Đề Xuất 2/2023 # Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 4 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Toàn cảnh Hội thảo. ẢNh Thuỳ Linh.

Diễn biến CPI 6 tháng nằm trong kịch bản thấp

Theo báo cáo của Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, mặt bằng giá cả thị trường nửa đầu năm 2019 biến động theo hướng tương đối cao trong tháng diễn ra Tết Nguyên đán, giảm nhẹ trong tháng 3, tăng dần trở lại trong hai tháng tiếp theo và giảm trở lại vào tháng 6.

Thống kê của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 so với cùng kì năm 2018 tăng 2,64%. Như vậy, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm tương đối sát với dự báo từ đầu năm và nằm trong kịch bản CPI thấp.

Theo phân tích của TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Học viện Tài chính, lương thực, thực phẩm; nhà ở và vật liệu xây dựng; giao thông… là các nhóm sản phẩm, dịch vụ có biến động gía lớn nhất, tác động tới tăng chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019.

“6 tháng đầu năm, ngoài biến động lớn của giá lương thực, thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và tác động ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi thì yếu tố tác động lớn tới chỉ số giá tiêu dùng chính là giá điện và giá xăng dầu. Theo đó, gía xăng dầu thế giới biến động khá phức tạp và nhà nước đã điều chỉnh giá xăng dầu nhiều lần. Giá điện tăng 8,6% trong tháng 5 đã làm cho giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng mạnh với mức tăng 1,28% so với tháng 4 và nhóm sản phẩm, dịch vụ bình quân 6 tháng đã tăng 2,7%. Điều này cũng góp phần làm tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân trong 6 tháng”, ông Nguyễn Ngọc Tuyến phân tích.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, lạm phát trung bình 6 tháng đầu năm ở mức thấp bất chấp các đợt tăng sốc giá điện và xăng dầu vào tháng 3 và tháng 4. Thậm chí, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của tháng 6 còn giảm xuống mức 2,61%.

Theo ông Nguyễn Đức Độ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát thấp như hiện nay. Thứ nhất, lạm phát cơ bản mặc dù có xu hướng tăng nhẹ nhưng vẫn thấp hơn mức 2%. Đây là xu hướng chủ đạo đã diễn ra trong nhiều năm gần đây. Thứ hai, giá xăng dầu sau khi tăng hồi đầu năm đã giảm trong các tháng 5 và tháng 6. Thứ ba, tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành ổn định, chỉ tăng 1% trong 6 tháng đầu năm 2019.

Tại Hội nghị, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng 6 tháng đầu năm 2019 kinh tế nước ta đứng trước những thách thức không nhỏ từ kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước. Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, sự chủ động điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, cộng với nguồn cung đáp ứng nhu cầu là những yếu tố góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng thấp.

CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%

Nhận định về diễn biến giá cả 6 tháng cuối năm, Cục Quản lý giá cho rằng, công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát trong các tháng còn lại năm 2019 đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có xu hướng chững lại, cùng với đó, căng thẳng về tình hình chính trị thế giới vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt tác động làm gía nhiều loại nguyên, nhiên liệu như xăng dầu có biến động phức tạp, khó dự báo.

“Căn cứ về cập nhật diễn biến CPI 6 tháng đầu năm cơ bản diễn biến theo kịch bản đã đề ra và ở mức thấp, với các dự báo về các yếu tố tác động đến CPI 6 tháng cuối năm, dự báo CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%. Như vậy có thể đánh giá việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2019 cơ bản vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ nếu không có các diễn biến quá bất thường từ tinh hình kinh tế – chính trị và thị trường thế giới”, Cục Quản lý giá nhận định.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng cho rằng, thời gian tới, các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chỉ số giá tiêu dùng đó là giá thực phẩm trong nước vẫn dự báo cao. Hơn nữa, trong tháng 7, Nhà nước sẽ thực hiện tăng lương (thêm 6,92%) trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng trước đó đối với 8 đối tượng. Trong tháng 9, thời điểm vào năm học mới sẽ có những yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng.

Đáng chú ý, theo dự báo giá xăng dầu thế giới trong thời gian tới diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, ông Ngô Trí Long cũng cho rằng, vừa qua giá xăng dầu sau nhiều kỳ liên tiếp giảm giá đã góp phần bình ổn giá cả thị trường, kéo giảm lạm phát nên trong những tháng còn lại gía xăng dầu sẽ không còn là “mối đe doạ” đối với chỉ số giá tiêu dùng.

