Đề Xuất 12/2022 # Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe / 2023 # Top 14 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ TRONG HỒI KÍ TỪ TRIỀU ĐÌNH HUẾ ĐẾN CHIẾN KHU VIỆT BẮC CỦA PHẠM KHẮC HÒE TRẦN BÌNH TUYÊN Nhà xuất bản Đại học Huế Tóm tắt: Thông qua lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong cuốn hồi kì Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe, chúng tôi sẽ làm nổi bật vai trò, tác dụng của vốn từ trong quá trình thể hiện hệ tư tưởng, quan điểm và thái độ chính trị của tác giả đối với các hiện tượng xã hội trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc.

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Trong ngôn ngữ, lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô có giá trị biểu đạt nội dung sâu sắc. Thông qua lớp từ này, vị thế xã hội của các nhân vật giao tiếp được thể hiện một cách cụ thể, chính xác trong từng điều kiện và hoàn cảnh xã hội. Đối với lớp từ ngữ định danh, giá trị biểu đạt đó còn rất đa dạng, phong phú thông qua chức năng quy chiếu của ngôn ngữ. Một sự vật, hiện tượng có thể được quy chiếu bởi hệ thống từ ngữ đồng quy chiếu khác nhau, do đó, bên cạnh nội dung biểu đạt vị thế xã hội, lớp từ này còn giúp tác giả thể hiện cách nhìn và cách đánh giá cũng như bộc lộ tâm tư tình cảm, tư tưởng xã hội đối với đối tượng được đề cập. Bên cạnh đó, từ xưng hô là một cách quy chiếu đối tượng người tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc là đối tượng được đề cập đến trong phát ngôn (diễn ngôn). Trong hoạt động giao tiếp, lớp từ này có chức năng định vị các đối tượng trong quan hệ với người nói và hoàn cảnh giao tiếp, đồng thời chúng còn biểu hiện một cách sâu sắc các quan hệ liên nhân trong xã hội của các vai giao tiếp được phản ánh. Như vậy, ngôn ngữ nói chung và lớp từ ngữ định danh, xưng hô nói riêng có các chức năng đặc biệt nhằm truyền tải nội dung, tư tưởng của người viết đối với các hiện tượng xã hội. Trong bài viết này, chúng ta có thể thấy được cụ thể hơn vai trò và tác động của các lớp từ ngữ này trong quá trình thể hiện cách nhìn cũng như quan điểm, thái độ chính trị của tác giả đối với xã hội. 1.2. Cuốn hồi kí Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe là cuốn hồi kí tái hiện lại những vấn đề xã hội Việt Nam trong một ngữ cảnh đặc biệt, đó là sự giao nhau về mặt thời gian: trước và sau Cách mạng tháng Tám với hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, chế độ thực dân nửa phong kiến ngày càng thối nát, mục ruỗng nhưng vẫn cố ngoi lên trong cơn hấp hối, giãy chết cuối cùng của nó. Thực dân Pháp và phát xít Nhật loại bỏ nhau với tham vọng độc chiếm Đông Dương. Trong hoàn cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng của nhân dân dâng lên như vũ bão sẵn sàng cho cuộc thay đổi lịch sử. Giai đoạn thứ hai, nước ta đã trở thành nước độc lập tự do nhưng chúng ta cũng bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu với thực dân Pháp, mở đầu bằng cuộc chiến căng thẳng trên mặt trận tư tưởng. Nội dung Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 01(17)/2011: tr. 72-79

LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ…

73

cuốn hồi kí tập trung vào ba nội dung cơ bản: nội dung về lịch sử, nội dung về xã hội và nội dung về sự chuyển biến nhận thức tư tưởng, hành động của người trần thuật. 2. LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ TRONG HỒI KÍ TỪ TRIỀU ĐÌNH HUẾ ĐẾN CHIẾN KHU VIỆT BẮC CỦA PHẠM KHẮC HÒE Dựa vào đặc điểm phân bố của lớp từ ngữ giữ chức năng định danh, xưng hô trong tác phẩm chúng tôi đã tiến hành khảo sát lớp từ này trong 404 trang hồi kí với bốn tuyến nhân vật: nhân vật tôi (người phát ngôn, người trần thuật), nhân vật thuộc triều đình cũ – đại diện cho lực lượng xã hội đã lỗi thời, nhân vật cách mạng – đại diện cho tầng lớp xã hội mới với những chức năng xã hội mới, và cuối cùng là nhân vật thuộc lực lượng kẻ thù và bọn tay sai. Tuy nhiên, do dung lượng của bài viết có hạn và các tuyến nhân vật lại quá nhiều nên chúng tôi chỉ khoanh vùng trên cơ sở mỗi tuyến nhân vật sẽ lựa chọn những nhân vật tiêu biểu nhất, đại diện cho từng tuyến nhân vật để khảo sát. Từ kết quả khảo sát về cách sử dụng hoặc tần số xuất hiện lớp từ này trong từng tuyến nhân vật, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích giá trị biểu hiện của chúng dựa trên hai nội dung tiêu biểu: giá trị biểu hiện mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật và đặc biệt là thái độ của người trần thuật đối với các vai giao tiếp trong cuốn hồi kí. Tuy nhiên, do thời điểm trong hồi kí là thời điểm lịch sử của một giai đoạn đặc biệt trong xã hội Việt Nam: trước và sau Cách mạng đã tạo ra những sự thay đổi của các định danh vai xã hội của nhiều đối tượng. Đối với người trần thuật, sự thay đổi về hai giai đoạn của xã hội Việt Nam – ở thời điểm trần thuật trong hồi kí khiến cho tác giả có những chuyển biến về mặt nhận thức xã hội từ đó dẫn đến sự chuyển biến về cách quy chiếu đối tượng được đề cập. Đối với nhân vật Bảo Đại, bước ngoặt lớn nhất là thời điểm thoái vị (Chương 1), vì vậy chúng tôi tiến hành phân chia thành hai giai đoạn: trước (Chương 1) và sau khi vua Bảo Đại thoái vị (Chương 2, 3 và 4). Như vậy, đối với nhân vật triều đình, chúng tôi khảo sát những biểu thức quy chiếu khác nhau của cùng một đối tượng phân theo hai thời điểm: trước và sau khi Bảo Đại thoái vị. Trên cơ sở đó tính tỷ lệ phần trăm xem biểu thức quy chiếu nào có tần số xuất hiện nhiều nhất; đồng thời những biểu thức quy chiếu trước hoặc sau thời điểm Bảo Đại thoái vị cũng có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phân tích. Còn đối với nhân vật kẻ thù, không chịu sự chi phối này nên chúng tôi khảo sát lớp từ ngữ giữ chức năng định danh dưới góc nhìn rất khác nhau của ba tuyến nhân vật tiêu biểu: nhân dân, tay sai, phản động và chính kẻ thù. 2.1. Trước hết, lớp từ ngữ định danh, hô gọi đã thể hiện sâu sắc vị thế xã hội giữa các nhân vật giao tiếp trong cuốn hồi kí. Sống trong một xã hội, mỗi người đều có một vị thế nhất định. Các vị thế này do địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp, chức quyền… đem lại. Tuy nhiên, vị thế xã hội của con người không phải là cố định, bất biến mà nó có thể thay đổi theo từng thời điểm. Để xác định vị thế xã hội của nhân vật, tác giả có nhiều cách biểu hiện. Trước hết là việc sử dụng hệ thống lớp từ ngữ định danh nhân vật. Trong hồi kí Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, mặc dù các tuyến nhân vật rất đa dạng nhưng mỗi nhân vật, lớp nhân vật cụ thể lại được quy chiếu bằng một hệ thống từ ngữ đồng sở chỉ riêng. Ở Chương 1, nhân vật Bảo Đại được quy chiếu bằng hàng loạt các biểu thức quy chiếu

