải viết 5 con gà + 4 con gà = 9 con gà. Nhưng việc viết một phép tính giải với các danh số như vậy là rất khó khăn và tốn nhiều thời gian với các em nên ta dùng cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là cách viết tắt của một câu văn: “5 + 4 = 9, 9 ở đây là 9 con gà”. Giáo viên hướng dẫn cách viết đáp số: Trong đáp số của bài toán thì không có phép tính và đáp số là trả lời cho câu hỏi của bài toán nên ta không đặt đơn vị “con gà” ở trong ngoặc đơn mà ghi như sau: Đáp số: 9 con gà. Giáo viên lưu ý:“Khi giải toán các em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số (đáp số ở đây là 9 con gà). Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán. Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, đáp số giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải. Một bài toán có nhiều cách đặt câu lời giải khác nhau chẳng hạn như: *Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và thay từ mấy bằng từ “số”, thêm từ “là” cuối câu để có câu lời giải: “Nhà Lan có tất cả số con gà là:” Bài giải Nhà Lan có tất cả số con gà là: 5 + 4 = 9 (con gà ) Đáp số: 9 con gà *Cách 2: Đưa từ “con gà” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm từ “Số” (viết trước từ con gà), thêm từ “là” ở cuối câu để có câu lời giải: “Số con gà nhà Lan có tất cả là:” Bài giải Số con gà nhà Lan có tất cả là: 5 + 4 = 9 (con gà ) Đáp số: 9 con gà *Cách 3: Dựa vào câu hỏi của bài

Một Số Biện Pháp Nhằm Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 1

Như chúng ta đã biết, tiểu học là nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân. Đây chính là hành trang cho thầy và trò trong quá trình dạy học, điều kiện kinh tế xã hội nước ta có những thay đổi lớn, đất nước ta bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đại hoá có những bước phát triển mạnh. Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đặt ra ngày càng cấp bách. Với tốc độ phát triển vũ bão của khoa học, con người được tiếp cận những nguồn thông tin đáp ứng với nhu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện nay; đổi mới phương pháp và hình thức dạy học là một việc làm đúng đắn.

Giáo dục Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế. Trong thời điểm mà Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” đang được các cấp các ngành và toàn xã hội quan tâm hưởng ứng. Song song với các cuộc vận động Ngành triển khai cuộc vận động xây dựng “Trường học thân thiện – học sinh tích cực” Làm thế nào để giúp các em học tập một cách thực sự và có hiệu quả đó chính là cốt lõi của vấn đề “Nhà trường thân thiện – học sinh tích cực” Tích cực phải được thể hiện từ suy nghĩ cho đến thực tế qua kết quả học tập của tất cả các môn học. Thực tế cho thấy mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Trong các môn học cùng với môn Tiếng Việt môn Toán có vị trí quan trọng, vì:

– Các kiến thức kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống: Chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học và môn Toán ở các cấp học kế tiếp.

Định hướng giải pháp và hình thức dạy học phù hợp, tối ưu nhất với đặc điểm môn học và tình hình học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp Dạy học.

Xác định mức độ, cách thực hiện đổi mới phương pháp Dạy học theo khả năng và sự cố gắng của giáo viên.

Giúp bản thân làm quen với công tác nghiên cứu, sáng tạo, biết vận dụng các tri thức được trang bị và kinh nghiệm đã có vào việc giải quyết một số vấn đề thực tế đặt ra trong quá trình Dạy – Học. Việc nghiên cứu, phân tích đổi mới phương pháp hình thức Dạy học phù hợp thành công sẽ mang lại những lợi ích cụ thể và thiết thực.Có những hình thức Dạy học giúp giáo viên, học sinh thực hiện Dạy học một cách nhẹ nhàng, hiệu quả phát huy được vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh. Đồng thời giúp giáo viên biết vận dụng phối hợp các phương pháp và hình thức Dạy học một cách linh hoạt và có hiệu quả.

Trong hệ thống phát triển giáo dục phổ thông, bậc tiểu học được coi như là cái nền mà lớp 1 chính là viên đá đầu tiên để xây dựng nên cái móng. Móng có chắc công trình xây nền mới vững chãi. Bước vào lớp 1 là giai đoạn chuyển từ hoạt động chủ đạo các em “Học mà chơi – chơi mà học” sang hoạt động “Học tập tích cực” Học sinh bắt đầu được hình thành thói quen nề nếp học tập cơ bản. Đến trường mới các em được học đọc, học viết, học đếm, học làm toán và các em còn được học rèn luyện kĩ năng sống hằng ngày. Nơi đây các em được hiểu biết thêm nhiều điều mới lạ. Các em sẽ có nhiều việc để làm hơn. Hoạt động học là một thách thức lớn đối với các em. Trường học sẽ giúp các em khôn lớn hơn – trưởng thành hơn.

Trong mỗi giờ dạy học giáo viên chủ động xây dựng sự phối hợp các phương pháp dạy học mang tính hệ thống trong cả một năm học (từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan đến tư duy trừu tượng khái quát.)

+ Giai đoạn học tập cơ bản: Học sinh biết tính nhẩm được: 1 + 1 = 2

+ Giai đoạn thực hành, luyện tập: Bước đầu hình thành ở các em những kiến thức đơn giản chỉ là nhìn hình vẽ nêu được bài toán, trả lời bài toán và ghi phép tính thích hợp. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn để học sinh tự tìm ra kết quả đúng. Dạng toán này thường là dạng toán tập trung khơi dậy sự sáng tạo và phát triển tư duy học toán cho học sinh lớp 1. Các em thường chỉ biết nêu bài toán theo kiểu thuận theo tranh, còn dạng bài toán có phép tính trừ thứ hai học sinh rất lúng túng trong khi nêu bài toán. Người giáo viên biết phối hợp phương pháp chuyển tải các kiến thức đó đến với các em, giúp các em nêu bài toán một cách dễ dàng hơn.