Để đảm bảo mục tiêu kiểm soát CPI bình quân năm 2019, hỗ trợ cho tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, từ nay đến cuối năm, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với các Bộ ngành, địa phương tập trung triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành gía.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng kiến nghị, Chính phủ cần kiên trì triển khai những nhóm giải pháp lớn nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng. Trong đó tiếp tục chính sách tiền tệ, tài khoá linh hoạt, chủ động để kiểm soát lạm phát. Ngoài ra cũng cần tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, giải quyết kịp thời vướng mắc tại các dự án.

“Để giữ mức CPI bình quân năm 2019 dưới 4%, các bộ ngành cần tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá. Đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng trong thời gian tới đây như lương thưc, thịt lợn… cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường”, chuyên gia Ngô Trí Long kiến nghị.

Đặc biệt, đối với giá xăng dầu, vị chuyên gia này cho rằng, Bộ Công thương phải chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn với liều lượng thích hợp, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá tăng cao, để tạo dư địa lợi nhuận cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm.

Làm Gì Để Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022?

Năm 2018 là năm thứ 3 thành công trong kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4% (3,54%). Trong bối cảnh có biến động rất lớn về tỷ giá, căng thẳng thương mại, biến động giá thịt lợn cũng như việc điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh, giáo dục, nhưng công tác điều hành giá đã nhịp nhàng, kiềm chế được lạm phát.

” Công tác điều hành giá năm 2018 đã thành công khi vừa kiểm soát được lạm phát vừa đưa giá dịch vụ công theo cơ chế thị trường”. – Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định tại cuộc họp Ban chỉ đạo điều hành giá mới đây.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đặt ra mục tiêu lạm phát năm 2019, theo đó, ông yêu cầu cho các bộ, ngành, địa phương điều hành chỉ số giá tiêu dùng trong khoảng 3,3- 3,9%, bảo đảm thực hiện đúng yêu cầu Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ là kiểm soát chỉ số này dưới 4%.

Phó Thủ tướng lưu ý công tác điều hành giá đối với một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu như giá điện, xăng dầu… theo nguyên tắc phải công khai, minh bạch với các kịch bản giá phù hợp.

Trong quý I/2019, Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần bình ổn cung cầu hàng hoá, tuyệt đối không để thiếu hàng sốt giá, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng thiên tai, bão lũ.

Tuy nhiên, ông Long cho rằng, không được chủ quan với tình hình kinh tế, lạm phát bởi những con số ấy không thể làm mờ đi nguy cơ tụt hậu. Thực tế, GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt khoảng 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017, nhưng còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Kinh tế Việt Nam vẫn phải nỗ lực nhiều để vươn lên tầm cao mới.

“Nếu không đồng thời cải cách và phát triển, chúng ta lập tức sẽ bị tụt hậu”. – ông Ngô Trí Long khẳng định.

Thực tế cho thấy, kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 4 bậc (từ 74 xuống 77). Quan trọng hơn là 7/12 trụ cột giảm điểm. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia.

Năm 2018 cũng chỉ có Việt Nam, Lào, Campuchia giảm bậc trong khi các nước ASEAN khác đều tăng bậc, nhất là Philippines tăng 12 bậc. Như vậy, năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam tụt lại đằng sau các nước ASEAN.

Bên cạnh đó, năm 2019, giá cả thị trường trong nước dự báo sẽ chịu nhiều tác động từ không ít các yếu tố. Trong đó, đáng chú ý là dịch bệnh đối với vật nuôi luôn có nguy cơ xảy ra, gây ảnh hưởng tới nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm.

Thời tiết, khí hậu cũng có khả năng ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nguồn cung nông sản trên thị trường.

Hoặc, từ ngày 1/1/2019 sẽ tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đồng lên 4.180.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động…

Hay dịch vụ công năm 2019 tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình tăng giá giai đoạn 2016-2020 nên được dự báo sẽ góp phần vào lạm phát tổng thể, tác động trễ tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng.

“Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4% trong các năm 2019, 2020. Căn cứ vào các yếu tố vĩ mô, tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế, dự báo của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính… chỉ số CPI năm 2019 đều ở mức dưới 4%”. – ông Long đưa ra nhận định.

Theo ông Long, để lạm phát dừng ở mức 4%, cần phải có những giải pháp đồng bộ trên cơ sở những phân tích, dự báo được thực hiện chủ động của các bộ, ngành.

