Đề Xuất 2/2023 # Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Các Địa Phương Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Các Địa Phương Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Các Địa Phương Trong Giai Đoạn Hiện Nay mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lời Nói Đầu Vấn đề cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách và trọng yếu của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn diện.Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó làm cho bộ máy nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách hành chính phải tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước các vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc theo chiều sâu. Với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, Chính phủ có một chương trình có tính chiến lược, dài hạn, xác định rõ 4 lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công, định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách và xác định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc cải cách. Chương trình tổng thể sẽ là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính. II) Tổng quan về chương trình tổng thể cải cách hành chính 1. Nội dung của cảI cách hành chính a) Cải cách thể chế hành chính Những năm qua, Chính phủ tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đến hết tháng 4-2005, Chính phủ đã trình Quốc hội 49 dự án luật, qua đó đã tạo cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Các luật đã thể hiện rõ các quan điểm, các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và hoạt động của các doanh nghiệp, giảm bớt cơ chế xin – cho. Nhờ vậy, nước ta được thế giới xem như một nước có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm các quốc gia có tốc độ cải cách nhanh. Chính quyền các địa phương tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do Trung ương quy định và cụ thể hóa việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng địa phương trong thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, ủy quyền cho các sở và cấp huyện trên nhiều lĩnh vực . Tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ dần sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thể chế quan hệ giữa nhà nước với nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Nổi bật là việc lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng. Tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ. Tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân. Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, cơ chế “một cửa”, công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân . Điều đó góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát các hoạt động của chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức các cấp.

Luận Văn: Thực Trạng Và Giải Pháp Đổi Mới Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Hay

Published on

Luân văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Thực trạng và giải pháp đổi mới cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một của tại Ủy ban nhân dân quận Kiến An cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG ISO 9001:2008 NGUYỄN ĐÌNH NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Hải Phòng – 2017

2. ii BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG NGUYỄN ĐÌNH NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH MÃ SỐ: 60 34 01 02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Thị Hoàng Đan

3. iii LỜI CAM ÐOAN Tôi xin cam đoan, đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các mẫu biểu, số liệu đƣợc sử dụng trong đề tài là do tôi thu thập, tổng hợp, chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào. Những kết quả đƣợc trình bày trong đề tài là hoàn toàn hợp lệ. Những thông tin tham khảo trong đề tài đều đƣợc trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình. Hải Phòng, tháng 12 năm 2016 Tác giả Nguyễn Đình Nam

5. v DANH MỤC VIẾT TẮT – CBCC : Cán bộ, công chức – CCHC : Cải cách hành chính – CMTND : Chứng minh thƣ nhân dân – ĐKQSDĐ : Đăng ký quyền sử dụng đất – GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – HĐND : Hội đồng nhân dân – LĐ-TB&XH : Lao động – Thƣơng binh và Xã hội – TN&MT : Tài nguyên và Môi trƣờng – TTHC : Thủ tục hành chính – UBND : Ủy ban nhân dân – VNĐ : Việt Nam đồng – XHCN : Xã hội chủ nghĩa

6. vi DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 1. Sơ đồ cơ 2.1 cấu tổ chức bộ máy UBND quận Kiến An ····································· 41 2. Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức và quy trình giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa” tại UBND quận Kiến An ······································································ 56 3. Sơ đồ 2.3 Quy trình thực hiên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại quận Kiến An·································································· 59 4. Sơ đồ 2.4 Quy trình thực hiện đăng ký thế chấp và xóa thế chấp quyền sử dụng đất tại quận Kiến An ······················································································ 61 5. Sơ đồ 2.5 quy trình thực hiện chứng nhận các giấy tờ thuộc lĩnh vực tư pháp tại quận Kiến An····························································································· 63 6. Sơ đồ 2.6 quy trình thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh HTX tại quận Kiến An····························································································· 65 7. Sơ đồ 2.7 quy trình thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Cá thể tại quận Kiến An································································································ 66 8. Sơ đồ 2.8 quy trình thực hiện cấp giấy phép xây dựng, sửu chữa, cải tạo, Điều chỉnh, gia hạn, hoặc cấp lại giấy phép xây dựng ·········································· 70 9. Sơ đồ 2.9 quy trình thực hiện lĩnh vực Thương binh – Xã hội tại quận Kiến An····························································································································· 71 10. Sơ đồ 3.1: Mô hình một cửa liên thông từ UBND phường lên UBND quận Kiến An···················································································································· 106

7. vii DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 1. Bảng 2.1 số lượng công chức tại các phòng, ban thuộc UBND quận Kiến An····························································································································· 42 2. Bảng 2.2 số lượng công chức tại các phường thuộc UBND quận Kiến An ··················································································································· 43 3. Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả điều tra mức độ hài lòng về việc cải cách thủ tục hành chính tại quận Kiến An ············································································ 73 4. Bảng 2.4 tổng hợp kết quả điều tra rà soát mẫu đơn, tờ khai hành chính tại quận Kiến An 2013 – 2015······················································································ 74 5. Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả giải quyết hồ cơ theo cơ chế một cửa tại UBND quận Kiến An giai đoạn 2013 – 2015……………………………………………………. 79 6. Bảng 2.6 a Thực trạng tình hình cải cách hành chính giai đoạn 1 (2010 – 2015)tại UBND quận Kiến An ················································································ 83 7. Bảng 2.6b Thực trạng cán bộ, công chức quận Kiến An giai đoạn 1.(2010 – 2015) ······················································································································· 84

8. viii MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………….. 1 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………… 1 2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………………. 33 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………………… 4 3.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………………….. 4 3.2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………….. 4 4. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………………………….. 5 5. Đóng góp chính của đề tài …………………………………………………………………… 7 6. Giả thuyết nghiên cứu…………………………………………………………………………. 8 7. Kết cấu của luận văn…………………………………………………………………………… 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CƠ CHẾ MỘT CỬA 1. CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1.1. Một số khái niệm về cải cách thủ tục hành chính………………………………. 9 1.2. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính…………………….. 13 1.2.1. Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính ………………………………………. 14 1.2.2. Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính………………………………………. 14 1.3. Sự cần thiết phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính……… 15 1.2. CƠ CHẾ MỘT CỬA………………………………………………………………………. 20 1.2.1.Khái niệm……………………………………………………………………………………… 20 1.2.2. Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”…………………………………………. 23 1.2.3. Phạm vi và quy trình thực hiện cơ chế “một cửa”…………………………… 23 1.2.4. Ưu điểm……………………………………………………………………………………….. 25

