Đề Xuất 2/2023 # Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay # Top 6 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1/12/2021 9:40:45 PM

Điều 65, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 bổ sung thêm một nhiệm vụ mới của Quân đội là làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ nắm chắc pháp luật Nhà nước, mà còn phải có hiểu biết về luật pháp quốc tế; trong đó, có pháp luật về quyền con người. Vì vậy, tìm các giải pháp nhằm thúc đẩy giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay là rất cần thiết.

 1. Giáo dục quyền con người – quan niệm và quá trình nhận thức

Theo nghĩa chung nhất, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người. “Giáo dục và đào tạo nhân quyền bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục, đào tạo, thông tin, nâng cao nhận thức và học tập nhằm thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản và do đó góp phần ngăn chặn các vi phạm nhân quyền bằng cách cung cấp cho mọi người kiến thức, kỹ năng, sự hiểu biết và phát triển thái độ, hành vi của họ để trao quyền cho họ đóng góp vào việc xây dựng và thúc đẩy văn hóa phổ quát về quyền con người”1. Nghị quyết số 59/113A, ngày 10/12/1994 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về tuyên bố kỷ nguyên giáo dục quyền con người giai đoạn 1995 – 2004, khẳng định: “Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý trong việc giáo dục nhân quyền; đồng thời, nên đưa vào các chính sách giáo dục ở cấp độ quốc gia”. Sau đó, 3 chương trình giáo dục quyền con người đã được tiếp tục bổ sung từ năm 2005 đến 2019.

Ở Việt Nam, trước năm 1986, các nghiên cứu về nhân quyền và giáo dục đào tạo về nhân quyền hầu như không được chấp nhận. Năm 1986, Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới với quan điểm lấy con người là trung tâm của hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng đề cập đến quyền con người: “Nhà nước định ra các đạo luật quy định quyền công dân, quyền con người”. Sau đó, Hiến pháp năm 1992, khái niệm về quyền con người được ghi nhận ở Điều 50. Từ năm 1992 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện về quyền con người, trong đó có Quyết định số 1039/QĐ-TTg, ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc thông qua Đề án đưa nội dung giáo dục quyền con người vào chương trình giáo dục chính thống của hệ thống giáo dục quốc dân; đảm bảo đến năm 2025, 100% các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân giáo dục nội dung này. Hiện nay, giáo dục và đào tạo về quyền con người đã được thực hiện ở cả chương trình giáo dục chính thức và không chính thức. Giáo dục chính thức, được tiến hành trong các cơ sở giáo dục quốc dân, từ cấp tiểu học đến đại học; chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo quản lý trung cấp và cao cấp trong hệ thống chính trị. Đồng thời, được thực hiện ở cấp sau đại học tại Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Khoa học xã hội và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Giáo dục không chính thức, thông qua các khóa tập huấn, hội nghị, giáo dục ngoại khóa.

2. Thực trạng giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay

Ngày 25/9/2018, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành Quyết định số 1650/QĐ-CT và Quyết định số 1651/QĐ-CT về việc Ban hành chương trình giáo dục các môn khoa học xã hội và nhân văn đào tạo sĩ quan cấp phân đội, trình độ đại học trong Quân đội. Quyết định số 1650 có một chuyên đề Công ước quốc tế về chống tra tấn, Quyết định số 1651 có chuyên đề Luật Quốc tế.

Ngày 11/12/2018, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ban hành Quyết định số 2159/QĐ-CT về Chương trình đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trình độ trung cấp; trong đó, có 2 chuyên đề về giáo dục quyền con người: Quyền con người và Công ước quốc tế về chống tra tấn. Năm 2018 và 2019, tất cả đơn vị trong Quân đội tổ chức các chuyên đề giáo dục pháp luật ngoại khóa cho cán bộ, chiến sĩ: Quyền con người trong tố tụng hình sự; Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

Mặc dù, một số đơn vị đã đưa nội dung giáo dục quyền con người vào giáo dục pháp luật, nhưng công tác giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay còn một số hạn chế. Đó là, còn thiếu tính chỉnh thể, tính liên thông, tính cập nhật và thống nhất theo cách tiếp cận “giáo dục dựa trên quyền” – cách tiếp cận phổ biến của cộng đồng quốc tế hiện nay. Dung lượng kiến thức về giáo dục quyền con người trong chương trình giảng dạy của đa số các trường sĩ quan còn ít, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ mới của Quân đội. Đặc biệt, chưa đưa ra các quan điểm, cách tiếp cận của Đảng, Nhà nước về giáo dục quyền con người, giúp người học nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Đồng thời, chưa có một chương trình chi tiết về giáo dục quyền con người thống nhất trong các trường sĩ quan; việc đưa nội dung giáo dục quyền con người vào chương trình giảng dạy còn tùy thuộc vào nhận thức về mức độ cần thiết và năng lực của mỗi đơn vị. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, người học và chiến sĩ chưa được trang bị kiến thức cơ bản về giáo dục quyền con người; tài liệu giảng dạy, học tập ở các cơ sở đào tạo còn thiếu, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục quyền con người trong Quân đội.

