Đề Xuất 2/2023 # Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo # Top 8 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhiều chuyên gia nhận định, dù mức lạm phát 6 tháng đầu năm 2016 còn thấp và cách khá xa mục tiêu kiểm soát, nhưng đây vẫn là một biến số khó lường và đòi hỏi sự thận trọng trong điều hành.

Diễn biến lạm phát 6 tháng đầu năm 2016

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 5,52%. Tốc độ tăng trưởng năm nay tuy cao hơn tốc độ tăng chung của cùng kỳ các năm từ 2012 – 2014 (lần lượt là 4,93%; 4,9%; 5,22%) nhưng có dấu hiệu chững lại so với tốc độ tăng 6,28% trong 6 tháng đầu năm 2015. Tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm thấp, đặt ra thách thức lớn trong việc đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 2016 là 6,7%.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tháng 6/2016 tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,35% so với tháng 12/2015 và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2016 tăng 1,72% so với cùng kỳ năm 2015.

Lạm phát cơ bản theo thước đo CPI (sau khi loại trừ lương thực – thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 6/2016 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm 2016 so cùng kỳ năm 2015 tăng 1,8%.

Như vậy, bình quân 6 tháng đầu năm 2016 so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng lạm phát cơ bản (+1,8%) tương đối sát so với tốc độ tăng của lạm phát chung (+1,72%), qua đó cho thấy, chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2016 tuy có mức tăng cao hơn so với bình quân 6 tháng đầu năm 2015 (+0,86%) nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ các năm trước (năm 2014 tăng 4,77%, năm 2013 tăng 6,73%, năm 2012 tăng 12,2%).

Mức tăng CPI trong 6 tháng đầu năm 2016 chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ công (y tế, giáo dục) theo lộ trình thị trường, biến động tăng của giá nguyên nhiên, vật liệu, lương thực, thực phẩm và việc điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu vùng và lương cơ sở.

Giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm được điều chỉnh tăng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 và giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ cũng đã có những tác động đến CPI trong 6 tháng đầu năm 2016. Giá dịch vụ y tế hiện đã thực hiện bước 1, theo đó mức giá khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế gồm chi phí trực tiếp và phụ cấp đặc thù thực hiện từ 1/3/2016 đẩy giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 23,12%, góp phần làm cho CPI 6 tháng đầu năm tăng khoảng 0,86% so cùng kỳ năm trước. Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, một số tỉnh đã tăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục 6 tháng đầu năm tăng 4,47% so cùng kỳ năm trước, góp phần làm cho CPI 6 tháng đầu năm tăng khoảng 0,22% so cùng kỳ năm trước.

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp tăng từ ngày 1/1/2016 (Tính trung bình, mức lương tối thiểu vùng năm 2016 cao hơn mức lương tối thiểu vùng năm 2015 khoảng 250.000-400.000 đồng/tháng) và lương cơ sở tăng từ ngày 1/5/2016 (tăng 60.000đ) nên giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình… có mức tăng giá từ 1%-2,5% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn: Tổng Cục Thống kê, Cục Quản lý Giá Bộ Tài chính.

Trong 6 tháng đầu năm 2016, các dịp Tết Nguyên đán, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, kỳ lễ 30/4 và 1/5 đều được kéo dài nên nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí tăng cao, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm đều tăng. Bên cạnh đó, việc thương lái thu mua thịt lợn xuất sang Trung Quốc cùng với khô hạn ở miền Trung và Tây Nguyên, xâm nhập mặn tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 4, tháng 5 cũng đã ảnh hưởng đến giá lương thực, thực phẩm trong nước.

Theo đó, bình quân 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,03% so với cùng kỳ năm 2015, góp phần vào mức tăng chung của CPI khoảng 0,71%; chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,37% so với cùng kỳ năm 2015, góp phần vào mức tăng chung của CPI khoảng 0,08%; chỉ số giá nhóm may mặc tăng 2,47% so với cùng kỳ năm 2015, góp phần vào mức tăng chung của CPI khoảng 0,15%; chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước.