11. xi 2.2.4.6. Khảo sát thực tế mức độ hài lòng của người dân tại Văn phòng một cửa của quận Kiến An………………………………………………………73 2.3. Đánh giá việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND quận Kiến An…………………………………………………………………. 73 2.3.1. Đánh giá chung……………………………………………………………………………. 74 2.3.2 Những kết quả đạt được trong công tác cải cách thủ tục hành chính tại UBND quận Kiến An………………………………………………………………………… 76 2.3.3. Hạn chế trong công tác cải cách thủ tục hành chính tại UBND quận Kiến An ………………………………………………………………………………………………… 86 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND QUẬN KIẾN AN 3.1. Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ ……………………………………………………………….. 89 3.1.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ………………………………… 89 3.1.2. Hoàn thiện thể chế hành chính……………………………………………………… 90 3.1.3. Xây dựng mô hình giải quyết hồ sơ hành chính theo hướng hiện đại, nhanh gọn…………………………………………………………………………………………….. 90 3.1.4. Nâng cao chất lượng cán bộ công chức …………………………………………. 90 3.1.5. Xã hội hóa hoạt động cải cách thủ tục hành chính …………………………. 91 3.1.6. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về cải cách hành chính… 91 3.2. Các giải pháp chủ yếu…………………………………………………………………….. 91 3.2.1. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ………………………………………… 91 3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát………………………………………….. 95 3.3. Các nhóm giải pháp ……………………………………………………………………….. 96 3.3.1. Nhóm giải pháp thứ nhất………………………………………………………………. 96 3.3.1.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và lãnh đạo địa phương…………………………………………………………………………………………………. 96

12. xii 3.3.1.2 Xây dựng văn hóa công sở…………………………………………………………… 98 3.3.1.3 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về cải cách hành chính cho cán bô, công chức và tổ chức, công dân……………………………………………. 99 3.3.14 Tăng cường sự phối hợp phân cấp quản lý và ủy quyền………..100 3.3.2 Nhóm giải pháp thứ hai……………………………………………………………….. 100 3.3.2.1. Hoàn thiện thể chế pháp lý gắn liền với Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xóa bỏ những thủ tục rườm rà…………………………………………… 100 3.3.2.2 Áp dụng tiêu chuẩn quản lý ISO 9001:2008 ……………………………….. 101 3.3.2.3 Nghiên cứu và xây dựng mô hình một cửa liên thông từ UBND các phường đến UBND quận Kiến An theo hướng hiện đại phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương……………………………………………………………….. 102 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………… 104 ĐỀ NGHỊ, KIẾN NGHỊ……………………………………………………………………107

13. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cải cách hành chính là yêu cầu khách quan của mọi nền hành chính và của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Đối với nƣớc ta, CCHC là yêu cầu cấp bách và là một trong những nhiệm vụ mang tầm chiến lƣợc trong công cuộc đổi mới đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm, nhằm xây dựng nền hành chính dân chủ, minh bạch, chuyên nghiệp, vững mạnh, từng bƣớc hiện đại. CCHC nhằm đảm bảo thực hiện đƣờng lối đổi mới đất nƣớc, nhất là đổi mới kinh tế, xây dựng nền KTTT định hƣớng XHCN; xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con ngƣời, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Với mục đích đơn giản, công khai và minh bạch thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 04-5-1994 về cải cách một bƣớc thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, mở đầu cho hoạt động thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, đã tạo bƣớc đột phá lớn trong hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nƣớc đối với mọi lĩnh vực, là sự chuyển biến rõ rệt trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế Nhà nƣớc. Tiếp đó, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành một loạt các quy định về cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý cơ bản cho việc triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hƣớng đổi mới, đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội nhƣ Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg với Chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nƣớc giai đoạn 2001-2010; Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng và gần đây nhất là Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế

15. 3 cũng nhƣ tình hình phát triển kinh tế – xã hội của cả nƣớc. Vì vậy việc nghiên cứu về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính và rút ra tổng kết cho địa phƣơng là rất cần thiết. Để hiểu rõ một cách cụ thể, lý giải những vấn đề đang còn khúc mắc do những bất cập hiện nay ở công tác hành chính gây ra hiện nay và nhận thức đƣợc thực trạng cũng nhƣ vai trò và ý nghĩa và tầm quan trọng đó, tôi nhận thấy việc hoàn thiện công tác xử lí cải cách hành chính là vấn đề cấp thiết. Xuất phát từ lí do đó, tác giả lựa chọn nội dung: “Thực trạng và giải pháp đổi mới cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một của tại Ủy ban nhân dân quận Kiến An” làm đề tài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện hƣớng cải cách hành chính, qua đó góp phần tạo động lực phát triển kinh tế chính trị an ninh của quận Kiến An và thành phố Hải Phòng trong thời gian tới, và góp phần làm tiêu điểm cho việc đi đầu của Hải Phòng trong các lĩnh vực. Với mong muốn hoàn thiện kiến thức ở trƣờng, áp dụng có hiệu quả vào công tác quản lý hành chính của bản thân hiện đang trực tiếp công tác, đóng góp ý kiến để nâng cao chất lƣợng mô hình “một cửa” đang đƣợc thực hiện tại quận Kiến An. Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm của bản thân chƣa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tác giả rất mong đƣợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài khóa luận của mình thêm hoàn thiện. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu: – Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa. – Cung cấp những căn cứ khoa học phân tích, đánh giá đƣợc thực trạng và cải cách thủ tục hành chính cho việc xác định nguyên nhân của từng mặt hạn chế

21. 9 Phần này giới thiệu khái quát về quá trình hoạt động t¹i UBND Quận Kiến An . Đánh giá lại quá trình thực hiện cơ chế một cửa, những thành công đạt đƣợc cũng nhƣ những mặt còn tồn tại. Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND quận Kiến An. Dựa trên những đánh giá về những mặt tồn tại đã nêu khi thực hiện cơ chế “Một cửa” của Chƣơng 2, Chƣơng 3 sẽ đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của bộ phận “Một cửa” trong việc giải quyết TTHC từ đó thúc đẩy các hoạt động của UBND quận Kiến An.