Ví dụ 2: Hình vẽ (Dạng toán bớt)

– Nêu miệng bài toán “Có 5 con ngựa bớt 2 con ngựa. Hỏi còn lại mấy con ngựa?”

– Trả lời bài toán”Có 5 con ngựa bớt 2 con ngựa. Còn lại 3 con ngựa?”

Học sinh Viết được phép tính thích hợp là:

+ Cùng hình vẽ các em nêu bài toán và phép tính khác:

– Nêu miệng bài toán”Có 5 con ngựa, còn lại 3 con ngựa. Hỏi đã bớt mấy con ngựa?”

– Trả lời bài toán “Có 5 con ngựa, còn lại 3 con ngựa. Đã bớt 2 con ngựa”

Viết được phép tính tương ứng:

+ Chuyển sang giai đoạn giải toán có lời văn: Bài toán: “Tổ em có 4 bạn nam và 6 bạn nữ. Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?”

– Trước khi trình bày bài giải yêu cầu nêu được câu lời giải của bài toán. Muốn nêu được câu lời giải của bài toán các em phải tìm hiểu kĩ bài toán cho ta biết gì? và bài toán hỏi ta điều gì? Lúc này bản thân từng em một phải tự nêu câu lời giải của mình cho cả lớp nghe. Giáo viên hướng dẫn các em tìm câu lời giải phù hợp với đề bài toán đã cho.

– Yêu cầu học sinh giải miệng được bài toán 4 + 6 = 10 và trình bày được bài giải đủ 4 bước:

Số bạn tổ em có là:

+ Giai đoạn học tập sâu hơn:

Giúp học sinh hiểu được không chỉ có 4 + 6 = 10, 6 + 4 = 10 mà có thể tìm các số khác cộng lại để kết quả bằng 10:

Dạng toán tập trung khơi dậy sự tò mò tìm tòi sáng tạo và phát triển tư duy học toán cho học sinh lớp 1. Một số không ít học sinh tìm được các phép tính khác nhưng tóm lại cùng có kết quả chung của giáo viên đưa ra.

…. + … +…. + …. = 10 2 + 4 + 3 + 1 = 10

…+ …. + … +…. = 9 3 + 1 + 2 + 3 = 9

…. + … + … – …. = 7 1 + 4 + 1 + 1 = 7

….+ …. + … – …. = 4 5 + 2 + 1 – 4 = 4

Dạng toán này cũng không kém phần khơi dậy sự tìm tòi phát triển tư duy trong học toán cho học sinh lớp 1.

9 – 4 = + 0 9 – 4 = 5 + 0

– Phát hiện (sự mất kiến thức cơ bản của học sinh ở một phần, một giai đoạn nào đó) để kịp thời bổ sung và nắm được phần kiến thức cơ bản, không bị thua kém so với các bạn khác trong lớp.

Ví dụ 3: Bài tập thực hành dạng: “Điền số thích hợp vào ô trống”

Nếu học sinh nào đó khi làm bài tập dạng này thường hay sai tức là em đó chưa nắm được cấu tạo các số đã học. Như vậy giáo viên có thể bố trí thời gian thuận lợi (Có thể ngay trong giờ học hoặc dành thời gian ngoài giờ học) để hướng dẫn các em cách làm. Điều quan trọng là giúp các em hiểu được mức tối thiểu ở dạng bài tập này là phải “Nắm vững được cấu tạo số” và nắm chắc bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi các số đã học, để các em vượt qua dạng bài tập này một cách dễ dàng.

Chẳng hạn muốn điền đúng số vào ô trống trong phép tính sau:

8 + = 10 8 + 2 = 10

Buộc các em phải nắm được 10 gồm 8 và 2, từ đó học sinh biết xác định được số cần điền vào ô trống là số 2. Vậy 8 + 2 = 10 cũng chính là bảng cộng trong phạm vi 10 mà các em cần nắm vững.

Cách khác có thể lấy 10 – 8 = 2; 2 chính là số cần tìm ghi vào ô trống để có phép tính đúng.

– Bước đầu giúp các em có khả năng tự học, tự tìm tòi tư duy toán học. Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học môn Toán lớp 1 nói riêng và đổi mới cách đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục trong các nhà trường tiểu học nói chung và trong mỗi tiết dạy học toán nói riêng của cá nhân. Muốn có một giờ học tốt, thì giờ học đó giáo viên phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng, nội dung dạy học, đặc trưng môn học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh; các giờ học đổi mới phương pháp dạy học còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao trí thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các phương pháp tiên tiến, hiện đại; các phương tiện dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin trong quá trình dạy học …

Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một nhu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam vì nó giúp giáo viên có nhiều thời gian hơn để dẫn dắt học sinh nắm bắt vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để kích thích sự tư duy sáng tạo của học sinh. Mặt khác, nó cũng sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức khi được tiếp xúc với nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Từ đó, hình thành cho người học kĩ năng tự tiếp thu tri thức, độc lập trong tư duy và hứng thú, hăng say trong học tập. Do đó, công nghệ thông tin ngày nay chiếm giữ vị trí quan trọng trong dạy học. Bản thân nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin. Đối với việc soạn bài với những ứng dụng của công nghệ thông tin cũng mang lại những hiệu quả khác biệt. Bản thân phải thường xuyên cập nhật kiến thức về chuyên môn và tin học. Đặc biệt, khi bắt tay vào soạn bài có ứng dụng công nghệ thông tin, thực sự bị cuốn hút và càng làm nhiều thì càng nảy sinh nhiều ý tưởng, từ đó lòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp thêm. Hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới với những ứng dụng của công nghệ thông tin là không thể phủ nhận. Những ứng dụng của công nghệ thông tin đã giúp người thầy thay đổi cách “chế biến” những bài giảng đơn điệu thành những “món ăn” tinh thần ngon và bổ dưỡng những bài học hấp dẫn, lý thú đạt kết quả cao hơn. Học sinh luôn mong muốn được học những tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin. Muốn ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy hiệu quả thì ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính và các phương tiện hỗ trợ. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên tích hợp công nghệ thông tin vào từng môn học

Nếu chúng ta biết khai thác tốt và ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào việc thiết kế bài giảng thì việc tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ trở nên dễ dàng hơn. Điều này rất cần thiết và phù hợp với mục tiêu của nền giáo dục nước ta là “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.