Một nguyên nhân khác cũng khiến CPI tăng là giá xăng dầu, khí ga tăng trong quý II theo xu hướng biến động tăng trên thị trường thế giới. Ngoài ra, do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu dùng điện tăng, làm cho chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 1,27%, góp phần làm CPI cả nước tăng khoảng 0,03%.

Hình 1: Diễn biến CPI và lạm phát cơ bản 6 tháng đầu năm 2016 (%)

Công tác điều hành trong 6 tháng đầu năm

Trong 6 tháng đầu năm 2016, mặc dù thị trường hàng hóa chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi (cả chủ quan và khách quan) như: thời tiết, khí hậu, môi trường, giá hàng hóa thế giới, việc thực hiện lộ trình giá thị trường của hàng hóa trong nước… Tuy nhiên, công tác điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành địa phương khá sát sao nên thị trường vẫn khá bình ổn, các vấn đề phát sinh được các cấp, ngành, địa phương phối hợp xử lý kịp thời, hiệu quả.

Các ngành, các cấp đã và đang tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp như:

– Bộ Tài chính đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương. Về quản lý giá xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương điều hành kinh doanh xăng dầu phù hợp tình hình thị trường thế giới và trong nước góp phần thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành lãi suất và tỷ giá linh hoạt phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô. Ngày 31/12/2015, NHNN Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN có hiệu lực từ ngày 4/1/2016 về việc công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD và biên độ giao dịch là +/-3%, theo đó tỷ giá trung tâm được điều chỉnh hàng ngày, bám sát diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nước và quốc tế, tỷ giá trung tâm biến động có tăng, có giảm. Với cách thức điều hành tỷ giá mới, sau 6 tháng, tỷ giá VND/USD trên thị trường thấp hơn nhiều so với mặt bằng tỷ giá cuối năm 2015 và khá ổn định.

Dự báo CPI năm 2016 và giải pháp kiểm soát giá cả những tháng cuối năm

Thực tế những năm qua cho thấy, mức lạm phát cả năm ở nước ta luôn cao hơn so với 6 tháng đầu năm. Theo thống kê, đặc biệt là trong những năm gần đây, CPI dù không còn biến động theo chu kỳ (những tháng sau tết âm lịch tăng thấp, quý 2 và 3 không tăng và từ tháng 9 tới cuối năm tăng cao), nhưng hầu như chỉ số CPI 6 tháng cuối năm đều tăng và chưa bao giờ CPI cả năm lại thấp hơn CPI 6 tháng đầu năm.

Lạm phát tiềm ẩn khả năng diễn biến bất thường, vì từ nay đến cuối năm 2016 có nhiều yếu tố dự báo sẽ gây áp lực lên CPI, đặc biệt có thể sẽ có những diễn biến phức tạp đến từ nhiều yếu tố ngoại sinh như thị trường thế giới và biến đổi khí hậu (gây xáo trộn trên thị trường lương thực), việc nước Anh rời khỏi EU… và nội sinh như khả năng kiểm soát cung tiền của NHNN và biến động của tổng cầu. Nếu tình hình bất lợi, sẽ không loại trừ việc lạm phát năm 2016 vượt qua mức mục tiêu 5% của Chính phủ.

Báo cáo của Tạp chí The Economist về tình hình Việt Nam 2016 cũng đã đưa ra nhận xét: Áp lực lạm phát ở Việt Nam vẫn ẩn chứa trong năm nay. Giá cả sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn một chút. Áp lực lạm phát từ phía cầu cũng sẽ mạnh hơn. Dù vậy, Economist cho rằng, mức tăng của lạm phát từ nay đến 2018 sẽ ở mức độ vừa phải, không tăng sốc như giai đoạn 2011-2015.