Cụ thể, đối với Bộ Tài Chính, theo ông Long, Bộ này cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát năm 2019 một cách thận trọng, linh hoạt và chủ động; tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả các mặt hàng thiết yếu để kịp thời đề xuất các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu nhằm bình ổn giá cả thị trường, nhất là trong thời điểm lễ, tết hoặc các thời điểm xảy ra thiên tai, bão lũ.

Đối với việc thực hiện lộ trình theo cơ chế thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu, theo ông Long, Bộ Tài chính cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp nhằm kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống người dân.

“Điều chỉnh giá dịch vụ công cần theo lộ trình phù hợp, tránh gây ra những tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, đẩy nhanh hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá…” – ông Long nói.

Việc đổi mới thể chế rất quan trọng trong kiểm soát lạm phát. Chính vì vậy, ông Long cho rằng cần phải tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, nhất là những ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, xây dựng, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, vì thời đại 4.0 tác động rất mạnh mẽ đến sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế.

Thách Thức Kiểm Soát Lạm Phát

(BĐT) – Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng mạnh trong tháng đầu năm do giá thịt lợn vẫn ở mức cao, lại thêm những tác động khó lường của dịch viêm đường hô hấp cấp do virus Corona chủng mới, gây lo ngại cho mục tiêu kiểm soát lạm phát trong năm nay. Tuy nhiên, nếu áp dụng đồng bộ và hiệu quả các giải pháp thì khả năng kiềm chế giá cả thị trường theo mục tiêu đã đề ra là có thể đạt được.

Dịch virus Corona chưa gây ảnh hưởng lớn

CPI tháng 1 năm nay tăng 1,23% so với tháng 12/2019. Đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2014. Theo Tổng cục Thống kê, giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng trong dịp Tết Nguyên đán là nguyên nhân chủ yếu làm cho CPI tháng 1 tăng.

Trong đó, dù nguồn cung thịt lợn được đảm bảo nhưng giá mặt hàng thịt lợn vẫn neo ở mức cao. Giá lợn thương phẩm trên thị trường vẫn ở mức 85.000 đồng/kg, cao hơn 8,29% so với tháng 12/2019 và là nguyên nhân quan trọng khiến mức nền chỉ số giá tiêu dùng của tháng 1/2020 cao nhất trong 7 năm qua.

Nhận xét về diễn biến CPI tháng 1, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính thuộc Học viện Tài chính cho rằng, mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm dưới 4% vẫn có thể thực hiện được dù khó khăn hơn năm ngoái. Theo đó, yếu tố có tính quyết định là kéo giảm được giá thịt lợn. “Nếu kiềm chế được giá thịt lợn trong quý I thì nhiều khả năng kiểm soát CPI cả năm dưới 4%. Ngược lại, nếu giá thịt lợn vẫn neo ở mức cao và kéo dài thì khả năng giữ CPI ở mức thấp sẽ khó khăn hơn. Đặc biệt, nếu dịch tả lợn châu Phi chưa thể kết thúc trong nửa đầu năm 2020 và lạm phát chỉ bắt đầu giảm từ giữa năm 2020, việc kiềm chế lạm phát dưới 4% là tương đối khó khăn”, ông Độ nói.

Về tác động của dịch viêm đường hô hấp cấp do virus Corona chủng mới, ông Độ cho rằng chưa ảnh hưởng rõ rệt lên giá các mặt hàng, chỉ mới thấy giá mặt hàng khẩu trang và nước sát trùng tay tăng đột biến. “Thực tế, các hoạt động kinh tế vẫn diễn ra, chỉ có học sinh và sinh viên tạm thời nghỉ học nên nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa thiết yếu vẫn bình thường mà không tăng. Ngành chịu ảnh hưởng nặng nhất hiện nay là dịch vụ ăn uống, du lịch. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng dịch vụ giảm thì có thể kéo giảm giá dịch vụ. Đáng chú ý, yếu tố thuận lợi là mặt hàng xăng dầu đang có xu hướng giảm giá, đặc biệt khi nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại và nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này giảm xuống”, ông Độ phân tích.

Kiên quyết thực hiện các giải pháp giảm giá thịt lợn

Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá ngay sau dịp nghỉ Tết Nguyên đán vừa qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá đã yêu cầu các bộ, ngành kiên quyết thực hiện đồng bộ các giải pháp để đưa mặt bằng giá thịt lợn xuống mức hợp lý.

