Đề Xuất 5/2022 # Luận Văn: Quản Lý Đảng Viên Của Đảng Bộ Phường Tại Tphcm, Hay # Top Like

Xem 5,148

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Văn: Quản Lý Đảng Viên Của Đảng Bộ Phường Tại Tphcm, Hay mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 5,148 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thanh, Quyết Toán Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Sử Dụng Nguồn Vốn Ngân Sách Nhà Nước Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Hồ Sơ Cán Bộ, Công Chức Tại Phòng Nội Vụ Lục Ngạn
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Quản Lý Địa Chính Trên Địa Bàn Thành Phố Thanh Hóa
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Hồ Sơ Cán Bộ Công Chức, Viên Chức Tại Trường Thcs Phạm Hồng Thái
  • Quản Lý Hồ Sơ Cán Bộ, Công Chức
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ với đề tài: Công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  TRẦN THẾ THUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦACÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRÊN ĐỊABÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC HÀ NỘI -2014
    2. 2. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  TRẦN THẾ THUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦACÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRÊN ĐỊABÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY CHUYÊNNGÀNH: XÂYDỰNG ĐẢNG VÀCHÍNH QUYỀNNHÀNƯỚC MÃ SỐ: 60 31 02 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi PHẠM VĂN THẮNG HÀ NỘI – 2014
    3. 3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 8 1.1. Đảng bộ phường và những vấn đề cơ bản công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. 8 1.2. Công tác quản lý đội ngũ đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm. 29 Chương 2 MỤC TIÊU, YÊU CẦU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 51 2.1. Những yếu tố tác động và mục tiêu, yêu cầu, phương hướng tăng cường công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 51 2.2. Những giải pháp chủ yếu tăng cường công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 62 KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 93
    4. 4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công tác quản lý đảng viên là một nội dung của công tác xây dựng đội ngũ đảng viên. Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên bao gồm: Quản lý, giáo dục, rèn luyện, sàng lọc đảng viên và phát triển đảng viên mới. Cả lý luận thực tiễn đã khẳng định quản lý tốt đảng viên là điều kiện, tiền đề để giáo dục, rèn luyện, đánh giá, phân công công tác, sàng lọc đảng viên Hiện nay việc quản lý đảng viên cực kỳ phức tạp. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng bao quát toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng viên của Đảng giữ các cương vị lãnh đạo trong bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị. Đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế. Điều này đặt ra nhiều vấn đề mới đối với công tác quản lý đảng viên. Thực trạng hiện nay cho thấy, quản lý đảng viên gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Điều đáng lo ngại là việc nắm các quan hệ chính trị – xã hội của đội ngũ đảng viên. Những năm qua, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ đảng viên, các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều chủ trương, giải pháp quản lý đảng viên. Nhờ đó đã trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh. Mặc dù vậy công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều sơ hở, thiếu sót, nhất là chưa nắm chắc các quan hệ chính trị – xã hội phức tạp của đội ngũ đảng viên; chưa ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận trong đội ngũ đảng viên. Có nhiều nguyên nhân của tình hình, trong đó nguyên nhân cơ bản là một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thấy rõ sự cần thiết, tính chất khó khăn, phức tạp của công tác quản lý đảng viên để có các chủ trương, giải pháp quản lý đảng viên một cách có hiệu quả. Tình hình nhiệm vụ, của các đảng bộ phường, đời sống kinh tế – xã hội ở các phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển nhanh chóng 3
    5. 6. – Nguyễn Văn Doãn (2008), Quản lý đảng viên là người công giáo ở các đảng bộ của huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị. – Nguyễn Đình Hương, Tăng cường công tác quản lý cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng số 10/2004. – Hồng Sơn, Sơ kết làm điểm sử dụng bộ chương trình quản lý cơ sở dữ liệu ở Đảng bộ Hải Dương, Tạp chí Xây dựng Đảng số 5/2004. – Lê Đức Bình, Nhân dân giám sát tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, Tạp chí Xây dựng Đảng số 5/2004. – Trần Quốc Huy, Bàn về quản lý và đánh giá cán bộ, đảng viên, Tạp chí Xây dựng Đảng số 7/2006. – Cao Ngọc Hải, Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng số 8/2006. – Vũ Ngọc Dũng, Việc chi bộ phân công nhiệm vụ cho đảng viên ở xã, phường, thị trấn, Tạp