22. 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CƠ CHẾ MỘT CỬA 1.1. Cải cách thủ tục hành chính và sự cần thiết phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 1.1.1. Một số khái niệm về cải cách thủ tục hành chính Khái niệm thủ tục hành chính về mặt thuật ngữ, nghĩa của từ thủ tục đƣợc các từ điển giải thích nhƣng có sự khác biệt nhất định chẳng hạn thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức [40] thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định theo quy định của cơ quan nhà nƣớc [37]. Từ điển Hán Việt của giáo sƣ Đào Duy Anh quan niệm ” thủ tục là các trình tự và phƣơng pháp làm việc” [1tr 441], đại từ điển tiếng Việt thủ tục đƣợc hiểu là “cách thức đã định để thực hiện một hoạt động [37 tr 274]. Trong giáo trình „Hành chính học đại cƣơng‟ do giáo sƣ Đoàn Trọng Truyến chủ biên, khái niệm TTHC đƣợc trình bày một cách cụ thể hơn: Thủ tục hành chính là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc, nhà nƣớc trong mối quan hệ với cơ quan tổ chức cá nhân công dân. Nó đƣợc đặt ra để các cơ quan nhà nƣớc có thể thực hiện một hình thức hoạt động cần thiết của mình, trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm bãi nhiệm trình tự điều hành tổ chức các hoạt động thoát nghiệp hành chính [20 tr 208] Các quan niệm trên có thể thấy ở góc độ trung nhất thủ tục bao gồm 2 yếu tố cơ bản là trình tự và cách thức trong đó trình tự xác định quy trình, tức là trật tự các bƣớc, các giai đoạn tiến hành công việc, cách thức xác định phƣơng pháp tiến hành các công việc gắn bó với những hoạt động cụ thể. Các

24. 12 hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân” Thủ tục hành chính là bộ phận cơ bản của thể chế hành chính Nhà nƣớc, là công cụ của cơ quan hành chính Nhà nƣớc đƣợc sử dụng để giải quyết công việc cho công dân, tổ chức, là cơ sở để xác định tính hợp pháp của nền công vụ. Do vậy, thủ tục hành chính thuận tiện, đơn giản, công khai và dân chủ sẽ góp phần tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nƣớc, rút ngắn khoảng cách giữa Nhà nƣớc và nhân dân, củng cố sức mạnh Nhà nƣớc, lòng tin của nhân dân và góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận của cải cách thể chế hành chính Nhà nƣớc, nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo những chuẩn mực nhất định. Đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng; hoạt động theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đối tƣợng, từng loại công việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Cải cách thủ tục hành chính thực chất là cải cách trình tự thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối liên hệ tới quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hành chính Nhà nƣớc. Mục tiêu và yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính là phải đạt đƣợc sự chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Cụ thể là phải phát hiện và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu tính đồng bộ, rƣờm rà, chồng chéo, phức tạp đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa cơ quan nhà nƣớc với nhau và giữa cơ quan nhà nƣớc với tổ chức và công dân; xây dựng và thực hiện các thủ tục hành chính giải quyết công việc đơn giản, thống nhất, rõ ràng, đúng pháp luật và công khai; vừa tạo thuận tiện cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết công việc;vừa có tác dụng ngăn chặn tệ tham những, sách nhiễu,

30. 18 vào nề nếp, trật tự thì đòi hỏi hệ thống quản lý hành chính của mỗi quốc gia cần phải thay dổi, cải tiến để thích ứng và đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển của xã hội, mà trƣớc hết là những nhu cầu thiết yếu đảm bảo cho đời sống của nhân dân đƣợc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội. Ở Việt Nam, do yêu cầu đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay đã đặt ra nhiệm vụ phải đổi mới một cách căn bản tổ chức và phƣơng thức hoạt động của hệ thống chính trị, thực hiện một cuộc cải cách lớn các cơ quan nhà nƣớc với trọng tâm là xây dựng hệ thống hành pháp và quản lý hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực và hiệu quả [21]. Đến nay, chúng ta đang từng bƣớc xây dựng một nền hành chính phát triển thay thế cho nền hành chính truyền thống để phù hợp với xu hƣớng thời đại, thay đổi vai trò của quản lý. Một lý do quan trọng, để toàn Đảng toàn dân ta cần phải chung tay tiếp tục đẩy mạnh cải cải thủ tục hành chính đó là: Hiện nay, thủ tục hành chính là một bộ phận của thể chế hành chính. Thủ tục hành chính là công cụ để cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm. Tùy vào sự phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ mà thủ tục hành chính phải thích ứng kịp thời phục vụ hoạt động quản lý. Điều này có ý nghĩa đối với lý luận cải cách thủ tục hành chính trong thời kỳ hội nhập. Nhƣng trên thực tế công tác cải cách thủ tục hành chính trong những năm qua đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể song vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển, thể hiện ở một số điểm sau: – Cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua vẫn mang nặng giải pháp tình thế, thiếu tính tổng thể. Thủ tục hành chính là biểu hiện tập trung nhất của hoạt động Nhà nƣớc can thiệp vào nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên hiện nay bài toán về mức độ và phƣơng pháp can thiệp phù hợp của Nhà nƣớc trong từng lĩnh vực quản lý cụ thể, hầu nhƣ chƣa đƣợc giải đáp một cách thỏa đáng nhƣ lĩnh vực: đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, đất đai… Tầm tƣ duy, tổng kết thực

32. 20 cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ tất cả các các cấp, các ngành. Cải cách thủ tục hành chính giữ một vị trí quan trọng trong công tác cải cách hành chính, và có một ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nó đƣợc coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính quốc gia, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của tổ chức và nhân dân. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” là một trong những giải pháp để cải cách hành chính mà Nhà nƣớc ta hƣớng tới, từ khi ra đời lần đầu tiên trong lĩnh vực đầu tƣ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Nghị quyết số 366/HĐBT ngày 7-11-1991, của Hội đồng Bộ trƣởng ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và đƣợc cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp lý nhƣ Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994; Quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003, ban hành thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nƣớc tại địa phƣơng, cho đến nay nó đã đƣợc nhân rộng khắp các lĩnh vực ở mọi cấp, mọi ngành vì những ƣu điểm của cơ chế này mang lại. 1.2. Cơ chế một cửa 1.2.1.Khái niệm Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Yêu cầu chung của cải cách thủ tục hành chính là giảm bớt thủ tục hành chính phức tạp và rƣờm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn và cản trở việc giải quyết công việc chung, làm ảnh hƣởng đến quan hệ giữa Nhà nƣớc với các tổ chức, công dân [6]. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” là một giải pháp đổi mới về phƣơng thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với các tổ chức, công dân.