+ Đối với dạng bài cung cấp kiến thức mới: Sử dụng hình ảnh cụ thể để hình thành giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới dễ dàng …

+ Đối với dạng bài luyện tập thực hành: Sử dụng hình thức thi đua theo nhóm hay theo dãy bàn, hình thức làm bảng con nhờ bảng con học sinh được thực hành kĩ năng viết, làm tính; giáo viên có thể đánh giá việc nắm vững kiến thức, kĩ năng viết, kĩ năng tính của học sinh. Sử dụng bảng con làm thay đổi trạng thái học tập, khích lệ sự cố gắng của mỗi học sinh và tạo ra không khí thi đua học tập sôi nổi trong lớp. Sử dụng vở trắng cho học sinh thực hành kĩ năng viết và làm tính đối với học sinh lớp 1 là rất cần thiết trong tiết học toán. Giáo viên cần hạn chế việc dùng phiếu bài tập trong giờ học toán cho học sinh thực hành, mà cần tăng số lần sử dụng vở trắng để học sinh thực hành càng nhiều càng tốt.

+ Đối với việc củng cố bài dạy: Sử dụng hình thức trò chơi hoặc đố vui để cá nhân, tập thể cùng thi đua lẫn nhau.

Ví dụ 1: Khi dạy Bài phép cộng trong phạm vi 8.

Để khắc sâu cấu tạo số 8 và ghi nhớ các phép cộng trong phạm vi 8, sử dụng các “Câu đố vui” như sau:

“Có 8 cây bút chia hai chị em, chị nhường em phần nhiều hơn”

Hỏi: Chị được mấy cây bút ?

Hỏi: Em được mấy cây bút ?

– Từ ví dụ trên, học sinh sẽ suy nghĩ và trả lời nhiều đáp án khác nhau như:

Chị được 2 cây bút, em được 6 cây bút.

Hoặc chị được 3 cây bút và em được 5 cây bút.

Hay chị được 4 cây bút, em cũng được 4 cây bút, …

– Kèm theo câu trả lời của học sinh giáo viên khen ngợi những học sinh có câu trả lời đúng và nhanh nhất.

Ví dụ 2: Khi dạy Toán – Tiết 65. Luyện tập chung.

– Tổ chức “Nhiều hình thức trò chơi” học sinh tham gia chơi trong khi học như trò chơi (Tiếp sức). Đồng thời chia nhóm nhỏ để học sinh tham gia trò chơi một cách linh hoạt: Cứ 4 em trong một dãy dọc của mỗi tổ là một nhóm. Sau đó phát cho mỗi nhóm 1 tấm phiếu bià có ghi 4 phép tính (tương ứng với 4 em chơi), úp tấm bìa dưới mặt bàn trước mặt các em ngồi bàn đầu dãy.

7 = 4 + .3 3 = 1 + ..2.. 5 = 3 +..2..

8 = ..5..+ 3 2 = 1 + ..1.. 9 = 7 +..2..

6 = ..5..+ 1 7 = ..5..+ 2 9 = ..2..+ 7

Cách chơi: Thời gian trong 2 phút, mỗi em lần lượt làm một phép tính trong phiếu bìa.

: Khi hô hiệu lệnh “Bắt đầu”: Lập tức các em đầu nhóm mở tấm phiếu bìa tính nhanh và ghi kết quả phép tính đầu tiên vào.

– Sau đó lần lượt chuyển cho các bạn kế tiếp thực hiện phép tính và ghi kết quả các phép tính còn lại. Cho đến lúc em ở cuối nhóm điền xong thì nhanh chóng mang tấm phiếu bìa lên gắn ở bảng lớp. Giáo viên cùng học sinh các nhóm theo dõi xem nhóm nào làm xong trước tiên.

– Sau đó học sinh dưới lớp nhận xét kết quả tính của mỗi nhóm và tính điểm thi đua cho các nhóm, nhóm nào làm nhanh và đúng nhiều phép tính nhóm đó thắng cuộc.

– Để kết thúc trò chơi, cả lớp thưởng cho nhóm thắng cuộc một tràng pháo tay thật giòn và kèm theo lời khen ngợi của giáo viên.

Để sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả và hợp lí tôi luôn bám sát mục tiêu từng tiết dạy để đảm bảo tính vừa sức, tạo không khí học tập nhẹ nhàng hứng thú cho học sinh mà không cảm thấy nhàm chán.

Tuân thủ những mục tiêu nguyên tắc chung của việc giải Toán lớp 1.

Bản thân luôn học hỏi đồng nghiệp, tự tìm tòi sáng tạo làm ra một số đồ dùng để phục vụ cho việc dạy – học của bản thân, vẽ cắt một số mô hình bằng giấy bìa các con vật. Qua những đồ dùng giáo viện tự tạo không chỉ dành cho dạy – học bài mới mà giáo viên còn thường xuyên sử dụng vào việc củng cố bài giảng nhằm gây hứng thú và khắc sâu kiến thức cơ bản.

Ví dụ: Khi dạy tiết 49: “Phép cộng trong phạm vi 7”

– Tự tạo ra một số mô hình con vật: gà con màu vàng, ô tô màu xanh, con chim. Để cung cấp các phép tính cộng trong phạm vi 7 với các phép tính:

6 + 1 = 7 5 + 2 = 7 4 + 3 = 7

1 + 6 = 7 2 + 5 = 7 3 + 4 = 7

– Song song với việc chuẩn bị các mô hình còn sử dụng thêm tranh vẽ các chấm tròn dùng để củng cố mối quan hệ giữa các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 5.

