Đề Xuất 2/2023 # Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(BKTO) – Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay.

Nhiều thay đổi trong Luật Quản lý nợ công 2017 

Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay. 

So với năm 2009, Luật QLNC 2017 đã bổ sung các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế về các công cụ quản lý nợ công, đặc biệt là các chỉ tiêu an toàn nợ công. Ngoài ra, kế hoạch vay – trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay – trả nợ công hằng năm cũng được Luật quy định rất rõ. 

Về cơ quan quản lý nợ công, Luật QLNC 2017 đã có bước thay đổi rõ rệt khi quy định Bộ Tài chính là cơ quan chủ quản giúp Chính phủ quản lý nợ công và Bộ Tài chính cũng là cơ quan đầu mối duy nhất huy động vốn vay thay vì phân cấp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước như Luật cũ. Bên cạnh đó, Luật mới cũng đã tăng cường thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ, trong đó: Quốc hội quyết định kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, hạn mức bảo lãnh chính phủ 5 năm và quyết định hạn mức cho vay lại. Như vậy, Luật mới đã phát huy nguyên tắc chung là tăng thẩm quyền của tập thể và hạn chế thẩm quyền. 

Một điểm nữa là Luật QLNC 2017 đã bổ sung nhiều quy định để tăng cường quản lý, siết chặt đối tượng cho vay lại, trong đó chỉ tập trung cho vay lại với chính quyền địa phương và DN, đơn vị sự nghiệp công lập với các điều kiện thắt chặt, đảm bảo khả năng trả nợ. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định tăng cường công tác thẩm định, đánh giá và quản lý rủi ro bảo lãnh chính phủ, rủi ro cho vay lại; quy định đảm bảo khả năng trả nợ công, bao gồm: huy động vốn vay trong khả năng trả nợ, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công, các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đánh giá tác động đến quy mô, khả năng trả nợ; quy định cụ thể quản lý và xử lý rủi ro nợ công. 

Mục tiêu quản lý nợ công được xác định là phải đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay để đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN và phát triển kinh tế – xã hội với mức độ chi phí, rủi ro phù hợp. Như vậy, ngoài vay cho bù đắp bội chi thì Việt Nam có thêm hoạt động cho vay lại, bao gồm các đối tượng vay lại là DN, chính quyền địa phương và đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, việc quản lý nợ công còn phải đảm bảo việc các DN được tiếp cận vốn thông qua bảo lãnh chính phủ. Trong nhiều năm qua, hoạt động này đã hỗ trợ rất nhiều DNNN huy động vốn vay trong và ngoài nước để đầu tư. Mục tiêu thứ hai của quản lý nợ công là kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng thời kỳ. Mục tiêu thứ ba là thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước. Đây là mục tiêu phải có của quản lý nợ công để tạo ra đường cong lãi suất cho thị trường trái phiếu trong nước.

Tái cơ cấu để đảm bảo an toàn nợ công 

Năm 2016, nợ công của Việt Nam đã lên mức báo động, gần 64%/GDP (trần nợ công Quốc hội cho phép là 65%) và còn báo động hơn khi tốc độ gia tăng nợ công cao gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng GDP. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; thông qua hàng loạt các biện pháp về kiềm chế tốc độ tăng nợ công, kiềm chế thâm hụt ngân sách, cắt giảm bảo lãnh chính phủ. Sau đó, nợ công của Việt Nam đã có xu hướng giảm và còn giảm hơn kỳ vọng của cơ quan quản lý nợ công. Tính đến hết năm 2018, nợ công ở mức 58%/GDP và khoản bảo lãnh chính phủ gần như đã cắt giảm hoàn toàn, chỉ duy trì nợ chính phủ.

Về cơ cấu huy động vốn vay, nhiều năm qua, cơ cấu vay thông qua trái phiếu chính phủ tại thị trường trong nước tăng lên đáng kể trong tổng lượng vốn vay. Đây cũng là một trong những thành công về việc phát triển thị trường vốn trong nước, đảm bảo mục tiêu quản lý nợ công và phát triển thị trường vốn nói chung. 

