Đề Xuất 12/2022 # Kiểm Soát Lạm Phát, Tiếp Tục Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Để Duy Trì Đà Tăng Trưởng Năm 2022 / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Kiểm Soát Lạm Phát, Tiếp Tục Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Để Duy Trì Đà Tăng Trưởng Năm 2022 / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kiểm Soát Lạm Phát, Tiếp Tục Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Để Duy Trì Đà Tăng Trưởng Năm 2022 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2016 với bước đà ổn định và phát triển tích cực của năm 2015. Về cơ bản, nền kinh tế thế giới năm 2016 sẽ có những dấu hiệu tích cực hơn và có những tác động thuận lợi, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, với các hiệp định thương mại của Việt Nam trong năm 2016 sẽ phát huy hiệu quả, tạo ra được những cải thiện mạnh mẽ trong môi trường sản xuất kinh doanh cũng như thu hút đầu tư. Thị trường tài chính, thị trường ngoại hối tương đối ổn định trong quý I và những chính sách tiền tệ tích cực, linh hoạt đã dần phát huy hiệu quả trong điều hành chính sách. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn phải đối mặt với một số thách thức như tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, thời tiết đang là trở ngại lớn trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và việc kiểm soát lạm phát đang gặp nhiều thách thứ

PGS., TS. Đào Văn Hùng   1. Kinh tế thế giới quý I vẫn còn nhiều bất ổn Tình hình kinh thế giới quý I/2016 vẫn cho thấy nhiều bất ổn khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ và khu vực châu Âu vẫn chưa bền vững; kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản và các nền kinh tế đang nổi vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, trong khi tình hình sản xuất, thương mại chưa có nhiều cải thiện. Triển vọng tích cực về kinh tế là “không rõ ràng”. Theo Bộ Thương mại Mỹ (24/03/2016), GDP quý IV/2015 của Mỹ tăng 1,4%, cao hơn gấp đôi so với con số ước tính trước đó (0,7%) và đạt tốc độ tăng trưởng GDP cả năm 2015 là 2,4%. Tuy nhiên, trong năm 2016, tình hình sản xuất của Mỹ không ổn định, sau khi chỉ số PMI tăng lên mức 52,4 điểm vào tháng 1/2016 và giảm xuống 51,3 điểm vào tháng 2/2016. Đồng thời, chỉ số giá sản xuất (PPI) đối với cầu cuối cùng cũng tăng 0,1% trong tháng 1/2016 sau đó giảm tiếp 0,2% trong tháng 2/2016. Tình hình tế của khu vực châu Âu quý I/2016 vẫn chưa thấy được nhiều tín hiệu khả quan. Sản lượng của khu vực kinh tế châu Âu đã tiếp tục suy giảm trong những tháng đầu năm 2016 và chỉ số PMI đạt mức 53,6 điểm trong tháng 1/2016 và giảm xuống còn 53 điểm trong tháng 2/2016. Tình hình kinh tế Nhật Bản quý I/2016 vẫn cho thấy sự thiếu ổn định với nguyên nhân chính là do tiêu dùng cá nhân yếu và một phần do sự suy giảm tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc. Cụ thể, tiêu dùng cá nhân giảm là do tổng tiền lương tăng thấp với mức tăng chỉ 1%. Chỉ số PMI tháng 1/2016 đạt 52,3 điểm và giảm xuống còn 50,1 điểm vào tháng 2/2016. Bên cạnh đó, Nhật Bản vẫn đang phải đối mặt với rủi ro về tỷ giá khi giá trị đồng USD giảm đã làm cho đồng Yên tăng lên 6%, điều này sẽ gây trở ngại tiêu cực cho nền kinh tế Nhật Bản. Tình hình kinh tế Trung Quốc quý I/2016 cho thấy nhiều dấu hiệu không khả quan. Cụ thể, xuất khẩu trong tháng 1 và 2/2016 (tính theo USD) giảm 11,2% và 25,4 % so với cùng kỳ năm trước và nhập khẩu giảm 18,8% và 13,8% so với cùng kỳ năm trước,  điều này đã làm cho thương mại thặng dư lên tới 95,9 tỷ USD. Xuất khẩu sụt giảm cho thấy đợt phá giá nhân dân tệ (NDT) hồi tháng 8/2015 vẫn chưa thể nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tháng 2/2016 đã giảm xuống còn khoảng 3 nghìn tỷ USD, theo thông cáo của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC). Các nền kinh tế đang nổi đang có dấu hiệu suy giảm tăng trưởng trong quý I/2016. Tại Nga, chỉ số PMI trong 2 tháng đầu năm 2016 liên tục suy giảm dưới 50 điểm, các đơn hàng xuất khẩu giảm mạnh và áp lực về giá tăng cao. Tại Ấn Độ, chỉ số PMI chỉ đạt 51,1 điểm trong tháng 2/2016, tuy nhiên, đã có những dấu hiệu tích cực trong sản xuất và các đơn đặt hàng. Tại Braxin, chỉ số PMI luôn dưới 50 điểm, ngành sản xuất suy giảm, và thất nghiệp gia tăng. Trong quý I/2016, tại cuộc họp ngày 16/3, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) trực thuộc FED đã quyết định giữ nguyên mức mục tiêu cho lãi suất cơ bản trong khoảng 0,25 – 0,5%, đồng thời dự kiến FED sẽ chỉ nâng lãi suất 2 lần từ nay đến cuối năm 2016, mỗi lần tăng 0,25% thay vì dự kiến tăng 4 lần trong năm 2016 (mỗi lần 0,25%) như trước đây. Đây là một quyết định quan trọng đối với định hướng chính sách của Mỹ cũng như của các nước trên thế giới. Sự mất giá liên tục của đồng USD trong những tháng đầu năm 2016 đã gây ra những trở ngại và áp lực tỷ giá đối với các nước trên thế giới. Điều này có thể sẽ dẫn tới sự phá giá đồng tiền của nhiều nước trên thế giới. Trong tháng 1/2016, giá cả hàng hoá cơ bản giảm 0,8% do sự sụt giảm của giá dầu và giá kim loại. Tuy nhiên, sang tháng 2/2016, giá hàng hoá thế giới tăng trở lại ở mức 2%, đầy là lần tăng đầu tiên trong 9 tháng qua.   2. Kinh tế vĩ mô quý I ở Việt Nam mặc dù ổn định nhưng vẫn chứa đựng bất ổn, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng năm 2016 2.1. Tăng trưởng kinh tế đạt thấp Theo số liệu của GSO, tăng trưởng quý I/2015 đạt 5,46% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức 6,12% của quý I/2015. Nguyên nhân chính là do sự giảm sút của tiêu dùng, tiêu dùng cuối cùng chỉ tăng 6,87% so với cùng kỳ năm 2015, thấp hơn rất nhiều so quý I/2015 là 8,67%. Xét theo phía cung, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản suy giảm và tốc độ tăng khu vực công nghiệp và xây dựng sụt giảm. Cụ thể, tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm (-) 1,23% và công nghiệp và xây dựng  chỉ tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ tăng  ứng 6,13% so với cùng kỳ năm trước,cao hơn con số 5,68% của quý I/2015. (Hình 1)

Hình 1: Tăng trưởng kinh tế quý I qua các năm. (Nguồn: GSO)