– Nhận xét 2 phép tính đều có kết quả bằng 7. Vậy 4 + 3 = 3 + 4 ở đây các số 4 và số 3 đã đổi chổ cho nhau vì thế đều có kết quả bằng 7.

– Giáo viên đưa ra kết luận: “Trong phép cộng khi ta đổi chổ các số thì kết quả không thay đổi”.

– Củng cố mối quan hệ trong phép cộng và phép trừ: 4 + 3 = 7 thì 7 – 4 = 3; 7 – 3 = 4.

Luôn chú trọng đến yếu tố tâm lí, nhằm động viên kịp thời và cũng chú trọng đến việc nhắc nhở nhẹ nhàng với một số trường hợp nhằm giáo dục đức tính chăm chỉ, cẩn thận, tự tin và lòng hứng thú yêu thích học Toán.

Đối với những học sinh tiếp thu bài chậm hay có tính nhút nhát, thường xuyên mời các em lên bảng trả bài và làm bài nhằm rèn luyện tính mạnh dạn cho các em, từ việc gọi các em lên bảng thường xuyên lại được cô giáo và các bạn động viên kịp thời, giải quyết được phần nào về việc bế tắc trong tiếp thu bài ở lớp của các em.

Đối với những học sinh khá giỏi thường xuyên được động viên nhưng cũng không tránh khỏi đôi lúc cần phải nhắc nhở nhẹ nhàng để tránh sự chủ quan trong học tập của các em.

– Dạy trẻ học Toán ở nhà là giúp các em củng cố, bổ sung kiến thức để hoàn thiện hơn những gì đã học tập trên lớp. Ở nhà cũng không cần dạy thêm những gì mà nhà trường không dạy, nhưng ở nhà cần đưa ra một cách tiếp cận mới đem đến những gì cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

– Phụ huynh thường không có kinh nghiệm dạy trẻ nên khi kèm con học thường mau chóng nổi nóng, dễ làm trẻ mất bình tĩnh và lòng tự tin trong khi học tập.

– Chính vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải có kế hoạch thăm hỏi một số gia đình học sinh thường xuyên để kiểm tra việc hướng dẫn của phụ huynh và việc học tập của các em đến đâu?

– Từ đó giáo viên có thể hướng dẫn cho phụ huynh một số biện pháp kèm con em học tập ở nhà có hiệu quả.

– Giáo viên chủ nhiệm giúp phụ huynh biết: Cần xem bài học của con mình hôm nay là gì? xác định mục đích chính của bài học đó. Từ đó thông qua việc vui chơi, trò chuyện với con trẻ bằng các ngôn ngữ và phương pháp toán học đưa toán học ngày càng gắn bó với các em, gần gũi với cuộc sống hằng ngày của trẻ để các em yêu thích học Toán hơn.

– Giúp các em khắc sâu một phần nào kiến thức và kĩ năng đã được học ở lớp.

Ví dụ 1: Khi dạy tiết 21: Bài số 10.

– Để giúp học sinh củng cố cách viết đúng chữ số 10, bố mẹ có thể đưa ra câu đố vui như sau: Để mua 10 cái bánh, mà lại viết mua 01 cái bánh thì sẽ nhận được mấy cái bánh? Từ câu đố trên đã giúp các em phần nào nắm chắc hơn về cách viết số 10; vị trí của số 1 và số 0 trong cách viết số 10.

– Để khắc sâu biểu tượng về quan sát và đếm: Đố con, tìm trên cơ thể người cái gì có đến 10? Học sinh sẽ đếm ngay hai bàn tay có 10 ngón.

Ví dụ 2: Khi dạy tiết 23: Luyện tập chung.

– Để củng cố về các hình vuông, hình tròn, hình tam giác các bậc phụ huynh có thể cùng ngồi ghép với các em để tạo ra một số hình khác chính là các đồ vật gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em, các em được khắc sâu việc nhận biết các hình một cách nhẹ nhàng.

– Dạy con theo cách “Học mà chơi – chơi mà học” sẽ thấm sâu vào trẻ một

cách tự nhiên theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu” giúp trẻ cảm thấy tự tin và thoải mái trong việc tiếp thu bài học.

– Mỗi tiết học trên lớp, giáo viên kiểm tra chấm bài, sửa lỗi cho học sinh bằng mực đỏ, ghi rõ số lỗi sai sót.

Chẳng hạn: Viết phép tính chưa thẳng cột, hoặc viết số còn nhỏ và xấu chưa đúng theo quy định viết chữ số 2 ô li vở, hay trình bày bài làm chưa khoa học, khoanh tròn vào kết quả chưa đúng, …

– Khi ở nhà cha mẹ có thể dành thời gian kiểm tra kết quả học tập trên lớp của con. Kiểm tra đối chiếu bài làm của con với phần sửa bài của giáo viên ghi mẫu trong vở, để cha mẹ có thể thấy rõ lỗi sai sót của con em mình – từ đó có thể giúp con sửa chữa và rèn luyện thêm khi tự học ở nhà.

– Trong thời gian học ở nhà cha mẹ có thể tự giao bài tập con làm thêm theo các dạng bài ôn tập trên lớp, để rèn luyện thêm dạng bài này các em còn hay sai khi làm bài. Sau đó kiểm tra đánh giá về cách viết chữ số, cách viết phép tính, kết quả tính và cách trình bày xem đã đúng so với những quy định của giáo viên hay chưa. Từ đó có ý kiến trao đổi với giáo viên để phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh tìm ra biện pháp kèm cặp giúp đỡ các em tiến bộ trong học tập.

– Sau khi thực hiện đổi mới phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt trong học Toán chẳng những kết quả học tập được nâng lên từng bước rõ rệt, mà không khí học tập của học sinh trên lớp trở nên sôi động. Kĩ năng tính toán thành thạo hơn, các dạng bài tập thực hành được các em trình bày một cách rõ ràng và cẩn thận, sạch đẹp.

– Mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên, giữa giáo viên và học sinh được gần gũi thân thiện hơn.

– Từ đó giúp giáo viên củng cố bổ sung kịp thời công tác chủ nhiệm lớp, đồng thời khơi dậy được ý thức trách nhiệm của một số phụ huynh trước đây vốn ít quan tâm chăm sóc đến việc học tập của con em. Nhất là khâu giám sát hướng dẫn kèm tự học ở nhà của các em. Đồng thời cuốn hút được đa số phụ huynh tham gia vào lớp học. Điều quan trọng là kết quả học tập không chỉ riêng môn Toán mà tất cả các môn học khác đều được nâng cao.

– Hiện nay dạy học rất chú trọng đến việc đổi mới phương pháp và hình thức Dạy – Học lấy học sinh làm trung tâm. Để thực hiện sứ mệnh của người giáo viên trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục phổ thông, điều thiết yếu và cốt lõi nhất là đòi hỏi bản thân giáo viên đề cao lương tâm trách nhiệm, sự nhiệt tình. Đồng thời giáo viên phải năng động sáng tạo, tự học hỏi thêm để tìm tòi những giải pháp thiết thực nhất cho việc dạy học của bản thân ngày càng đạt được hiệu quả.

– Trong đó đặc biệt học sinh lớp 1 cần có sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn thường xuyên của người lớn. Nhằm giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, hình thành niềm tin và phát triển nhân cách tốt. Như vậy sự kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường cũng là một yếu tố quan trọng góp phần thiết thực vào việc đổi mới và phát triển toàn diện nền giáo dục phổ thông.

– Phải biết tạo ra không khí học tập thật thoải mái, tự nhiên, tránh gây căng thẳng. Giáo viên luôn tôn trọng nhân cách của học sinh. Biết trân trọng những phát hiện của các em dù là nhỏ nhất để hình thành ở các em niềm tin ban đầu ở bản thân.

– Bước đầu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã có nhiều khởi sắc tốt đẹp, đó chính là bản thân đã có sự chuyển đổi về nhận thức và chuyển tải lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được đến với các em. Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian, học sinh dễ tiếp thu bài học, tiết học cũng để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí các em hơn. Giáo viên không còn độc diễn, thay vào đó học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu phong phú. Nhờ đó tiết học không còn khô cứng, mang tính áp đặt, giáo điều. Đó cũng là niềm mong mỏi và hi vọng của bản thân. Hi vọng tương lai không xa, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học sẽ trở nên phổ biến để góp phần nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước nhà.

– Giáo viên luôn tạo ra sự mới mẻ, biết đưa học sinh tới những bất ngờ thú vị. Bằng những ngôn ngữ, hình ảnh, kinh nghiệm và các phương tiện dạy học, giáo viên cần thu hút được sự chú ý của học sinh. Giúp các em có một động cơ học tập đúng đắn, có ước mơ và hoài bão.

– Biết khai thác triệt để vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, kích thích được sự tò mò, lòng ham hiểu biết, ham hoạt động. Biết tổ chức các hoạt động học tập

chohọc sinh một cách nhịp nhàng, sáng tạo và hiệu quả.

– Cần quan tâm tới từng đối tượng học sinh, từ đó phát huy khả năng và sở trường của các em, có sự đối xử công bằng và bình đẳng, khen chê hợp lí, mang tính giáo dục cao.

– Tạo mọi điều kiện cho học sinh đề xuất sáng kiến và cùng cô giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao.

Quá trình thực hiện đề tài khó có thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Bản thân rất mong Hội đồng khoa học quý thầy giáo, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp giúp đỡ, góp ý cho đề tài được tốt hơn và vận dụng vào việc dạy học đạt hiệu quả cao.

Bấm vào đây để tải về

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp Bốn Học Tốt Môn Toán

Hồ Chủ tịch – người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: “Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”.

Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này.

Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh, Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới.

Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh.

I. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP BỐN HỌC TỐT MÔN TOÁN II. ĐẶT VẤN ĐỀ: Hồ Chủ tịch - người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: "Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức". Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này. Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được. Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh,Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới. Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh. Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, Gv phải nắm chắc mục tiêu, nội dung đề khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là GV phải nghiên cứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối tượng học sinh nhằm giúp học sinh tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được thành thạo những nội dung trong từng bài. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của môn toán ở tiểu học, xuất phát từ thực trạng dạy và học trong chương trình toán 4, qua nghiên cứu khả năng ứng dụng cụ thể, thiết thực của vấn đề tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài " Một số biện pháp giúp học sinh lớp Bốn học tốt môn toán". Với mong muốn nâng cao hiệu quả trong công tác giảng day. III. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt người học toán cần có kĩ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao trong học tập. Mặt khác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học các môn học khác cũng như nhận thức thế giới xung quanh và thực tiễn một cách có hiệu quả. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó là tiền đề để phát triển tư duy logich đồng thời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp, dự đoán, chứng minh. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người. IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN: Đặc điểm tình hình chung của lớp: 1. Thuận lợi: - Đa số học sinh có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. - Cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang, đầy đủ điều kiện ánh sáng để học sinh học tập. - Hầu hết các em có lòng say mê học toán, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ trong toán học. 2. Khó khăn: - Mức độ lĩnh hội kiến thức của các em không đồng đều. - Một số em còn ham chơi, thiếu chuyên cần trong học tập. - Một số phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mình. 3. Thực trạng: Qua giảng dạy nhiều năm, tôi thấy thực trạng về chất lượng của học sinh lớp Bốn như sau: - Nhân chia các em ít thực hiện được, trong lớp có 30 em chỉ có 1/3 số học sinh làm được, theo kịp được chương trình, còn lại 2/3 là làm chưa được. - Còn nhiều em cộng trừ rất chậm, mau quên những kiến thức vừa lĩnh hội được, chưa có kĩ năng xác định yêu cầu bài toán thuộc dạng cơ bản, vận dụng kiến thức ở mức độ thấp ( máy móc, thuộc quy tắc nhưng có khi không áp dụng được). - Giải bài toán có từ hai phép tính trở lên một cách khó khăn, hầu hết chưa biết tìm lời giải chính xác, đơn vị chư thích hợp. GIỎI KHÁ TB YẾU SL TL SL TL SL TL SL TL 3 10% 10 33.3% 6 20% 11 36.7% 4 . Nguyên nhân: Qua điều tra tôi thấy học sinh yếu toán do các nguyên nhân sau: 4.1. Học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia từ lớp 2, 3. - Hầu hết học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia nên thực hiện phép nhân, phép chia vô cùng khó khăn; không hiểu được 28 : 4 là được bao nhiêu lần. - Nhân chia một chữ số đã khó với học sinh. Vậy mà đến lớp 4 các em phải nhân chia 2, 3 hoặc nhiều chữ số nên lại càng khó hơn. Do đó học sinh khó có thể hiểu được cách làm một cách nhanh chóng. 4.2. Một số em quá yếu, khả năng tính nhẩm chậm, nên làm các phép tính cộng, trừ chậm; nhân chia lại càng chậm hơn. Làm bài này chậm thì không thể hiểu được bài kia do vậy càng không hiểu bài dẫn đến không có kĩ năng làm bài. 4.3. Học sinh hầu hết ít thuộc quy tắc nên mau quên, còn có số đông là học suông chứ không hiểu rõ nên việc áp dụng rất khó khăn.. - Ví dụ như các quy tắc về tính giá trị của biểu thức. Học sinh không nắm rõ nên vẫn làm lộn xộn chứ không thực hiện đúng theo thứ tự trong quy tắc. 4.4 Khả năng phân tích, tổng hợp các yếu tố, các dữ kiện của đề toán của các em còn quá yếu nên học giải bài toán từ hai phép toán từ hai phép tính trở lên rất khó khăn, không biết phân tích từ kết luận đến giả thiết, không biết vận dụng cái có để đi tìm cái chưa có. Do vậy, nhiều bài tính giả giảng kĩ nhưng học sinh vẫn không làm được, khi giải xong lại ghi đơn vị của cái đã cho chứ không ghi đơn vị của cái phải tìm, lời giải cho mỗi phép tính lại không phù hợp. 4.5. Do bản thân mỗi học sinh lười học: - Trong lớp chỉ có vài học sinh ham học hỏi, ham hiểu biết, lo tìm tòi, tìm hiểu cách giải, còn lại hầu hết là học cho xong chuyện, làm cho xong rồi đi chơi không cần biết đúng hay sai, không chịu khó tìm tòi suy nghĩ, không phát triển được tư duy, không nắm được kiến thức cơ bản. 4.6. Sự cộng tác của phụ huynh còn rất hạn chế. - Một số phụ huynh đưa con em đến trường là khoáng cho GV, con em học được chừng nào hay chừng ấy, không có sự kiểm tra chỉ bảo của phụ huynh. - Còn lại số đông phụ huynh là chăm lo cho con cái nhưng không nắm được phương pháp giải nên không thể hướng dẫn cho con em học được. Với chương trình cải cách mới, cách học cách làm rất xa lạ với phụ huynh; rất nhiều phụ huynh có vốn kiến thức rất khá nhưng phương pháp giải không phù hợp với học sinh tiểu học nên vẫn không thể nào hướng dẫn cho con em được. 4.7. Cấu tạo chương trình lớp 4 quá nặng đối với học sinh, chương trình học liên tục là những tiết phải cung cấp kiến thức mới với rất nhiều dạng toán, số tiết luyện tập ít nên giáo viên không có điều kiện, thời gian để luyện cho học sinh làm bài, do đó khó có thể làm cho học sinh nắm kiến thức chắc chắn được. V . NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Để giúp cho học sinh học được môn toán, để