Hình 2: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng CPI và GDP (%)

Để kiềm chế lạm phát dưới 5%, Chính phủ đã xây dựng những kịch bản khác nhau. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục theo dõi sát diễn biến cung, cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác phân tích, dự báo thông tin thị trường.Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp đề ra trong Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của Chính phủ.

Ngoài ra, Chính phủ tiếp tục triển khai các biện pháp phù hợp nhằm hạn chế tác động của tình trạng ô nhiễm hiện nay ở khu vực miền Trung đến hoạt động du lịch; cũng như hạn chế tác động tiêu cực đến thu hút khách du lịch quốc tế. Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính, tăng cường thu nợ đọng thuế và triển khai thu kịp thời phần bán vốn cổ phần của Nhà nước ở một số doanh nghiệp… Bộ Công Thương tăng cường công tác chống buôn lậu; gian lận thương mại; cần phối hợp với các hiệp hội ngành hàng nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu đối với một số mặt hàng chủ lực mà kim ngạch đang có xu thế giảm thấp so với cùng kỳ năm trước (như: sản phẩm dệt may, đồ gỗ, sản phẩm điện tử).

NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng ổn định kinh tế vĩ mô; phối hợp với Bộ Tài chính trong phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm duy trì mặt bằng lãi suất ổn định. Phấn đấu giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường thanh, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật Giá, thuế, phí, đặc biệt đối với những hàng hóa dịch vụ tiêu dùng thiết yếu; Xử lý nghiêm khắc hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng; Giám sát chặt chẽ kê khai giá của các doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng kê khai giá; Kiểm soát chặt chẽ giá hàng hóa dịch vụ do Nhà nước định giá, hàng hóa dịch vụ mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước, hàng hóa dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công.

Trong trường hợp điều chỉnh giá phải xây dựng phương án, lộ trình điều chỉnh trên cơ sở đánh giá kỹ tác động của việc điều chỉnh giá, tránh điều chỉnh giá vào cùng một thời điểm, để tránh tác động của việc điều chỉnh giá tới mặt bằng giá.

1. Các báo cáo thống kê, Tổng cục Thống kê năm 2015, 6 tháng 2016; 2. Kỷ yếu hội thảo: “Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2016”; 3. http://www.mof.gov.vn/; 4. http://www.gso.gov.vn/; 5. http://qlg.mof.gov.vn/portal/page/.

Lạm Phát Năm 2008: Dự Báo Và Giải Pháp?

Mục tiêu do Quốc hội đề ra cho năm 2008 là tốc độ tăng giá tiêu dùng (dưới 8,5-9%) thấp hơn tốc độ tăng GDP (8,5-9%). Tuy nhiên, các chuyên gia đã dự đoán, nếu không có những giải pháp quyết liệt, thì tốc độ tăng giá tiêu dùng năm nay sẽ không đạt được mục tiêu, thậm chí không kém tốc độ tăng của năm trước (12,63%).

Những yếu tố tăng giá

Những yếu tố tác động làm cho giá tiêu dùng năm nay tiếp tục tăng cao có nhiều, trong đó có một số nhóm yếu tố quan trọng.

Trước hết phải kể đến những yếu tố về phía cầu (lạm phát do cầu kéo). Cầu nói ở đây là cầu của người tiêu dùng và nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Nhu cầu tiêu dùng năm 2008 tăng mạnh do nhiều tác động. Dân số tăng khoảng 1,2%, tức là vẫn tăng trên 1 triệu người (đưa dân số trung bình năm 2008 lên trên 86,2 triệu người). Mức tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường (thể hiện ở tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng) năm trước tăng 23,3%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá bình quân năm (8,3%) thì vẫn còn tăng 13,9%. Đây là tốc độ tăng rất cao (cao gấp 1,64 lần tốc độ tăng GDP theo giá so sánh), một phần do mức tiêu dùng tăng cao và tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường tăng nhanh.