Cụ thể, Phó Thủ tướng yêu cầu đưa mặt bằng giá thịt lợn dần xuống mức bình thường như trước khi có dịch trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc thị trường và quy định của pháp luật, đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa, công khai minh bạch chi phí, giá thành, giá bán; đảm bảo hài hòa lợi ích người sản xuất, khâu lưu thông, phân phối và người tiêu dùng; xử lý nghiêm các trường hợp thao túng giá, đầu cơ, trục lợi.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ chủ trì báo cáo đầy đủ về tình hình đảm bảo nguồn cung thịt lợn cho quý I, 6 tháng đầu năm và cả năm 2020, kế hoạch và khả năng tái đàn, tình hình nhập khẩu thịt lợn, tình hình thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi và hỗ trợ kinh phí đối với các doanh nghiệp, hộ chăn nuôi…, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá trước ngày 6/2/2020. Tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan và doanh nghiệp thực hiện chủ trương nhập khoảng 100 nghìn tấn thịt lợn thành phẩm trong quý I năm 2020 để góp phần ổn định nguồn cung ngay trong những tháng sau Tết.

Bộ Công Thương chủ trì thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra việc chấp hành pháp luật về độc quyền, cạnh tranh, gian lận thương mại đối với các doanh nghiệp chăn nuôi lợn có thị phần lớn, nếu có hiện tượng lợi dụng tình hình dịch bệnh để găm hàng, thao túng giá thì thực hiện xử lý nghiêm, kịp thời theo quy định của pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá kết quả thực hiện trong quý I năm 2020.

Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài viết đánh giá về lạm phát, thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp quyết liệt, đồng bộ phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. VnEconomy xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này. Tựa đề và các tựa nhỏ trong bài do Tòa soạn đặt.Đất nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2008 trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và rất khó lường. Kinh tế Mỹ suy giảm nghiêm trọng: GDP quý 4 năm 2007 chỉ tăng 0,6%, thấp hơn rất nhiều so với các quý trước đó. Theo nhiều dự báo, kinh tế Mỹ cả năm 2008 chỉ tăng 1,5%. Thậm chí, có những nhận định cho rằng, kinh tế Mỹ đã bước vào giai đoạn suy thoái.

Đồng Đô la Mỹ (USD) giảm giá so với nhiều đồng tiền khác, giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao (1), sự suy giảm của kinh tế Mỹ, nền kinh tế chiếm khoảng 25% tổng GDP toàn cầu và trên 15% tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá thế giới, đã tác động mạnh và kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế. Giá tăng cao ở hầu hết các nước, kể cả ở các nước có nền kinh tế mạnh và đã duy trì được mức giá thấp trong nhiều năm (2). Nhiều quốc gia đã phải điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng từ 1 đến 2% (3). Nếu kinh tế Mỹ rơi vào chu kỳ suy thoái, tình hình có thể còn phức tạp hơn.

Ưu tiên kiềm chế lạm phát

Đến nay, kinh tế nước ta đã hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, độ mở của nền kinh tế là rất lớn với tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu tương đương khoảng 160% GDP, trong đó, nhập khẩu gần 90% GDP, thì những biến động bất lợi ngoài tầm dự đoán như vừa qua của kinh tế toàn cầu và giá cả thị trường thế giới đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đến mặt bằng giá trong nước với mức độ mạnh hơn nhiều so với trước đây và so với nhiều nước khác.

Trong nước, hai năm 2006 – 2007, thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại rất nặng nề (thiệt hại kinh tế khoảng 33.600 tỷ đồng) chưa được khắc phục thì đầu năm nay, đợt rét đậm, rét hại lịch sử kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung bộ đã gây tổn thất lớn về vật chất cho nhân dân và tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp (4).

Bối cảnh quốc tế, trong nước nêu trên đã làm cho những yếu kém của nền kinh tế và trong cơ cấu kinh tế của nước ta bộc lộ sâu sắc hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra những thách thức gay gắt cho việc quản lý và điều hành phát triển kinh tế.

Trước tình hình này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp nước ta đã nỗ lực phấn đấu, phát huy mọi tiềm năng lợi thế, đối phó và vượt qua những khó khăn thách thức, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo ra những cơ sở để tăng trưởng cao trong trung và dài hạn, đã duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trong quý I đạt 7,4%. Đây là những cố gắng lớn của cả nước.