chí Xây dựng Đảng số 12/2006. – Mạch Quang Thắng, Một số vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, Tạp chí Tư tưởng – Văn hóa số 9/2006. Tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ của khoa học xây dựng Đảng các đề tài trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý đảng viên gắn với đặc điểm tổ chức, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, các tác giả đều khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý đảng viên. Các công trình đã đánh giá thực trạng công tác này; rút ra các bài học kinh nghiệm về quản lý đảng viên. Khẳng định những yêu cầu khách quan của quản lý đảng viên. Tuy mỗi đề tài có mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng đều thống nhất cho rằng, quản lý đảng viên là một tất yếu khách quan. Vì vậy, phải quán triệt quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung công tác quản lý đảng viên đã xác định trong nghị quyết, văn kiện của Đảng vào xác định phương hướng, mục tiêu, chủ trương, giải pháp quản lý đảng viên ở các tổ chức đảng. 5
    6. 7. Kết quả nghiên cứu của các đề tài đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định các chủ trương, giải pháp quản lý đảng viên của mỗi tổ chức đảng. Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường Thành phố Hồ Chí Minh với tính chất là một công trình khoa học độc lập. Vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với các công trình khoa học, luận văn, luận án đã công bố trong những năm gần đây. Tác giả luận văn trân trọng, kế thừa kết quả của các công trình trên để nghiên cứu vấn đề “Công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài * Mục đích nghiên cứu Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn; đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. * Nhiệm vụ nghiên cứu – Làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. – Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. – Xác định mục tiêu, yêu cầu, phương hướng và đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài * Đối tượng nghiên cứu : Công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. * Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu lý luận, thực tiễn, giải pháp quản lý đảng viên của 259 đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ 2010 đến nay; các giải pháp có giá trị ứng dụng đến năm 2025. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài * Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư 6
    7. 9. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1. Đảng bộ phường và những vấn đề cơ bản về công tác quản lý đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 1.1.1.Đảng bộ phường và đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh * Khái quát tình hình, đặc điểm Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 Thành phố trực thuộc Trung ương của Nước ta, về mặt hành chính, Thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện, toàn Thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã, phường, bao gồm: 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn… với tổng diện tích: 2.095,01 km2 , theo kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2009, dân số thành phố là 7.162.864 người; mật độ 3.419 người/ km2 , lượng dân tập trung chủ yếu trong nội thành, gồm 5.881.511 người, mật độ lên đến 11.906 người/ km2 . Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội thành. Trong khi các quận 3, 4, 5, 11 có mật độ lên đến trên 40.000 người/ km2 thì các Quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2000 – 6000 người/km2 , các huyện ngoại thành rất thấp. Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả nước (năm 2013 bình quân 4.500 USD), nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường, những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại cao hơn nhiều so với ngành sản xuất, sự khác biệt xã hội còn thể hiện rõ giữa các quận nội thành so với các huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Nước ta. 8
    8. 10. * Đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đảng bộ phường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là tổ chức cơ sở đảng ở đơn vị hành chính trong hệ thống tổ chức 4 cấp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống tổ chức hành chính các cấp của Nhà nước ta có: cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương, cấp quận, huyện và tương đương; cấp xã, phường, thị trấn. Căn cứ Quy định số 94-QĐ/TW ngày 03 tháng 3 năm 2004 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn, các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có chức năng: Đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước và quản lý đô thị trên địa bàn; xây dựng hệ thống chính trị phường vững mạnh, xây dựng phường giàu đẹp văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước. * Nhiệm vụ của đảng bộ phường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Một là, lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng. Đảng bộ phường lãnh đạo chính quyền phường thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội theo nghị quyết đại hội đảng bộ và cấp trên; tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế và hộ gia đình phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đúng chính sách, pháp luật Nhà nước, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước; xây dựng phường giàu đẹp văn minh. Lãnh đạo chính quyền thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, quản lý đô thị trên địa bàn; thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, xóa đói giảm nghèo. 9