Tăng trưởng kinh tế cao cũng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư cao. Tỷ lệ giữa vốn đầu tư so với GDP năm trước đã lên đến 40,4%, mục tiêu năm nay còn đưa lên đến 42% để nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn (9% so với 8,48%). Khi vốn đầu tư đưa ra nhiều hơn thì sức ép lạm phát cũng tăng lên. Chẳng thế mà tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường song song với nhau, nhưng có điều là ngược chiều nhau (tăng trưởng cao thường kéo lạm phát lên, lạm phát lên cũng đẩy tăng trưởng cao lên). Vì thế, các nước thường dùng công cụ lãi suất để tác động đến tăng trưởng và lạm phát: khi tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu suy thoái thì cắt giảm lãi suất (lãi suất giảm thì tiền ra nhiều, tiêu dùng gia tăng); khi lạm phát tăng thì nâng lãi suất lên (lãi suất lên thì tiền ra ít).

Nhu cầu cao lên cộng hưởng với lượng tiền ra lớn sẽ làm cho cầu tăng kép. Lượng tiền từ ngân hàng ra lưu thông lớn thời gian qua có hai vấn đề đáng lưu ý. Một, lượng tiền đưa ra trong các năm trước quá lớn và hiện còn nằm ở lưu thông. Tốc độ tăng cung tiền M2 (bao gồm tổng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng), tính chung ba năm qua đã lên đến 122,44% (năm 2005 tăng 23,34%, năm 2006 tăng 33,59%, năm 2007 ước tăng 35%), cao gấp gần 4,5 lần tốc độ tăng 27,25% của GDP tính theo giá so sánh trong thời gian tương ứng và các hệ số này cũng cao gấp đôi các nước trong khu vực. Cung tiền tăng cao gấp tới 4,5 lần sản xuất thì lạm phát cao là khó tránh khỏi, không những trong năm trước mà cả trong năm nay. Động thái này nếu vẫn tiếp tục thì lạm phát sẽ không giảm mà còn tăng. Hai, một lượng tiền lớn lên đến hàng trăm ngàn tỉ đồng đã được dồn dập đưa ra trong vòng 6-7 tháng đầu năm để mua đô la nhằm tăng dự trữ quốc tế và tránh cho đồng Việt Nam lên giá so với đô la nhưng việc hút tiền chậm chạp, đã tạo sức ép cho lạm phát về hai mặt.

Một mặt, do tình trạng đô la hóa ở Việt Nam vốn khá cao, việc khắc phục lại rất chậm, nên một phần của lượng ngoại tệ có từ trước và mới vào trong năm có tác dụng thanh toán trực tiếp. Mặt khác, để tránh cho tiền đồng khỏi lên giá, tác động không tốt đến xuất nhập khẩu và nhập siêu, Nhà nước sẽ lại đưa một lượng tiền lớn ra mua ngoại tệ, trong khi các biện pháp “trung hòa” sẽ chậm hơn và đạt hiệu quả thấp hơn do sự hấp dẫn của lãi suất phát hành trái phiếu yếu, sẽ lặp lại tình trạng có phiên đấu thấu trái phiếu không có người tham dự.

Năm 2008, lượng ngoại tệ vào nước ta từ các nguồn sẽ đạt kỷ lục mới, bởi lượng vốn ký kết, cam kết trong năm trước lớn nhưng giải ngân vẫn còn ít sẽ được giải ngân trong năm nay và năm nay có thể ký kết, cam kết còn cao hơn.

Áp lực lạm phát do chi phí đẩy năm trước đã khá cao, năm nay vẫn tiếp tục tăng làm cho chi phí đầu vào gia tăng, đó là do mặt bằng giá thế giới tăng. Mặt bằng giá thế giới tăng thể hiện ở hai mặt. Một mặt, do bản thân giá cả hàng hóa, dịch vụ tính bằng đô la tăng do giá đô la tiếp tục giảm giá không chỉ so với các đồng tiền mạnh (euro, bảng Anh, yen Nhật, fran Thụy Sĩ, đô la Canada…) mà còn giảm giá so với đồng nội tệ của nhiều nước khác, nhất là những nước và vùng lãnh thổ mà nước ta nhập siêu lớn (như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia…).