Tuy nhiên, do những tác động của kinh tế thế giới và những bất cập, yếu kém trong quản lý, điều hành kết hợp với các nguyên nhân nội sinh từ nền kinh tế đã làm cho tình hình kinh tế quý I năm 2008 có những diễn biến bất lợi như: Lạm phát cao, giá tiêu dùng tháng 3 đã tăng 9,19% so với tháng 12 năm 2007; nhập khẩu tăng mạnh, chênh lệch xuất – nhập khẩu lên tới hơn 7 tỷ USD và bằng 56,5% kim ngạch xuất khẩu.

Tình hình đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển sản xuất và đời sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người làm công ăn lương và người nghèo, đe doạ đến ổn định vĩ mô, tác động không thuận đến môi trường đầu tư, kinh doanh.

Nói kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, có nghĩa là không chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng đã đặt ra từ cuối năm 2007 mà phải tập trung sức để kiềm chế bằng được lạm phát, phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng giá giảm dần. Theo tinh thần đó, Chính phủ dự kiến sẽ trình Quốc hội xem xét giảm chỉ tiêu tăng trưởng và điều chỉnh lại chỉ tiêu lạm phát cho phù họp với tình hình thực tế. Sự điều chỉnh này là cần thiết nhằm hướng các giải pháp vào mục tiêu ưu tiên hàng đầu, bảo đảm tiền đề cho tăng trưởng cao và bền vững những năm tiếp theo. Chính phủ đã và đang tập trung chỉ đạo điều hành để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và mục tiêu ưu tiên hàng đầu này.

Bảy giải pháp chủ yếu Để đạt được những nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã thống nhất chỉ đạo thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ. Mức cung tiền trong lưu thông và dư nợ tín dụng tăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyên nhân quan trọng gây lạm phát. Nhận thức được tình hình đó, Chính phủ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng ngay từ đầu năm. Ngân hàng Nhà nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lý các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằng được yêu cầu này.

Điều cần nhấn mạnh là trong khi kiên quyết thắt chặt tiền tệ, cần bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và xuất khẩu phát triển.

Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội. Cắt giảm nguồn đầu tư này sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi phí hành chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các công trình kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự điều chỉnh thích hợp. Điều này sẽ được thực hiện một cách kiên quyết ngay trong việc phân bổ lại và cân đối nguồn vốn.

Cũng trên tinh thần đó, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước, rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả. Đồng thời, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.

Ba là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm. Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ.

Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ tịch UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Bốn là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Cân đối cung cầu về hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống nhân dân là tiền đề quyết định để không gây ra đột biến về giá, ngăn chặn đầu cơ.

Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng đã và sẽ tiếp tục làm việc với các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, phân bón… giao nhiệm vụ cho các đơn vị này phải bảo đảm nguồn hàng, đồng thời có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả.

Trong khi kiên trì chủ trương thực hiện cơ chế giá thị trường, xoá bỏ bao cấp qua giá, nhưng trong tình hình hiện nay, mặc dầu giá thế giới tăng cao, Chính phủ đã quyết định: từ nay cho đến hết tháng 6, chưa tăng giá điện, giá than, giá xăng dầu; giữ ổn định giá xi măng, phân bón, nước sạch, thuốc bệnh, vé máy bay, tàu hoả; giao Bộ Tài chính rà soát để cắt, giảm các loại phí thu từ nông dân…

Để bảo đảm nguồn cung trên thị trường nội địa, giữ vững an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức của nhóm hàng này, Chính phủ quy định lượng xuất khẩu gạo năm nay ở mức 4 triệu tấn và từ nay đến hết quý 3 không quá 3,2 triệu tấn. Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài chính đề xuất phương án nâng thuế xuất khẩu than, dầu thô và nghiên cứu khả năng áp dụng thuế xuất khẩu gạo.

Trong điều kiện đồng Đô la Mỹ giảm giá so với đồng tiền các nước là thị trường xuất khẩu lớn của nước ta, việc neo giữ quá lâu tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và đồng Đô la Mỹ không phản ánh đúng quan hệ thực trên thị trường ngoại tệ. Vì vậy, Chính phủ chủ trương áp dụng tỷ giá linh hoạt với biên độ thích hợp, phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường, giúp cho việc kiềm chế lạm phát nhưng không ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu, bảo đảm việc mua bán, chuyển đổi ngoại tệ diễn ra thuận lợi.

Cán cân thương mại là một chỉ tiêu vĩ mô rất quan trọng. Nhập siêu tăng trong năm 2007 và tăng cao hơn trong quý 1 năm nay, đã đe doạ đến cân đối vĩ mô, đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp kiên quyết để hạn chế tình trạng này trên cơ sở đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu.