    9. 11. Lãnh đạo xây dựng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của chính quyền theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kịp thời giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong cộng đồng dân cư ở phường theo đúng pháp luật, không để tích tụ mâu thuẫn trở thành điểm nóng, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậu phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, tính mạng và tài sản của nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là tệ ma túy, mại dâm. Hai là, lãnh đạo công tác tư tưởng. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh, thiếu niên; xây dựng tình đoàn kết thương yêu, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở tổ dân phố, khu dân cư và trong từng gia đình; chú trọng tuyên truyền và nhân rộng người tốt, việc tốt, các nhân tố tích cực trên mọi lĩnh vực. Tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân hiểu và chấp hành đúng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và các nhiệm vụ ở địa phương, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để báo cáo lên cấp trên. Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân đấu tranh chống các quan điểm sai trái, những hành vi nói, viết và làm trái với đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; đấu tranh ngăn chặn bệnh thực dụng, cục bộ, bè phái, gia trưởng, bảo thủ và các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, phòng chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. 10
    10. 12. Ba là, lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức đảng trong hệ thống chính trị phường, các đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế ở phường vững mạnh; xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tích cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ công chức phường. Đảng ủy phường xây dựng quy chế về công tác tổ chức, cán bộ; nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ đối với cán bộ thuộc quyền; quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với cán bộ ở cơ sở theo phân cấp; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm trong tổ chức đảng và nhân dân vào các chức danh chủ chốt của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân phường, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức. Đảng ủy phường đề xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cấp trên và cán bộ chủ chốt do cấp trên quản lý. Bốn là, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đảng bộ phường lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở phường vững mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức. Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thi đua thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của phường, trước hết là những chủ trương, chính sách về xây dựng và quản lý đô thị, giải quyết việc làm và các chính sách xã hội khác. Năm là, Xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh. Đảng bộ phường đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ và chi bộ trong sạch vững mạnh, gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, nâng 11
    11. 13. cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là việc phát hiện và đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; xây dựng và nâng cao chất lượng lãnh đạo của các chi bộ, tổ đảng ở tổ dân phố, khu dân cư. Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có nền nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu. Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên, nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu, phấn đấu trở thành người lao động giỏi, công dân mẫu mực; nghiêm chỉnh chấp hành, tuyên truyền và vận động nhân dân, thuyết phục nhân dân chấp hành nghị quyết của tổ chức đảng, quyết định của chính quyền và chương trình hành động của các đoàn thể nhân dân. Đảng ủy phường xây dựng kế hoạch và tạo điều kiện để đảng viên thực hiện nhiệm vụ học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mọi mặt. Đảng ủy phường xây dựng kế hoạch, biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Làm tốt công tác động viên, khen thưởng, kỷ luật đảng viên, xử lý nghiêm, kịp thời những vấn đề cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước. Làm tốt công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, bảo đảm về điều kiện và quy trình, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên và những người lao động giỏi có uy tín trong quần chúng. Xây dựng cấp ủy và bí thư cấp ủy bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, thực sự là trung tâm đoàn kết, hoạt động có hiệu quả được đảng viên và nhân dân tín nhiệm. Định kỳ hàng tháng, năm cấp ủy tổ chức để quần chúng tham gia góp ý xây dựng Đảng. Bí thư cấp ủy cơ sở, chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tự phê bình trước đại diện của nhân dân và chịu trách nhiệm khi để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở địa phương. 12