33. 21 Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bƣớc thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hƣớng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp. Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nƣớc ta từng bƣớc đƣợc định hình về nội dung, phƣơng hƣớng triển khai với những bƣớc đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, cơ chế “một cửa” đã ra đời và đƣợc thí điểm rộng rãi trên cả nƣớc. “Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối duy nhất là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước đó” [13]. Việc cải cách theo hƣớng đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa”, đƣợc triển khai mạnh trong quá trình thực hiện Chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2001-2010 định hƣớng 2010-2020. Theo chủ trƣơng đó, Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng ra đời, đã tạo ra một cách thức giải quyết công việc hiệu quả cho công dân, tổ chức, đã thể chế hóa mối quan hệ giữa chính quyền và công dân thông qua việc thực hiện cơ chế “một cửa”. Khi cơ chế “một cửa” ra đời, thay vì việc công dân tổ chức khi muốn giải quyết hồ sơ hành chính thì phải tự mình đi liên hệ với nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau của cơ quan hành chính nhà nƣớc thì nay công dân, tổ chức chỉ cần tới Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nƣớc thuộc lĩnh vực chuyên môn đó nộp hồ sơ và nhận phiếu hẹn chờ ngày nhận kết quả hồ sơ, còn các công việc liên hệ

34. 22 làm việc với các phòng ban chuyên môn thì thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính tiếp nhận hồ sơ đó. Mô hình “một cửa” ra đời nhanh chóng đƣợc triển khai và nhân rộng khắp các địa phƣơng trong cả nƣớc, đƣợc ngƣời dân hoan nghênh, hƣởng ứng do hiệu quả tích cực của mô hình này mang lại. Có thể nhận thấy, cơ chế “một cửa” là giải pháp đổi mới hữu hiệu về phƣơng thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nƣớc với các tổ chức và công dân, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm phiền hà, chi phí, thời gian, công sức; đồng thời, điều chỉnh một bƣớc về tổ chức bộ máy và đổi mới, cải tiến chế độ làm việc và quan hệ công tác trong cơ quan hành chính nhà nƣớc. Nếu việc thực hiện cơ chế “một cửa” tạo nên đột phá đầu tiên trong cải cách thủ tục hành chính trong những năm qua thì bƣớc đột phá tiếp theo là thực hiện cơ chế “một cửa liên thông”, theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng. Quyết định này đã quy định nhiều nội dung mới, có tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phƣơng thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp ở địa phƣơng, giảm phiền hà, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc, đem lại lợi ích cho ngƣời dân và doanh nghiệp. “một cửa liên thông” là một hình thức của cơ chế “một cửa” ở một mức độ phát triển cao hơn, góp phần thực hiện có hiệu quả trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Thực chất, “Cơ chế “một cửa” liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước” [6]. Trên thực tế, có nhiều

39. 27 nhiệm vụ trọng tâm mà Tỉnh uỷ đề ra. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện việc giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”, nghiên cứu xoá bỏ những quy định gây ách tắc, hiền hà đối với nhân dân. Tập trung cải cách TTHC theo cơ chế ” một cửa” trong các lĩnh vực trọng tâm, bức xúc, có nhiều quan hệ với công dân và tổ chức, nhạy cảm đối với phát triển kinh tế xã hội nhƣ: quản lý đất đai, đăng ký kinh doanh, xây dựng cơ bản……duy trì thực hiện chế độ thủ trƣởng các đơn vị tiếp và giải quyết các khiếu lại, tố cáo của công dân ở tại địa phƣơng. * Trong giai đoạn 2010-2015, đứng trƣớc những yêu cầu mới và đƣợc đặt trong bối cảnh xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Vân Đồn cũng nhƣ các huyện, thị khác của tỉnh Quảng Ninh đòi hỏi phải xây dựng bộ máy hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh chính quy, hiện đại, nâng cao chất lƣợng hệ thống chính trị ở cơ sở, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng; yêu cầu hội nhập kinh tế với các nƣớc trong khu vực và quốc tế. Năm 2007 huyện Vân Đồn đƣợc Chính phủ phê duyệt trở thành khu kinh tế, với mục tiêu trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lƣợng cao và dịch vụ cao cấp, đồng thời là trung tâm hàng không, đầu mối giao thƣơng quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế ở Quảng Ninh. Xuất phát từ thực tế trên đòi hỏi huyện Vân Đồn nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung cần phải cố gắng hơn nữa tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lƣợng TTHC để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân khi đến liên hệ giải quyết công việc, góp phần vào sự phát triển của huyện Vân Đồn nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung. Cải cách hành chính là một trong những chƣơng trình lớn của Đảng, Nhà nƣớc. Dƣới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Vân Đồn trong các năm qua đã từng bƣớc đạt đƣợc những mục tiêu cơ bản của công cuộc CCHC đặc biệt là công tác cải cách TTHC.

40. 28 Thực hiện Quyết định 181/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cơ quan HCNN ở địa phƣơng. Căn cứ Quyết định số 3548/QĐ-UBND ngày 07/10/2004 của UBND tỉnh Quảng binh “về việc phê duyệt Đề án theo cơ chế “một cửa” tại UBND huyện Vân Đồn, trên cơ sở đó UBND huyện Vân Đồn đã ban hành các văn bản triển khai thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” và quyết định thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc văn phòng HĐND và UBND huyện; ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND huyện. Quy nghiên cứu, khảo sát về cơ cấu tổ chức, quy trình, thủ tục giải quyết là giống nhau dựa trên sự hƣớng dẫn và chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh [18]. Qua triển khai cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông”; hoạt động của văn phòng một cửa liên thông đã đi vào nề nếp, bƣớc đầu đã giải quyết nhanh, gọn, thuận tiện với thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực đã đảm bảo đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật cơ bản đáp ứng đƣợc yêu cầy đề ra.Từ khi hoạt động đến nay, trung bình mỗi ngày, lƣợng công dân, tổ chức và doanh nghiệp đến làm việc là 120-150 lƣợt/ngƣời/ngày [25]. Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính đối với yêu cầu của một lƣợt khách hàng đƣợc rút ngắn, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, trƣớc đây công dân phải đi lại 12 lƣợt thì đến nay chỉ còn đi lại 3 lƣợt, cấp phép xây dựng rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 13 ngày, đăng ký kinh doanh giảm đƣợc 1 ngày; các kiến nghị, yêu cầu hƣớng dẫn trình tự thủ tục đƣợc giải quyết kịp thời, tại chỗ theo tinh thần công khai, bình đẳng góp phần giảm thiểu đƣợc thời gian và công sức đi lại của ngƣời dân. Thực hiện Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, huyện đã thực hiện việc chuyển công văn, giấy tờ qua mạng Internet giữa các cơ quan cấp trên và cấp dƣới tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt khó khăn cho