3. Thúc đẩy giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay

Để góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quốc tế của Quân đội trong thời gian tới và khắc phục hạn chế, thiếu sót nêu trên, cần thực hiện đồng bộ, kịp thời các nhóm giải pháp sau đây:

Một là, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức được vai trò của giáo dục quyền con người trong bối cảnh Quân đội hội nhập quốc tế hiện nay. Giáo dục quyền con người đã trở thành một vấn đề quốc tế quan trọng sau Hội nghị quốc tế về quyền con người tổ chức tại Viên năm 1993. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng được ghi ở Lời thề Thứ Năm trong 10 Lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam: Nêu cao tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa,… làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước.

Giáo dục tốt nội dung này, còn giúp cán bộ, chiến sĩ có nhận thức và hành động đúng trong đối xử với tù hàng binh. Bởi vì, bản chất của chiến tranh là việc sử dụng bạo lực của các bên nhằm làm suy yếu và phá hủy sức mạnh quân sự của kẻ thù. Bất luận trong trường hợp nào, chiến tranh không bao giờ là mối quan hệ giữa con người với nhau mà là quan hệ giữa các quốc gia, trong đó các cá nhân vô tình trở thành kẻ thù của nhau không phải với tư cách con người hay công dân nói chung mà là với tư cách của những người lính. Bởi vì, mục đích trước mắt của chiến tranh là tiêu diệt kẻ thù, cho nên việc giết người lính của đối phương khi họ đang cầm súng được coi là hợp pháp. Nhưng khi họ đã hạ vũ khí và đầu hàng, thì không còn là kẻ địch mà là một người dân thường. Bởi vậy, việc giết chết họ trong trường hợp này là bất hợp pháp2.

Hai là, tổ chức tốt nguồn nhân lực, vật lực cho giáo dục quyền con người trong Quân đội. Giáo viên và báo cáo viên pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục quyền con người hiện nay. Vì vậy, tăng cường công tác tổ chức cán bộ và bảo đảm vật chất cho giáo dục quyền con người là rất quan trọng. Trong những năm tới cần: (1). Tiếp tục xây dựng đội ngũ giáo viên pháp luật và báo cáo viên pháp luật đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng; (2). Duy trì nền nếp hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; (3). Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, tổ chức đoàn thể trong giáo dục quyền con người, nhất là Công đoàn, Hội Phụ nữ các cấp trong Quân đội.

Bên cạnh việc tăng cường nguồn nhân lực kể trên thì việc đầu tư giáo trình, tài liệu tham khảo chính thống cho các đơn vị là cần thiết. Mặc dù, trong thời đại bùng nổ thông tin, trên các trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy vô số các thông tin về nhân quyền. Tuy nhiên, cần thống nhất nguồn tài liệu chính thống nhằm định hướng nội dung bảo đảm tính nhất quán theo quan điểm, đường lối của Đảng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận diện và phòng, chống các thông tin xấu độc về nhân quyền. Do đó, việc bảo đảm vật chất, tài liệu học tập chính thống cho công tác này ở các đơn vị trong toàn quân cần được quan tâm thực hiện.

Ba là, đổi mới nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục quyền con người trong Quân đội theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Thực tiễn chỉ ra rằng, nội dung, chương trình chưa thống nhất, đầy đủ thì các chủ thể giáo dục rất khó có được hình thức, phương pháp giáo dục thống nhất và hiệu quả. Do vậy, cần chuẩn hóa và công nghệ hóa nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục pháp luật nhằm đảm bảo sự thống nhất về chất lượng giáo dục quyền con người trong toàn quân. Chú trọng đổi mới hình thức trong giáo dục quyền con người cho cán bộ, chiến sĩ, như: sân khấu hóa, ứng dụng công nghệ thông tin, v.v. Tăng cường hơn nữa nội dung quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế vào chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ hằng năm.