Lạm phát do chi phí đẩy năm nay sẽ còn cao hơn mọi năm do thị trường. Điều này có nghĩa là một số loại hàng hóa, dịch vụ năm trước được kiềm chế tăng giá thì năm nay sẽ tăng lên, tạo thành mặt bằng giá mới. Sự tăng giá của những hàng hóa, dịch vụ này (nhất là giá dầu, điện, than, học phí, viện phí…) bản thân nó đã làm tăng mặt bằng giá do chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu cho đời sống, mà còn tác động dây chuyền đến hầu hết giá của những hàng hóa, dịch vụ khác.

Giải pháp đồng bộ

Để kiềm chế lạm phát không tăng cao hơn năm trước và không cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, các biện pháp năm nay cần được đưa ra sớm, đúng, đồng bộ, đủ liều lượng và phải được thực hiện nghiêm.

Các giải pháp cũng tập trung vào việc bảo đảm cân đối cung – cầu, cân đối tiền – hàng.

Trước hết nói về hàng. Ngoài các biện pháp tăng trưởng kinh tế nói chung, cần tập trung vào các loại hàng hóa – dịch vụ hiện trong nước sản xuất chưa đủ, giá còn cao, nhất là thực phẩm, lương thực, vật liệu xây dựng, một số nguyên phụ liệu.

Năm nay là năm thứ hai sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo cam kết sẽ được mở rộng ra nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, nên việc nhập khẩu sẽ gia tăng, vừa có tác động giảm chi phí đầu vào, vừa có tác động tăng cung để cân đối tiền – hàng.

Tuy nhiên, nếu không có sự kiểm tra, thanh tra chặt chẽ, thường xuyên, thì lợi ích đó sẽ không đến tay người tiêu dùng, do bị “rơi rụng” ở các khâu nhập khẩu, phân phối, trong khi ngân sách nhà nước lại bị giảm thu, nhập siêu gia tăng, ảnh hưởng tới sản xuất ở trong nước. Doanh nghiệp tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, giá bán sản phẩm. Nhà nước cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí xã hội cho doanh nghiệp.

Về mặt tiền tệ – tín dụng, cần khắc phục các hạn chế, bất cập trong năm trước để dự báo đúng, dự báo sớm, tránh bị động, lúng túng, chậm trễ. Trong đó có một số biện pháp đáng lưu ý.

Một, tỷ lệ dự trữ bắt buộc năm trước đã tăng gấp đôi lên 10%, đầu năm nay tăng thêm 1%, nhưng vẫn còn thấp hơn tỷ lệ 13,4% sau năm lần tăng trong năm 2007 của Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế 9% thì tốc độ tăng M2 chỉ nên vào khoảng trên dưới 20%; có thể còn phải tăng thấp hơn hoặc phải hút mạnh tiền vào hơn nữa để hạ bớt tốc độ tăng đã quá cao trong các năm trước. Nói cách khác, cần phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1-2 điểm phần trăm nữa để hãm tiền ra. Thời gian qua có nhiều ngân hàng thương mại kêu ca về tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản của họ, nhưng thực tế ngân hàng nào cũng lãi lớn, về trước mục tiêu kế hoạch; còn tiền lương của nhân viên khối ngân hàng cổ phần không chỉ vượt xa ngân hàng quốc doanh mà còn đang hút chất xám từ các ngân hàng nước ngoài.