42. 30 tinh thần làm việc của họ, thái độ, tác phong, trách nhiệm với công việc đƣợc nâng cao. Cùng với cải cách thủ tục hành chính ban lãnh đạo UBND huyện cũng tăng cƣờng công tác kỷ luật, kỷ cƣơng hành chính. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn những tồn tại, đó là: Trên bàn làm việc của cán bô, công chức phụ trách tiếp nhận hồ sơ chƣa có biển ghi họ tên công chức. Việc niêm yết số, biểu mẫu giấy tờ, phụ lục, bảng thu phí, lệ phí chƣa đảm bảo, khổ giấy A4, phôtô treo không chắc chắn. – Nhiều nơi, nhiều chỗ kết quả giải quyết hồ sơ hành chính trên một số lĩnh vực cho tổ chức, công dân vẫn còn thấp so với yêu cầu đề ra. Nhiều hồ sơ giải quyết chƣa đúng hẹn, nhất là trên lĩnh vực đất đai, xây dựng, nhà ở, chính sách cho ngƣời có công. – Ý thức trách nhiệm thực hiện công vụ, thái độ phục vụ nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn thiếu trách nhiệm, chƣa quan tâm đầy đủ đến thời hạn trả hồ sơ cho tổ chức, công dân nên để hồ sơ tồn đọng, kéo dài, có trƣờng hợp sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân. Một vài cán bộ, công chức tại bộ phận “một cửa” chƣa thạo việc, hạn chế về năng lực, giải thích, tiếp nhận hồ sơ của ngƣời dân không đƣợc thỏa đáng, đầy đủ dẫn đến việc ngƣời dân phải đi lại nhiều lần. Việc thẩm định giải quyết hồ sơ đôi khi còn thiếu linh hoạt, máy móc, có biểu hiện quan liêu trong xử lý công việc. Công chức chƣa duy trì việc đeo thẻ thƣờng xuyên trong thực thi công vụ. – Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của bộ phận “một cửa” chƣa đƣợc quan tâm hỗ trợ đầy đủ. Công khai thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” chƣa đƣợc tốt theo yêu cầu, nhƣ không đầy đủ, thiếu thông tin, không cập nhật kịp thời các quy định mới. – Các phòng ban chuyên môn vẫn chƣa phối hợp kịp thời để giải quyết công việc.

45. 33 nƣớc. Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính, tổ chức và cá nhân. Hình thành các cơ sở dữ liệu chung, phục vụ cho công tác quản lý hành chính nhà nƣớc mang tính chất liên ngành, liên cấp; Hệ thống một cửa điện tử đƣợc triển khai tại các sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, UBND phƣờng, xã; tích hợp và liên thông, liên kết đồng bộ vào cổng thông tin điện tử thành phố. Để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra nhƣ đã nêu ở trên, công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020, Đà nẵng đã tập trung vào công tác xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá, xếp hạng chất lƣợng cung ứng dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp công; lấy kết quả triển khai cải cách hành chính và chất lƣợng cung ứng dịch vụ công làm tiêu chí bắt buộc để đánh giá thi đua, khen thƣởng và bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý….Với những giải pháp triển khai một cách đồng bộ và cụ thể, công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 đã góp phần hoàn thành các mục tiêu về phát triển kinh tế – xã hội của thành phố và quan trọng hơn, hình thành một nền hành chính phục vụ hƣớng về phía ngƣời dân và doanh nghiệp, qua đó tạo một môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh hấp dẫn, thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc đến với Đà Nẵng, cũng nhƣ tăng cƣờng tính công khai minh bạch các thủ tục, dịch vụ hành chính công của chính quyền Đà Nẵng.Trong cuộc vận động “Ba hơn” (nhanh hơn, hợp lý hơn, thân thiện hơn) triển khai trong các năm từ 2012 đến 2014, đã có 899 TTHC đƣợc thực hiện nhanh hơn với tổng số 392.649 hồ sơ giao dịch hành chính; 105 TTHC cho tổ chức, cá nhân và 68 nội dung thuộc thủ tục nội bộ đƣợc thực hiện hợp lý hơn; 185 giải pháp thân hiện hơn cũng đƣợc triển khai tại các cơ quan, đơn vị. Tại thành phố 100% cơ quan, đơn vị có cung ứng dịch vụ hành chính công của Thành phố đều thực hiện nghiêm túc việc công khai các TTHC bằng nhiều hình thức. Cơ chế một cửa đƣợc triển khai có hiệu quả, đồng bộ cả 3 cấp; cơ chế một cửa liên thông tiếp tục đƣợc duy trì tại 100% phƣờng, xã,

Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục

Trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt hiện nay, lạm phát đang là một vấn đề bất cập nhất mà cả thế giới quan tâm. Nó không chỉ như một bóng ma ám ảnh làm kinh hoàng tất cả các siêu cường kinh tế trên thế giới mà nó còn là mối đe dọa nguy hiểm của sự phát triển kinh tế xã hội mọi quốc gia. Bởi lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. Mà nguyên nhân sâu sa của lạm phát là do các chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước. Cụ thể ở nước ta lạm phát hiện là mối bận tâm của Chính phủ, bởi lẽ nó là một trong những thước đo mức ổn định của nền kinh tế, có tác động đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế và các biến vĩ mô khác. Tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian gần đây đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của lạm phát, và chắc chắn theo suy nghĩ của nhiều nhà kinh tế và công chúng, nguyên nhân của lạm phát trong những năm gần đây không giống với nguyên nhân lạm phát của những năm 1980 và đầu những năm 1990, mặc dù ” lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi đều là do hiện tượng tiền tệ”. Một nguyên nhân nữa mà không thể không thể đề cập đến, từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài, dẫn đến việc làm phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, tổn hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế – xã hội. Và để khắc phục những hậu quả do lạm phát gây ra, Nhà nước và Chính phủ cần phải đưa ra một số các giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế mức độ lạm phát tiền tệ trong nước. Các nhà kinh tế, các doanh nghiệp muốn thu lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới, để có thể nhạy bén trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước. Kết cấu của đề án bao gồm các nội dung sau: Phần I : Những vấn đề lý luận chung về lạm phát. Phần II :Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1989 đến nay. Phần III :Các biện pháp khắc phục lạm phát ở nước ta.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Thực Trạng Và Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Trong Giai Đoạn Hiện Nay

Trêng ®¹i häc s ph¹m hµ néi 2 Khoa gi¸o dôc chÝnh trÞ ===== o0o =====

tiÓu luËn TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Gi¶ng viªn :

……………

Sinh viªn

:

Líp

: K36 – GDCD

Hµ Néi, 2013

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU. 1. Lý do chọn đề tài 2. Tình hình nghiên cứu vấn đề CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN 1.1. Quan điểm của MÁC-ĂNGGHEN về người đảng viên cộng sản. 1.2. Quan điểm của LÊNIN về người đảng viên cộng sản. 1.3. Quan điểm của HỒ CHÍ MINH về người đảng viên cộng sản. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. 2.1. Đặc điểm tình hình của chi bộ trường THCS ĐÀO XÁ 2.2. Giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên trong giai đoạn hiện nay. KẾT LUẬN. DANH MỤC THAM KHẢO.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài Chất lượng đảng viên là một trong những vấn đề cơ bản quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bởi đảng viên là những phần tử tạo thành các tổ chức cơ sở đảng và tạo thành Đảng. Chất lượng đảng viên có vai trò cực kỳ quan trọng trong mỗi thời kỳ phát triển của đất nược Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Mỗi đảng viên tốt, mỗi Chi bộ tốt là Đảng được mạnh thêm một phần, đảng viên kém, Chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng”?.Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nạm Đảng là sự liên kết của những người cùng lý tưởng, cùng mục đích phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vững buớc tiến lên Chủ nghĩa xã hội”… Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ,Đảng ta đã nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực, thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm Pháp luật của Nhà nước bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng, vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, …, thoái hoá biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn diễn ra nghiêm trọng, kéo dài”`. (Nguồn: Văn kiện Đại hội X của Đảng, trang 263,264). Nhận thức sâu sắc được những vấn đề về giáo dục, chất lượng giáo dục, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ đảng viên nên tôi mạnh dạn chọn đề tài:

“thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên của Chi bộ Trường THCS Đào Xá hiện nay”, để làm đề tài tiểu luận cuả mình. 2. Tình hình nghiên cứu vấn đề. Do tầm quan trọng và sự đòi hỏi của tổ chức đảng thì vấn đề nâng cao chất lượng đảng viên là rất cần thiết.Nâng cao chất lượng đảng viên là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì vậy trong thời gian gần đây đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu và nói về vấn đề này: – Bài viết: Để chất lượng đảng viên đáp ứng yêu cầu của Điều lệ Đảng – Theo Tạp chí cộng sản – Bài viết:Nâng cao chất lượng Đảng viên là yếu tố then chốt nâng cao chất lượng Đảng, -Góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI: – Bài viết :Nâng cao chất lượng đảng viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh,- Báo điện biên phủ online Nhìn chung những bài viết này đã nói khá rõ về việc nầng cao chất lương đảng viên tuy nhiên lại chưa đi vào cụ thể của từng chi bộ nào .Vì vậy trên cơ sở kế thừa các thành tựu đó tôi chọn đề tài này làm bài tiểu luận của mình.

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN 1.1 Quan điểm của Mác, ăng ghen, Lênin về người đảng viên cộng sản: – Mác và ăng ghen đã khẳng định: Để lật đổ giai cấp tư sản và xã hội tư bản, xây dựng chủ nghĩa Cộng sản, giai cấp Vô sản nhất thiết phải thành lập chính Đảng của mình. Hai ông đã đưa ra những quan điểm, nguyên lý xây dựng chính Đảng cách mạng của giai cấp vô sản và trực tiếp thể hiện quan điểm đó trong quá trình xây dựng và lãnh đạo hoạt động của “Liên đoàn những người cộng sản”? – chính Đảng cách mạng đầu tiên trên thế giới của giai cấp vô sản, trong đó bộ phận rất quan trọng là những quan điểm cơ bản về người đảng viên cộng sản.Người đảng viên cộng sản về mặt thực tiễn là bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhận ở tất cả các nước, là bộ phận cổ vũ tất cả các bộ phận khác . Về lý luận, họ hơn những bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản. Các Mác và ăng ghen là những người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơ bản về Đảng Cộng sản. Những tư tưởng đó bắt nguồn từ luận điểm khoa học về vai trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân…Theo hai ông: Đảng viên cộng sản là người được vũ trang bằng lý luận tiên tiến, có trình độ giác ngộ cao và trong hoạt động thực tiễn đảng viên là người kiên quyết biết lôi cuốn quần chúng hoạt đông. Đảng là một đội ngũ có tổ chức chặt chẹ Đảng phải là khối thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chực Như vậy về bản chất, Đảng là của giai cấp công nhân, nhưng Đảng đại diện cho toàn thể nhân dân lao động, bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng cho mình khi nó đồng thời giải phóng các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hôi. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng chỉ có thể làm tròn vai trò là đội tiên phong khi Đảng chỉ bao gồm những chiến sỹ tiên phong ,

– Có trình độ văn hoá, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giạo – Có ý thức kỷ luật cao: “Chính đảng của giai cấp vô sản phải được thực hiện trong nội bộ của mình một chế độ tập trung chặt chẽ và một kỷ luật nghiêm ngặt – Gắn bó với quần chúng, giáo dục tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, là tấm gương mẫu mực cho quần chúng noi theo – Đảng viên Cộng sản phải tiên tiến hơn quần chúng và khác so với các đảng viên khác, các phần tử cơ hôi. Tư cách đảng viên là những đặc trưng cơ bản của người đảng viên cần có, đó là yếu tố chủ yếu để phân biệt với người ngoài Đảng Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy rằng các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lenin rất quan tâm đến đảng viên và công tác đảng viên nhằm xây dựng một đội ngũ đảng viên có chất lượng xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đủ sức lãnh đạo cách mạng đến thắng lơi. 1.1.3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về người đảng viên cộng sản Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc xay dung. Đảng vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tôc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về người Đảng viên Cộng sản là sự kế thừa và phát triển tư tưởng, quan điểm của Mác – ăng ghen và Lenin, phù hợp với điều kiện nước ta.Nói chuyện tại phân hiệu II Trường Nguyễn ái Quốc vào

tháng 07 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng không phải là nơi để thăng quan tiến chức, để phát tại Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của tổ quốc, của giai cấp”. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản Đảng chỉ kết nạp những người ưu tú trong giai cấp công nhân, nhân dân lao động vào Đảng Để đảm bảo vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo của Đảng Hồ Chí Minh rất quan tâm đến điều kiện để trở thành người đảng viên Cộng sản, hay nói cách khác đó là tư cách, tiêu chuẩn, hình mẫu của đảng viên cộng sản Điều lệ vắn tắt của Đảng cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, ghi rõ: “Lễ vào Đảng: Ai tin theo chủ nghĩa Công sản, chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản, hăng hái đấu tranh cẩn thận và giám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng đảng phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng, thời được vào Đang”?. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Người vào Đảng phải thừa nhận Đảng cương, phải tham gia công tác trong một tổ chức của Đảng, phải tuyệt đối trung thành Nghị quyết của Đảng, nộp đảng phi”‘. Ngay từ năm 1927, đặc biệt là từ khi thành lập Đảng đến lúc Người qua đời, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết về tư cách của người đảng viên cộng sản thể hiện ở những nội dung: – Trung thành với chủ nghĩa Mac- Lenin, kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng dân tộc và nhân loai. – Vừa có tài, vừa có đức, trong đó đức là gốc, tích cực nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhận – Gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn luôn lấy dân làm gốc, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thống nhất lời