    12. 14. Đảng ủy phường thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước và quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm. Phối hợp với các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn và các tổ chức cơ sở đảng có đảng viên, cán bộ công chức đang cư trú trên địa bàn thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước và các nhiệm vụ của địa phương. Tóm lại, đảng bộ phường là tổ chức cơ sở đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở: đây là nơi quán triệt, chấp hành chủ trương, đường lối, nhiệm vụ chính trị của cấp trên; cụ thể hóa, đề ra nhiệm vụ của cấp mình và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ đó, biến chủ trương, đường lối, nhiệm vụ của Đảng thành hiện thực trong cuộc sống. Đảng bộ phường là nơi quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân; đây là nơi tổng kết thực tiễn, bổ sung vào chủ trương, đường lối của Đảng ngày càng hoàn thiện và đúng đắn, có lý có tình, hợp với ý Đảng lòng dân, là cơ sở vững chắc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của Đảng. * Một số đặc điểm các đảng bộ phường ở thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh có 2.762 tổ chức cơ sở đảng, trong đó khối phường là 259 phường; quận có số đảng bộ phường cao nhất là Quận Bình Thạnh với 20 đảng bộ phường, quận có số đảng bộ phường thấp nhất là Quận Bình Tân với 9 đảng bộ phường, các quận còn lại bình quân có 15, 16 đảng bộ phường như Quận 4, 5, 8, 10, Tân Bình, Gò Vấp… Tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh so với năm 2009 đến nay tăng 75 cơ sở, trong đó khối phường tăng 5 cơ sở. Các đảng bộ phường ở Thành phố Hồ Chí Minh có những điểm khác nhau về cơ cấu tổ chức, địa giới hành chính, mật độ dân cư và đặc điểm tình hình ở từng khu vực: tùy số lượng đảng viên của đảng bộ phường, số lượng cấp ủy có khác nhau dao động từ 9 đến 15 cấp ủy viên và từ 3 đến 5 cấp ủy là ban thường vụ đảng ủy phường; một số địa bàn phường tập trung đồng 13
    13. 15. bào tôn giáo, dân tộc…; do đặc điểm có quận hình thành từ sau giải phóng chủ yếu các quận nằm trung tâm Thành phố như Quận 1, 3, 4, 5, Bình Thạnh, Tân Bình… Có quận thành lập sau như: Quận 9, 2, Bình Tân, Tân Phú… Nên các phường cũng có những đặc điểm khác nhau; phần lớn đều đang trong quá trình đô thị hóa, chỉnh trang đô thị nên có phường là đô thị hoàn chỉnh, có phường bán đô thị, có phường đô thị một phần; có phường tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất… Chính vì vậy ít nhiều tác động đến đảng viên và công tác quản lý điều hành của cấp ủy về phát triển kinh tế,văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng Đảng và vận động nhân dân trên địa bàn từng phường. * Đội ngũ đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đội ngũ đảng viên của các đảng bộ phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là những đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị phường, những đảng viên nghỉ hưu. Ngoài ra còn có những đảng viên công tác ở các cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành của thành phố và Trung ương có gia đình cư trú trên địa bàn phường. Năm 2009 Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh có tổng số là 127.574 đảng viên đến năm 2013 tăng lên là 156.377 đảng viên trong đó khối quận là 88.992 đảng viên và khối phường là 65.765 đảng viên chiếm tỷ lệ 73,89%, độ tuổi bình quân hiện nay là 48,42 tuổi; đảng viên khối phường bình quân chiếm tỷ lệ từ 65% đến 75% tổng số đảng viên của quận, số lượng đảng viên của các đảng bộ phường thuộc quận cũng giống như các đảng bộ quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, phân bổ không đồng đều có phường quá đông đảng viên, song cũng có phường quá ít đảng viên. Đảng viên khối phường phần đông là đảng viên hưu trí, đảng viên cao tuổi đảng chiếm tỷ lệ từ 50% đến 60% tổng số đảng viên phường . Điều này thể hiện ở tuyệt đại đa số cấp ủy, đảng bộ phường đã nhận thức rõ vị trí vai trò của đảng bộ đối với công tác quản lý đảng viên, coi đó là một nội dung trọng tâm của công tác xây dựng đảng bộ. Đã đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quản lý đảng viên. Các đảng bộ phường đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 6 lần 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Đảng bộ Thành phố