Hai, để thu hút lượng ngoại tệ đang chảy mạnh vào nước ta và lượng ngoại tệ trên thị trường, Chính phủ cho phép các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có uy tín, có nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước. Có thể áp dụng giải pháp cho phép doanh nghiệp bán cổ phần bằng ngoại tệ. Đây là giải pháp có tác dụng về nhiều mặt. Vừa có thể tiếp tục thu hút được ngoại tệ đã, đang và sẽ vào nước ta phục vụ yêu cầu đầu tư tăng trưởng. Vừa thu hút được lượng ngoại tệ đang trôi nổi trên thị trường. Vừa không phải đưa một lượng lớn tiền đồng ra mua ngoại tệ tạo ra sức ép lạm phát.

Ba, nâng lãi suất huy động để hút tiền từ lưu thông về, đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh hiện đang có lãi suất thấp hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng, làm cho lãi suất thực bị âm. Phát hành trái phiếu cũng phải có lãi suất hấp dẫn.

Bốn, có cơ chế giám sát chặt chẽ việc tăng trưởng tín dụng ra thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản để tránh rủi ro do sự nóng lạnh bất thường của các thị trường này.

Năm, chấp nhận sự lên giá của tiền đồng. Một mặt do đô la giảm giá mạnh trên thị trường thế giới, kể cả các đồng nội tệ của các nước khu vực. Việc giảm giá 0,03% trong năm 2007 của tỷ giá VND/USD là quá nhỏ. Mặt khác, 1 đô la tại Việt Nam có giá sức mua tương đương với 3,4 đô la tại Mỹ. Ngoài ra, trong điều kiện Việt Nam còn nhập siêu lớn, nợ nước ngoài còn cao thì tỷ giá tăng là bất lợi.

Triển Khai 6 Giải Pháp Kiểm Soát Lạm Phát Các Tháng Cuối Năm 2022

PV: Thưa ông, những nhân tố nào được coi là gây áp lực tăng giá trong những tháng còn lại của năm 2018?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Áp lực tăng giá chủ yếu đến tư âcác nhân tố thị trường như biến động tăng của giá một số nguyên nhiên vật liệu trên thị trường thế giới như giá xăng dầu; biến động tăng của giá lương thực, thực phẩm trong nước; rủi ro từ thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp làm tăng giá cục bộ các mặt hàng thiết yếu tại các địa phương bị ảnh hưởng; việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước định giá. Ngoài ra còn chịu áp lực từ việc nâng lãi suất đồng USD của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ ảnh hưởng nhất định đến lãi suất và tỷ giá trong nước…

PV: Vậy yếu tố giảm áp lực lên mặt bằng giá là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Như tôi đã nói ở trên, áp lực tăng giá chủ yếu đến từcác nhân tố thị trường. Trong thực tế, vẫn có nhiều yếu tố làm giảm áp lực lên mặt bằng giá như: Trong một vài tháng tới, nhu cầu tiêu thụ trong nước đối với thực phẩm tươi sống dự báo ổn định và thường giảm vào mùa hè, giá thuốc chữa bệnh phấn đấu tiếp tục giảm theo kế hoạch đấu thầu thuốc tập trung, giá một số dịch vụ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế giảm từ ngày 15-7-2018 dự kiến tác động làm giảm CPI khoảng 0,35%; giá cước kết nối thoại giữa các mạng di động giảm 20%, lạm phát cơ bản ở mức thấp…

Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực chủ động điều hành giá cả thị trường và thực hiện các biện pháp kiểm soát lạm phát hiệu quả. Chính phủ đã thể hiện quyết tâm trong việc kiểm soát CPI bình quân dưới mức 4% như Quốc hội đã giao để bảo đảm cân đối kinh tế và hỗ trợ cho tăng trưởng, không để xảy ra lạm phát kỳ vọng.

PV: Trong thời gian tới, Bộ Tài chính có những giải pháp gì để tham mưu với Chính phủ trong việc điều hành giá?

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý Giá.