74

TRẦN BÌNH TUYÊN

như Hoàng đế, Đức Hoàng đế; Vua, nhà Vua; Ngài… Nghĩa chiếu vật của các biểu thức này giúp chúng ta có thể nhận diện vị thế xã hội của nhân vật này là người đứng đầu một đất nước quân chủ phong kiến. Tuy nhiên, càng về sau, lớp từ ngữ này không còn được dùng phổ biến nữa mà thay vào đó là lớp từ ngữ hoàn toàn mới: Cựu Hoàng, ông Vĩnh Thụy. Đây chính là biểu hiện sự thay đổi vị thế xã hội của nhân vật Bảo Đại: dưới cơn bão táp cách mạng với những xoay chuyển xã hội mạnh mẽ, Bảo Đại đã buộc phải thoái vị, trao chính quyền cho cách mạng, đồng thời trở thành một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau đó, nhân vật Bảo Đại lại được quy chiếu bởi một số từ ngữ định danh nghề nghiệp, chức danh cụ thể như ông Cố vấn, Cố vấn Vĩnh Thụy. Những biểu thức quy chiếu này là một sự xác nhận vị thế xã hội mới của Bảo Đại là Cố vấn Chính phủ Kháng chiến Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng cuối cùng, Bảo Đại cũng hiện rõ bản chất phản động của mình và trở thành kẻ phản bội tổ quốc với việc tác giả sử dụng đồng sở chỉ y và tay sai cho nhân vật này. Tương tự, nhân vật Từ Cung và Nam Phương cũng được quy chiếu bởi các biểu thức quy chiếu là hệ thống các từ ngữ giữ chức năng định danh để qua đó giúp người đọc xác định vị thế xã hội của các nhân vật này. Ban đầu là các từ ngữ như Hoàng Thái hậu, Đức Từ, Ngài… để xác định vị thế là mẹ vua của Từ Cung nhưng sau đó nhân vật này được quy chiếu bởi các từ ngữ định danh như bà ta, Từ Cung khi Bảo Đại thoái vị, triều đình phong kiến cuối cùng của Việt Nam bị sụp đổ. Nam Phương ở Chương 1 hồi kí dễ dàng được xác định là vợ Vua khi được định danh bằng những từ ngữ rất trang trọng như Hoàng Hậu, Ngài Hoàng, Ngài… Khi Bảo Đại thoái vị, Nam Phương cũng trở về vị thế của một người công dân bình thường được gọi theo tên chồng là bà Vĩnh Thụy (Chương 2)… Đối với nhân vật Bác Hồ, vị thế xã hội của Người cũng được xác định qua các hệ thống các biểu thức quy chiếu là lớp từ ngữ định danh. Khi còn là lãnh tụ Việt Minh, Người được quy chiếu bởi những từ ngữ như Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc… (Chương 1). Nhưng sau khi Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập vị thế xã hội của Người là Chủ tịch nước được xác lập qua những từ ngữ định danh như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch… (Chương 2, 3, 4). Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể xác định vị thế xã hội của các nhân vật qua lớp từ xưng hô. Trong giao tiếp, người nói thường hướng tới người đối thoại với hai thái độ: lịch sự hoặc không lịch sự. Sự chi tiết hóa hai thái độ này là bốn kiểu sắc thái xưng hô biểu cảm: 1. Trang trọng; 2. Trung hòa, vừa phải; 3. Thân mật, suồng sã; 4. Thô tục, khinh thường… Trong cuốn hồi kí sắc thái xưng hô biểu cảm và thái độ của người nói chủ yếu tập trung vào sắc thái trung hòa, vừa phải và sắc thái thân mật… Như chúng ta đã biết, quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng tộc người bao giờ cũng được cấu trúc theo hai kiểu: quan hệ thân tộc và quan hệ xã hội. Vì thế, trong giao tiếp xã hội, xưng hô cũng thể hiện ở hai phạm vi: xưng hô gia đình và xưng hô ngoài xã hội. Tuy nhiên, xét từ đặc điểm hệ thống các từ xưng hô trong cuốn hồi kí cũng như mục đích triển khai của đề tài, chúng tôi tập trung vào phạm vi xưng hô ngoài xã hội với một số nhân vật tiêu biểu của tác phẩm.