hoàn thành nội dung chương trình lớp 4 theo đúng yêu cầu, tôi đã tìm ra những biện pháp cần thiết áp dụng vào việc học toán như sau: Kiểm tra bảng cửu chương: Để học sinh làm được phép nhân, phép chia với số có một chữ số tiến đến hiểu và làm được tính nhân, tính chia số có hai, ba hoặc nhiều chữ số thì bắt buộc học sinh phải thuộc lòng bảng cửu chương. Do đó việc kiểm tra bảng cửu chương là việc làm thường xuyên ở mỗi tiết toán, có như vậy thì học sinh mới lo học và có thể thuộc được. * Biện pháp: Trong mỗi tiết toán tôi đã dành khoảng 2 phút đầu để kiểm tra, những tuần đầu tôi kiểm tra đọc thuộc lòng, các tuần sau đó lại kiểm tra theo cách chỉ bất kì. ví dụ: Hỏi 8 x 7= ?. Yêu cầu học sinh phải trả lời ngay, nếu em nào trả lời chậm hoặc không trả lời được tức là chưa thật thuộc, mục đích ở đây là tránh cho các em thuộc một cách máy móc. Để khuyến khích và bắt buộc học sinh học thuộc, tôi luôn kèm theo hình thức khen thưởng và trách phạt. Nếu thuộc thì được cộng thêm một điểm, nếu không thuộc các em phải về nhà chép lại bảng nhân đó ít nhất là 10 lần cho nhớ, kèm với việc liên hệ với gia đình để nhắc nhở thêm. Đây là việc giáo viên phải làm thường xuyên cho đến khi nào biết chắc rằng cả lớp đã thật thuộc thì mới thôi. Luyện cho học sinh tính nhẩm: Tính nhẩm về cộng trừ hai chữ số trên dưới 10, học sinh đã học từ lớp một nhưng đến lớp 4 vẫn còn nhiều em tính quá chậm, tính chậm sẽ làm toán chậm do đó làm bài không kịp giờ. Muốn học sinh tính nhanh thì phải rèn kĩ năng tính nhẩm cho các em. Ví dụ : 5 + 7= 5 + 5 + 2 = 10 + 2 = 12 15 - 7 = 15 - 5 - 2 = 10 - 2 = 8 Trong mỗi tiết học đều cho học sinh yếu lên bảng, hướng dẫn cho em trên bảng tính và cả lớp cùng nghe. Đây cũng là việc giáo viên phải làm thường xuyên trong mỗi tiết học để cho học sinh khắc sâu, nhớ được cách tính, từ đó sẽ giúp các em làm tính nhanh hơn. 3. Cho học sinh nắm được qui tắc, tên số trong mỗi phép tính: - Muốn làm tốt dạng toán tìm x thì học sinh cần phải nắm được các thành phần trong mỗi phép tính thì mới áp dụng qui tắc để làm được bài, nếu không nắm được các thành phần chưa biết trong mỗi phép tính thì dù có thuộc qui tắc cũng sẽ không làm được bài. - Do đó, khi gặp loại toán này giáo viên phải thường xuyên ôn luyện . Mỗi lần ôn, luyện sẽ giúp học sinh vừa nhớ bài, vừa khắc sâu kiến thức hơn. - Khi đã thuộc được tên số và qui tắc thì chắc chắn học sinh sẽ làm bài một cách dễ dàng, không thể lẫn lộn. Ví dụ: Tìm số trừ : 325 - x = 200 Khi gặp dạng này học sinh sẽ áp dụng một cách dễ dàng: Muốn tìm số trừ ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu: x = 325 - 200 x = 125 4. Luyện cách làm toán có nhiều phép tính: - Đến lớp 4, giải toán đã tiến lên bước cao hơn, ... động vui khỏe, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu, củng cố, nâng cao kiến thức một cách sinh động và có chất lượng. - Tìm hiểu đề toán đơn giản có ý nghĩa gần gũi với thực tế, dễ hiểu, có hệ thống kiểu đề cùng dạng cho học sinh chơi để giúp học sinh có thói quen với cách phân tích tổng hợp, tìm ra lời giải. Ví dụ: Trong lớp ta em Uyên được 15 điểm mười, em Lan có số điểm mười nhiều gấp ba lần em Uyên. Hỏi cả hai em có bao nhiêu điểm mười? - Cho thi đua giữa các nhóm, nhóm nào có nhiều em giải được và giải nhanh nhất thì sẽ được tuyên dương, khen thưởng. - Nếu cách chơi này thường xuyên được tổ chức trong mỗi tiết học toán sẽ kích thích học sinh động não và tính toán nhanh. - Tìm nhiều trò chơi đố toán, đố vào đầu tiết học nhằm kích thích học sinh ham thích và cởi mở, thoải mái trong lúc học toán, cũng có thể đố toán trong lúc sinh hoạt. Làm như vậy vừa là trò chơi mà cũng vừa là cung cấp kiến thức. Ví dụ: + Cô có tám quả cam chia đều cho 3 tổ, mổi tổ được bao nhiêu quả? + Con đường từ nhà em đến trường dài 900m, em đi hết quãng đường đó trong 1/3 giờ. Hỏi mỗi phút đi được bao nhiêu mét? - Với nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng hầu hết là gần gũi với các em làm kích thích tính ham hiểu biết cho các em, từ đó em vừa ham học, vừa có thói quen suy nghĩ tính toán, góp phần hình thành kỹ năng tính toán. 9 .Đề ra hình thức thi đua hằng tuần: - Bên cạnh việc khuyến khích học tập, gây hứng thú học tập, còn phải đề ra những biện pháp thi đua làm cho tất cả học sinh trong cả lớp tích cực học tập, hạn chế tình trạng lười học. - Để theo dõi thường xuyên và đầy đủ tất cả học sinh trong lớp, bản thân giáo viên không thể nào quán xuyến hết mà phải nhờ đến đội ngũ ban chỉ huy lớp, ban chỉ huy Đội nhưng sâu sát, đắc lực nhất là các tổ trưởng. - Lập cho mỗi học sinh một phiếu theo dõi hàng ngày về các hoạt động trên lớp và giao cho các tổ trưởng giữ để theo dõi kiểm tra và ghi vào phiếu hằng ngày. Mỗi phiếu được làm theo cỡ giấy vở học sinh gồm các nội dung sau: PHIẾU THEO DÕI HẰNG NGÀY Họ và tên Lớp.. các mặt TUẦN Không truy bài Mất trật tự Không thuộc bài Không làm bài ở nhà Nhận xét cảu giáo viên Ý kiến của P.H 1 2 . .. - Hằng ngày ở lớp trong 15 phút đầu giờ, tổ trưởng kiểm tra nội dung truy bài, kiểm tra việc tổ viên có thuộc bài theo lời dặn của giáo viên ở buổi học trước hay không, kiểm tra kết quả làm bài ở nhà và trong cả buổi tổ trưởng cũng theo dõi về trật tự để ghi vào phiếu của mỗi em. Hằng ngày được tính bằng số lần và qui định ghi bằng dấu gạch như một lần ghi , 2 lần ghi Cuối tuần tổ trưởng tổng kết số lần và ghi ở dòng dưới. giáo viên tập hợp phiếu theo dõi và nêu nhận xét trước lớp rồi gởi cho học sinh mang về cho phụ huynh xem, có ý kiến rồi trả lại cho tổ trưởng vào đầu tuần. Qua phiếu này phụ huynh sẽ nắm được việc học của con mình ở trường, việc học bài, làm bài ở nhà của con mình, từ đó phụ huynh có biện pháp theo dõi, nhắc nhỡ, giúp đỡ con mình học tốt hơn. - Việc làm này được thực hiện thường xuyên, qua phiếu theo dõi, giáo viên tóm tắt được ở lớp của mỗi học sinh và liên hệ được những điểm yếu cần khắc phục của từng em để gởi về gia đình. Nhờ vậy mà