Đề Xuất 5/2022 # Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng # Top Like

Xem 19,008

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 19,008 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tham Nhũng
  • Phải Coi Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Là Một Trọng Tâm Lớn
  • Hội Thảo Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH ĐẮK LẮK – NĂM 2022
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60 38 01 02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ THANH THÚY ĐẮK LẮK – NĂM 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các thông tin, số liệu và kết quả trong đề tài này hoàn toàn trung thực, nguồn gốc rõ ràng và xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai. Tên luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố. Tác giả Bùi Minh Phúc
    4. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG…………………………………………………………….12 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng…………..12 1.2. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………….19 1.3. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam …………………………………………………………….43 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………54 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Gia Lai …………………………….54 2.2. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai…56 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..61 2.4. Đánh giá chung …………………………………………………………………………74 Chương 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………82 3.1. Dự bào tình hình và phương hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng……………………………………………………………………………82 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..86 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 112
    5. 6. DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT CTN Chống tham nhũng PCTN Phòng, chống tham nhũng UBND Ủy ban nhân dân HĐND Hội đồng nhân dân CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức TTHC Thủ tục hành chính
    6. 7. 1 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng, chúng ta đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, chúng ta lại gặp nhiều khó khăn trong đó có sự hoành hành của nạn tham nhũng. Tham nhũng cùng với ô nhiễm môi trường đang là hai căn bệnh ác tính chung của thế giới. Trong nước cùng với “tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, diễn biến hòa bình” và tham nhũng được Đảng ta xác định là bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của một chế độ. Ngày nay, cùng với sự năng động của nền kinh tế thị trường, tham nhũng ngày càng phát triển và đã vượt qua phạm vi lãnh thổ của một quốc gia và trở thành một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Nó là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. Ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng. Bởi vì tham nhũng len lỏi vào mọi ngóc ngách của quan hệ quyền lực lây lan nhanh chóng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm tha hóa không ít cán bộ, đảng viên. Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Tham nhũng cản trở quá trình phát triển kinh tế. Tham nhũng làm đảo lộn các giá trị đạo đức. Tham nhũng làm vẩn đục các quan hệ xã hội. Nguy hiểm hơn là tham nhũng đang hình thành một thói quen tồn tại như một thứ
    7. 8. 2 luật bất thành văn trong đời sống xã hội diễn ra trên diện rộng và trở thành một nét ứng xử bị “vật chất hóa”, “tiền bạc hóa” đến nỗi ai cũng lên án nó nhưng ít ai thoát được khỏi vòng xoáy của nó. Và thế là tham nhũng tiếp tục hoành hành và trở nên trầm trọng hơn, bất chấp các thể chế mà Đảng và Nhà nước đưa ra để đối phó với nó. Nếu không kịp thời ngăn chặn thì đến một chừng mực nào đó tham nhũng cùng với những tác động khác sẽ gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định: Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải quyết tâm thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để từng bước đẩy lùi tham nhũng. Về phía Nhà nước, để có cơ sở pháp lý trongviệc đấu tranh PCTN ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật PCTN;Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 30 nghị định, quyết định, chỉ thị để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) và Luật PCTN, qua đó đã quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện hầu hết các quy định của Luật PCTN. “Các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành 42.168 văn bản mới; sửa đổi, bổ sung trên 55.416 văn bản để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành” . Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng. Cùng chung tình trạng như cả nước, trong những năm gần đây, tình trạng tham nhũng ở Gia Lai có những biểu hiện phức tạp, việc tổ chức thực hiện pháp luật về tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa kiên quyết, triệt để. Vì thế, nghiên cứu đề tài “Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
    8. 12. 6 tích thực trạng về PCTN (đến năm 2011); nêu lên quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN ở Việt Nam. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng ở Việt nam” của Ngô Kiều Dâng, nghiên cứu thực trạng tổ chức bộ máy các cơ quan PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong PCTN. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Phòng chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức bộ máy hành chính nhà nước” của Nguyễn Thị Kim Nhung, nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật trong PCTN. – Đề tài khoa học cấp nhà nước “Đấu tranh PCTN ở nước ta” của Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiên cứu thực trạng tham nhũng, nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, kiến nghị các giải pháp nhằm đấu tranh PCTN ở nước ta. – Đề tài khoa học cấp bộ: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước theo Luật PCTN” do TS. Trần Ngọc Liêm, Phó Vụ IV, TTCP làm Chủ nhiệm, nghiên cứu thực trạng, hiệu quả và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN của các cơ quan thanh tra nhà nước. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Một số vấn đề về tham nhũng trong khu vực tư và PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay” do ThS. Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Viện Khoa học Thanh tra, TTCP làm Chủ nghiệm, đề cập đến khái niệm, lý luận và thực tiễn tham nhũng trong khu vực tư, đưa ra dự báo và giải pháp PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam”do Tiến sĩ Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng
    9. 15. 9 – Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai; đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật PCTN ở Gia Lai. – Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về PCTN và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: – Phạm vi nội dung Pháp luật về phòng, chống tham nhũng được nghiên cứu ở 02 góc độ: Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN. – Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai. – Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến nay. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng về PCTN hiện nay, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của đối với công tác PCTN, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
    10. 16. 10 lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, „tự chuyển hóa” trong nội bộ. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp so sánh – đối chiếu; phương pháp phân tích – tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ban hành các quy định về PCTN và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về phương diện lý luận Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về tham nhũng và PCTN, đề tài góp phần làm rõ các quy định pháp luật về tham nhũng và PCTN. Đánh giá các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai, bên cạnh mặt ưu điểm còn có những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Gia Lai. 6.2. Về phương diện thực tiễn Đề tài có thể được Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, nhà quản lý, hoạch định chính sách nói chung tham khảo để vận dụng vào công tác đấu tranh PCTN; Trường Chính trị tỉnh và các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ở Gia Lai nói riêng và các cơ sở đào tạo nói chung trên cả nước tham khảo để phục vụ cho công tác giảng dạy pháp luật về PCTN trong các chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng.
    11. 18. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1.1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng 1.1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, luôn gắn bó chặt chẽ hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế như thế nào, tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội và đụng chạm hầu hết đến lợi ích của người dân. Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm. Theo Đại Từ điển Tiếng việt giải thích, “Tham nhũng là hành động lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân” . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu
    12. 19. 13 vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: “Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” (Điều 3, Luật PCTN). Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác.
    13. 20. 14 Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích. 1.1.1.2. Các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật Luật PCTN đã liệt kê 12 hành vi tham nhũng. Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng: “Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Nghị quyết số 14 ngày 15-5-1996 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã nêu khái quát tác hại của tệ tham nhũng như sau: Tình trạng tham nhũng đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm xói mòn bản chất của Đảng và Nhà nước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ”. “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2022 đặt ra yêu cầu: Đẩy mạnh việc xây dựng, công bố công khai các quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định của pháp luật. – Vấn đề chuyển đổi vị trí công tác của CBCCVC. Việc chuyển đổi vị trí công tác được coi là một giải pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa hiện tượng cấu kết, móc nối hình thành “êkíp”, “đường dây” tiêu cực, tham nhũng. Luật PCTN quy định một số nguyên tắc chung về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Để đảm bảo sự ổn định của quản lý và tính chất chuyên sâu của công việc, việc chuyển đổi chỉ là chuyển đổi về vị trí, mang tính chất địa lý, cơ học chứ không phải chuyển đổi về nội dung, tính chất công việc; đồng thời việc chuyển đổi chỉ
    14. 35. 29 – Phân định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó được giao phụ trách các lĩnh vực; theo đó, người đứng đầu chịu trách nhiệm chung và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực do mình quản lý, cấp phó chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực được giao phụ trách. – Phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu đơn vị, phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mình. Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Trên cơ sở nguyên tắc chung như trên, Luật cũng quy định tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm. Cụ thể những quy định trên của Luật PCTN, ngày 22-9-2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; quy định mức độ của vụ, việc tham nhũng làm căn cứ để xác định trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán. Quản lý là phương diện hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng đến quyền lợi của mọi người dân. Đây cũng là nơi tình trạng tham nhũng xảy ra nhiều nhất. Đó là lý do mà cải cách hành chính luôn là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước,
    15. 37. 31 Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng. Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu sau: Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định tính chất và mức độ của vụ việc tham nhũng cũng như trách nhiệm của những người vi phạm đòi hỏi có nhiều thời gian và công sức, thường thuộc về trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, điều tra nhưng những dấu hiệu ban đầu của các các vi phạm, những dấu hiệu không bình thường trong hoạt động quản lý lại thường do các cơ quan quản lý phát hiện. Vì vậy, pháp luật về PCTN nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Mặc dù pháp luật đề cao công tác kiểm tra của các cơ quan nhằm phát hiện tham nhũng nhưng để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, hoặc lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn cho đồng nghiệp và công dân, Luật cũng quy