về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trên cơ sở đó các đảng bộ phường đã ra nghị quyết, chủ trương lãnh đạo về công tác quản lý đảng viên . Các chế độ sinh hoạt đã được các đảng bộ phường duy trì chặt chẽ, nề nếp theo quy định của Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư, Hướng dẫn 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, sinh hoạt có nội dung cụ thể, thiết thực. Trong các lần sinh hoạt việc quản lý đảng viên luôn được coi là một nội dung quan trọng. Cùng với nâng cao chất lượng sinh hoạt, các cấp ủy, chi bộ, thuộc các đảng bộ phường đã thường xuyên chú trọng công tác kiểm tra đảng viên ở chi bộ. Thông qua các hình thức sinh hoạt lãnh đạo, sinh hoạt học tập, sinh hoạt tự phê bình và phê bình của các chi bộ thuộc các đảng bộ phường để kiểm điểm, đánh giá, quản lý về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiến thức, trình độ, năng lực, phương pháp, phong cách, các mối quan hệ xã hội của đội ngũ đảng viên. Trong các đợt tổng kết thực hiện nhiệm vụ cuối năm, cuối nhiệm kỳ, chi ủy, chi bộ thuộc các đảng bộ phường đều lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn đội ngũ đảng viên viết tự kiểm điểm trên các phương diện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức, trình độ, năng lực, việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện; kết quả hoàn thành nhiệm vụ; tuyên truyền vận động, thực hiện các mối quan hệ với nhân dân; chấp hành nguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng; chấp hành kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Từng đảng viên tự đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, tự xếp loại đảng viên. Tổ đảng sinh hoạt, yêu cầu đảng viên trình bày bản tự kiểm điểm; tổ đảng góp ý, đánh giá, nhận xét đối với từng đảng viên và tổng hợp báo cáo chất lượng đảng viên của tổ đảng lên chi ủy. Chi ủy họp để đánh giá chất lượng đảng viên của chi 29
    14. 32. người được hỏi đánh giá tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, đảng bộ phường đối với công tác quản lý đảng viên . Kết quả này khẳng định các đảng bộ phường đã thực hiện khá tốt việc phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống 31
    15. 33. chính trị và phát huy vai trò của nhân dân đối với công tác quản lý đảng viên. Định kỳ hàng quý, tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp giữa cấp ủy đảng, chính quyền với nhân dân để trả lời những thắc mắc, kiến nghị, đề xuất của nhân dân về các vấn đề được nhân dân đặc biệt quan tâm như: phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững, quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng nông thôn mới, phòng chống các tệ nạn xã hội, bệnh tham nhũng… Bốn là, ý thức tự quản lý của mỗi đảng viên được nâng lên, có sự trưởng thành về phẩm chất, năng lực, phong cách công tác đáp ứng tiêu chuẩn đảng viên. Đại đa số đảng viên đã phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong các hoạt động tự quản lý và đề cao trách nhiệm đối với công tác quản lý đảng viên của đảng bộ phường. Nhìn chung mọi đảng viên đã có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực chủ động học tập, rèn luyện, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đề cao tính đảng, tính nguyên tắc, tính kỷ luật trong chấp hành các chế độ quy định tại địa phương. Hầu hết các đảng viên đều nhiệt tình, trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, nhiều đảng viên phát huy tinh thần độc lập sáng tạo, cố gắng tìm tòi mạnh dạn tham gia đề xuất với cấp ủy, chi bộ, đảng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đảng viên. Kết quả bình xét đảng viên các năm cho thấy tuyệt đại đa số các đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều đồng chí được khen thưởng. Mỗi đảng viên đều nhận rõ trách nhiệm của mình đối với việc tham gia quản lý đảng viên của cấp ủy, đảng bộ phường và vai trò của tự quản lý. Luôn có ý thức cầu tiến bộ, rèn luyện đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh, khiêm tốn giản dị, gương mẫu, sống chan hòa, chân tình cởi mở, không vụ lợi hẹp hòi, xây dựng tác phong gương mẫu. Qua điều tra thực thế cho thấy điểm mạnh nổi bật về tự quản lý của đảng viên chính là ở ý thức tự rèn về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, tinh thần trách nhiệm cao, cầu tiến bộ. Đảng viên đều nhận rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác quản lý đảng viên. Từ đó mỗi người đều xây dựng kế hoạch phấn đấu rèn luyện cụ thể 32