LỚP TỪ NGỮ GIỮ CHỨC NĂNG ĐỊNH DANH, XƯNG HÔ…

75

Các vai giao tiếp như Bảo Đại, Từ Cung, Nam Phương ở Chương 1 có chung lối xưng hô thể hiện rõ vị thế xã hội là những người có quyền thế và với tư cách bề trên đối với những nhân vật mà các đối tượng này giao tiếp. Theo số liệu đã khảo sát, chúng tôi thấy nhân vật Bảo Đại nhiều lần sử dụng các từ trẫm để tự xưng và gọi người đối thoại là chư khanh (Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm trọn chức vụ, không làm phụ lòng Trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. [2, tr. 38]). Trẫm là cách tự xưng của vua trong xã hội phong kiến với bề tôi và các quan được vua gọi chung là khanh, chư (các) khanh. Bên cạnh đó, Bảo Đại, Nam Phương và Từ Cung thường xưng ta với đối tượng giao tiếp: Ông Tổng lý vẫn khăn áo ta như trước à! Ông giới thiệu từng người cho ta biết rõ. (lời của Từ Cung) [2, tr. 36]. Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997), Ta là từ dùng để tự xưng khi nói với người khác, thường với tư cách người trên [4, tr. 846]. Thời điểm các nhân vật này xưng ta là thời điểm đang có vị thế cao nhất trong chế độ quân chủ phong kiến. Tuy nhiên, vị thế xã hội không bao giờ mang tính ổn định. Khi hoàn cảnh thay đổi, vị thế xã hội của con người cũng thay đổi, tất nhiên kéo theo cả sự thay đổi trong lối xưng hô. Trong những ngày cơn bão táp Cách mạng dâng lên mạnh mẽ ở Huế và đặc biệt sau ngày 30/8/1945, ngày Bảo Đại thoái vị, các nhân vật triều đình Huế không còn xưng hô với sắc thái bề trên, trịch thượng này nữa mà thay vào đó là lối xưng hô với sắc thái trung hòa, vừa phải: xưng tôi/ tui, gọi ông với những người đối thoại. Qua đây chúng ta có thể thấy, trong giao tiếp có nhiều yếu tố tác động đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô. Bên cạnh yếu tố vị thế xã hội, thái độ tình cảm còn có yếu tố xuất phát từ chính mục đích và chiến lược giao tiếp của người xưng hô. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Chiến cho rằng: Trong giao tiếp xưng hô, để thực hiện một hành vi xưng hô nào đó với người đối thoại, người xưng – gọi thông thường chú ý đến mục đích (giao tiếp) xưng hô của mình [3, tr. 62]. Tiêu biểu nhất là trường hợp Nam Phương đã thay đổi cách xưng hô ba lần trong hai lần đối thoại với nhân vật tôi khi nhân vật này trở lại thăm Huế sau một thời gian tham gia chính quyền cách mạng. Ban đầu Nam Phương gọi nhân vật tôi là ông, xưng tôi, sau đó thân mật hơn gọi ông Hòe và cuối cùng là ông bạn. Kèm với lối xưng hô thân mật này là những hành động, cử chỉ cũng rất thân mật, một điều hoàn toàn mới lạ ở nhân vật Nam Phương. Đó là hành động bắt tay (người vốn chỉ biết đưa tay ra cho người ta cúi xuống đỡ lấy và hôn) và hành động “tự mình xích hai cái ghế lại gần nhau”. Như vậy, trong trường hợp này, mục đích và chiến lược giao tiếp là yếu tố quyết định cho sự lựa chọn từ ngữ xưng hô của vai giao tiếp này. Thái độ thân mật hóa của Nam Phương từ thái độ bề trên chuyển dần đến bình đẳng rồi thân mật là nhằm mục đích tranh thủ nhân vật tôi, và qua nhân vật tôi để lôi kéo những người khác nhằm thực hiện tham vọng chính trị của mình… Bên cạnh đó, một “mục đích và chiến lược giao tiếp” rất đáng chú ý cũng đã được tác giả sử dụng thành công là các thay đổi xưng hô khá thú vị của ta đối với thực dân Pháp. Sau những buổi đối đầu căng thẳng trên bàn đàm phán giữa ta và Pháp tại hội nghị trù bị Đà Lạt, ta có tổ chức một buổi chiêu đãi Phái đoàn Pháp. Để tạo không khí vui vẻ, thân thiện, tác giả đã sử dụng cụm từ các bạn Pháp để khởi nguồn cho những câu chuyện hòa nhã giữa hai bên. Hiệu quả là ta và Pháp đã có một buổi tiệc vui vẻ, thân thiện, xóa tan những căng thẳng đã có trước đó;