2.2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tiếp tục đà tăng thấp, nhưng nếu không được kiểm soát tốt vẫn có thể vượt quá mục tiêu dưới 5% năm 2016 CPI tháng 2 tăng 0,42% so với tháng trước, dẫn đến 2 tháng đầu năm chỉ số CPI tăng 0,42% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân CPI tăng cao là do sức tiêu thụ và mua sắm hàng hoá của người dân trong dịp Lễ Tết đầu năm 2016, điều này dẫn đến giá cả của nhóm hàng hoá như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,12% so với tháng 12 năm trước. CPI tháng 3/2016 tăng 0,57% so với tháng trước, chủ yếu là do tác động tăng giá của nhóm hàng hóa dịch vụ y tế và giáo dục. Cụ thể, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 24,34%, trong đó, dịch vụ y tế tăng 32,9%. Giá giáo dục tăng 0,66% là do sự điều chỉnh tăng giá của 06 tỉnh, thành phố theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Như vậy, tính chung 03 tháng đầu năm, CPI đã tăng 0,99% so với tháng 12, tăng 1,69% so với cùng kỳ năm trước và CPI bình quân quý I/2016 tăng 1,25% so với bình quân cùng kỳ năm 2015. 2.3. Xuất nhập khẩu tăng chậm Xuất khẩu tăng chậm: Tính chung 3 tháng đầu năm, tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 37,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27,1 tỷ, tăng 5,8%. Có thể thấy, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2016 tăng thấp nếu so với con số tăng trưởng cùng kỳ của các năm trước đó (38,71% năm 2011; 24,48% năm 2012; 17,52% năm 2013, 14,27% năm 2014 và 6,94% năm 2015). Nhập khẩu tiếp tục giảm, 3 tháng đầu năm kim ngạch hàng hóa nhập khẩu toàn nền kinh tế ước đạt 37,1 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực có vốn nước ngoài nhập khẩu 22,2 tỷ USD, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 61,35% tổng kim ngạch nhập khẩu; khu vực trong nước nhập khẩu 13,34 tỷ USD, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 36,65% tổng kim ngạch nhập khẩu. Như vậy, tính riêng quý I/2016, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 776 triệu, trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu là 4,05 tỷ USD và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,83 tỷ USD. Con số xuất siêu của quý là không bền vững, nguyên nhân chính là do xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm, trong đó chủ yếu là do nhập khẩu giảm sâu. Bên cạnh đó, con số xuất siêu này phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. (Hình 2) Hình 2: Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa qua các quý. (Nguồn: GSO)