nói với việc làm, thực hiện “Đảng viên đi trước làng nước theo sau”, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết và trước hết. – Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế – Kiên quyết đấu tranh chống các tư tưởng và hành động sai trái phản động trước hết là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại và bệnh giáo điêu. – Chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật Đảng, Pháp luật của Nhà nước.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN CỦA CHI BỘ TRƯỜNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NÀY 2.1.Đặc điểm tình hình chi bộ trường THCS Đào Xá: Trường THCS Đào Xá-Thanh Thủy là trường công lập với nhiệm vụ chính là giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh trong xã Đào Xá- H.Thanh Thủy – T. Phú Thọ *) Về cơ cấu tổ chức của nhà trường: – 01 Hiệu trưởng – 02 Phó hiệu trưởng – 02 tổ chuyên môn *) Các tổ chức chính trị: – Chi bộ nhà trường: 21 đảng viên; Chi uỷ có 03 đồng chí – Công đoàn nhà trường: 30 đoàn viên công đoàn; BCH có 03 đồng chí – Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: 102 đoàn viên; BCH gồm 4 đồng chí – Ban nữ công: 14 người – Cựu chiến binh: 2 người 2.1.1. Những mặt đã đạt được: * Về đội ngũ đảng viên : – Đa số đảng viên có lập trường quan điểm vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức giác ngộ lý tưởng cộng sản, đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước Tin tưởng tuyệt đối vào đường lối của Đảng, luôn xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đảng viên trong thực hiện đường lối của Đảng, coi giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu và có tín nhiệm đối với quần chúng nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giạo – 100% đảng viên có trình độ chuyên môn được đào tạo cơ bản, phù hợp với nhiệm vụ công tác Đa số có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vạng Trrong công tác thể hiện sự trung thành, tận tuỵ, sáng tạo, đặc biệt ở các đảng viên trẻ sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm – Đảng viên không chỉ là những người có nhận thức cao về chuyên môn nghiệp vụ mà còn tham gia hưởng ứng đăng ký các danh hiệu thi đua trong năm. Thực hiện tốt phong trào thi đua “hai tốt”‘ và các cuộc vận động lớn của ngành giáo dục, là những tấm gương tiêu biểu về nhận thức, chính trị, xã hôi. Mỗi đảng viên thực sự là cầu nối để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, – Chi bộ có số lượng đảng viên trẻ nhiều, nhưng đa số đảng viên luôn đầu tàu gương mẫu trong mọi công tác, phục tùng sự phân công của tổ chức. Có ý thức khả năng tổ chức vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường, thường xuyên liên hệ chặt chẽ với quần chúng – Hầu hết đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, trong sáng, không xa hoa, lãng phí, không có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, có ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có trách nhiệm vận động gia đình, đồng chí và quần chúng cùng thực hiện nghiêm chỉnh.

– Đảng viên khi phân công nhiệm vụ đều sẵn sàng nhận và hoàn thành tột Thực hiện tốt 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã được quy định trong Điều lệ Đảng – Về tư tưởng chính trị: + Mỗi đồng chí trong chi uỷ đều có phẩm chất chính trị tốt. Luôn luôn tin tưởng vào chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước. Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, không dao động trong các tình huống và trong chiến lược diễn biến hoà bình cũng như toàn cầu hoá của các thế lực thù địch. + Luôn tự học, tự bồi dưỡng để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. + Luôn có tư tưởng cầu tiến và mong muốn chỉ đạo đơn vị thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị và thực hiện tốt các chủ trương chính sách, nghị quyết của cấp trện – Về đạo đức lối sống: + Thực hiện tốt quy định 115 của Bộ chính trị Khoá X về những điều cấm đảng viên không được lạm + Không vi phạm đạo đức nhà giáo, theo tinh thần chỉ đạo của cấp trên về cuộc vận động “Hai không với bốn nội dung”: Nói không với tiêu cực trong thi cử, nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo, nói không với học sinh ngồi nhầm lợp – Công tác thực hiện nhiệm vụ được giao

+ Các đảng viên trong chi bộ và cán bộ giáo viên, học sinh tin tưởng vào chủ trương, nghị quyết của chi uỷ đề ra mọi người tham gia thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết. + Hàng tháng chi bộ sinh hoạt để đánh giá kết quả hoạt động công tác của các đảng viên và việc thực hiện nghị quyết chi bộ tháng trược Phân tích những mặt mạnh, mặt yếu và việc thực hiện nhiệm vụ được giao nên đã tạo được không khí vui vẻ hoà thuận trong nhà trường, cùng nhau chung sức làm viêc. + Trong năm qua chi uỷ nhà trường rất quan tâm trong việc triển khai học tập , nghiên cứu để thực hiện các nội dung nghị quyết của đảng và các cấp uỷ chính quyền cấp trên để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đảng viên và quân chúng để mọi người yên tâm công tác xây dựng nhà trường, chi bộ nhà trường ngày càng vững manh. * Về công tác đảng viên: – Công tác đảng viên là khâu quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Vì vậy, Chi bộ trường THCS Đào Xá đã thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng cho đảng viên, trang bị những kiến thức về Chủ nghĩa Mac Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tổ chức học tập nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng, Pháp luật của Nhà nước một cách kịp thợi Chi bộ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đảng viên được học tập nâng cao kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ, năng lực tổ chức quản lý để mỗi đảng viên xứng đáng là chiến sỹ Cộng sản có lý thưởng cách mạng, giữ vững vai trò tiên phong, gương mẫu trong nhận thức và hành đông.

+ Chi bộ quan tâm công tác giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị, kiến thức năng lực thực tiễn cho đảng viên Chi bộ đã tạo điều kiện để mọi đảng viên được học tập tất cả các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đồng thời tổ chức học tập nghiên cứu để hiểu cụ hơn mỗi Nghị quyết tại Chi bộ qua các cuộc họp của các Chi bộ + Chi bộ đã không ngừng chỉ đạo các hoạt động trong Nhà trường, đặc biệt công tác chuyên môn, ngoài việc tạo điều kiện cho đảng viên được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Chi bộ còn chỉ đạo tăng cường đổi mới, cách cách hành chính trong nội bộ Nhà trường, tổ chức các hội thảo xây dựng khung chỉ đạo thống nhất từ lãnh đạo đến các phòng, khoa, giáo viên, nhân viên trong công tác hướng dẫn chỉ đạo, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ quản lý, năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên. – Về phân loại chất lượng đảng viên: Việc phân loại đảng viên hàng năm được Chi bộ tiến hành một cách chu đạo Mỗi đảng viên trong Chi bộ tự viết bản kiểm điểm và tự nhận loại cho mình. Dựa theo tiêu chí do Ban tổ chức TW và các hướng dẫn của cấp trên căn cứ vào hiệu quả công tác, kết quả rèn luyện nhiệm vụ và phẩm chất của người đảng viên để phân loại. Việc phân loại đã được Chi bộ làm đúng quy trình, đảng viên tự thông qua bản tự kiểm điểm cá nhân, tự nhận loại và sau đó Chi bộ đóng góp ý kiến xây dựng, phê bình hết sức thẳng thắn . – Về công tác phát triển Đảng: Chi bộ thực sự quan tâm đến công tác phát triển đảng viên Chi bộ luôn tạo điều kiện bồi dưỡng, giới thiệu những đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Mịnh Đoàn viên công đoàn ưu tú để kết nạp họ vào Đảng, tăng cường lực lượng cho Đảng.

