Đề Xuất 2/2023 # Luận Văn Đề Án Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Gạo Ở Việt Nam # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Luận Văn Đề Án Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Gạo Ở Việt Nam # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Văn Đề Án Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Gạo Ở Việt Nam mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thắng lợi rất khả quan, trước hết phải kể đến thắng lợi của mặt trận nông nghiệp. Trong nông nghiệp, thắng lợi lớn nhất là bước ngoặt phát triển về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Từ một nước nông nghiệp thiếu đói kéo dài, Việt Nam không chỉ tự túc được lương thực ổn định, mà còn vươn lên đẩy mạnh xuất khẩu và trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Đó là một kỳ tích mà cả thế giới biết đến. Thành tựu đó chứng minh đường lối đổi mới nông nghiệp của Đảng nói chung, định hướng chiến lược sản xuất và xuất khẩu gạo nói riêng là đúng đắn. Tuy nhiên, chuyển sang kinh tế thị trường, trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế toàn cầu diễn ra hết sức gay gắt, thì vấn đề sản xuất và xuất khẩu một sản phẩm nào đó, đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển khôn ngoan, có sự tính toán kỹ càng, cẩn trọng trong một tổng thể chiến lựơc phát triển chung mới dành được thắng lợi và đạt được hiệu quả tối ưu. Đối với nước ta xuất khẩu gạo có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu là nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng thu nhập đặc biệt đối với người nông dân. Cùng với Việt Nam, trên thị trường gạo thế giới còn có nhiều nước khác tham gia như:Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan đó là những đối thủ cạnh tranh lớn của nước ta. Mười bốn năm qua xuất khẩu gạo cuả Việt Nam đã thu được những thành tựu nhất định nhưng bên cạnh đó còn nhiều bất cập cần giải quyết như vấn đề thị trường, giá cả, chất lượng gạo, vấn đề đầu ra Nếu những vấn đề trên được giải quyết một cách hợp lý thì xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có bước phát triển cao hơn trong thời gian tới. Với đề tài ” Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở Việt Nam” em xin được đưa ra một vài đánh giá về thực trạng xuất khẩu gạo và cách giải quyết để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta. Nội dung của đề án gồm 3 chương: Chương I: Lý luận về xuất khẩu gạo. Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu gạo. Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Mặt Hàng Gạo Của Việt Nam

Thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo theo hướng bền vững là một vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam. Bài viết này phân tích thực trạng tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo trong thời gian tới.

Từ khóa: Mặt hàng gạo, xuất khẩu, giải pháp.

1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Việt Nam có truyền thống trồng lúa lâu đời, lúa gạo là một lương thực quan trọng và chủ yếu nhất đối với người dân Việt Nam, lúa gạo ngoài dùng làm lương thực cho người, thức ăn cho vật nuôi còn dùng để chế biến các sản phẩm khác… Đặc biệt với một nước dân số đông tới khoảng trên 90 triệu người, việc tự sản xuất lúa là rất quan trọng. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây lúa có 2 vựa lúa chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích sản xuất lúa được xếp hạng 5 và xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu và cũng bước đầu thâm nhập được các thị trường có yêu cầu chất lượng cao, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU,…

Diện tích gieo trồng các vụ lúa ở nước ta từ năm 2015 đến năm 2019 có sự thay đổi qua các năm, được thể hiện qua Bảng 1.

Nhìn chung từ năm 2015 đến năm 2019, tổng diện tích gieo trồng ở nước ta có xu hướng giảm đi, do nhiều nơi người dân chuyển đổi dần từ trồng lúa sang trồng các cây nông nghiệp (điều, cao su, tiêu,…) cho giá trị kinh tế cao hơn; một số địa phương cũng phải ưu tiên dành đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hóa. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia.

Nhìn chung, từ năm 2015 đến năm 2019, sản lượng lúa các mùa vụ sụt giảm qua các năm, chỉ có năm 2018 là sản lượng có tăng so với năm 2017. Nguyên nhân là do diện tích gieo trồng bị thu hẹp dần, người dân dần chuyển sang loại nông sản cho thu nhập cao hơn. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam. (Bảng 2)

2. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam

– Sản lượng gạo xuất khẩu

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 12/2019, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 474.000 tấn với giá trị đạt 214 triệu USD. Lũy kế năm 2019, khối lượng xuất khẩu ước đạt 6,34 triệu tấn và 2,79 tỉ USD, tăng 3,9% về khối lượng nhưng giảm 9,7% về giá trị so với cùng kì năm 2018. Về thị trường xuất khẩu, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với khoảng hơn 30% thị phần. Ngoài ra, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh như Bờ biển Ngà (+64,5%), Australia (63,9%), Hồng Kông (+43,5%), Ả Rập Saudi (+31,3) và Iraq (24,8%).

Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2019, Việt Nam xuất khẩu 536.059 tấn gạo trị giá 280,122 triệu USD, giảm 28,1% về khối lượng và 26,7% về giá trị so với tháng 5/2019. Như vậy, lượng gạo xuất khẩu được trong 6 tháng đầu năm 2019 là 3.341.386 tấn, giá trị 1.767.679 triệu USD.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo tháng 9/2019 sụt giảm 20,4% về lượng và giảm 21,7% về kim ngạch so với tháng 8/2019, đạt 479.363 tấn, tương đương 210,94 triệu USD; tuy nhiên so với cùng tháng năm 2018 thì tăng 33,1% về lượng và tăng 21,3% về kim ngạch. Giá xuất khẩu gạo trong tháng 9/2019 đạt trung bình 440 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng liền kề trước đó và giảm 8,9% so với tháng 9/2018.

Biểu đồ 1 cho thấy sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 không có sự tăng trưởng nhiều so với năm 2018, thậm chí có tháng sản lượng xuất khẩu thấp hơn, sản lượng gạo xuất khẩu chỉ có sự tăng trưởng vượt bật trong tháng 2 so với năm 2018.

Cộng chung cả 9 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo của cả nước đạt 5,06 triệu tấn, thu về 2,2 tỷ USD, tăng 3,4% về lượng, nhưng giảm 10,4% về kim ngạch so với 9 tháng đầu năm 2018; giá xuất khẩu trung bình giảm 13,4%, đạt 435,6 USD/tấn.

– Thị trường xuất khẩu chính và kim ngạch xuất khẩu

Tính chung năm 2019, cả nước xuất khẩu 6,37 triệu tấn gạo, tương đương 2,81 tỷ USD, tăng 4,1% về lượng, nhưng giảm 8,4% về kim ngạch so với năm 2018. Giá xuất khẩu đạt 440,7 USD/tấn, giảm 12,1%. Trong năm 2019, xuất khẩu gạo sang hầu hết các thị trường tăng cả về lượng và kim ngạch so với năm 2018, tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu sang tất cả các thị trường sụt giảm so với năm trước. Trong đó, đáng chú ý có các thị trường tăng mạnh như: Senegal tăng gấp 577 lần về lượng và tăng gấp 296,8 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 53.706 tấn, tương đương 16,91 triệu USD; Brunei tăng 304,5% về lượng và tăng 279,4% về kim ngạch, đạt 7.868 tấn, tương đương 3,27 triệu USD; Bỉ tăng 145% về lượng và tăng 189,8% về kim ngạch, đạt 1.278 tấn, tương đương 0,88 triệu USD; Angola tăng 257,3% về lượng và tăng 138,3% về kim ngạch, đạt 13.459 tấn, tương đương 5,05 triệu USD.

Ngược lại, một vài thị trường xuất khẩu gạo bị sụt giảm mạnh, gồm có: Indonesia giảm gần 95% cả về lượng và kim ngạch; Bangladesh giảm 76% về lượng và giảm 79,4% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 70,9% về lượng và giảm 75,8% về kim ngạch. (Biểu đồ 2)

3. Một số đề xuất về giải pháp xuất khẩu bền vững gạo Việt Nam

3.1. Đối với Nhà nước

Trước hết, về Quy hoạch lại sản xuất lúa gạo.

Nhà nước cần có các biện pháp quy hoạch lại sản xuất lúa gạo nhằm nâng cao sản lượng gạo của cả nước đảm bảo đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Trên cơ sở Quyết định số 124/QĐ-TTg, ngày 02/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Qui hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành Nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần hướng dẫn các địa phương rà soát quy hoạch cho phù hợp với điều kiện cụ thể, phát triển những ngành hàng có lợi thế của địa phương.