Bốn là, tập trung giáo dục quyền con người trong các nhà trường Quân đội. Giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay gồm 2 mảng chính là giáo dục chính thức trong các nhà trường Quân đội và giáo dục không chính thức thông qua mô hình “Ngày Pháp luật” hằng tháng ở các đơn vị. Ngày Pháp luật đã và đang được thực hiệt tốt và ngày càng chứng minh hiệu quả của mô hình này thông qua chỉ số vi phạm pháp luật trong toàn quân đang giảm dần, nhận thức pháp luật của cán bộ, chiến sĩ ngày càng được củng cố và nâng cao. Trong những năm trước mắt cần tập trung vào giáo dục quyền con người trong các nhà trường Quân đội. Bởi, đây là nơi đào tạo ra sĩ quan chỉ huy, giáo viên, báo cáo viên pháp luật cho toàn quân. Để nâng cao chất lượng giáo dục, các nhà trường Quân đội, nhất là các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy và sĩ quan chính trị cần tập trung đào tạo cán bộ, giảng viên nòng cốt; đầu tư về nội dung, chương trình, cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy để thúc đẩy hoạt động giáo dục quyền con người trong toàn quân.

Giáo dục quyền con người là nhiệm vụ cần thiết. Việc thực hiện các giải pháp trên góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về thực hiện quyền con người trong thực thi nhiệm vụ được giao.

Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN VI, Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự __________________

1 – Điều 2, Tuyên ngôn Liên hợp quốc về giáo dục quyền con người năm 2011.

2 – Jean Jacques Rousseau – Bàn về khế ước xã hội, Nxb Chính trị – Hành chính, H. 2013, tr. 61.

Các Cơ Chế Của Liên Hợp Quốc Về Bảo Vệ Và Thúc Đẩy Quyền Con Người

Ngô Thị Bích Quyên – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Topcareer

Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con nguởi trong tổ chức Liên hợp quốc. Dựa trên địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thì các cơ quan về quyền con người của Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: Các cơ quan được thành lập (hoặc dựa trên) Hiến chương (charter – based mechanism) và cơ chế qua charter bodies, và các cơ quan được thảnh lập theo hoặc dựa trên một số điều ước quan trọng về quyền con người (treaty bodies). Một số tài liệu gọi hệ thống các cơ quan và thủ tục này là cơ chế dựa trên Hiến chương (charter based mechanism) và cơ chế dựa trên điều ước (treaty based mechanism).

1.  Cơ chế dựa trên Hiến chương (Charter – based mechanism)

Bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc nên cả 6 cơ quan chính (Đại hội đồng – General essembly; Hội đồng bảo an – Security council, Hội đồng kinh tế và xã hội – Economic and social council Ecosoc; Hội đồng quản thác – Trusteeship council và Tòa án quốc tế – Intemetional court of justice) đều có trách nhiệm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, có một số cơ quan giúp việc về quyền con người; xây dựng và thực thi quy chế để huy động sự tham gia, hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (quốc tế, khu vực và quốc gia) vào hoạt động thúc đầy và bảo vệ quyền con người. Cụ thể như sau:

1.1.   Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc

Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc (UN Human Rights Council – HRC) là cơ quan mới được thành lập theo Nghị quyết số 60/251 ngày 03/4/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc để thay thế cho Ủy ban quyền con người (CHR). Do Ủy ban quyền con người trước đây và Hội đồng quyền con người (HRC) hiện nay, đóng vai trò “đầu tàu” trong bộ máy các cơ quan về quyền con người Liên hợp quốc, nên sự kiện thành lập HRC được nhiều tổ chức và chuyên gia đánh giá là hứa hẹn mở ra “một trang mới” trong hoạt động của Liên hợp quốc trên lĩnh vực này.

Phương thức hoạt động của HRC là đưa ra báo cáo hoạt động hàng năm với Đại hội đồng hay còn gọi là cơ chế “Đánh giá định kỳ chung (phổ quát) – Universal Periodic Review – UPR). Thay thế cho phương thức hoạt động của ủy ban nhân quyền trước đây là: Hàng năm, chọn ra các vụ việc nghiêm trọng nhất về quyền con người xảy ra ở các quốc gia trên thế giới để đưa ra xem xét, đánh giá, thì Hội đồng quyền con ngưòi tiến hành một thủ tục mới là đánh giá định kỳ chung (UPR). UPR sẽ đánh giá định kỳ việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc dựa trên các báo cáo từ các nguồn khác nhau.

Để thực hiện UPR, một Nhóm công tác (working group) về UPR do HRC thành lập sẽ tiến hành ba kỳ họp mỗi năm, mỗi kỳ họp kéo dài 2 tuần để đánh giá 16 quốc gia. Như vậy, mỗi năm UPR sẽ đánh giá đuợc 48 quốc gia và phải mất bốn năm để hoàn tất thủ tục này với toàn bộ 192 quốc gia thành viên của Liên hơp quốc (dự tính đến hết năm 2011, với 12 kỳ họp mới có thể kết thúc vòng đánh giá đầu tiên theo UPR).