– Công tác kiểm tra giám sát của Đảng: Trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, việc nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo và uy tín của các tổ chức cơ sở Đảng đang là yêu cầu cấp bạch Để làm tốt điều đó, một nhiệm vụ rất quan trọng là các tổ chức Đảng cần tăng cường công tác kiểm tra của mình và phải coi đây là công tác quan trọng, thường xuyên của mỗi cấp uỷ và từng đảng viên . 2.2.2. Những hạn chế: * Về đội ngũ đảng viên: – Một số ít đảng viên ý thức giác ngộ về lý tưởng chủ nghĩa Cộng sản còn yếu – Một số đảng viên ý thức đã biểu hiện trình độ một số mặt còn hạn chế: việc cập nhật tri thức mới, nhất là kiến thức về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, chỉ đạo, trong sinh hoạt chưa mạnh dạn đấu tranh tự phê bình và phê bình. – Vẫn còn một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, chưa lắng nghe ý kiến của quần chúng, chưa có tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ * Về công tác đảng viên: – Công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị cho đảng viên chưa sâu rộng, chưa cụ thể hoá trong từng nhiệm vụ của đảng viên trước Chi bộ. – Việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên có khi còn chung chung, chưa căn cứ vào kết quả hoàn thành công việc (nhất là công tác kiêm nhiệm) để đánh giá phân loại cuối năm.

– Nội dung sinh hoạt của Chi bộ có lúc còn nghèo nàn, chất lượng sinh hoạt chưa cao 2.2. Giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên của nhà trường trong giai đoạn hiện nay – Một là, xây dựng những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể đối với đảng viên. Trên cơ sở những tiêu chuẩn đảng viên mà Điều lệ Đảng quy định, các cấp ủy đảng ở các loại hình tổ chức cơ sở đảng cần cụ thể hóa tiêu chuẩn đảng viên một cách phù hợp. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng đến các yếu tố cụ thể, như: sự giác ngộ, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị; đạo đức, lối sống; thái độ và cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, công tác, quan hệ lợi ích; tính tiền phong gương mẫu; ý thức trách nhiệm, chấp hành kỷ luật; năng lực thực hiện nhiệm vụ; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chấp hành Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. – Hai là, thực hiện tốt công tác phân công nhiệm vụ và quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên. Các chi bộ cần bảo đảm tất cả các đảng viên đều được phân công nhiệm vụ cụ thể. Tất cả đảng viên đều phải chịu sự quản lý của tổ chức đảng về các mặt: hồ sơ lý lịch, tư tưởng, đạo đức, lối sống, hoạt động, các mối quan hệ xã hội, quan hệ công tác. Ngoài những nội dung quản lý đó, hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm quản lý số đảng viên đi làm ăn xa và số đảng viên làm việc ở những cơ quan quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở những cơ quan công quyền và đảng viên ở những cơ quan thuộc diện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị

định số 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết địnhsố 05/2008/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ. Thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên về lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; về hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công, mối quan hệ giữa đảng viên với quần chúng, tính tiền phong gương mẫu và giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên. Bên cạnh đó, hiện nay, các cấp ủy cần căn cứ vào Quy định số 47QĐ/TW, ngày 1-11-2011, của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm để kiểm tra, giám sát đảng viên cho tốt. – Ba là, tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ đảng viên. Thực tế cho thấy, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương ngày càng nhiều và khó khăn, phức tạp. Không phải cứ đứng trong hàng ngũ của Đảng, là mọi đảng viên đều có đủ khả năng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ ở mọi lúc, mọi nơi. Vì thế, việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đảng viên không chỉ là yêu cầu thường xuyên, lâu dài, mà còn là đòi hỏi cấp bách. Để công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đảng viên có hiệu quả, cần thực hiện tốt những việc sau: Tăng cường và đổi mới nội dung, hình thức giáo dục lý luận chính trị tại các chi bộ, đảng bộ. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và những kỹ năng cơ bản để xử lý công việc. Định kỳ hằng năm, cấp ủy cơ sở cần đánh giá trình độ, năng lực thực tế của đảng viên, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị và nhu cầu, nguyện vọng học tập, bồi dưỡng của đảng viên để xác định nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng một cách thiết thực, phù hợp. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường hình thức sinh hoạt chuyên

KẾT LUẬN Thực tiễn và kinh nghiệm lịch sử của những năm qua đã khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng nước ta Đảng có vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có khả năng tạo lập, giữ vững và nâng cao sức mạnh của Đảng tạo thành sự vững mạnh của mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, Mặt khác sức mạnh của Đảng cũng được tạo ra và nhân lên từ cơ sở xã hội của Đảng là quần chúng nhân dân và mối liên hệ mật thiết hàng ngày giữa Đảng với nhân dân,Quần chúng tín nhiệm và tin tưởng Đảng không chỉ căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng mà còn thông qua tổ chức Đảng và các đảng viên. Là một Đảng chiến đấu, một Đảng hành động, Đảng ta coi công tác đảng viên là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phản ánh trực tiếp và cụ thể chất lượng của Đảng Trong điều kiện hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải được giải quyết một cách khẩn trương, nhưng cũng là nhiệm vụ lâu dài bởi lẽ, suy cho cùng toàn bộ sức mạnh của Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đều được tạo thành từ từng người đảng viên, đều phụ thuộc vào số lượng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi ngưởi đảng viên không những nâng cao năng lực về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn đòi hỏi phải có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, có tính tiên phong gương mẫu có trách nhiệm cao trongthực hiện nhiệm vụ, suốt đời phấn đấu vì mục đích lý tưởng của Đảng, của giai cấp, của dân tôc. Bởi vậy nâng cao chất lượng đảng viên là một yêu cầu cấp bách, nâng cao chất lượng đảng viên phải tiến hành đồng bộ với việc kiện toàn và

nâng cao năng lực của bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền và các Đoàn thể trong nội bộ nhà trượng Nâng cao chất lượng đảng viên đòi hỏi các tổ chức cơ sở Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhằm nâng cao chất lượng đảng viên góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Các Địa Phương Trong Giai Đoạn Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!