Về cơ cấu nợ của Chính phủ, những năm qua Chính phủ đã rất thành công trong việc chuyển từ phụ thuộc nhiều vào vay nước ngoài sang vay trong nước. Cụ thể: trước đây, tỷ lệ khoản vay nợ nước ngoài chiếm khoảng 60% tổng nợ chính phủ, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 38%. Trong đó, nợ nước ngoài chủ yếu là vay ODA và vay ưu đãi (khoảng 98%) từ Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). 

Mặc dù nợ công đã thoát khỏi tình trạng báo động nhưng chúng ta đang phải đối mặt với một số khó khăn, bởi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008, không thuộc diện hỗ trợ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) từ năm 2017, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải trả nợ nhanh gấp đôi cho các khoản vay từ IDA (khoảng 15 tỷ USD). Cùng với đó, khả năng tiếp cận vốn ODA, vốn vay ưu đãi giảm, thay thế bằng các khoản vay kém ưu đãi hơn.

Một vấn đề nữa là hiệu quả sử dụng vốn vay, KTNN từ lâu đã rất quan tâm và tập trung kiểm toán đánh giá vấn đề này. 

Để quản lý nợ công một cách hiệu quả, Bộ Tài chính đã xác định một số biện pháp cụ thể sau:

Bên cạnh đó, để đảm bảo trần nợ công, Bộ Tài chính sẽ kiểm soát tốc độ gia tăng dư nợ công thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế; tuân thủ mức bội chi NSNN và lộ trình cắt giảm bội chi trong trung và dài hạn, duy trì bội chi thấp hơn dự toán được Quốc hội cho phép; siết chặt bảo lãnh chính phủ và quản lý chặt chẽ cho vay lại; đảm bảo cân đối, bố trí đủ nguồn để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

THÙY LÊ (ghi) Theo Báo Kiểm toán số 30 ra ngày 25-7-2019

Nợ Công Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp

Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia. Nợ công của Việt Nam tính đến cuối năm 2016 đạt mức 63,7% GDP, trong đó nợ của Chính phủ là 52,6%. Theo IMF và Ngân hàng Thế giới, nợ công của Việt Nam, mặc dù vượt qua ngưỡng 50% GDP, nhưng vẫn ở trong phạm vi an toàn trong trung hạn. Tuy nhiên, việc nợ công tăng nhanh sẽ gây nhiều tác động cho nền kinh tế. Bài viết sẽ phân tích thực trạng nợ công tại Việt Nam trong thời gian qua và một số đề xuất về chính sách nhằm quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Nợ công, Việt Nam, nền kinh tế.

1. Những vấn đề chung về nợ công

Theo quy định của Luật Quản lý nợ công tại Việt Nam, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.

– Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

– Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

– Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.

Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của nhà nước. Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp và trả nợ gián tiếp.

Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn.

Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích cộng đồng. Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng, để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.

Khi xét đến nợ công, chúng ta không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hàng năm phải trả mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ. Vấn đề quan trọng phải tính là khả năng trả nợ và rủi ro trong tương lai, chứ không chỉ là con số tổng nợ trên GDP.

Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỉ lệ nợ công/GDP được coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất cho cách nhìn tổng quát về tình hình nợ công của một quốc gia. Mức an toàn của nợ công được thể hiện qua việc nợ công có vượt ngưỡng an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó không.

2. Nợ công tại Việt Nam

2.1. Tình hình nợ công tại Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến 2010, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần. Đến cuối năm 2015, tổng nợ công của Việt Nam là 125 tỷ USD, tương đương 61% GDP, bình quân mỗi người dân nợ công gánh số nợ công là 1.384 USD, tương đương 30 triệu, ngang với Trung Quốc, Philipin và Malaysia. Tốc độ tăng trưởng nợ công so với GDP là 12,2%/năm cho giai đoạn từ 2010 – 2015. Đây là một vấn đề đáng lo ngại vì Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng trên 10%/năm) cho dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Nếu xu hướng này vẫn tiếp diễn trong những năm tời, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những quan ngại nghiêm trọng về bền vững tài khóa.