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành địa phương trong thực hiện chủ trương của Chính phủ đối với công tác kiểm soát lạm phát, với 6 nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu để kịp thời đề xuất các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu nhằm bình ổn giá cả thị trường nhất là đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây như xăng dầu, lương thực, thịt lợn…

Thứ ba, đối với việc thực hiện lộ trình thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu: Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp giúp kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động chi phí đẩy đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống của người dân. Đối với giá dịch vụ y tế, việc kết cấu thêm các chi phí vào trong giá theo lộ trình phụ thuộc vào dư địa lạm phát trong những tháng còn lại của năm.

Thứ tư, trong việc điều hành giá xăng dầu, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá với liều lượng thích hợp để kiềm chế việc tăng giá, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá xăng dầu tăng cao để tạo dư địa thuận lợi cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm.

Thứ năm, đối với một số mặt hàng nông sản đang tiếp tục có xu hướng tăng trong thời gian tới, tiếp tục phối hợp với Bộ NN&PTNT trong công tác nắm bắt tình hình thị trường, cung cầu các mặt hàng lương thực, thực phẩm nhằm đưa ra các dự báo, tính toán kịch bản điều hành giá cho từng giai đoạn để kịp thời đề xuất các biện pháp bình ổn thị trường phù hợp.

Kiềm Chế Lạm Phát Năm 2022: Nhìn Từ Cpi Tháng 1 Tăng Cao

(HNM) – Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1-2020 tăng 1,23% so với tháng 12-2019 và tăng 6,43% so với cùng kỳ năm 2019 trong khi Nghị quyết của Quốc hội nêu rõ, phải kiểm soát lạm phát cả năm 2020 dưới 4%.

Trước diễn biến đó, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho rằng, người dân và doanh nghiệp không nên quá lo lắng, Chính phủ sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ lạm phát theo kịch bản đã đề ra từ đầu năm.

Việc kiểm soát chặt chẽ giá lương thực, thực phẩm sẽ góp phần kiềm chế lạm phát cả năm 2020 dưới 4%. Ảnh: Thái Hiền

Không bi quan, hoang mang…

Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 1-2020 là mức tăng cao nhất của CPI tháng 1 trong 7 năm gần đây. Giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình, giá vật liệu xây dựng và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng trong dịp Tết Canh Tý được xác định là những nguyên nhân chủ yếu.

Riêng với mặt hàng thịt lợn, nguồn cung đủ và giá bán không ở mức đột biến như thời gian trước, nhưng mặt bằng giá vẫn ở mức cao (80.000-86.000 đồng/kg hơi). Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm cho biết, mức giá này vẫn cao hơn 8,29% so với tháng 12-2019 và là nguyên nhân quan trọng khiến mức nền CPI của tháng 1 tăng cao. Dù đã được dự báo trước và vẫn trong các kịch bản điều hành kinh tế của Chính phủ, nhưng việc này sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành giá trong quý I cũng như cả năm 2020.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá trong cuộc họp đột xuất, ngày 31-1 của Ban Chỉ đạo nhận định, giá cả trong tháng 1-2020 “bình thường và bất thường”. Bình thường là giá tăng vào cuối năm, dịp Tết dương lịch và Tết Nguyên đán (cùng trong tháng 1-2020), nhưng bất thường là CPI tăng cao nhất trong 7 năm qua.

Để góp phần kiểm soát lạm phát cả năm 2020 dưới 4% theo Nghị quyết của Quốc hội, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu, đối với mặt hàng thịt lợn, các bộ, ngành, địa phương phải kiên quyết thực hiện đồng bộ các giải pháp để đưa mặt bằng giá thịt lợn xuống mức hợp lý và dần xuống mức bình thường như trước khi có bệnh Dịch tả lợn châu Phi trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc của thị trường và quy định của pháp luật.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 1 của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, dịch bệnh do nCoV ảnh hưởng mạnh đến phát triển kinh tế tại Việt Nam và các nước trên thế giới, nhất là trong lĩnh vực hàng không, nông nghiệp, chứng khoán, du lịch, xuất khẩu. Cùng với đó, thời gian nghỉ Tết dài, dẫn đến giảm tăng trưởng trong quý I-2020, ước tính GDP quý I-2020 giảm khoảng 1%. Mặc dù phải đối mặt với thách thức không nhỏ, song Thủ tướng khẳng định, Chính phủ sẽ không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng, tuyệt đối không bi quan, hoang mang.