76

TRẦN BÌNH TUYÊN

Đại Từ Nhân Xưng Chủ Ngữ Và Tân Ngữ / 2023

✅ Tóm tắt:

Đại từ nhân xưng là từ dùng để đại diện cho một danh từ hoặc một cụm danh từ.

Dùng đại từ nhân xưng để không phải lặp lại một danh từ hoặc một cụm danh từ.

Tiếng Anh có 8 đại từ nhân xưng: I, you, he, she, it, we, you, they.

Đại từ nhân xưng là gì?

💡 Đại từ nhân xưng là từ dùng để đại diện cho một danh từ hoặc một cụm danh từ đã được nhắc đến trong câu hoặc những câu trước đó.

Chúng ta có thể hiểu rõ chức năng của đại từ nhân xưng qua một ví dụ sau:

My mother is a doctor.

My mother has brown hair.

My mother is working in her office.

Nếu mỗi lần muốn nhắc đến mẹ của mình mà cứ phải dùng my mother thì hơi chán và hơi mệt mỏi đúng không nào! Vì vậy, chúng ta chỉ cần nói my mother lần đầu thôi, còn những lần sau sẽ dùng đại từ để thay thế cho my mother:

My mother is a doctor.

She has brown hair.

She is working in her office.

Trong tiếng Anh có các đại từ nhân xưng sau:

Số ít (1 người hoặc 1 vật) Số nhiều (2 người hoặc 2 vật trở lên)

Người đang nói trong cuộc trò chuyện (còn gọi là Ngôi Thứ 1)

I (tôi)

we (chúng tôi, chúng ta)

Người đang nghe trong cuộc trò chuyện (còn gọi là Ngôi Thứ 2)

you (bạn)

you (các bạn)

Người không đang tham gia trò chuyện, chỉ đang được nhắc đến (còn gọi là Ngôi Thứ 3)

he (anh ấy)she (cô ấy)it (nó)

they (chúng)

2. Chức năng của đại từ nhân xưng

✅ Tóm tắt:

Đại từ nhân xưng có thể đứng ở các vị trí và đóng các vai trò sau trong câu: chủ ngữ, tân ngữ, sau giới từ.

Mỗi đại từ nhân xưng có 2 dạng: dạng chủ ngữ và dạng tân ngữ.

Như đã học ở trên, đại từ nhân xưng là từ dùng để đại diện cho một danh từ hoặc một cụm danh từ.