2.4. Đầu tư vẫn duy trì tăng trưởng ở mức khá, nhưng đầu tư công tăng nhanh, nợ chính phủ cao, ngân sách nhà nước tiếp tục khó khăn – Vốn đầu tư tăng, nhưng chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng So với cùng kỳ năm 2015, vốn đầu tư thực hiện đã tăng 1 điểm % từ 9,7% của năm 2015 lên thành 10,7% năm 2016, song sự tăng lên của nguồn vốn này chủ yếu là do tăng vốn đầu tư thực hiện của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cụ thể, vốn đầu tư thực hiện khu vực nhà nước tăng 7,8% (năm 2015 là 7,7%), vốn đầu tư thực hiện khu vực ngoài Nhà nước tăng 11,5% (năm 2015 là 11,4%) và vốn đầu tư thực hiện của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 13,5% (năm 2015 là 10,2%). – Đầu tư công tăng nhanh Toàn bộ chi đầu tư đều phải dựa vào nguồn vay nợ của Chính phủ, làm tăng áp lực nợ công và áp lực trả nợ. Nợ Chính phủ đến cuối năm 2015 là 50,3% GDP.  – Đầu tư từ ngân sách Nhà nước Với những chính sách của Chính phủ trong năm 2016 về định hướng về những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 nói chung và lĩnh vực đầu tư nói riêng nhằm huy động nguồn lực đầu tư trong xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ngân sách nhà nước. Theo đó, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 273,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP. Đây là mức tăng vốn tương đối cao trong bối cảnh kinh tế quý I đạt thấp. Đối với vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong quý I ước đạt 42,4 nghìn tỷ đồng chiếm 43,8% tổng vốn khu vực nhà nước, trong đó vốn do Trung ương quản lý đạt 9,3 nghìn tỷ đồng, vốn do địa phương quản lý đạt 33,1 nghìn tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước không đủ đảm bảo nguồn chi thường xuyên và trả nợ. Cụ thể, tính đến thời điểm 15/03/2016, tổng thu ngân sách ước đạt 182,4 nghìn tỷ đồng thấp hơn mức 187,6 nghìn tỷ đồng của chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (155,7 nghìn tỷ đồng) và chi trả nợ và viện trợ (31,9 nghìn tỷ đồng). – Đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính của sự tăng lên mạnh mẽ này là do sự cải thiện đáng kể của môi trường đầu tư. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu đi vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, ngành này thu hút lượng vốn đăng ký khoảng 2908 triệu USD và chiếm khoảng 72,2% tổng vốn đăng ký. Nếu xét theo đối tác đầu tư, các đối tác đầu tư lớn vào Việt Nam như Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 513,5 triệu USD, chiếm 18,7% tổng vốn đăng ký cấp mới (năm 2015 khoảng 314,2 triệu USD, chiếm 25,8%). Như vậy, tổng vốn đăng ký vào Việt Nam đã tăng mạnh và đầu tư nước ngoài đang dần chuyển vào Việt Nam nhiều hơn. 2.5. Tiêu dùng đang có xu hướng giảm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ quý I/2016 ước đạt 859,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước và nếu loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 7,9%, thấp hơn rất nhiều so với con số tăng 9,2% của cùng kỳ năm 2015. Xét theo ngành hàng: Lương thực, thực phẩm tăng 13,2%; may mặc tăng 10,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,7%; phương tiện đi lại tăng 8,3%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 0,1%. 2.6. Thị trường ngoại hối ổn định, tăng trưởng tín dụng khả quan Tỷ giá bán tại nhiều NHTM phổ biến ở mức USD/VND = 22.325 – 22.340 VND/USD trong hơn 1 tháng gần đây, giảm 1% (tương đương mức giảm 200 đồng/1USD) so với thời điểm cuối năm 2015. Nguyên nhân là do: Thứ nhất, nguồn cung ngoại tệ là tương đối dồi dào do các nguồn như FDI, kiều hối tăng mạnh và Việt Nam xuất siêu trong quý I. Thứ hai, với các chính sách hạ lãi suất USD và áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm khiến diễn biến tỷ giá không quá căng thẳng như thời điểm cuối năm 2015. Tính đến thời điểm 31/03/106, theo Thông tư 24/2015/TT-NHNN ngày 8/12/2015  của Ngân hàng Nhà nước quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú kể từ ngày 31/3/2016, các NHTM sẽ chấm dứt cho vay bằng ngoại tệ và chuyển sang mua bán Đôla Mỹ (USD) thuần túy. Đã có rất nhiều lo ngại của các doanh nghiệp và các cá nhân về việc khó khăn trong tiếp cận nguồn tín dụng USD. Tuy nhiên, trong Thông tư có quy định rõ cho từng đối tượng và đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong điều hành chính sách nhằm hạn chế được những đối tượng “trục lợi” từ việc hưởng chênh lệch lãi suất. Như vậy, Thông tư này có thể là điểm sáng trong việc điều hành tỷ giá trong thời gian tới. Tính đến thời điểm 21/03/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,08% so với tháng 12/2015, cao hơn mức tăng 2,09% của cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tín dụng tăng 1,54% so với tháng 12/2015, cao hơn mức tăng 1,25% của cùng kỳ năm 2015. Thêm vào đó, huy động vốn tăng 2,26% so với thời điểm cuối năm 2015 và cao hơn rất nhiều so với con số 0,94% của cùng kỳ năm 2015. 2.7. Mặt bằng lãi suất huy động tăng nhẹ, lãi suất cho vay khó có thể giảm trong thời gian tới Những tháng đầu năm 2016, lãi suất huy động tại các NHTM có dấu hiệu tăng nhẹ. Cụ thể, lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng được duy trì ở mức 4 – 5,5%/năm; với kỳ hạn từ 6 – 12 tháng, lãi suất huy động từ 5,4 – 6,8%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên lãi suất từ 6 – 8%/năm. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay hầu như không có biến động so với cuối năm 2015. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6% – 7%/năm đối với ngắn hạn và 9 – 10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8% – 9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3 – 11%/năm đối với trung và dài hạn. Các yếu tố khiến lãi suất huy động tăng nhẹ bao gồm: (1) Lạm phát tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015, mặc dù vẫn ở mức tương đối thấp; (2) những lo ngại về rủi ro tỷ giá và sự mất giá của đồng VND; (3) dự thảo sửa đổi Thông tư 36 theo hướng thắt chặt hơn quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn cũng khiến các NHTM gia tăng lãi suất huy động trung và dài hạn để đảm bảo an toàn hệ thống. Lãi suất huy động tăng, thêm vào đó, các NHTM phải tiếp tục trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu trước đây, nên lãi suất cho vay khó có thể giảm trong năm 2016.  2.8. Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi đã tạo môi trường thông thoáng hơn cho thành lập cũng như kinh doanh của các doanh nghiệp Doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh về số vốn đăng ký. Tính đến hết tháng 3 năm 2016, cả nước có thêm 23767 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 186 tỷ đồng, tăng 24,8% về số doanh nghiệp và tăng 67,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ. Điều này cho thấy nhiều nhà đầu tư đang có xu hướng đầu tư trở lại, khi nền kinh tế đã đạt được những dấu hiệu tích cực trong năm 2015. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng và doanh nghiệp giải thể vẫn tăng lên so với cùng kỳ năm trước Số doanh nghiệp ngừng hoạt động trong quý I là 20044 doanh nghiệp, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 có 16175 doanh nghiệp, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước nữa). Trong đó, có 8026 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 12018 doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký. Các doanh nghiệp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chiếm hơn 90% số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể. Nguyên nhân chính là do khả năng thích ứng và khả năng cạnh tranh còn thấp. Thêm vào đó, sự khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn đã dẫn đến những trở ngại trong đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, Chính phủ cần phải có những giải pháp phù hợp hơn đối với các loại hình doanh nghiệp này để duy trì và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Số doanh nghiệp tạm ngừng quay trở lại hoạt động tăng mạnh. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay là 9376 doanh nghiệp, tăng 84,1% so với cùng kỳ năm trước, và cao hơn rất nhiều con số 5094 (tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2014) của quý I/2015. Điều này cho thấy các giải pháp của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đã phát huy tác dụng.     Các doanh nghiệp lạc quan hơn về tình hình sản xuất kinh doanh Với kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của GSO cho thấy có tới gần 73% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2016 là ổn định và khả quan hơn, trong khi đó, chỉ có khoảng 27% đánh giá tình hình khó khăn hơn. Bên cạnh đó, có 89% doanh nghiệp đánh giá xu hướng ổn định và tốt hơn trong quý II/2016 với với sự tăng lên của sản xuất, khối lượng xuất khẩu, các đơn đặt hàng và sự ổn định của chi phí sản xuất, giá cả và tồn kho sản phẩm. 3. Dự báo tốc độ tăng trưởng năm 2016 và một số giải pháp duy trì đà tăng trưởng 3.1. Triển vọng kinh tế thế giới Tăng trưởng kinh tế thế giới có thể tăng chậm trong năm 2016, OECD dự báo tăng trưởng 3,3% (thấp hơn mức dự báo trước đó, 3,6%) nguyên nhân chính là do nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục suy giảm. Theo đó, các nền kinh tế phát triển như Mỹ sẽ tiếp tục khả quan, Nhật Bản có thể đạt mức tăng trưởng 1%. Trong khi đó, nền kinh tế Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục suy giảm khi phải đối mặt với những khó khăn như sự suy giảm của xuất nhập khẩu và dự trự ngoại hối. 3.2. Cho dù tăng trưởng quí I thấp, nhưng Việt Nam vẫn có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế   Từ thực trạng kinh tế quý I cho thấy, trong năm 2016, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn để duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực của năm 2015 như: Thứ nhất, tiêu dùng đang có xu hướng tăng chậm và không đạt được như kỳ vọng của năm 2015. Cụ thể, có thể thấy được tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng của quý I/2016 (ước đạt 6,87%) giảm gần 2 điểm % so với cùng kỳ năm 2015 (8,67%). Thứ hai, thời tiết diễn biến bất thường sẽ tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và giá lương thực trên thị trường. Cụ thể, giá trị sản xuất nông nghiệp gặp khó khắn do khí hậu khắc nghiệt làm hạn chế việc sản xuất hoa màu và tình trạng nước mặn xâm nhập ở Đồng bằng sông Cửu Long, làm giảm năng suất lúa. Bên cạnh đó, thời tiết khó khăn và ô nhiễm nguồn nước cũng có ảnh hưởng mạnh tới nuôi trồng thủy sản. Thứ ba, đồng USD dự báo tiếp tục lên giá khi FED tuyên bố sẽ tăng lãi suất 2 lần từ nay đến cuối năm 2016, điều này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới thương mại thế giới. Thứ tư, việc kiểm soát lạm phát còn nhiều thách thức khi giá dầu thế giới diễn biến phức tạp theo chiều hướng tăng trở lại và việc tăng giá các hàng hóa dịch vụ công (y tế, giáo dục). Trên cơ sở đó, bài viết này đưa ra hai kịch bản dự báo kinh tế cho năm 2016 như sau: (Hình 3)

Kịch bản thứ nhất (kịch bản cao): Kịch bản này được dự báo khi Chính phủ có nhiều chính sách nhằm cải thiện mạnh mẽ nhằm tăng tiêu dùng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, với hàng loạt các hiệp định thương mại sẽ phát huy tối đa hiệu quả trong năm 2016 và những dấu hiệu tác động tích cực từ bên ngoài tới nền kinh tế Việt Nam. Do đó, mặc dù kết quả tăng trưởng quí I thấp, nhưng vẫn có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,8% vào cuối năm và lạm phát vẫn có thể duy trì vào khoảng 3,17%. Kịch bản thứ hai (kịch bản thấp): Kịch bản này được đưa ra khi tiêu dùng trong nước không có nhiều cải thiện và các hiệp định thương mại còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, những khó khăn từ thiên tai, dịch bệnh và những khó khăn từ bên ngoài tác động tới nền kinh tế Việt Nam. Với kịch bản này, tăng trưởng của Việt Nam năm 2016 chỉ đạt khoảng 6,35% và lạm phát ở khoảng 2,56%. 3.3. Một số giải pháp cho nền kinh tế trong năm 2016 Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2016, trong thời gian tới, cần phải thực hiện một số giải pháp sau đây: Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ lạm phát, xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, giảm gánh nặng tăng tổng cầu lên chính sách tiền tệ và hạn chế dần sự lấn át của chính sách tài khóa lên chính sách tiền tệ. Mặc dù mức tăng CPI quí I còn thấp, nhưng áp lực tăng giá sản phẩm, dịch vụ công theo cơ chế thị trường còn rất lớn. Mặt khác, giá dầu có dấu hiệu hồi phục sẽ tác động nhiều đến CPI. Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tổng cầu đề duy trì lạm phát ở mức thấp tạo đà cho tăng trưởng.  Thứ hai, giảm chi phí hoạt động NHTM để từ đó, tạo cơ sở cho giảm lãi suất tiền vay qua việc giảm trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu bằng cách cho các NHTM chuyển nợ xấu thành vốn góp doanh nghiệp như kinh nghiệm xử lý của Trung Quốc trong thời gian gần đây. Thứ ba, duy trì kỷ luật tài khóa, giảm chi tiêu thường xuyên bằng cách giao tự chủ tài chính cho các đơn vị hành chính sự nghiệp công, chuyển một số hoạt động hành chính và dịch công sang khu vực tư nhân đảm nhiệm. Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công, cắt giảm dự án  đầu tư công hiệu quả thấp, chỉ tập trung đầu tư vào các dự án trọng điểm có sức lan tỏa và xây dựng tiêu chí rõ ràng, công khai cho việc lựa chọn các dự án này. Sử dụng đồng bộ các giải pháp nêu trên lạm phát sẽ được kiểm soát, kinh tế vĩ mô sẽ ổn định và tăng trưởng kinh tế vẫn có thể đạt được từ 6,35 đến 6,70% như dự báo.   TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Báo cáo tình hình kinh tễ xã hội các tháng và quý của Tổng cục Thống kê. 2. Website Tổng cục Hải quan. 3. Website Tổng cục Thống kê. 4. Website Ngân hàng Nhà nước. 5. Website Cục Ðầu tư nước ngoài.   (Tạp chí Ngân hàng số 8, tháng 4/2016)

Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội, Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng, Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế / 2023

(Chinhphu.vn) -  Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình phân tích một số vấn đề kinh tế vĩ mô và những mục tiêu, nhiệm vụ  cho giai đoạn tới.

Ủy viên TƯ Đảng, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình

Đại hội Đảng lần thứ XI đã thành công rực rỡ, mang lại không khí phấn khởi và niềm tin sâu sắc cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân bước vào thực hiện những nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2011, năm đầu tiên của kế koạch 5 năm 2011 – 2015.

Đại hội Đảng lần thứ XI đã thành công rực rỡ, mang lại không khí phấn khởi và niềm tin sâu sắc cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân bước vào thực hiện những nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2011, năm đầu tiên của kế koạch 5 năm 2011 – 2015.

Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 “về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” là nền tảng cho mọi cơ chế, chính sách của Chính phủ đối với đời sống kinh tế – xã hội năm 2011 và có tính xuyên suốt cho các năm tiếp theo.

Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của Bộ Chính trị đã khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và nêu rõ: “… Mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 là: Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Đây là những nhiệm vụ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, cần được quán triệt, triển khai đồng bộ trong suốt quá trình phát triển… Tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắn hạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo. Trong năm 2011 và một vài năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, không quá câu thúc bởi mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 cao hơn năm 2010 để tránh tạo ra lạm phát cao, tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm”.

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Chính phủ, đất nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức cơ bản, quan trọng và to lớn; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thế và lực của Việt Nam trong khu vực và thế giới không ngừng được nâng cao. Những thành tựu to lớn đó là những mốc son đánh dấu một giai đoạn phát triển đã qua và là nền tảng vững chắc cho đất nước ta bước vào thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020 với tầm nhìn đến năm 2050.

Nhìn nhận một cách khái quát nhất có thể thấy trong suốt chặng đường đã qua nền kinh tế của nước ta chủ yếu phát triển theo chiều rộng. Đây là chiến lược đúng đắn trong bối cảnh xuất phát điểm của nước ta vào đầu thời kỳ đổi mới là một nước nông nghiệp lạc hậu, hạ tầng kinh tế hầu như bị phá hoại hoàn toàn trong chiến tranh, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước bị cấm vận từ bên ngoài, sự hỗ trợ của phe XHCN không còn do sự sụp đổ của CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ), Việt Nam thời gian đó bị coi là một trong những nước nghèo nhất thế giới.

Chính nhờ chiến lược phát triển kinh tế theo chiều rộng, chúng ta đã khơi dậy, động viên được ý trí tự lực, tự cường của mọi tầng lớp nhân dân, huy động được mọi của cải vật chất trong xã hội cho sự nghiệp tái thiết và xây dựng đất nước. Sau hơn 20 năm đổi mới, kiên trì chiến lược đã vạch ra, thu nhập bình quân theo đầu người của nước ta từ mức thấp nhất thế giới đã đạt mức trung bình của thế giới. Đây là một thành tựu rất ấn tượng và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

 Cần thiết đổi mới mô hình tăng trưởng

Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều có những hạn chế của nó. Phát triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy, hiệu quả vốn đầu tư khó có thể cao, biểu hiện chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Hiệu quả đầu tư không cao và dàn trải được tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm phát tăng cao. Do vậy, trong nhiều năm qua, so với các nước trong khu vực và thế giới ta luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn họ nhưng lạm phát ở ta cũng luôn cao hơn họ.

Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải trông cậy vào đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ quốc gia và nợ công nước ngoài tăng nhanh trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn trong ngưỡng an toàn nhưng cũng đến lúc phải thận trọng.

Việc mở rộng đầu tư cũng làm cho nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu sản xuất chủ yếu gia tăng nhanh chóng vượt quá khả năng tái tạo ngoại tệ của nền kinh tế. Điều này cộng thêm tâm lý tiêu xài và sính hàng ngoại của một bộ phận dân cư làm cho thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế. Lạm phát cao, nhập siêu lớn là nguyên nhân cơ bản làm mất giá đồng Việt Nam, suy giảm dự trữ ngoại tệ quốc gia và làm giảm lòng tin của người dân vào VND, tạo cơ hội cho đầu cơ, găm giữ, buôn lậu, buôn bán trái phép ngoại tệ và vàng.

Về vấn đề này, Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ nguyên nhân: “Về khách quan, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới; về chủ quan là do những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chậm được khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều hành của các cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trong nhiều năm qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và kinh tế vĩ mô không vững chắc, gay gắt hơn các nước trong khu vực.”

Như vậy, bên cạnh những thành tựu to lớn và  là cơ bản của giai đoạn phát triển đã qua, nền kinh tế nước ta bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 và chiến lược 10 năm 2011 – 2020 cũng phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Các cấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc, nhất quán tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 là: Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội”. Đây là một quyết sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cũng là một thông điệp rõ ràng cho cả trong nước lẫn quốc tế.

Đối với trong nước, như đã trình bày ở trên, mặc dù nước ta đã bước vào ngưỡng đầu của các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng kết cấu cơ sở hạ tầng của nền kinh tế còn nhiều bất cập và yếu kém. Kinh nghiệm phát triển kinh tế thế giới cho thấy mức thu nhập trung bình cũng là một cái bẫy đối với nhiều nước đang phát triển trên thế giới. Khi đó tâm lý thỏa mãn lan tràn trong dân cư cũng như các nhà lãnh đạo; quyền lợi của các nhóm người trong xã hội trỗi dậy, đan xen và ràng buộc lẫn nhau kìm hãm mọi quá trình cải cách trong nền kinh tế; tham ô, tham nhũng  bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế xã hội.

Quyết tâm đưa sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước lên một tầm cao mới

Trong bối cảnh đó nếu không có được những quyết sách đúng đắn có ý nghĩa chiến lược mang lại cho nền kinh tế có những thay đổi về chất, đạt tới tầm phát triển cao hơn thì sau nhiều năm vẫn luẩn quẩn trong ngưỡng thu nhập trung bình.