Về vấn đề lạm phát nhìn từ việc CPI tháng 1 tăng cao, chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Ngô Trí Long cho rằng, tác động của dịch bệnh do nCoV có thể khiến CPI giảm mạnh trong thời gian tới do hoạt động giao thương bị hạn chế. Bên cạnh đó, giá xăng dầu nhiều khả năng sẽ giảm do nhu cầu đi lại, tiêu thụ giảm.

Thịt lợn là một trong những mặt hàng có giá ở mức cao khiến CPI tháng 1-2020 tăng. Ảnh: Linh Ngọc

… Và không được chủ quan

Kết luận nội dung kinh tế – xã hội tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1-2020 chiều 5-2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ quan điểm, tuyệt đối không được chủ quan. Các bộ, ngành cần điều hành, vận dụng linh hoạt chính sách vĩ mô, đặc biệt là về tài chính, tiền tệ, thương mại, đầu tư để giữ vững các chỉ tiêu vĩ mô, nhất là lạm phát; kiểm soát ứng phó kịp thời những diễn biến bất lợi từ dịch bệnh do nCoV.

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung cao độ thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra, bám sát thực tiễn và các kịch bản tăng trưởng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương theo quý và cả năm để điều hành, bảo đảm được mục tiêu tăng trưởng, kiềm chế lạm phát cả năm dưới 4% như mục tiêu đã đề ra.

Để ứng phó với dịch bệnh đồng thời kiểm soát lạm phát, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo vệ sức khỏe và tâm lý người dân, theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương, trước mắt cần ưu tiên phòng chống dịch, sau khi dịch bệnh được kiểm soát, tập trung hỗ trợ khôi phục sản xuất, bảo đảm cung cầu, ổn định giá cả hàng hóa, ổn định đời sống nhân dân và thực hiện đồng bộ, linh hoạt các chính sách, giải pháp để kích thích sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số giải pháp khác để thúc đẩy tăng trưởng là đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, các địa phương khẩn trương hoàn thành các thủ tục đưa những dự án chuẩn bị cấp phép, dự án mới sớm đi vào hoạt động…

Còn Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho rằng, với các mặt hàng nông sản, biện pháp trước mắt và lâu dài là cần thực hiện tái cơ cấu sản xuất; liên kết sản xuất, đẩy mạnh chế biến và tăng cường kết nối với các hệ thống siêu thị, trung tâm phân phối nội địa. Bên cạnh đó, để hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa nói chung, hàng nông sản nói riêng, Bộ Công Thương đã chỉ đạo hệ thống các cơ quan thương vụ của Việt Nam tại nước ngoài tăng cường kết nối với các doanh nghiệp sở tại và các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp trong nước nhằm mở rộng các kênh tiêu thụ hàng hóa của Việt Nam.

Để kịp thời hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng chỉ đạo các chi nhánh, phòng giao dịch, chủ động nắm bắt mức độ thiệt hại của khách hàng đang vay vốn do ảnh hưởng của dịch bệnh nCoV, nhất là những ngành, lĩnh vực có thể bị ảnh hưởng nhiều như du lịch, nông nghiệp, xuất khẩu…, để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay…

Như vậy, có thể thấy quan điểm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ là cùng với việc thực hiện quyết liệt giải pháp phòng, chống bệnh dịch do nCoV, tiếp tục nhất quán mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có việc kiềm chế lạm phát.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!