Thông qua hệ thống khuyến nông để chuyển tải các tiến bộ kỹ thuật mới đến nông dân và hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất theo qui hoạch, sử dụng các công nghệ canh tác mới, giống mới, đảm bảo nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa.

Thực hiện đào tạo nâng cao trình độ cho người nông dân, việc này cần chú trọng ngay từ các thế hệ nông dân trẻ. Trước tiên là giáo dục nhận thức cho họ, sau đó là đào tạo về kỹ thuật, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ,… Để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại cần phải có nông dân có trình độ. Bên cạnh đó, đào tạo các cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông để giúp nông dân áp dụng công nghệ và kĩ thuật vào sản xuất.

Phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương thông qua phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương đã được bảo hộ. Xây dựng và phát triển mới các thương hiệu gạo vùng, địa phương. Ưu tiên lựa chọn 3 giống gạo đặc sản tại vùng đồng bằng sông Cửu Long để hỗ trợ xây dựng, phát triển thành thương hiệu gạo vùng, địa phương hướng tới trở thành thương hiệu quốc gia, bao gồm: giống jasmine, giống lúa thơm và giống nếp đặc sản.

Thứ hai, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và chính sách trợ giá cho nông dân. Thứ ba, hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn để chiếm lĩnh thị trường.

Trong cơ chế thị trường, giá cả biến động theo qui luật cung cầu, đa số các mặt hàng nông sản là loại hàng hóa thường sản xuất theo thời vụ, tiêu thụ cả năm, nên có nơi, có lúc vào vụ thu hoạch tiêu thụ không kịp giá bị rớt, nhất là khi được mùa lớn. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và có chính sách trợ giá cho nông dân.

Vấn đề của Việt Nam là không có đủ gạo có chất lượng cao để xuất khẩu, trong khi gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm rất nhiều nhưng lại rất khó xuất khẩu, do nhu cầu thị trường đối với loại gạo này thấp và phải cạnh tranh với gạo của Ấn Độ và Pakistan có giá thấp hơn nên gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm của Việt Nam rơi vào tình trạng ế ẩm. Đã đến lúc Việt Nam và các quốc gia xuất khẩu gạo chủ đạo trong khu vực phải hợp tác thành một khối, nhằm cạnh tranh và giành lại lợi thế trên thị trường gạo quốc tế.

Trước hết, cần ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến gạo xuất khẩu. Thứ hai, cần có giải pháp về phát triển thị trường. Thứ ba, cần có giải pháp về xúc tiến thương mại.

3.2. Đối với doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Một yếu tố quan trọng gây hạn chế chất lượng gạo là công nghệ sau thu hoạch. Hoàn thiện công nghệ sau thu hoạch: cần quan tâm đầu tư nâng cấp công nghệ thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch (dùng máy sấy thay cho phơi thóc bằng ánh sáng mặt trời). Tăng cường đầu tư cho công nghiệp xay xát, chế biến gạo, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong tạm trữ như sử dụng khí cacbon dioxit, nitơ, công nghệ bảo quản mát. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc cung cấp cây giống, khuyến nông, mua, bảo quản, tồn trữ, vận chuyển, bốc xếp… phải thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn ISO, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm lúa gạo xuất khẩu.

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các nước về xuất khẩu gạo như hiện nay và những năm tới, các doanh nghiệp Việt Nam nhất thiết phải có hệ thống các giải pháp hữu hiệu về thị trường ngoài nước. Để tăng sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ, không chỉ là tăng năng suất và chất lượng sản xuất trong nước để giảm chi phí, mà còn phải mở rộng và ổn định thị trường theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, đảm bảo chữ tín với khách hàng, tăng cường tiếp thị, đầu tư nghiên cứu và dự báo thị trường… Các giải pháp cụ thể như: Nghiên cứu thị trường, Lựa chọn các thị trường mục tiêu.

Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước trong vấn đề thị trường, các doanh nghiệp phải chủ động tìm bạn hàng và phương thức kinh doanh thích hợp để xâm nhập, duy trì và mở rộng chỗ đứng trên thị trường gạo thế giới. Các doanh nghiệp cần đa dạng hóa khách hàng và tận dụng cả những hợp đồng có khối lượng không lớn; đồng thời cũng có thể thiết lập quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia là những tổ chức kinh tế vững mạnh có tầm hoạt động rộng, sự am hiểu về thị trường và khả năng về vốn lớn để đảm bảo thị trường xuất khẩu ổn định.