Tiến trình UPR về cơ bản bao gồm các bước như sau:

-          Xem xét, đánh giá: Được thực hiện ở Geneva dưới dạng đối thoại trong ba giờ giữa quốc gia được xem xét với các thành viên Nhóm công tác về UPR, các quốc gia thành viên và quan sát viên của HRC.

-          Thực hiện các khuyến nghị: Quốc gia được xem xét sẽ áp dụng các khuyến nghị đã nêu trong báo cáo và thông báo về kết quả của việc áp dụng các khuyến nghị đó trong lần báo cáo định kỳ tiếp theo của nước mình.

1.2.  Ủy ban cố vấn (Advisory Committee)

Tương tự như mô hình tiểu ban thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của CHR trước đây, HRC thành lập một ủy ban cố vấn để hỗ trợ Hội đồng trong các hoạt động chuyên môn. Ủy ban này bao gồm 18 chuyên gia được Hội đồng bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín từ danh sách các ứng cử viên mà các quốc gia thành viên đề cử. Mặc dù vậy, các chuyên gia thành viên của ủy ban hoạt động với tư cách cá nhân. Nhiệm kỳ của mỗi chuyên gia là 3 năm, chỉ được bầu lại một lần.

Cơ cấu của ủy ban cố vấn được cân nhấc để đảm bảo tính cân bằng về giới và về khu vực địa lý. Cụ thể, để đảm bảo sự cân bằng về khu vực địa lý, thành phần của ủy ban được phân bổ như sau: Các quốc gia châu Phi: 5 ghế; các quốc gia Châu Á: 5 ghế; các quốc gia Đông Âu: 2 ghế; các quốc gia Châu Mỹ La tinh và Caribê: 3 ghế; các quốc gia Tây Âu và các quốc gia ở khu vực khác: 3 ghế.

Về hoạt động, ủy ban cố vấn họp tối đa 2 kỳ một năm, mỗi kỳ tối đa 10 ngày, ngoài ra có thể họp các kỳ bổ sung với sự chấp thuận của HRC. Về trách nhiệm, ủy ban cố vấn chịu sự điều phối của HRC. Hội đồng có thể yêu cầu toàn bộ, một nhóm thành viên hoặc một cá nhân thành viên của ủy ban cố vấn thực hiện những nhiệm vụ nhất định.

2. Cơ chế dựa trên công ước (Treaty – based mechanism)

Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về quyền con người (treaty-based bodies), được thành lập theo quy định của chính các công ước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được thành lập theo một Nghị quyết của ECOSOC).

Hiện tại, có 9 công ước được coi là điều ước quốc tế căn bản về quyền con người (core international human riẹhts treaties) của Liên hợp quốc. Một trong số đó hiện chưa có hiệu lực là Công ước về cưỡng bức đưa đi mất tích. Các công ước còn lại được giám sát bởi các ủy ban giám sát và một cơ quan tương tự là nhóm công tác. Cụ thể, các Ủy ban giám sát công ước đang hoạt động bao gồm: ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc (thành lập theo Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965); ủy ban quyền con người (thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966); ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ (thành lập theo Công ước quốc tế về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979); ủy ban chống tra tấn (thành lập theo Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác năm 1987); ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC); ủy ban về quyền trẻ em (thành lập theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989); Ủy ban bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ (thành lập theo Công ước về bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ năm 1990); ủy ban về quyền của người khuyết tật (thành lập theo Công uớc về quyền của người khuyết tật năm 2007).

3. Những điểm khác biệt cơ bản giữa hai cơ chế

Việc áp dụng cơ chế dựa trên Hiến chương là nghĩa vụ phổ quát, có tính chất bắt buộc giữa các quốc gia trên thế giới. Còn cơ chế dựa trên công ước thì phụ thuộc vào việc quốc gia đó tham gia vào điều ước như thế nào.

1.Hiến chương Liên Hiệp Quốc của Liên Hiệp Quốc (Conference on International Organization) ký kết tại San Fransisco, California, Hoa Kỳ, ngày 26/6/1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Anh, Hoa Kỳ và nhiều nước khác.

2. Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật – ĐHQGHN, 2009.