2.2. Cơ cấu nợ công tại Việt Nam

Nợ công của Việt Nam hiện nay gồm có nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Trong đó, nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh là hai thành phần chính của nợ công tại Việt Nam với tỷ lệ lần lượt là 80% và 17%, nợ của chính quyền địa phương có xu hướng tăng nhẹ nhưng không đáng kể, chiếm khoảng 3% trong tổng nợ công của Việt Nam. Tỷ lệ nợ của chính phủ trong tổng nợ công tương đối ổn định, dao động ở mức 80% và có xu hướng tăng nhẹ. Đi cùng với nợ tăng cao, cơ cấu nợ công cũng đã có sự thay đổi. Bởi lẽ nhu cầu huy động ngày càng lớn, trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nước ngoài dần hạn chế, Chính phủ đã phải dựa chủ yếu vào nguồn vay trong nước. Tỷ trọng nợ trong nước trên tổng nợ công tăng từ 42,6% năm 2010 lên đến 56,9% năm 2015 và tỷ lệ nợ nước ngoài trong tổng nợ công có xu hướng giảm từ 57,4% vào năm 2010 xuống còn 43,1% trong năm 2015. Do phần lớn nợ công là nợ trong nước, rủi ro của cuộc khủng hoảng nợ công không phải là nguy hiểm mặc dù tỷ lệ nợ công trong GDP đã được tương đối cao. Nợ trong nước cũng giúp giảm rủi ro tỷ giá và góp phần phát triển thị trường vốn trong nước. Bên cạnh đó, nợ trong nước cũng gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế như: tăng lãi suất, thu hẹp luồng vốn cho khu vực tư nhân và áp lực lên lạm phát.

2.2.1. Nợ của chính phủ

Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2015, tổng số nợ Chính phủ là 2,06 triệu tỉ đồng, chiếm 80% tổng dư nợ công và tương đương 50,3% GDP năm 2015. Như vậy, Chính phủ đã không giữ được mục tiêu duy trì nợ chính phủ ở mức dưới 50% GDP. Nguồn gốc chủ yếu làm phát sinh nợ chính phủ chính là do bội chi ngân sách. Theo điều 7.2 Luật NSNN năm 2015 “số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển”. Tuy nhiên trong một vài năm gần đây, trước tình hình khó khăn của ngân sách, quy định này đã không được thực hiện đúng nguyên tắc đề ra. Kiểm toán Nhà nước đã công bố báo cáo kiểm toán ngân sách nhà nước năm 2014, theo đó mức chi đầu tư phát triển trong năm 2014 là 248.400 tỉ đồng, trong khi bội chi ngân sách lên đến 249.300 tỉ đồng. Điều này có nghĩa là ngân sách năm 2014 đã không thực hiện đúng quy định của Luật NSNN với số tiền hơn 900 tỉ đồng.

2.2.2. Nợ được chính phủ bảo lãnh

Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy tính đến cuối năm 2015, tổng số nợ thực tế được chính phủ bảo lãnh là 455.122 tỷ đồng, tương đương khoảng 21 tỉ USD, chiếm tỷ lệ 17,5% tổng nợ công, tức hơn 11% GDP. Trong số 21 tỉ USD nợ được Chính phủ bảo lãnh, số nợ vay nước ngoài chiếm khoảng 55%. Việc vay nợ nước ngoài nhiều sẽ khiến bên đi vay đối diện với rủi ro do biến động tỷ giá, làm cho áp lực trả nợ tăng lên. Trong trường hợp rủi ro xảy ra khiến cho bên đi vay không trả được nợ, trách nhiệm trả nợ đương nhiên thuộc về Chính phủ.