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã nhìn thẳng vào những tồn tại, yếu kém của nền kinh tế và kiên quyết đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ có như vậy, chúng ta mới củng cố được niềm tin trong nhân dân, phát huy được ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đưa sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước lên một tầm cao mới có sự thay đổi về chất, đưa nước ta từ một nước có mức thu nhập trung bình thành một nước về cơ bản là nước công nghiệp vào năm 2020.

Trong những giai đoạn kinh tế vĩ mô được ổn định thì Việt Nam thực sự trở thành một điểm đến lý tưởng của đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua khi lạm phát gia tăng, kinh tế vĩ mô có nhiều biểu hiện không ổn định, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chững lại, đầu tư nước ngoài gián tiếp cũng nhỏ giọt.

Sau khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới, mặc dù đã có dấu hiệu hồi phục song các nền kinh tế lớn tăng trưởng còn chậm, không rõ nét và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, các luồng vốn đầu tư đang đổ dồn vào các nước Đông Nam Á. Nhiều nước trong khu vực đang phải vất vả tìm mọi giải pháp để hấp thụ các luồng vốn này một cách hiệu quả nhất, đồng bản tệ của họ liên tục lên giá.

Những quyết sách nêu trên của Đảng và Chính phủ đã khẳng định rõ: Kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ không chỉ của năm 2011 mà có tính xuyên suốt cho cả thời kỳ phát triển sắp tới. Bằng việc tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương chính sách nêu trên của Đảng và Chính phủ chúng ta nhất định sẽ khơi thông được các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, góp phần giải quyết được nhu cầu vốn vô cùng to lớn cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế đất nước, Việt Nam vẫn sẽ là một điểm thu hút đầu tư hấp dẫn trên thế giới.

Trong ngắn hạn, chúng ta có thể khẳng định rằng bằng việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp của Nghị quyết 11/NQ-CP chúng ta nhất định sẽ kiềm chế được lạm phát, ổn định một bước kinh tế vĩ mô. Song, kết quả đó có duy trì bền vững hay không còn phụ thuộc vào kết quả đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Nói một cách khác kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tạo môi trường thuận lợi cho quá trình đổi mới mô hình phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế.

Đến lượt mình, các kết quả và thành tựu thu được từ đổi mới mô hình phát triển và cơ cấu lại nền kinh tế là cơ sở kinh tế vững chắc cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Nội dung đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã được phân tích trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020 và cũng đã được quán triệt sâu sắc tại Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Đây là nội dung hết sức phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành liên tục với những bước đi thích hợp vừa có tính kế thừa vừa có tính phát triển. Do vậy, đòi hỏi Đảng và Chính phủ phải kịp thời có được các chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể, thích hợp cho ngay các bước đi đầu tiên.

Chủ trương, chính sách, giải pháp đồng bộ

Trong bối cảnh kinh tế đất nước đầu năm 2011, nói đến kinh tế vĩ mô là chúng ta nói đến lạm phát, tăng trưởng, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai và cán cân thanh toán tổng thế, tỷ lệ giữa đầu tư và tích lũy, tỷ lệ thất nghiệp, biến động của tỷ giá và dự trữ ngoại hối nhà nước, tỷ lệ nợ quốc gia, tỷ lệ nợ công…. Các chỉ số và tỷ lệ trong các lĩnh vực nêu trên phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại và đan xen lẫn nhau, và trong nhiều trường hợp lại có tính triệt tiêu lẫn nhau (được chỉ tiêu này lại mất chỉ tiêu kia). Do vậy, tùy theo tình hình, đặc điểm của mỗi nước trong từng giai đoạn mà người ta quyết định chỉ tiêu nào là chỉ tiêu tiên quyết phải đạt được, các chỉ tiêu khác là các chỉ tiêu thỏa hiệp, sẵn sàng nhân nhượng, hay nói một cách khác là sẵn sàng điều chỉnh để nhằm đạt được các chỉ tiêu tiên quyết.

Phân tích đặc điểm kinh tế của đất nước ta đầu năm 2011 cho thấy lạm phát tăng cao trong nhiều năm và có biểu hiện tiếp tục tăng cao hơn trong năm 2011; nền kinh tế nước ta đã có độ mở và hội nhập rất lớn (kim ngạch xuất, nhập khẩu đã trên 154% GDP). Trong bối cảnh đó, theo phân tích, đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, các tổ chức tài chính phát triển quốc tế, Việt Nam nên chọn mục tiêu kiềm chế lạm phát; cải thiện và tăng dự trữ quốc gia là hai mục tiêu tiên quyết cho giai đoạn phát triển hiện nay; các mục tiêu khác phải là các mục tiêu thỏa hiệp, sẽ điều chỉnh một cách thích hợp nhằm đạt được hai mục tiêu tiên quyết nói trên. Điều này có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, tạo ra một sự nhất quán trong các chính sách và giải pháp của Chính phủ và khi đạt được các mục tiêu tiên quyết này sẽ củng cố và nâng cao được vị thế đối nội và vị thế đối ngoại của nền kinh tế đất nước.

Tuy nhiên, với đặc điểm là một quốc gia đông dân, lực lượng lao động trẻ, dồi dào, trình độ về cơ bản còn thấp, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, địa phương, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hài hòa với bài toán tăng trưởng ở mức hợp lý để giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh, trật tự, an toàn xã hội.

Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị cũng như Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ đã chỉ rõ những chủ trương, chính sách, giải pháp đồng bộ cho các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Không có một giải pháp đơn lẻ nào có thể giải quyết được mọi vấn đề. Các giải pháp có mối liên kết, tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung nhau, có nhóm giải pháp là tiền đề, điều kiện để thực hiện các nhóm giải pháp khác, và đến lượt mình, các nhóm giải pháp này lại là cơ sở để củng cố và tạo điều kiện cho các giải pháp kia phát huy tác dụng. Do vậy, nguyên tắc cơ bản là tính đồng bộ và quyết liệt của các giải pháp, sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp.

Trong ngắn hạn nhóm giải pháp về  chính sách tiền tệ có hiệu ứng nhanh nhất. Tuy nhiên, những kết quả mà chính sách này mang lại sẽ không bền vững nếu nhóm các giải pháp khác như chính sách tài khóa, chính sách đầu tư, chuyển đổi cơ cấu kinh tế … không kịp thời được triển khai đồng bộ.

Lập lại kỷ cương thị trường ngoại hối, vàng

Để triển khai Nghị quyết số 11/NQ-CP Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời đưa ra 7 nhóm giải pháp và ban hành nhiều văn bản khác. Tuy nhiên, do chưa làm tốt công tác tuyên truyền theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ nên có những thời điểm, không định hướng rõ được nên còn gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Theo Pháp lệnh Quản lý ngoại hối, Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này và các văn bản qui phạm pháp luật khác về quản lý ngoại hối, người dân có các quyền cơ bản sau đây đối với ngoại tệ: Quyền sở hữu và cất trữ ngoại tệ; quyền gửi và rút ra bằng ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ; quyền nhận tiền kiều hối bằng ngoại tệ; quyền bán ngoại tệ và quyền mua ngoại tệ cho các nhu cầu hợp lý như đi công tác, đi du lịch, đi học tập, đi chữa bệnh ở nước ngoài… với các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ; quyền sử dụng ngoại tệ thanh toán cho người không cư trú để mua sắm hàng hóa và dịch vụ được pháp luật cho phép…