Tăng Cường Giáo Dục Và Rèn Luyện Kỷ Luật Cho Quân Nhân Trong Quân Đội

Ngày đăng: 21/12/2018 03:12

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành luôn được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm chăm lo, giáo dục, rèn luyện về mọi mặt, đặc biệt là rèn luyện kỷ luật tự giác, nghiêm minh trong quân đội. Kỷ luật tự giác nghiêm minh đã góp phần to lớn trong việc củng cố và phát triển sức mạnh chiến đấu của quân đội, đảm bảo cho quân đội luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Hiện nay, trước sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, toàn cầu hóa, giao lưu hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở, các thế lực thù địch đang ráo riết tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng các thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, thâm độc và quân đội là một mục tiêu chống phá chủ yếu. Với chiến lược “diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “bạo loạn lật đổ”, chúng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định từ bên trong; âm mưu tách mỗi cá nhân quân nhân ra khỏi tập thể quân nhân, làm mất sức chiến đấu của quân nhân bằng cách cổ vũ lối sống buông thả, tự do vô kỷ luật, phi chính trị hóa… từ đó gây mất ổn định nội bộ, mất sức chiến đấu của quân đội. Hiện tượng thiếu tự giác trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của quân nhân xảy ra trong thời gian qua đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức mạnh chiến đấu của quân đội, làm giảm uy tín và phai nhạt hình ảnh cao đẹp của “bộ đội Cụ Hồ”.

Trước yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng trong thời kỳ mới đáp ứng nhiệm vụ “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”(4), việc chấp hành kỷ luật quân đội của mỗi quân nhân càng phải nghiêm túc và triệt để. Do vậy, công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân trong quân đội hiện nay cần phải thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao. Để nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của các tổ chức trong giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Do đó, chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Tổ chức đảng các cấp phải xác định: trong lãnh đạo toàn diện đơn vị thì lãnh đạo công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, chấp hành nghiêm kỷ luật là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ khác của đơn vị. Trên cơ sở nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch của cấp trên, bám sát thực tiễn đơn vị để đề ra nghị quyết lãnh đạo và xác định các nội dung, biện pháp lãnh đạo công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân trong đơn vị đạt hiệu quả. Căn cứ vào tình hình cụ thể của đơn vị để có nghị quyết chuyên đề về công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân; kịp thời ban hành các văn bản, chỉ thị về chấp hành kỷ luật, xây dựng chính quy trong đơn vị để mọi quân nhân thực hiện thống nhất, đột phá và những khâu yếu, mặt yếu trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật của quân nhân. Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên, nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, thực sự là hạt nhân đoàn kết trong đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và kiện toàn đầy đủ các tổ chức trong đơn vị, lãnh đạo các tổ chức cùng toàn đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật.

Phát huy vai trò của các tổ chức chính là phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng; năng lực tổ chức, điều hành của người chỉ huy; trách nhiệm của các tổ chức như Hội đồng quân nhân, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ… trong đơn vị; sự phối hợp với chính quyền địa phương và gia đình mỗi quân nhân trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân. Có như vậy mới tạo được môi trường đồng bộ, thống nhất và thuận lợi để mọi quân nhân rèn luyện và chấp hành kỷ luật. Mọi tổ chức đều phải nhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân, trong đó tổ chức đảng là nòng cốt, là hạt nhân đoàn kết và lãnh đạo phát huy sức mạnh của các tổ chức khác trong đơn vị.

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa kỷ luật tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân. Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh lịch sử, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, vì vậy việc tạo ra môi trường văn hóa kỷ luật tích cực cho quân nhân là điều kiện cần thiết, quan trọng để quân nhân tự giác học tập, rèn luyện và chấp hành nghiêm kỷ luật. Môi trường văn hóa kỷ luật tích cực, lành mạnh được biểu hiện bằng những việc làm và hành động cụ thể trong đơn vị. Đó là sự đoàn kết thống nhất từ trên xuống dưới của lãnh đạo chỉ huy với các tổ chức và toàn thể quân nhân trong nhận thức và hành động về công tác giáo dục, rèn luyện kỷ luật; tinh thần làm việc nghiêm túc, lãnh đạo kiên quyết của tổ chức đảng, trách nhiệm nhiệt tình trong tổ chức và duy trì kỷ luật của người chỉ huy; gương mẫu trong chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tinh thần tự giác rèn luyện và chấp hành kỷ luật của mọi quân nhân trong đơn vị; có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, lành mạnh kết hợp với bầu không khí dân chủ, tinh thần đồng chí đồng đội, giàu lòng nhân ái yêu thương giúp đỡ nhau, giữ vững bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Môi trường văn hóa kỷ luật tích cực sẽ ngăn chặn và làm hạn chế những tác động tiêu cực xâm nhập vào quân nhân, trực tiếp làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, tạo cho quân nhân tinh thần vui tươi phấn khởi, có ý chí phấn đấu vươn lên thi đua học tập và rèn luyện.