AEC và giải pháp cho xuất khẩu gạo Việt Nam(2016), Tạp chí Vietnam Logistics Review.

Chanerin Maneechansook (2014), Value Chain of Rice Exported from Thailand to Sweden.

Bộ Công Thương (2017), Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030.

Lê Thị Vân Anh (2016), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam, Tạp chí Tài chính.

Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Báo cáo thường niên ngành Lúa gạo Việt Nam năm 2018 và triển vọng 2019.

Sina Xie và Orachos Napasintuwong (2014), Review of Rice Policies in China, Thailand and Vietnam.

SolutionsTran Thi Thu Huyen to promoting sustainable Vietnam’s rice exports

Faculty of Fundamental Economics

University of Economics – Technology for Industries

Promoting sustainable rice exports is an urgent issue for Vietnam. This article analyzes the current situation of rice production and exports in Vietnam and proposes some solutions to promote sustainable Vietnam’s exports of rice products in the near future.

Keywords: Rice, export, solutions.

Luận Văn Luận Văn Một Số Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Bảo Hiểm Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Bằng Đường Biển Ở Việt Nam

Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đã có những bước tăng trưởng đáng khích lệ. Đóng góp vào thành công chung đó không thể không kể đến vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh nên nhu cầu bảo hiểm đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn và do hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã trở thành tập quán trong hoạt động ngoại thương nên nghiệp vụ này vẫn là nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm. Mặt khác, trao đổi buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay vẫn được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển do ưu điểm của loại hình vận chuyển này. Vì vậy, việc phát triển hoàn thiện các vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và trong toàn bảo hiểm nói chung, nhất là trong điều kiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh như hiện nay. Mặt khác hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro, trách nhiệm của người chuyên chở lại rất hạn chế và việc khiếu nại bồi thường lại rất khó khăn; việc mua bảo hiểm bảo vệ được nhiều lợi ích của doanh nghiệp khi có tổn thất và tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh; . Vì vậy, việc phát triển thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là rất cần thiết. Trong thời gian thực tập ở ban dịch vụ- Viện chiến lược phát triển kinh tế và được sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Xuân Hoà em đã chọn đề tài ” Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.” để làm luận văn tốt nghiệp của mình Nội dung luận văn tốt nghiệp của em ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo được chia thành 3 chương. Chương I: Lý thuyết về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển. Chương II: Thực trạng về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam. Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa

Sức hấp dẫn từ thị trường Trung Quốc

Báo cáo từ Cục Chăn nuôi cho thấy, hiện tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa là 2,09%/năm. Cùng đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng sữa giai đoạn 2016 – 2018 là 8,52%. Theo ước tính của cục này, năng suất sữa trung bình của đàn bò sữa trong cả nước năm 2018 đạt trên 5.000 kg sữa/con/năm là khá cao. So sánh với năng suất sữa của các nước trên thế giới và trong khu vực, năng suất này là cao hơn các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, NewZealand, Brazil… Bởi vậy, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội cạnh tranh khi đẩy mạnh xuất khẩu (XK).

Sữa của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm của Australia và NewZealand tại thị trường Trung Quốc

Theo Cục Chăn nuôi, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam được XK đến 46 quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo đánh giá rủi ro mở cửa thị trường sữa cho Việt Nam. Sau hơn 6 năm đàm phán, ngày 26/4/2019, Nghị định thư về XK sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam sang Trung Quốc đã được ký kết, tạo cơ hội mở rộng cho sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam XK vào thị trường 1,4 tỷ dân này.

Báo cáo thị trường sữa toàn cầu 2018 của FAO cho thấy, Trung Quốc sản xuất 25,6 triệu tấn sữa, giảm 1,1% so với năm 2017 và để đáp ứng tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trong nước, nước này đã nhập 14,6 triệu tấn sữa quy đổi. Đây là quốc gia có tiềm năng rất lớn cho XK các sản phẩm sữa của Việt Nam trong những năm tới.