phụ huynh sẽ có cách giúp đỡ và cùng hỗ trợ với giáo viên để nâng cao chất lượng học tập của con em trong đó có môn cơ bản là môn toán. - Kèm theo với việc liên hệ phụ huynh ở lớp cuối mỗi tuần tôi cũng tổng kết tuyên dương những em đạt tốt, động viên, nhắc nhở, có thể trách phạt đối với các em chưa tốt hoặc thường xuyên vi phạm nhiều lần. - Đề ra thi đua từng đợt trong lớp. Dựa trên kết quả tổng kết hằng tuần để có khen thưởng đối với những em xuất sắc và nhất là chú ý tuyên dương khen thưởng mà có cố gắng để tiến bộ. - Tuy phần thưởng chỉ là những phần thưởng nhỏ như một cuốn vở, một cây bút bi nhưng đây là vinh dự nên sẽ kích thích tinh thần thi đua của các em, làm cho mỗi em sẽ có sự nỗ lực phấn đấu để được thường xuyên nhận vinh dự trên. VI/KẾT QUẢ: Qua một thời gian áp dụng đề tài: " Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp bốn" đem lại những kết quả sau: 1. Tất cả học sinh hiện nay đều làm tính cộng trừ tốt, nhân không phải tính bằng ngón tay, ngón chân vì vậy mức độ làm toán nhanh hơn. 2. Tất cả đều thuộc lầu bảng cửu chươnglàm tính nhân chia dễ dàng. Kể cả nhân chia với số có nhiều chữ số cũng thực hiện tốt. 3. Làm toán tính x một cách khoa học, không còn nhầm lẫn giữa các dạng, không còn học sinh không biết làm. 4. Tính giá trị biểu thức một cách thành thạo, thực hiện đúng qui tắc, không thực hiện lộn xộn như trước đây. 5. Biết cách để phân tích đề toán, giải được bài toán có nhiều phép tính một cách logic, khoa học. Kết quả cụ thể qua các lần kiểm tra như sau: Thời gian kiểm tra Tổng số học sinh Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Giữa kì I 30 10 33.3 13 43.3 5 16.7 2 6.6 Cuối kì I 30 11 36.7 12 40.0 7 23.3 VII. KẾT LUÂN: Trong dạy học nói chung, dạy toán nói riêng tôi thiết nghĩ mỗi một giáo viên ai cũng mong muốn học sinh mình đều đạt những yêu cầu cơ bản về kiến thức cũng như kĩ năng. Song đối với những đối tưọng học sinh yếu kém về môn toán thì điều này quả thật không dễ dàng chút nào. Qua trao đổi, học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp cùng với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm cho mình trong việc giúp đỡ học sinh gặp khó khăn trong học toán đạt kết quả như sau: - Người giáo viên phải nhiệt tình, tận tuỵ với nghề nghiệp, có lòng yêu mến trẻ. - Phải thường xuyên học hỏi để có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong bài dạy, cách truyền thụ kiến thức nhằm tạo cho học sinh hứng thú học tập. - Phải nắm được trình độ học sinh, để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức cho phù hợp tạo ra không khí lớp học nhẹ nhàng, vui vẻ, sôi nổi. - Giáo viên phải kiên trì, không vội vàng, nôn nóng, luôn luôn tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh để khuyến khích, động viên các em kịp thời. Đồng thời cũng phải nghiêm khắc đối với những học sinh có biểu hiện lười và tiêu cực trong học tập. - Khi dạy mỗi bài, mỗi dạng cần giúp các em nắm vững bản chất, xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện , không bỏ sót dữ kiện nào để có kĩ năng giải thạo từng dạng bài. - Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều hình thức như: trò chơi, đố vui.... phù hợp với đối tượng học sinh của mình: " Lấy học sinh để hướng vào hoạt động học, thầy là người hướng dẫn, tổ chức, trò nhận thức chủ động trong việc giải toán ''. - Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: '' Làm phép tính đó để làm gì ?'' , từ đó có hướng giải đúng, chính xác. Sau mỗi bài giải, học sinh phải biết xem xét lại kết quả mình làm để giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề gì đó. VIII. ĐỀ NGHỊ: - Đối với phòng Giáo dục:Thường xuyên mở chuyên đề về dạy toán để giáo viên tham gia học tập, cùng học hỏi ở đồng nghiệp để phục vụ cho công tác giảng dạy đạt kết quả hơn nữa. - Đối với nhà trường: Tổ chức ngoại khóa với hình thức thi đố vui để học nhằm ôn lại những kiến thức học sinh đã được học nhằm giúp các em khắc sâu hơn khi vận dụng. - Đối với phụ huynh: Cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để giúp các em học tốt ở nhà. TÀI LIỆU THAM KHẢO: TÊN TÁC GIẢ TÊN TÀI LIỆU NHÀ XUẤT BẢN NĂM XB Đỗ Đình Hoan Sách giáo khoa toán 4 NXB Giáo Dục 1996 Đỗ Đình Hoan Sách giáo viên toán 4 NXB Giáo Dục 2005 Trần Thị Minh Phương Bồi dưỡng thường xuyên Bộ GD&ĐT 2005 Vũ Dương Thuỵ Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học NXBGiáo Dục 2000 MỤC LỤC TT TIÊU ĐỀ TỪNG PHẦN TRANG 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 Tên đề tài Đặt vấn đề Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu Kết luận Đề nghị Tài liệu tham khảo Đánh giá xếp loại SKKN 1 1 2 2 3-10 10-11 11-12 12 13 14 15-16 Mẫu SK1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2009 - 2001 I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường Tiểu học: Đinh Bộ Lĩnh 1. Tên đề tài: Một số biên pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4. 2. Họ và tên tác giả: 3. Chức vụ: Gáo viên - Tổ: bốn 4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài: a)Ưuđiểm:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... b)Hạnchế:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... 5. Đánh giá, xếp loại: Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường ................................ .......................................................thống nhất xếp loại : ..................... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... . II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT .......................................... Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT ....................................................thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ............................................................ ................................................................

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4. trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!