Thực tiễn việc chấp hành kỷ luật của quân nhân cho thấy, ở đơn vị nào có môi trường văn hóa kỷ luật tích cực, lành mạnh, công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân được chú trọng thì ở đơn vị đó chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật được nâng lên; chất lượng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị tốt hơn, số vụ việc vi phạm kỷ luật ở đơn vị ít. Ngược lại, đơn vị nào lãnh đạo, chỉ huy nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ về môi trường văn hóa kỷ luật, buông lỏng quản lý, thiếu chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện… thì đơn vị đó xảy ra vi phạm kỷ luật nhiều hơn, tính chất mức độ vi phạm nặng hơn, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp. Do đó, việc xây dựng môi trường văn hóa kỷ luật tích cực là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Ba là, phát huy tính tích cực, tự giác của quân nhân trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật để nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật của đơn vị.

Đây là biện pháp rất quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân. Bởi vì, xét đến cùng con người là yếu tố quyết định mọi việc. Nếu mỗi quân nhân không tự giác học tập, tu dưỡng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật thì mọi quy định, biện pháp đưa ra đều không hiệu quả, chất lượng giáo dục và rèn luyện kỷ luật của đơn vị không thể được nâng cao.

Tính tích cực, tự giác của quân nhân trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật được thể hiện trong nhận thức, động cơ, ý chí, hành vi, thái độ tích cực của quân nhân trong chấp hành kỷ luật quân đội. Do đó, quân nhân cần có nhận thức đầy đủ, rõ ràng về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc chấp hành kỷ luật quân đội đối với bản thân và với nhiệm vụ chung của đơn vị. Cần thấy rõ kỷ luật của quân đội là “kỷ luật tự giác, nghiêm minh”, nghĩa là “kỷ luật vừa đòi hỏi sự tự giác của mỗi quân nhân, vừa đòi hỏi sự nghiêm minh với tất cả mọi người không trừ một ai, từ binh nhì đến cấp tướng”(5), qua đó xác định cho mình động cơ đúng đắn, ý chí kiên quyết, kiên cường, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, chấp hành nghiêm kỷ luật, luôn nắm chắc yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị và bản thân. Tự điều chỉnh hành vi của mình trong các hoạt động, nêu cao trách nhiệm trong công việc, nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, đoàn kết thương yêu, tương trợ và giúp đỡ đồng chí, đồng đội cùng chấp hành nghiêm kỷ luật.

Để phát huy tính tích cực tự giác của quân nhân trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật đòi hỏi các tổ chức cần phải trang bị cho quân nhân những kiến thức cơ bản, kinh nghiệm cần thiết trong tự giáo dục, tự rèn luyện; có các tiêu chí, mục tiêu cụ thể để quân nhân phấn đấu đạt đến, đồng thời tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để quân nhân phát huy tính tích cực, tự giác của mình; thường xuyên nắm chắc chất lượng rèn luyện của quân nhân, kịp thời có các hình thức biểu dương khen thưởng những quân nhân có kết quả rèn luyện, chấp hành kỷ luật tốt, đồng thời phê bình nhắc nhở nghiêm túc với các trường hợp vi phạm kỷ luật.

Kỷ luật là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của quân đội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của quân đội ta đã căn dặn “Nếu kỷ luật không nghiêm thì không những không nâng cao được sức chiến đấu của bộ đội mà nhiều khi lại làm hại đến xương máu của chiến sĩ thậm chí đi đến thất bại”(6). Đặc biệt trong tình hình hiện nay, trước yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới, cần quan tâm tăng cường giáo dục và rèn luyện kỷ luật cho quân nhân, qua đó góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Quân Đội Trong Giai Đoạn Cách Mạng Hiện Nay

Ngày đăng: 07/10/2020 09:21

1. Vai trò của cán bộ và công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề chiến lược, đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); trong công tác “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”(2). Thấm nhuần tư tưởng đó, qua từng thời kỳ cách mạng, công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ trong quân đội nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21/12/2012 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo; Quy định số 104-QĐ/QUTW ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quy định số 496-QĐ/QUTW ngày 12/6/2017 của Quân ủy Trung ương về thẩm quyền phê duyệt, xác nhận quy hoạch và quy trình bổ nhiệm cán bộ chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quyết định số 548-QĐ/QUTW ngày 29/5/2018 của Quân ủy Trung ương về việc ban hành Quy chế công tác cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.v.v. Những chủ trương, định hướng, quy định nêu trên là cơ sở để công tác cán bộ trong quân đội được triển khai một cách đồng bộ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phục vụ, bảo đảm và sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

Trong thời gian qua, Quân ủy Trung ương luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức lực lượng trong quân đội; đồng thời, chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng quan điểm, đường lối, nguyên tắc, quy chế về công tác cán bộ và đặc điểm tình hình thực tiễn đơn vị; nhận thức, trách nhiệm, vai trò của cấp ủy, bí thư, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị được đề cao.