Vì vậy, đại từ nhân xưng có thể đứng ở các vị trí mà danh từ hoặc cụm danh từ đứng được trong câu, cụ thể là:

Chủ ngữ

Tân ngữ

Đứng sau giới từ (trong cụm giới từ)

Nhưng đại từ nhân xưng có một điểm khác biệt so với danh từ, đó là đại từ nhân xưng có 2 dạng khác nhau, tùy theo vị trí của nó ở trong câu, còn danh từ chỉ có 1 dạng.

Ví dụ danh từ:

Vị trí chủ ngữ: The student is good at math. = Bạn sinh viên này học giỏi toán.

Vị trí tân ngữ: I like the student. = Tôi thích bạn sinh viên này.

Đứng sau giới từ: I went to the park with the student. = Tôi đi đến công viên với bạn sinh viên này.

Ví dụ đại từ nhân xưng:

Vị trí chủ ngữ: He is good at math. = Anh ấy học giỏi toán.

Vị trí tân ngữ: I like him. = Tôi thích anh ấy.

Đứng sau giới từ: I went to the park with him. = Tôi đi đến công viên với anh ấy.

Như vậy là đại từ nhân xưng có 2 dạng: một dạng dùng khi đại từ ở vị trí chủ ngữ, một dạng dùng khi đại từ ở vị trí tân ngữ hoặc đứng sau giới từ.

Dạng 1: Chủ ngữ Dạng 2: Tân ngữ & Sau giới từ

I

me

you

you

he

him

she

her

it

it

we

us

you

you

they

them

Để đọc tiếp phần còn lại của bài này, cũng như các bài học khác củaChương trình Ngữ Pháp PRO

Bạn cần có Tài khoản Học tiếng Anh PRO

Xem chức năng của Tài khoản Học tiếng Anh PRO

Chức Năng Của Từ Hạn Định Trong Tiếng Anh (Determiners) / 2023

💡 Từ hạn định là những từ đứng trước danh từ, bổ nghĩa cho danh từ để giới hạn và xác định danh từ.

Giả sử bạn đang nói về “học sinh giỏi”, nhưng như vậy thì trên thế giới có hàng triệu học sinh giỏi, làm sao người nghe hiểu được bạn đang muốn nói đến học sinh giỏi nào!?

Vì vậy chúng ta sẽ cần phải “giới hạn” và “xác định” phạm vi của những học sinh giỏi này lại, ví dụ như “bốn học sinh giỏi”, “một vài học sinh giỏi”, “những học sinh giỏi này”, “những học sinh giỏi của tôi”, vân vân…

Từ hạn định sẽ giúp bạn thực hiện được điều này:

Từ hạn định đóng vai trò gì trong câu?

💡 Từ hạn định bổ nghĩa cho một danh từ, vì vậy từ hạn định luôn luôn nằm trong một cụm danh từ.

I have two big green apples. Trong cụm danh từ two big green apples thì two là từ hạn định. Nó nằm trước tính từ big, tính từ green, và danh từ chính apples.

My best friend at school helped me with my homework. Trong cụm danh từ my best friend at school thì my là từ hạn định. Nó nằm trước tính từ best, danh từ chính friend, và cụm giới từ at school bổ nghĩa cho danh từ chính.

Lưu ý về những từ hạn định và đại từ có dạng giống nhau

Chúng ta cũng lưu ý là trong tiếng Anh có một số từ hạn định và đại từ có dạng giống hệt nhau, ví dụ như all, many, some, this, that …

Điểm khác nhau về mặt ngữ pháp của chúng là:

Theo sau từ hạn định phải có một danh từ. Danh từ này không nhất thiết phải ở ngay sau từ hạn định, mà có thể cách từ hạn định một vài từ, như đã minh họa trong cấu trúc của một cụm danh từ ở trên.

Còn đại từ thì đứng một mình, theo sau đại từ không có danh từ.