Pháp luật của ta về quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng, vàng miếng (vàng miếng do các tổ chức kinh doanh vàng được Ngân hàng Nhà nước cấp phép dập vàng miếng) công nhận những quyền cơ bản sau đây của người dân: quyền sở hữu và cất trữ vàng miếng, quyền mua bán, trao đổi vàng miếng, quyền gửi vào và rút ra vàng miếng tại các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh vàng…

Từ trước đến nay pháp luật quản lý ngoại hối của nước ta luôn nghiêm cấm việc mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do, việc thanh toán bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, việc niêm yết giá cả hàng hóa và dịch vụ bằng ngoại tệ…

Pháp luật đã qui định rõ ràng nhưng do công tác quản lý chưa tốt nên trong thời gian qua thị trường ngoại tệ tự do ngày càng trở nên sôi động, trắng trợn hoạt động bất chấp pháp luật. Ở những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có hẳn những đường phố, tụ điểm mà ai cũng biết, ngang nhiên mua, bán, thanh toán ngoại tệ trái qui định của pháp luật. Đã hình thành ra một giới chuyên kinh doanh, mua bán vận chuyển ngoại tệ trái phép, có đội ngũ đông đảo, qui mô hoạt động lớn từ vài triệu đến hàng chục triệu đô la tiền mặt, có mạng lưới trong cả nước, thậm chí còn liên thông ra nước ngoài làm dịch vụ chuyển tiền trái phép.

Chính các lực lượng này đã tổ chức làm giá, tung tin thất thiệt, tạo ra những cơn sốt giả làm náo loạn thị trường tự do để kiếm lời, gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Chính người dân là nạn nhân, bị các lực lượng này lợi dụng kiếm lời. Bên cạnh thị trường ngoại tệ tự do, hoạt động thanh toán và niêm yết giá cả hàng hóa và dịch vụ bằng ngoại tệ trái pháp luật cũng diễn ra ngày càng phổ biến.

Về hoạt động sản xuất kinh doanh vàng, hiện nay trong cả nước có hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vàng, riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có gần 4.000 doanh nghiệp. Bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc, một số doanh nghiệp lợi dụng chức năng môi giới kinh doanh vàng trong giấy phép tổ chức các sàn giao dịch vàng mini làm chân rết cho các sàn vàng lớn trước khi Chính phủ có quyết định đóng cửa các sàn vàng, tổ chức các hoạt động huy động và cho vay nặng lãi bất chấp pháp luật để kinh doanh vàng, liên kết với nhau làm giá, đầu cơ trên thị trường, mua bán ngoại tệ trái phép, tung tin thất thiệt ảnh hưởng tâm lý của người dân về giá vàng và ngoại tệ để kiếm lời.

Hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới diễn ra rất phổ biến và với qui mô ngày càng lớn, riêng nhập khẩu vàng lậu trung bình một năm cũng từ 20 đến 40 tấn. Lợi dụng việc chưa có các qui định cụ thể giữa vàng nguyên liệu và vàng trang sức, tình trạng xuất khẩu vàng nguyên liệu trá hình dưới dạng vàng trang sức trong những năm vừa qua cũng khá phổ biến, có năm lên đến hàng chục tấn.

Tình hình trên có các cả nguyên nhân khách quan và chủ quan chính như sau:

Nguyên nhân khách quan: Trong thời gian qua, tình hình kinh tế vĩ mô của ta không vững chắc, lạm phát luôn ở mức cao, VND mất giá liên tục… điều này làm cho niềm tin của người dân vào giá trị VND bị giảm sút, tâm lý tiết kiệm và nắm giữ ngoại tệ, vàng gia tăng. Giá vàng quốc tế tăng mạnh và biến động thất thường vượt quá khả năng dự báo.

Nguyên nhân chủ  quan: Công tác quản lý thị trường chúng ta làm chưa tốt. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Công an, quản lý thị trường, Thanh tra NHNN chưa chặt chẽ và thường xuyên; các chế tài xử lý còn bất cập, không còn phù hợp với tình hình mới, tính răn đe không cao; chưa có chế độ đãi ngộ và khen thưởng hợp lý để kịp thời động viên và tạo điều kiện làm việc cho các lực lượng quản lý thị trường.

Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh vàng, có một số nguyên nhân chủ quan chính sau đây:

Chức năng quản lý nhà nước về vàng còn bị phân tán, do đó tạo ra nhiều kẽ hở trong quản lý. Theo qui định tại Luật NHNN, Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý hoạt động kinh doanh vàng, nhưng theo các qui định hiện hành, NHNN chỉ có chức năng quản lý về vàng đối với các loại hình hoạt động sau đây: Hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng; hoạt động sản xuất vàng miếng; hoạt động huy động và cho vay bằng vàng của các tổ chức tín dụng; quản lý vàng trong dự trữ ngoại hối nhà nước. Tất cả các hoạt động khác như mua bán, sản xuất, gia công vàng trang sức; xuất nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh vàng miếng trên thị trường đều không do NHNN quản lý mà được cấp phép từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố; quản lý thị trường của Bộ Công Thương; xuất nhập khẩu qua hải quan của Bộ Tài chính; quản lý chất lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tuy nhiên, trên thực tế không có các qui định cụ thể nào đối với hoạt động này. Theo qui định tại mục 2 phụ lục III Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ qui định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, thì hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng không cần cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Do vậy, tổ chức, cá nhân muốn tham gia chỉ cần đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư trên địa bàn và hoạt động trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vàng. Ngay cả hoạt động xuất nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ cũng không có các qui định để điều phối, kiểm soát. Không có các qui định để phân biệt vàng trang sức, mỹ nghệ với các loại vàng khác.

Các qui định của pháp luật về  hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng miếng cũng còn nhiều bất cập. Hiện nay, có 8 doanh nghiệp kinh doanh vàng đã được NHNN cấp phép sản xuất vàng miếng. Riêng vàng miếng của Công ty Vàng bạc đá quí Sài Gòn SJC chiếm trên 80% thị phần vàng miếng cả nước và được một số thị trường vàng quốc tế có uy tín chấp nhận. Như vậy, vàng miếng SJC hầu như có đầy đủ các chức năng của một đồng tiền thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam: Thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tự do lưu thông, chuyển đổi, mua bán. Đã là tiền tệ thì phải là hàng hóa đặc biệt do Ngân hàng Trung ương quản lý từ khâu phát hành đến lưu thông. Hơn nữa, nước ta không phải là một nước sản xuất vàng, số vàng có được đều có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài và có tính chuyển đổi ra ngoại tệ rất cao. Như vậy vàng miếng còn là ngoại tệ mà ta có cả chế độ quản lý ngoại hối, trong khi đó pháp luật hiện hành của ta coi vàng miếng là hàng hóa thông thường, lưu hành như mọi hàng hóa khác.

Qua phân tích tình hình nêu trên, cũng như đánh giá  các nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta thấy rằng để xóa bỏ thị trường tự do về  ngoại tệ, lập lại kỷ cương quản lý ngoại hối, cũng như tạo dựng môi trường pháp lý phù  hợp, lành mạnh cho hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng nói chung, vàng miếng nói riêng theo hướng từng bước thu hẹp và tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, chúng ta phải giải quyết được cả các nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã trình bày ở trên.

Nội dung xuyên suốt của Nghị  quyết 11/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị là kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá trị đồng Việt Nam, hay nói một cách khác, việc tổ chức triển khai để thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách, giải pháp nêu trên của Đảng và Chính phủ sẽ giải quyết tận gốc rễ các nguyên nhân khách quan của vấn đề.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ và Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị cũng vạch rõ phương hướng và nhiệm vụ nhằm giải quyết các nguyên nhân chủ quan nêu trên. Cụ thể, Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ nêu rõ: “…Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:

…(d) kiểm soát chặc chẽ hoạt động kinh doanh vàng, trong quý II năm 2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.