Năm là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Hiện nay, tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị. Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy, Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng. Đây là giải pháp vừa có tác dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền sản xuất xã hội.

Sáu là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động trên thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng, như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…; ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng sản.

Bảy là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Trước tình hình giá cả tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp, Chính phủ đã chủ trương mở rộng các chính sách về an sinh xã hội.

Chính phủ đã quyết định tăng 20% mức lương tối thiểu cho những người lao động thuộc khối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội từ ngày 1 tháng 1 năm 2008. Chính phủ cũng quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng tăng lên đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

Riêng với người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề), mức lương tối thiểu quy định cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Ngoài ra, khoảng 1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đã được tăng lương 20%, hơn 1,5 triệu người có công đã được điều chỉnh trợ cấp lên 20% so với mức chuẩn hiện hành.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân. Theo đó, thực hiện cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới; điều chỉnh mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm lên 130.000 đồng/người/năm; hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; hỗ trợ ngư dân mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản, tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản; hỗ trợ ngư dân để thay máy tàu sang loại máy mới tiêu hao ít nhiên liệu hơn; hỗ trợ về kinh phí bảo hiểm thân tàu cho tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên làm việc theo hợp đồng lao động trên các tàu cá, tàu dịch vụ; hỗ trợ về dầu cho ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản hoặc tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản.

Chính phủ đã quyết định giữ ổn định mức thu học phí, viện phí và tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại học, cao đẳng, học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để học tập. Tiếp tục xuất gạo dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho hộ đồng bào bị thiên tai, thiếu đói (5). Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Điều quan trọng cần chú ý là phải xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực thi, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.

Cần đồng tâm, hiệp lực Chống lạm phát là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự trả giá và đánh đổi. Để chống lạm phát đạt kết quả, sự trả giá và đánh đổi là thấp nhất, nhất thiết phải có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc của các cấp chính quyền.

Hơn nữa, thị trường thế giới đang biến động, phải theo dõi sát tình hình, cập nhật đầy đủ thông tin để có các giải pháp phản ứng kịp thời, chính xác, nhằm một mặt, hạn chế các tác động xấu do những khó khăn khách quan mới nẩy sinh; mặt khác, tận dụng được thời cơ mới xuất hiện để phát huy tiềm năng tăng trưởng của đất nước, thúc đẩy kinh tế phát triển cao hơn khi điều kiện thuận lợi.

Nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, khó khăn thách thức trong quá trình phát triển đi lên có mặt cũng rất gay gắt, nhưng thời cơ thuận lợi và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta còn rất lớn và rất cơ bản. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và với sự quyết tâm, chung sức chung lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, chúng ta sẽ kiềm chế được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tiếp tục đưa nền kinh tế nước ta phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.

(1) Giá dầu thô quý 1 năm 2008 tăng gần 40% so với giá bình quân năm 2007 và dự báo tiếp tục ở mức cao như hiện nay. Thậm chí có dự báo cao hơn, lên đến 150USD/ thùng. Giá phôi thép đầu năm 2008 đã tăng 45,1% so với cuối năm 2007, hiện giá chào đã lên đến 900USD/tấn. Giá phân urê, giá bột mỳ, gạo tháng 3 năm 2008 đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2007.

(2) Giá tiêu dùng ở Trung Quốc tháng 2 năm 2008 tăng 8,7% so với cùng kỳ, trong khi đó, tháng 2 năm 2007 chỉ tăng 2,7% so với tháng 2 năm 2006. Thái Lan tương ứng là 5,41% so với 2,32%; Philippin là 5,36% so với 2,64%; Khu vực đồng Euro là 3,2% so với 1,84%.

(3) Năm 2008, nhiều quốc gia đã phải thực hiện điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng để đối phó với tình hình này: Mỹ 1,5% (năm trước là 2,7%); Khu vực đồng tiền chung Châu Âu 1,6% (năm trước là 2,6%); Nhật 1,5% (năm trước là 1,9%); Trung Quốc 8% (năm trước là 11,4%).

(4) Tính riêng trong đợt rét đậm, rét hại đầu năm 2008, có khoảng 200 nghìn ha lúa, 18 nghìn ha mạ, 25 nghìn ha rau màu bị hỏng hoàn toàn, 180 nghìn trâu bò bị chết rét… Tổng thiệt hại ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng.

(5) Năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008 đã xuất gạo dự trữ quốc gia cấp không thu tiền cho hộ thiếu đói và bị thiên tai gần 80.000 tấn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!