Ví dụ:

Many young people drink coffee every day. → many là từ hạn định, vì nó đang bổ nghĩa cho people

Many drink coffee every day. → many là đại từ, vì nó đứng một mình

Để đọc tiếp phần còn lại của bài này, cũng như các bài học khác củaChương trình Ngữ Pháp PRO

Bạn cần có Tài khoản Học tiếng Anh PRO

Xem chức năng của Tài khoản Học tiếng Anh PRO

Cách Gọi Và Xưng Hô Trong Tiếng Nhật / 2023

Đây là cách gọi lịch sự với người mới quen, trong văn viết thì sẽ dùng chữ kanji là 貴方 cho nam và 貴女 cho nữ. Chú ý là trong văn viết bạn không nên dùng chữ hiragana あなた trừ khi muốn gọi thân mật.

Số nhiều dạng lịch sự: 貴方がた(あなたがた、anatagata)= Quý vị, quý anh chị.

Số nhiều dạng thân mật hay suồng sã: あなたたち(anatatachi)= Các bạn, các người.

Các bạn cần chú ý là anata là dạng hết sức lịch sự, nhất là dạng số nhiều “anatagata” (các anh, các chị, các vị).

君=きみ=kimi (Em)

Cách gọi thân ái với người nghe ít tuổi hơn.

Bạn trai gọi bạn gái, thầy giáo gọi học sinh, người lớn tuổi hơn gọi đàn em.

君がそばにいなくて僕はさびしい。

Không có em bên cạnh anh rất cô đơn.

私=わたくし=watakushi (Tôi)

Dạng lịch sự hơn わたし, dùng trong các trường hợp buổi lễ hay không khí trang trọng.

Số nhiều: 私ども (watakushi domo)

Đây là cách xưng hô khiêm tốn nhất cho nhân xưng thứ nhất.

僕=ぼく=boku (Tôi)

Dùng cho nam giới trong các tình huống thân mật, ví dụ trong gia đình:”con”, “cháu”, với thầy giáo:”em”, với bạn bè:”tôi”, “tớ”, với bạn gái:”anh”. Đây là dạng thân mật nhưng không hề suồng sã. Tránh dùng trong các tình huống trang trọng hay lễ nghi.

あたし=atashi (Tôi)

Là cách xưng “tôi” mà phụ nữ hay dùng. Giống わたし nhưng điệu đà hơn.

俺=おれ=ore (Tôi, tao, tớ)

Dùng cho trường hợp thân mật giữa bạn bè, với người thân thiết ít tuổi hơn hay dùng như “tao” là cách xưng hô ngoài đường phố.

Đây là cách mà những kẻ đấm đá ngoài đường hay xã hội đen thường xuyên nói, được coi là cách nói không lịch sự.

Tuy nhiên trong tiếng Nhật bạn trai có thể dùng おれ với bạn gái và gọi bạn gái là おまえ (mày).

お前=おまえ=omae (Mày, cậu)

Dùng cho đường phố. まえ là trước mặt, おまえtạo thành danh từ chỉ người đứng trước mặt. Còn gọi chệch là おめえ (omee).

Bạn trai có thể gọi bạn gái không lịch sự là おまえ.

手前=てまえ hay てめえ = temae, temee (Mày)

Ở dạng mạnh hơn hơn おまえ. Không nên dùng từ này trừ trong tình huống chửi bới. Đây là cách xưng hô bất lịch sự nhất đối với nhân xưng thứ hai.

わし=washi (Lão)

Cách xưng “tôi” của người già.

我々=われわれ=wareware (Chúng ta)

Bao gồm cả người nghe. わたし たち là “chúng tôi”, không bao gồm người nghe.

Vd: 我々日本人は繊細な心を持っている人間です。

Những người Nhật chúng ta là những người có tâm hồn nhạy cảm.