Tuy nhiên, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng đội ngũ này ngang tầm với nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh đang đặt ra nhiều vấn đề mới. Các thế lực thù địch, phản động đang tăng cường hoạt động chống phá ta về mọi mặt, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các vấn đề “an ninh phi truyền thống” và “phi chính trị hóa” quân đội ngày càng quyết liệt hơn. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như: dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và những hạn chế yếu kém, suy thoái của một bộ phận cán bộ quân đội đang được kẻ địch lợi dụng triệt để. Tư tưởng bành trướng nước lớn, vi phạm các nguyên tắc luật pháp quốc tế đang làm cho tranh chấp khu vực Biển Đông ngày càng phức tạp, khó lường.

Bên cạnh đó, đời sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn còn khó khăn, nhất là cán bộ trẻ ở các đơn vị cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, xa gia đình quê hương; chính sách hậu phương quân đội còn nhiều hạn chế, bất cập. Quân đội đang tiếp tục điều chỉnh tổ chức, lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, linh hoạt, cơ động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời bình và sẵn sàng mở rộng lực lượng khi có yêu cầu. Những yếu tố trên đang tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đòi hỏi cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân phải nhận thức đúng và có giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả.

2. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Một là, tiếp tục quán triệt và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội.

Đây là nội dung quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, cơ quan nghiệp vụ cán bộ các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục, quán triệt cần tập trung vào đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng về công tác cán bộ, trọng tâm là quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X đã xác định. Đồng thời, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm thước đo để đánh giá cán bộ; gắn đánh giá cán bộ định kỳ với kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mọi vấn đề về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền của cấp ủy, tổ chức đảng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Việc đổi mới công tác cán bộ phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển, xuất phát từ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo bước đột phá nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đối với công tác này, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, chiến dịch đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ và chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có số lượng và cơ cấu hợp lý; khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp.

Hai là, thực hiện tốt công tác nghiệp vụ cán bộ nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, nhất là về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, thực tiễn.

Việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình đội ngũ cán bộ; kế thừa quy hoạch nhiệm kỳ trước, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở quy hoạch cấp trên với tinh thần “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bảo đảm sự liên thông, có tính khả thi cao trong thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ theo các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn đảm bảo cho cán bộ được thử trách, trải nghiệm trên nhiều cương vị công tác, làm cơ sở để bồi dưỡng, bổ nhiệm, sắp xếp ở cương vị cao hơn. Quản lý, nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ theo phân cấp; xem xét kéo dài tuổi phục vụ của cán bộ chặt chẽ, đúng đối tượng; kiên quyết điều chuyển hoặc loại bỏ đối với cán bộ năng lực, sức khỏe yếu, vi phạm kỷ luật, uy tín thấp; có kế hoạch và biện pháp đồng bộ để chủ động tạo nguồn, cân đối số lượng cán bộ ra quân với bổ sung nguồn vào, sắp xếp, điều chuyển cán bộ một cách hợp lý; giữ ổn định đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là ở các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đơn vị thành lập mới hoặc trang bị vũ khí hiện đại.

Tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng với các loại hình đào tạo khác nhau; trong đó, chú trọng nguồn đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, đào tạo sau đại học và đào tạo ở nước ngoài. Thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng, tập trung cho cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu; tiến hành đồng bộ các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, lấy đào tạo cơ bản, lâu dài, chính quy theo các chương trình đào tạo tiên tiến làm chủ yếu, kết hợp với đào tạo các trình độ khác để đáp ứng yêu cầu tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ.v.v. Kết hợp giữa đào tạo trong quân đội và ngoài quân đội; chú trọng, khuyến khích cán bộ nâng cao năng lực thực tiễn, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức về chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội.

Coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng, huấn luyện tại chức và tự học tập; giữa truyền thụ kinh nghiệm của cán bộ qua chiến đấu, thực tiễn chỉ huy, quản lý với việc nâng cao trình độ cán bộ, nhất là cán bộ trẻ. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các học viện, nhà trường theo hướng liên thông giữa các cấp học, bậc học, sát với chức trách, nhiệm vụ của chức vụ ban đầu khi tốt nghiệp ra trường; khắc phục tình trạng dàn trải, trùng lắp, nhất là đào tạo cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với việc điều chỉnh, sắp xếp, cơ cấu, bộ máy tinh gọn, hiệu quả trong quân đội.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Quyết định số 2574/QĐ-BQP ngày 30/6/2018 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 606-NQ/QUTW về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021; xây dựng, triển khai thực hiện Đề án về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2016-2021; Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020; Kế hoạch số 217-KH/QUTW ngày 13/3/2018 về triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Thời gian qua, Bộ Quốc phòng đã giải thể, điều chỉnh tổ chức biên chế một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (quân số giảm gần 3.000 người); giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên thuộc các công ty, tổng công ty; giải thể 06 trung tâm dạy nghề – giới thiệu việc làm; hiện đang tiếp tục xúc tiến lộ trình giải thể 22 trường cao đẳng, trung cấp nghề trong toàn quân; chỉ đạo tổ chức lại 04 cơ quan chiến lược làm điểm, giảm 10% quân số biên chế; Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Phòng Kiểm toán thành Kiểm toán Bộ Quốc phòng; tổ chức lại các cơ sở in trong Quân đội. Chỉ đạo điều chuyển hai ban quản lý Dự án 678 và 98 về Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng. Thành lập Bộ Tư lệnh 86; Trung đoàn 915, thuộc Trường Sĩ quan Không quân; tổ chức lại Tạp chí Quân sự Quốc phòng, thuộc Bộ Tổng Tham mưu (trên cơ sở sáp nhập bốn tạp chí: Quân huấn, Nhà trường quân đội, Dân quân tự vệ và giáo dục quốc phòng, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng).

Đã tiến hành sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp, từ 109 doanh nghiệp xuống còn 17 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý; giải thể, điều chuyển nhiệm vụ quân sự của các doanh nghiệp… Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, bảo đảm không tăng quân số, theo hướng tinh, gọn, mạnh, cơ động nhanh và sức chiến đấu cao điều chỉnh hợp lý giữa các lực lượng, đảm bảo sức chiến đấu của Quân đội không ngừng được nâng lên.

Hiện nay, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đang tiếp tục triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch về tổ chức xây dựng lực lượng, tiếp tục rà soát, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trung gian và lực lượng phục vụ, bảo đảm hậu cần; sáp nhập các cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng; chuyển đổi cơ chế hoạt động một số đơn vị phục vụ, bảo đảm sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công. Việc nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức lực lượng phải đảm bảo dự báo sát, đúng, kịp thời với tình hình thế giới, khu vực, trong nước và nhiệm vụ quân đội. Trong tổ chức thực hiện, cần kiên quyết và kiên trì với mục tiêu đã xác định; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, khoa học; nhất quán trong thực hiện từ cấp chiến lược đến cấp cơ sở; bảo đảm khách quan, khoa học; kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong nghiên cứu, thực hiện điều chỉnh tổ chức cơ quan, đơn vị…

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện, thực hiện tốt chính sách cán bộ; xây dựng cơ quan nghiệp vụ về công tác cán bộ các cấp vững mạnh.

Cần thực hiện tốt chế độ, chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước đối với quân đội; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách ưu đãi, chế độ tiền lương, phụ cấp đặc thù đối với ngành lao động đặc biệt, phụ cấp nhà ở, chế độ đối với cán bộ luân phiên nơi khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; quản lý, nắm chắc tình hình sức khỏe của cán bộ. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để tạo nguồn quỹ đất, triển khai các dự án nhà ở chính sách, xã hội, công vụ; chăm lo giải quyết tận tình, chu đáo các chế độ, chính sách với người có công và các chính sách tồn đọng khác, thực hiện các chính sách như bảo hiểm xã hội, khám chữa bệnh, chế độ hưu trí, quan tâm đến gia đình cán bộ… tạo điều kiện thuận lợi để động viên cán bộ yên tâm công tác.

Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng cơ quan nghiệp vụ cán bộ vững mạnh; đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông”, toàn tâm, toàn ý thực hiện tốt nhiệm vụ. Nghiên cứu tổ chức cơ quan cán bộ các cấp đủ số lượng, biên chế thống nhất theo từng loại hình đơn vị; kiện toàn, nâng cao chất lượng, tích cực bồi dưỡng, tập huấn, tổ chức hội thi ngành nghiệp vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính trong công tác cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong, trình độ năng lực nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác cán bộ; nâng cao khả năng phát hiện, dự báo, tham mưu, đề xuất, hướng dẫn thực hiện đúng, trúng, kịp thời, hiệu quả, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, các cấp ủy đảng tiếp tục cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế cho phù hợp với tính chất, đặc thù của cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ cấp mình; kiên quyết khắc phục những khâu yếu trong công tác cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt, làm cơ sở xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Ghi chú:

(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.309, tr.280

(3) Ngô Xuân Lịch, “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội ngang tầm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 05/7/2018.

TS Lưu Duy Toàn – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng ThS Hoàng Văn Mạnh – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

tcnn.vn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!