Đánh giá về cơ hội XK sữa sang thị trường Trung Quốc, ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, đến năm 2020, nước này cần tới 11 tỷ lít sữa, nhưng ngành sữa của Trung Quốc hiện có chi phí sản xuất còn cao cũng như các hạn chế nước và thức ăn chăn nuôi bò sữa sẽ tiếp tục tạo nên bất lợi cho ngành sản xuất sữa nội địa, vì vậy phải nhập khẩu các sản phẩm từ sữa chế biến là tất yếu.

Hơn nữa, kể từ khi xảy ra vụ sữa bột nhiễm melanine, chính người dân Trung Quốc cũng vẫn còn nghi ngại khi sử dụng sữa trong nước; chất lượng bò sữa hiện cũng có vấn đề do đồng cỏ bị ô nhiễm.

Tuy nhiên, điều ông Chinh lo ngại nhất là hiện nay sữa của Australia và New Zeland đang chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Trung Quốc, do đó sữa của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ phải cạnh tranh gay gắt với 2 “ông lớn” này.

Ở góc độ DN, ông Ngô Minh Hải – Chủ tịch Tập đoàn TH đánh giá, cánh cửa XK sữa vào thị trường Trung Quốc bước đầu đã mở nhưng không phải DN trong ngành sữa Việt Nam sẽ có thể dễ dàng đi qua. Các DN sữa phải đảm bảo được 2 yêu cầu quan trọng gồm duy trì chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và đảm bảo được nguồn gốc xuất xứ.

Chăn nuôi theo chuỗi giá trị

Thực tế hiện nay cho thấy, việc đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm sữa là không hề dễ dàng do chăn nuôi bò sữa chủ yếu vẫn dừng ở quy mô nông hộ. Ông Tống Xuân Chinh cho biết, số lượng bò sữa nuôi trong nông hộ là 199.941 con, chiếm 70,65% tổng đàn bò sữa của cả nước. Quy mô nuôi dao động từ 5,4  – 10 con/hộ đối với chăn nuôi bò sữa.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2016, cả nước có 28.695 hộ chăn nuôi bò sữa. Trong đó, có 17.792 hộ nuôi dưới 5 con bò sữa/hộ, chiếm 62% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 5.622 hộ nuôi từ 5-10 con bò sữa/hộ, chiếm 19,89% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 3.564 hộ nuôi từ 10 – 20 con/hộ, chiếm 12,42% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước. Các hộ chăn nuôi quy mô trên 20 con/hộ còn hạn chế, chỉ chiếm 5,98% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước.

Sở dĩ các nông hộ chưa thể tăng quy mô đàn bò sữa là do chưa có cơ chế hỗ trợ. Đại diện HTX Nông nghiệp Evergrowth (Sóc Trăng) cho biết, việc phát triển chăn nuôi bò sữa tại địa phương này là rất có tiềm năng, nhưng cần tạo điều kiện cho nông dân, cần cho họ một cơ hội thực sự để phát triển nghề nuôi bò sữa.

Để ngành sữa Việt Nam phát triển, ông Chinh kiến nghị Bộ NN&PTNT xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa giai đoạn 2020-2030 để tăng cường phát triển ngành sữa, thúc đẩy XK sữa và các sản phẩm từ sữa.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên kết giữa nông dân và các DN XK sữa. Hay nói cách khác là tổ chức lại sản xuất của DN, HTX và người nông dân theo chuỗi giá trị. Có hai hình thức liên kết. Một là DN cung cấp giống, thức ăn đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con, sau đó thu mua sữa từ các hộ dân này với giá sau khi đã trừ chi phí.

Hai là người dân trồng cỏ sau đó bán lại cho DN, đây là hình thức rất hữu hiệu, đặc biệt là những khu đất nông nghiệp không hiệu quả nên chuyển sang trồng cỏ.

Đây không chỉ là giải pháp giúp đẩy mạnh XK sữa mà còn giúp ngành sữa Việt chiếm lĩnh thị trường trong nước. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 4 về năng suất của đàn bò vắt sữa nhưng sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu và hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn sữa và sản phẩm sữa về để phục vụ tiêu dùng trong nước.

Tính riêng trong năm 2019, nước ta đã nhập khẩu 962 triệu USD sữa và sản phẩm từ sữa. Điều đó cho thấy ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta có rất nhiều cơ hội phát triển.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Văn Đề Án Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Gạo Ở Việt Nam trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!