    16. 38. 32 định các hình thức kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp kiểm tra đột xuất phải có những điều kiện nhất định.”Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng. Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng” . Việc phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát được pháp luật về PCTNquy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật” . – Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Pháp luật về PCTN quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe doạ trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người bị tố cáo là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ, quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách
    17. 41. 35 Nếu hành vi vi phạm đến mức độ nguy hiểm cao gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản của Nhà nước thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương XXI, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Các tội phạm về chức vụ. Bao gồm: bảy tội danh tham nhũng và bảy tội danh khác về chức vụ. Hai là, quy định về xử lý tài sản tham nhũng. Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Việc xử lý tài sản tham nhũng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để, thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” . 1.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.2.1. Khái niệm Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật, đồng thời thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước pháp quyền. Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp. Tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN là chức năng chính của cơ quan hành pháp trong quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành
    18. 44. 38 nhiệm vụ của riêng một cơ quan hay tổ chức nào mà là của cả hệ thống chính trị tức là của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là phòng, chống tham nhũng có phải là chức năng của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hay không? Chức năng của một cơ quan, tổ chức là những nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của cơ quan, đơn vị đó và cơ sở để thực hiện phải là những thẩm quyền, quyền hạn được giao. Như vậy, phòng chống tham nhũng là nhiệm vụ nhưng không phải là chức năng của mọi cơ quan, tổ chức. Chỉ những cơ quan, tổ chức nào được pháp luật quy định nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, chủ yếu đồng thời trao những thẩm quyền, quyền hạn cụ thể để thực hiện việc phòng, chống tham nhũng mới là những cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chức năng phòng, chống tham nhũng được trao cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, toà án. – Trách nhiệm của cơ quan thanh tra Theo Luật Thanh tra 2010:”Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm: 1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; 2. Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng” . – Trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về tham nhũng”
    19. 46. 40 Thực hiện quy định trên, Vụ Thực hành công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được thành lập và đi vào hoạt động năm 2007, gồm có Vụ trưởng, 03 Phó Vụ trưởng, 04 phòng nghiệp vụ, với tổng số 22 người. Vụ có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ; giúp Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan điều tra của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao trong công tác PCTN; phối hợp thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về PCTN. Chiến lược Phòng, chống tham nhũng đến năm 2022 cũng đặt ra mục tiêu là “Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng được nâng cao, giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng”. Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng, chống tham nhũng lại tiếp tục được nhấn mạnh một lần nữa. Thứ hai, triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Một là, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của CBCCVC và nhân dân về công tác PCTN; tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về PCTN. Đưa nội dung của Luật PCTN và chương trình giáo dục. Mở chuyên mục tuyên truyền, giáo dục pháp luật vè PCTN trên các báo, đài. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
    20. 47. 41 Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hình thức công khai bao gồm: công bố tại cuộc họp; niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo bằng văn bản; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nội dung công khai minh bạch trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước như: mua sắm, xây dựng cơ bản; quản lý dự án đầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ… Tiến hành xây dựng và triển khai thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Tổ chức thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện những việc CBCCVC không được làm, các quy định về việc tặng quà và nhận quà tặng của CBCCVC; thực hiện kê khai, xác minh, giải trình về tài sản, thu nhập của CBCCVC; thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công nghệ và phương thức thanh toán. Ba là, thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng. Thực hiện công tác kiểm tra hành chính của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng, kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền. Các cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Việc kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động của mình chủ động phát hiện tham nhũng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quay định của pháp luật. Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Nguồn Gốc Tham Nhũng Để Xây Dựng Giải Pháp Phòng, Chống Hiệu Quả
  • Bộ Xây Dựng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Ninh Thuận: Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Lạng Sơn Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Quan Điểm Của Đảng Và Nhà Nước Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100