(đ) phối hợp chặc chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các qui định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Ban hành qui định về chế tài xử lý vi phạm, kể cả đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, thu tài sản, qui định khen thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật đối với hành vi cố tình vi phạm”.

Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: “… nhanh chóng xây dựng các cơ chế, chính sách tăng cường quản lý thị trường ngoại tệ (đô la) và vàng, khắc phục tình trạng đầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép. Có lộ trình và biện pháp phù hợp trong từng thời kỳ, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người dân có tài sản này, quan tâm đúng mức nhu cầu chính đáng của doanh nghiệp và nhân dân, tránh tạo ra các “cú sốc”  về tâm lý, gây bất ổn xã hội, khuyến khích, không gây trở ngại cho việc thu hút các nguồn ngoại tệ từ nước ngoài về nước, tổ chức lại thị trường kinh doanh vàng”.

Sự vào cuộc của Ngân hàng nhà nước

Như đã trình bày ở trên, để triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ  và kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị, NHNN đã xây dựng 7 nhóm giải pháp cụ thể. Bên cạnh các nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, tăng dần dự trữ ngoại hối, còn có các nhóm giải pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ nêu trên của Đảng và Nhà nước về quản lý và kiểm soát thị trường vàng và ngoại tệ. NHNN đã phối hợp với Công an, các lực lượng quản lý thị trường của Bộ Công Thương tích cực tiến hành kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các qui định của pháp luật về thu đổi, mua bán ngoại tệ và kinh doanh vàng. Bước đầu đã có kết quả rất khả quan. NHNN cũng đã phối hợp với các Bộ, các ngành dự thảo xong Nghị định sửa đổi và bổ sung Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng (phần về ngoại tệ và vàng). Nghị định này đã được Chính phủ cho phép xây dựng theo qui trình rút gọn để sớm có hiệu lực thi hành và hiện đang chờ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp để trình Chính phủ ký ban hành trong tháng 4/2011.

NHNN cũng đã dự thảo xong Nghị định thay thế Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999 về hoạt động kinh doanh vàng. Dự thảo Nghị định sẽ được lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh vàng trong tháng 4/2011 và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành trong quý II/2011. Nội dung các văn bản nêu trên bám sát tinh thần chỉ đạo của Đảng, Chính phủ tại Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Việc triển khai quyết liệt và đồng bộ các chủ trương, chính sách, giải pháp được qui định tại Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ cũng là nhằm tạo ra cơ sở vững chắc cho việc bảo vệ và thực hiện đầy đủ hơn, thuận lợi hơn các quyền cơ bản của người dân về ngoại tệ và vàng được pháp luật công nhận; tạo môi trường pháp lý minh bạch, lành mạnh cho các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh vàng; khơi dậy các tiềm năng tài chính to lớn trong dân, trong nền kinh tế để phục vụ một cách hiệu quả nhất sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ mới với phương châm ích nước lợi nhà.

Nguyễn Văn Bình

Ủy viên TƯ Đảng, Phó Thống đốc NHNN

* Các tiêu đề trong bài do Báo Điện tử Chính phủ đặt

6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô / 2023

Chính phủ hôm qua ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về 6 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Theo đó, 6 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội gồm: thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền.

Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%; giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP; phấn đấu bảo đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu…

Trong quý II/2011, phải trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.

Chính phủ quyết nghị việc yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm chi tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm).

Cũng theo Nghị quyết, tạm dừng trang bị mới xe ô tô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu,…; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách; tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội thảo,… xử lý nghiêm, kịp thời và công khai những sai phạm.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, đề xuất biện pháp xử lý với Thủ tướng trong tháng 3/2011.

Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách, các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)…

Các Bộ, cơ quan, ban ngành Trung ương và UBND các tỉnh phải chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch cho báo chí, nhất là những vấn đề dư luận quan tâm.

Q. Thành

Thủ Tướng: 7 Giải Pháp Đảm Bảo Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô / 2023

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có bài viết: ” Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững“.

Pháp Luật chúng tôi xin gửi tới độc giả phần những giải pháp mà Thủ tướng đưa ra trong bài viết trên (mời bạn đọc xem toàn văn bài viết của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bên dưới).

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Ảnh: VGP

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn mới của quá trình phát triển với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới dự báo tăng trưởng cao hơn năm 2017 nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Việc Hoa kỳ và các quốc gia, đối tác lớn thay đổi chính sách theo hướng tăng lãi suất, gia tăng bảo hộ và giảm thuế để thu hút đầu tư về nước đã và đang tác động lớn đến sự ổn định, trật tự kinh tế thế giới cũng như tình hình kinh tế vĩ mô và nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta.

Ở trong nước, chúng ta có nhiều thuận lợi, được kế thừa thành tựu sau hơn 30 năm đổi mới, thế và lực của nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn; các cấp, các ngành có thêm nhiều kinh nghiệm hơn trong chỉ đạo điều hành thực tiễn.

Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn rất lớn, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô, đặc biệt là rủi ro lạm phát tăng cao trước những biến động giá năng lượng, hàng hóa cơ bản trên thế giới, sức ép của thực hiện lộ trình thị trường hóa giá điện, dịch vụ giáo dục, y tế và những biện pháp thúc đẩy tăng trưởng thông qua các công cụ chính sách tài khóa, tiền tệ.

Nhu cầu chi đầu tư phát triển rất lớn trong khi nguồn lực nội tại còn hạn hẹp; nguồn lực bên ngoài biến động do phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, chủ quan. Tính ổn định, bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực, của cộng đồng doanh nghiệp còn hạn chế trong bối cảnh thế giới ngày càng biến động phức tạp, khó lường, cạnh tranh ngày càng gay gắt dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Ổn định kinh tế vĩ mô được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt và ưu tiên để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế-xã hội năm năm 2016-2020 và Nghị quyết 01 của Chính phủ.

Quan điểm chủ đạo về điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong thời gian tới là điều hành quyết liệt, chủ động, linh hoạt, kết hợp hài hòa và đồng bộ giữa các công cụ chính sách để bảo đảm ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng năm 2018 cao hơn năm 2017 và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn trong những năm tiếp theo.

Cùng với việc tiếp tục phát huy một cách hiệu quả, triệt để những kinh nghiệm điều hành kinh tế vĩ mô (xin xem toàn văn bài viết), thời gian tới chúng ta cần tập trung thực hiện một số định hướng chính sách, giải pháp trọng tâm sau đây:

Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; điều hành cung tiền và tăng trưởng tín dụng phù hợp, tránh gây sức ép lên lạm phát; thúc đẩy cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, nhất là những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như cho vay tiêu dùng và bất động sản; phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất; giữ ổn định giá trị đồng tiền, điều hành tỉ giá theo tín hiệu thị trường, không để biến động lớn, phù hợp với diễn biến lạm phát, tăng dự trữ ngoại hối; có kịch bản đối phó với các cú sốc từ bên ngoài và nội tại nền kinh tế.

Khó khăn, thách thức trong việc kiểm soát lạm phát năm 2018 là rất lớn trong bối cảnh xu hướng tăng lãi suất, giá dầu thô và các hàng hóa cơ bản trên thế giới; ở bên trong chúng ta cần thực hiện lộ trình giá thị trường đối với điện, dịch vụ giáo dục, y tế và cũng phải trung hòa một lượng ngoại tệ lớn đang rót vào nền kinh tế trong điều kiện không gian chính sách hạn hẹp, tâm lý kỳ vọng lạm phát còn lớn.