    16. 34. từng tháng, từng quý. Được cấp ủy, chi bộ đảng bộ quan tâm giúp đỡ theo dõi kiểm tra đôn đốc hướng dẫn thực hiện. Được trang bị những kiến thức lý luận cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng. Các đảng viên đều có khả năng phân tích, đánh giá những vấn đề do cuộc sống đặt ra, những hiện tượng tiêu cực, vi phạm các quy định chế độ về quản lý đảng viên, quản lý con người. Nhiều đảng viên đã tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào các hoạt động của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đóng góp ý kiến về những thiếu sót khuyết điểm của một số đảng viên chưa tích cực tu dưỡng rèn luyện quản lý mình. Trước những vấn đề bức xúc tuyệt đại đa số đảng viên đều có thái độ, quan điểm rõ ràng, kiên quyết bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, đấu tranh thẳng thắn không khoan nhượng với những hiện tượng sai trái vi phạm các chế độ quy định về quản lý đảng viên . * Những hạn chế khuyết điểm Một là, còn một số cấp ủy, chi bộ, đảng bộ phường chưa coi trọng đúng mức công tác quản lý đảng viên, tiến hành chưa chặt chẽ, thiếu tích cực chủ động đề ra các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Còn nhiều nghị quyết của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ phường đề ra nội dung về quản lý đảng viên còn dàn trải chung chung, chưa nêu bật được những vấn đề trung tâm, then chốt trong công tác quản lý đảng viên ở mỗi đảng bộ để tập trung lãnh đạo. Có lúc, có thời gian xác định các chủ trương biện pháp lãnh đạo, xây dựng kế hoạch quản lý đảng viên chưa phù hợp với tình hình đảng viên của đảng bộ. Việc chấp hành các chế độ sinh hoạt, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng ở một số đảng bộ phường còn biểu hiện hình thức, nội dung thiếu thiết thực, đơn điệu. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình còn thiếu tích cực chủ động, còn biểu hiện giản đơn, e dè, né tránh, nể nang mang tính thụ động nhất 33
    17. 35. là khi góp ý cho đồng chí, đồng đội. Việc sơ kết, tổng kết đánh giá mạnh yếu, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra bài học về công tác quản lý đảng viên ở một số đảng bộ phường chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng công tác sơ kết, tổng kết còn hạn chế . 1.2.2. Thực trạng đội ngũ đảng viên * Những ưu điểm – Số lượng đảng viên các quận của Thành phố Hồ Chí Minh hàng năm đều tăng từ 70.653 đảng viên năm 2009 đến năm 2013 tăng lên 88.992 đảng viên, song sự phân bố số lượng đảng viên trên địa bàn các quận ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, đa phần tập trung đông tại các quận nằm trong khu vực trung tâm của Thành phố như Quận 1, 3, 5, 10, Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp; các quận vùng ven số lượng đảng viên thấp như: Quận 2, 4, 7, 8, Bình Tân… đảng viên khối phường tùy theo đặc điểm từng quận bình quân chiếm tỷ lệ từ 65% đến 85% tổng số đảng viên của quận. Việc phân bố đảng viên của các đảng bộ phường thuộc quận không đồng đều có phường quá đông đảng viên, song cũng có phường quá ít đảng viên. Công tác phát triển đảng viên các quận được các chi, đảng bộ quan tâm, số lượng kết nạp đảng viên mới hàng năm tăng nhưng không đáng kể so với mật độ dân cư: năm 2009 kết nạp 2.736 đảng viên, đến năm 2013 kết nạp 3.180 đảng viên, tăng 372 đảng viên; đối tượng được kết nạp chủ yếu là cán bộ, đoàn viên hội viên các đoàn thể; đối tượng thanh niên công nhân, dân tộc, tôn giáo, giáo viên còn rất hạn chế. Bảng 1.1: Số lượng đảng viên các quận, phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay STT Đơn vị Tổng số đảng viên Trong đó đảng viên khối phường/ tỷ lệ % 1 Quận 1 7045 4733/67,81 2 Quận 2 2621 1873/71,46 3 Quận 3 4902 2970/60,58 4 Quận 4 2767 1945/70,29 5 Quận 5 5046 3661/72,55 6 Quận 6 3848 2677/69,56 7 Quận 7 3136 2326/74,17 37
    18. 39. 8 Quận 8 3494 2467/70,60 9 Quận 9 3532 2721/77,03 10 Quận 10 5355 4208/78,58 11 Quận 11 3474 2423/69,74 12 Quận 12 4221 3202/75,85 13 Tân Bình 8429 6778/80,41 14 Gò Vấp 7229 5996/82,94 15 Phú Nhuận 3882 2517/64,83 16 Tân Phú 4280 3100/72,42 17 Bình Thạnh 7367 6307/85,61 18 Bình Tân 3787 2636/69,60 19 Thủ Đức 4577 3225/70,46 Tổng cộng 88992 65765/73,89 Nguồn: Ban Tổ chức Thành ủy cung cấp tháng 02/2014. – Cơ cấu đội ngũ đảng viên các quận ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua thay đổi theo hướng cân đối và đồng bộ hơn. Tuy nhiên, hiện nay cơ cấu vẫn chưa hợp lý và đồng bộ; cơ cấu một số thành phần tỷ lệ còn thấp như: đảng viên mới 3,49% . Bảng 1.2: Cơ cấu đảng viên các quận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 TT Đơn vị Tổng số đảng viên Cơ cấu đảng viên Dự bị Phụ nữ Dân tộc ít người Tôn giáo Đoàn viên TNCS HCM Quân nhân xuất ngũ 1 Quận 1 7045 225 2721 59 84 525 1682 2 Quận 2 2621 136 935 9 37 262 636 3 Quận 3 4902 124 2049 28 63 302 1219 38

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khắc Phục Khó Khăn Trong Quản Lý Đảng Viên
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra
  • Bvpl: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ban Hành Quyết Định Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Lập Hồ Sơ Hiện Hành Ở Các Cở Quan, Tổ Chức Địa Phương
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Khai Thác Hồ Sơ Cán Bộ Tại Vksnd Tỉnh Nghệ An
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Văn: Quản Lý Đảng Viên Của Đảng Bộ Phường Tại Tphcm, Hay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100