Kiểm toán Nhà nước vừa hoàn thành báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015, báo cáo Kiểm toán Nhà nước nêu rõ: Nhiều dự án vay lại và vay được Chính phủ bảo lãnh sử dụng vốn không hiệu quả, khó khăn trong việc trả nợ, dừng sản xuất kinh doanh, phải cơ cấu lại, gia tăng nghĩa vụ của Quỹ tích lũy và nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ trong những năm tiếp theo. Cụ thể, đến ngày 31/12/2015, 56 dự án được cho vay lại có nợ quá hạn. Tổng nợ của các dự án cho vay lại này là hơn 28.000 tỷ đồng (chiếm 9,1% tổng dư nợ), chỉ tính riêng nợ của Vinashin đã lên tới gần 22.400 tỷ đồng, còn 55 dự án khác là trên 5.600 tỷ đồng.

2.2.3. Nợ của chính quyền địa phương

Nợ của chính quyền địa phương chủ yếu phát sinh do chính quyền địa phương đi vay để bổ sung vốn đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Luật NSNN. Trong xu hướng đẩy mạnh tính tự chủ và phân cấp tài khóa, việc phát hành trái phiếu của chính quyền địa phương có thể sẽ tiếp tục được mở rộng thêm ở nhiều địa phương. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2015, nợ của chính quyền địa phương chỉ khoảng 73.642 tỉ đồng, chiếm khoảng 3% tổng số dư nợ công. Nếu chỉ nhìn vào những con số này thì nợ của chính quyền địa phương không phải là một vấn đề đáng lo ngại. Mặc dù số nợ này không quá lớn so quy mô nợ công hiện tại cũng như quy mô nền kinh tế nhưng trong bối cảnh nợ công đã ở mức cao thì dù chỉ cần một giọt nước cũng có thể làm tràn ly.

3. Khả năng kiểm soát nợ công

Trong giai đoạn 2011 – 2015, nợ công của Việt Nam tăng trưởng ở mức cao, trong đó tốc độ tăng nợ công năm 2011 đạt gần 25%. Năm 2015, quy mô nợ công ước khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so với năm 2010. Tuy nhiên, hầu hết các chỉ tiêu về nợ công của Việt Nam đều nằm trong giới hạn an toàn. Năm 2015, tổng nợ công/GDP đạt 61%, thấp hơn ngưỡng an toàn 65% Quốc hội đề ra.

Xét cơ cấu nợ công so GDP, quy mô nợ công của Việt Nam tăng nhanh, từ 56,3% GDP năm 2010 lên 61,0% GDP năm 2015, trong đó nợ chính phủ/GDP tăng từ 44,6% GDP lên 49,2% GDP vào cuối năm 2015; nợ nước ngoài/GDP đạt 42,0%, thấp hơn ngưỡng an toàn 50%. Tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/tổng thu NSNN của Việt Nam đang cao và có xu hướng ngày càng tăng. Nợ của chính phủ (nợ chính phủ và và các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh) đã tăng từ 1,57 lần tổng thu NSNN vào năm 2010 lên 1,84 lần vào năm 2013 và khoảng 2,07 lần vào năm 2015. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/thu NSNN thấp hơn năm 2015 là 14,9%, thấp hơn ngưỡng cho phép là 25%. Quy mô nợ công tăng nhanh so với thu NSNN sẽ tạo ra áp lực rất lớn đối với nguồn trả nợ. Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đang có xu hướng tăng và cao hơn các quốc gia trong khu vực. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), từ năm 2010 đến nay, trong khi tỷ lệ nợ công/GDP của các quốc gia trong khu vực có xu hướng ổn định hoặc giảm xuống, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng.

4. Một số giải pháp

Để giảm áp lực nợ công, đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ cần thực hiện nhiều giải pháp theo lộ trình cụ thể. Trong khuôn khổ bài viết này, dựa trên những phân tích nên trên, tác giả đề xuất 3 giải pháp để kiểm soát tốt nợ công trong thời gian tới.