Cần chủ động điều hành chính sách tiền tệ, tỉ giá, lãi suất phù hợp, kết hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để thực hiện bằng được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; chú trọng thời điểm, mức độ điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là về lãi suất để có đối sách phù hợp, kịp thời.

Hai là, thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, bảo đảm kỷ luật tài chính – NSNN ở tất cả các ngành, các cấp; quyết liệt chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, mở rộng và không để xói mòn cơ sở thuế; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, mua sắm, hội họp.

Có giải pháp phù hợp bảo đảm tập trung nguồn lực để ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo. Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công. Quản lý, sử dụng hiệu quả nợ công và bảo đảm khả năng trả nợ, bảo đảm an toàn nợ công và tài chính quốc gia, không để nợ công là gánh nặng mà phải là công cụ thúc đẩy phát triển.

Kiểm soát tốt các luồng vốn vào-ra, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển ổn định thị trường chứng khoán để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế, góp phần chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng.

Trong điều kiện Hoa Kỳ giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng hàng rào thuế quan dẫn đến một số quốc gia, đối tác có thể thay đổi chính sách theo hướng này, chúng ta cần tập trung nghiên cứu, sớm có giải pháp về các chính sách thuế, thương mại, đầu tư phù hợp, kịp thời.

Ba là, tập trung giải quyết hiệu quả bài toán phân bổ hợp lý nguồn lực trên phạm vi cả nước, từng ngành, vùng, địa phương. Kinh nghiệm một số quốc gia cho thấy trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển có thể xem xét, tập trung nguồn lực cho những vùng, khu vực, đối tượng có hiệu quả sử dụng cao nhất để tạo ra “chiếc bánh” to hơn; sau một thời gian sẽ có nguồn lực lớn hơn để phát triển cân bằng, bền vững cho các vùng, khu vực, đối tượng còn lại, như Trung Quốc đã làm trong thời gian đầu của quá trình đổi mới.

Chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; rà soát, phân bổ vốn đầu tư công hợp lý để thúc đẩy đầu tư tư nhân và các hình thức đầu tư dưới dạng hợp tác công tư, ưu tiên cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng.

Về thương mại, cần tiếp tục thực hiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu với những công cụ chính sách, hàng rào kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế, phấn đấu cân bằng và thặng dư thương mại bền vững; đồng thời tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng, kết nối khu vực kinh tế trong nước với khu vực FDI, giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

Bốn là, tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường để sớm tiến tới không bao cấp tiếp giá điện và các dịch vụ giáo dục, y tế gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, người nghèo; qua đó góp phần giảm những tác động, ảnh hưởng bóp méo đến quyết định đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, cần lưu ý điều này không có nghĩa là không quản lý giá mà thực hiện nghiêm quy định pháp luật về giá, chống độc quyền giá, cạnh tranh không lành mạnh, thao túng nâng giá, vi phạm pháp luật.

Thúc đẩy phát triển và quản lý tốt thương mại điện tử và các hình thức sản xuất, kinh doanh mới. Làm tốt công tác quản lý thị trường, nhất là thị trường bán lẻ, không để bị thao túng; thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại để góp phần bảo vệ và phát triển sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Năm là, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo nền tảng vi mô vững chắc cho ổn định vĩ mô. Xác định rõ những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh chủ đạo để có những chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp theo cơ chế thị trường, đặc biệt chú trọng khâu tiêu thụ sản phẩm, đầu ra.

Các ngành chế biến chế tạo, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch đang trong xu thế phục hồi tốt; tuy nhiên cần chú trọng việc các nước, đối tác lớn có thể áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại và xu hướng của khu vực FDI để có đối sách phù hợp, kịp thời.

Phát huy kết quả năm 2017, sớm có kịch bản cho từng ngành, lĩnh vực theo quý và có biện pháp chỉ đạo quyết liệt, cụ thể để bảo đảm tăng trưởng đều hơn trong các quý và đạt mục tiêu cả năm đề ra. Tập trung nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp thông qua các chính sách, giải pháp phù hợp, hữu hiệu, nhất là thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao, tận dụng cơ hội của cách mạng công nghiệp 4.0.

Củng cố ổn định kinh tế vĩ mô cần được thực hiện đồng thời với cơ cấu lại nền kinh tế trên các ngành, lĩnh vực như nhiều chuyên gia, tổ chức quốc tế và trong nước khuyến cáo. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo đột phá, mở rộng không gian phát triển kinh tế số trên cơ sở; đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và thực sự đưa kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa XII.

Sáu là, hội nhập quốc tế đặt ra những thách thức lớn về ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng là cơ hội tốt để đổi mới công tác hoạch định và thực thi chính sách. Chúng ta cần huy động, sử dụng hiệu quả các hỗ trợ kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tăng cường năng lực phân tích dự báo về kinh tế vĩ mô trên phương diện tổng thể nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực, địa phương.

Thương mại tự do đã góp phần đưa kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam lên gần 425 tỉ USD trong năm 2017, gấp bốn lần so với 10 năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO và chúng ta phải tận dụng tốt hơn các cơ hội, nhất là từ các hiệp định FTA thế hệ mới mang lại trong thời gian tới.

Bảy là, nâng cao chất lượng toàn diện công tác điều phối chính sách. Phát huy mạnh mẽ vai trò các bộ, cơ quan tổng hợp và các bộ quản lý ngành dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xây dựng chính sách vĩ mô phai bảo đảm nguyên tắc không vì lợi ích cục bộ mà vì tổng thể.

Chúng ta cần vận dụng linh hoạt các công cụ, phát huy tốt hơn công tác điều phối và có những lựa chọn chính sách phù hợp trong năm 2018, đặc biệt trong bối cảnh sức ép lạm phát lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó có xu hướng tăng giá của dầu thô và một số hàng hóa cơ bản trên thị trường thế giới.

Chúng ta có kiểm soát tốt lạm phát thì mới có điều kiện để tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh. Để phục vụ hiệu quả cho công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ và các cấp, các ngành, cần tập trung xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu và cảnh báo sớm về kinh tế vĩ mô ở tầm quốc gia và các ngành, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế.

Đồng thời, nâng cao hiệu lực hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí, góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân.

Với nhiều tín hiệu lạc quan từ quốc tế và trong nước, dự báo kinh tế vĩ mô và tăng trưởng năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, chúng ta tuyệt đối không chủ quan trong bối cảnh tình hình biến đổi nhanh, khó dự báo với nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Hoàn thiện thể chế, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi là nội dung quan trọng nhằm phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo đường lối đổi mới của Đảng.

Kiên quyết, kiên trì giữ ổn định kinh tế vĩ mô, không tăng trưởng bằng mọi giá, là mục tiêu xuyên suốt trong chỉ đạo điều hành. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – chúng ta cần sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách để ứng phó kịp thời với những biến động tình hình quốc tế, trong nước để giữ ổn định kinh tế vĩ mô.

Điều hành kinh tế vĩ mô vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, đòi hỏi các cấp, các ngành phải chủ động, linh hoạt, luôn bám sát thực tiễn, không ngừng đổi mới sáng tạo, góp phần quan trọng cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa nền kinh tế nước ta vững bước trên con đường phát triển nhanh và bền vững.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kiểm Soát Lạm Phát, Tiếp Tục Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Để Duy Trì Đà Tăng Trưởng Năm 2022 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!