諸君=しょくん=shokun (Các bạn)

Xưng hô lịch sự với đám người ít tuổi hơn, như vua nói với binh lính, thầy giáo nói với học sinh,…

Đây là cách nói khá văn chương, kiểu cách. Dạng lịch sự hơn sẽ là あなた がた

さん (san)

cách gọi người khác thông dụng nhất, được sử dụng bình đẳng ở mọi lứa tuổi. さん gần như có thể được ghép với tất cả các tên gọi, trong hoàn cảnh trang trọng lẫn thông tục.

ちゃん (chan)

là một hậu tố nhẹ, thể hiện người nói đang gọi một người mà mình quý mến. Thông thường ちゃん được sử dụng cho trẻ em. Nó cũng có thể được sử dụng với động vật dễ thương, người yêu, bạn thân, bất kỳ bé gái nào, hoặc giữa những người bạn.

君 【くん】(kun)

dùng để gọi nam giới hoặc gọi thân mật, tương tự ちゃん. Ngoài ra, trong bối cảnh công việc, nhân viên nữ trẻ cũng có thể được gọi bằng くん bởi những người nam thuộc cấp trên. Nó cũng có thể được sử dụng trong trường hợp thầy giáo gọi học sinh nữ của mình.

様 【さま】(sama)

là một phiên bản của san với hình thức tôn trọng rất cao. Nó được sử dụng chủ yếu để chỉ đến những người có địa vị cao hơn nhiều so với chính mình, hoặc với khách hàng, và đôi khi đối với những người mà bản thân rất ngưỡng mộ. Khi được sử dụng để chỉ chính mình, さま thể hiện sự kiêu ngạo (hoặc mỉa mai đến sự khiêm tốn bản thân). さま thường sử dụng sau tên của người nhận trên bưu thiếp, thư từ và email kinh doanh.

先輩 【せんぱい】(senpai)

được sử dụng để chỉ đến những người đi trước, đàn anh trong một trường học, võ đường, hoặc câu lạc bộ thể thao. Trong môi trường công việc, đồng nghiệp có kinh nghiệm hơn là せんぱい.

後輩 【こうはい】(kouhai)

mang tính chất đối lập với せんぱい, chỉ cấp dưới, không thường được sử dụng như một kính ngữ; くん được sử dụng cho chức năng này để thay thế.

先生 【せんせい】(sensei)

được sử dụng để gọi hoặc đề cập đến giáo viên, bác sĩ, chính trị gia, luật sư,… để biểu thị sự tôn trọng đối với những người đã đạt được thành tựu nhất định trong chuyên môn của mình, và cũng được áp dụng đối với nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và các nghệ sĩ khác.

氏 【し】(shi)

được sử dụng trong hình thức văn bản trang trọng, bài phát biểu, để đề cập đến một người không quen biết đối với người nói. Ví dụ, 氏 thường được thấy trong các bài viết tin tức như các văn bản pháp luật, tạp chí chuyên ngành, và một số phong cách khác bằng văn bản chính thức.

殿 【との】(Tono), phát âm dono (どの)

khi gắn với tên gọi, mang nghĩa là “chúa tể” hoặc “chủ công”. Nó không đánh đồng với địa vị cao quý, và mức độ tôn kính nằm ở khoảng giữa さん và さま. Cách xưng hô này không thường được sử dụng trong đàm thoại giao tiếp, nhưng nó vẫn được sử dụng trong một số loại văn bản, thư từ kinh doanh, cũng như trên giấy chứng nhận và giải thưởng, và trong thư pháp trà đạo. Nó được sử dụng chỉ người đồng cấp với người nói, song vẫn tỏ sự kính trọng.

上 【うえ】(Ue)

có nghĩa là “bề trên”, và biểu thị một mức độ tôn trọng cao. Dù việc sử dụng từ này không còn phổ biến, ta vẫn có thể thấy trong cấu trúc như 父上 (chichi-ue) 母上(haha-ue), 兄上 (ani-ue), kính ngữ chỉ cha, mẹ, anh. Nó không yêu cầu gắn liền với tên, và thường được thêm thành 上様 (ue-sama).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!