Thứ nhất, Chính phủ phải giữ kỷ luật chi ngân sách theo đúng dự toán, phần tăng thu, nếu có, sẽ dùng để giảm bội chi. Các khoản chi ngân sách của bộ ngành và địa phương chỉ được cho phép trong giới hạn ngân sách đã dự toán. Mọi trường hợp chi vượt dự toán đều không được chấp nhận và người đứng đầu đơn vị được cấp dự toán ngân sách phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng vượt chi. Kỷ luật tài khóa cần phải được thực hiện một cách rõ ràng và nghiêm ngặt để tránh tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên và luôn ở mức cao, gây ảnh hưởng bất lợi đến nợ công. Chế độ kiểm toán có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát chi tiêu công. Việc giám sát chi tiêu của Chính phủ cũng cần phải được thể chế hóa và bắt buộc thi hành để tránh tình trạng chi tiêu không đúng mục đích, chi tiêu vượt quá mức cho phép chi tiêu công.

Thứ hai, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ bảo lãnh chính phủ và giảm bảo lãnh chính phủ đối với các dự án của DNNN. Trừ những dự án có hiệu quả kinh tế, việc chính phủ quyết định cấp bảo lãnh cho những dự án bị từ chối cũng có nghĩa là chấp nhận một khoản đầu tư kém hiệu quả ngay từ khi chưa được đầu tư. Muốn vậy, Chính phủ phải có những lĩnh vực ưu tiên rõ ràng trong chi tiêu sử dụng nợ công, đó là đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng công ích, các dịch vụ an sinh xã hội. Bên cạnh đó, cần phải tách bạch chức năng của các DNNN. Điều này có nghĩa là các DNNN hoạt động không vì mục đích thương mại, đối với các DNNN này vẫn cần có sự hỗ trợ, bảo lãnh của Chính phủ để thực hiện chức năng xã hội. Đối với các DNNN kinh doanh thương mại, Nhà nước cần tiến hành thoái vốn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thu hồi vốn Nhà nước để đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên.

Thứ ba, tăng cường trả nợ, cơ cấu lại vốn vay, hạn chế tối đa các khoản vay từ nước ngoài, từng bước thay thế nợ nước ngoài bằng nợ trong nước để giảm rủi ro vỡ nợ và an toàn tài chính quốc gia. Nợ trong nước sẽ huy động thông qua các đợt phát hành trái phiếu với lãi suất phù hợp để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Thực hiện được điều này vừa điều chỉnh được cơ cấu nợ công theo hướng an toàn, vừa giảm được những biến động bất lợi về tỷ giá khi vay nợ nước ngoài. Ngoài ra, nếu không thay đổi được cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước, chúng ta sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ nước ngoài vì những ưu đãi từ nguồn vốn ODA vào Việt Nam sẽ giảm mạnh, điều này buộc Chính phủ phải đi vay thương mại tại các ngân hàng nước ngoài để trả nợ ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Đỗ Thiên Anh Tuấn (2013), “Tương lai nợ công của Việt Nam: Xu hướng và thử thách.” 2. Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn (2017), “Bắt mạch” Nợ công Việt Nam. 3. Lương Bằng (2017), Kiểm toán ngân sách 2015: Nợ công 2,5 triệu tỷ, Chính phủ trả nợ thay nhiều dự án. Vietnamnet http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/kiem-toan-ngan-sach-2015-no-cong-2-5-trieu-ty-chinh-phu-tra-no-thay-nhieu-du-an-373811.html 4. Ngọc Lan (2014). Bảo lãnh vay nợ của Chính phủ gia tăng. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online. http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/ 110875/Bao-lanh-vay-no-cua-Chinh-phu-gia-tang.html 5.Nguyễn Đình Cung (2016), Nợ công và một số hệ lụy với kinh tế vĩ mô Việt Nam, Tạp chí Quản lý kinh tế. 6. Phạm Huyền (2014), Nợ công Việt Nam từ một cái nhìn khắt khe hơn. Vietnamnet. http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/207172/no-cong-viet-nam-tu-mot-cai-nhin-khat-khe-hon.html 7. Phương Dung (2017), Đáng lo ngại: Nợ công Việt Nam thuộc nhóm tăng nhanh nhất thế giới. Dantri. http://dantri.com.vn/kinh-doanh/dang-lo-ngai-no-cong-viet-nam-thuoc-nhom-tang-nhanh-nhat-the-gioi-20171003120648432.htm 8. Trần Kim Chung (2016), Khả năng kiểm soát, giảm nợ công ở Việt Nam và các giải pháp thực hiện. Bộ Tài chính. http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet

● MA. PHAM THI PHUONG UYENDepartment of Finance – Banking, Faculty of Accounting and Finance,Nha Trang UniversityABSTRACT:

Public debt is an important and indispensable part of every country’s finances. Vietnam’s public debt by the end of 2016 had reached 63.7% of GDP, of which government debt was 52.6%. According to the IMF and the World Bank, Vietnam’s public debt, though surpassing the 50% of GDP, remains in the safe range in the medium term. However, rising public debt will have a lot of impact on the economy. This article will analyze the state of public debt in Vietnam in the past and some policy recommendations to effectively manage public debt in Vietnam in the future.

Keywords: Public debt, Vietnam, economy.

Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp

II : PHẦN NỘI DUNG

III . PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC TẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

III.1.Những thành tựu đạt được trong 5 năm qua . – Kinh tế tăng trưởng khá.Tổng sản phẩm trong nước(GDP) tăng bình quân hàng năm 7 %.Nông nghiệp phát triển liên tục,đặc biệt là sản xuất lương thực.Giá trị công nghiệp bình quân hàng năm tăng 13,5%. Hệ thống kết cấu hạ tầng:bưu chính viễn thông,đường sá, cầu, cảng, sân bay,điện , thuỷ lợi ….. được tăng cường.Các ngành xuất khẩu và nhập khẩu đều phát triển . – Mỗi năm tạo hơn 1,2 triệu việc làm mới. Tỷ lệ hộ nghèo từ trên 30 % giảm xuống còn 10%.Ngưới có công với nước được quan tâm chăm sóc.Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3% xuống còn 1,4%.Trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, những thành tựu và tiến bộ về văn hoá,xã hội là sự cố ắng rất lớn của toàn đảng,toàn dân . – Văn hoá xã hội có những tiến bộ,đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.Giáo dục và đào tạo phát triển về quy mô và cơ sở vật chất.Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.Nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học . Khoa học và nhân văn , khoa học tự nhiên và công nghệ chuyển biến tích cực , gắn bó hơn với phát triển kinh tế xã hội.Những nhu cầu về ăn ở ,sức khoẻ,nước sạch điện sinh hoạt, học tập,đi lại ….. được đáp ứng tốt hơn . Mỗi năm có hơn 1,2 triệu lao động có việc làm mới .Công tác xoá đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước đạt kết quả nổi bật,được dư luận thế giới đánh giá cao. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình có nhiều thành tích được Liên hợp quốc tặng giải thưởng . – Tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định , quốc phòng an ninh được tăng cường.Các lực lượng vũ trang nhân dân làm tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập,toàn vẹn lãnh thổ,bảo đảm an ninh quốc gia – Công tác xây dựng chỉnh đốn đảng được chú trọng:hệ thống chính trị được củng cố.Theo nghị quyết trung ương 6 (lần2) khoá 8 nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện,nền hành chính được cải cách từngbước. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được phát huy – Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt.Nước ta tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác nhiều mặt với các nước xã hội chủ nghĩa , các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước Đông Nam á.Có quan hệ thương mại với hơn 170 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút đợc nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Những thành tựu 5 năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp , làm thay đổi bộ mặt của đất nước và của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế . Đạt được những thành tựu nói trên là do Đảng ta có bản lĩnh chính trị vững vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn:Nhà nước có cố gắng lớn trong việc điều hành, quản lý: toàn dân và toàn quân phát huy lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết nhất trí, cần cù, năng động, sáng tạo, tiếp tục thực hiện đổi mới ra sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa . Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm qua chúng ta còn có những yếu kém và khuyết điểm sau đây : – Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp . Nhịp độ tăng trưởng kinh tế 5 năm qua chậm dần , năm 2000 đã tăng trưởng trở lại nhưng vẫn chưa đạt mức tăng trưởng cao như những năm giữa thập niên 90. Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và GDP bình năm đầu người , nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu ….. không đạt chỉ tiêu do Đại hội VIII đề ra. Nhìn chung , năng suất lao động thấp,chất lượng sản phẩm chưa tốt , giá thành cao.Nhiều sản phẩm nông nghiệp , công nghiệp thủ công thiếu thị trường tiêu thụ cả ở trong nước và nước ngoài , một phần do thiếu sức cạnh tranh.Rừng và tài nguyên khác bị xâm hại nghiêm trọng. Nạn buôn lậu , làm hàng giả,gian lận thương mại tác động xấu đến tình hình kinh tế – xã hội . Hệ thống tài chính ngân hàng còn yếu kém và thiếu lành mạnh.Cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm .Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý;đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều . Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót . Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp , đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế tập thể chưa mạnh .

Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu DA010 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

Tài liệu này không có hình ảnh khác

Thực Trạng Quản Lý Tài Nguyên Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

Tại Việt Nam, chỉ khoảng 30% nguồn nước là chủ động, còn lại 70% lượng nước phát sinh từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Hơn nữa, tình trạng sử dụng nước chưa hiệu quả, nguồn nước liên tục bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Cùng với ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu đã và đang gây sức ép không nhỏ đến đời sống người dân và tăng trưởng kinh tế. Vậy quản lý tài nguyên nước là gì? Thực trạng quản lý tài nguyên nước ở việt nam? Chính sách, giải pháp nào để phát triển bền vững tài nguyên nước?

Quản lý tài nguyên nước là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, tổ chức. Quản lý và vận hành cần thiết để quy hoạch, xây dựng các công trình sử dụng nguồn nước . Cũng như thực hiện quản lý nguồn nước của lưu vực sông ( theo Savanije-1997). Quản lý tài nguyên nước kết hợp các tài nguyên khác. Nhằm tối đa hóa các lợi ích kinh tế xã hội một cách công bằng. Mà không gây hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu.

Thực trạng quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam

Tài nguyên nước bao gồm : nước mặt và nước ngầm.

Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam

– Hiện nay trữ lượng cấp nước dưới đất cung cấp từ 35 – 50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt đô thị toàn quốc. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn ( trung bình từ 1.800mm – 2.000mm). Nên nguồn nước dưới đất khá phong phú và phân bố rộng rãi khắp nơi. – Hiện tại tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất toàn quốc đạt trữ lượng 20 triệu m3. Tổng công suất của các nhà máy cấp nước đô thị trên toàn quốc khai thác nguồn nước dưới đất khoảng 1.47 triệu m3/ này. Thực tế hoạt động của các nhà máy chỉ mới khai thác được khoảng 60 – 70% công suất thiết kế.

Thực trạng quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam

– Sử dụng cho nông nghiệp: Bao gồm nước tưới cho hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, cho chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. – Sử dụng cho sản xuất điện : Tiềm năng thủy điện dồi dào, trữ năng kỹ thuật thủy điện trên toàn lãnh thổ Việt Nam là 72 tỷ Kwh với công suất từ 10mw trở lên, có khoảng 360 vị trí lắp đặt máy, tổng công suất 17.500 MW.

– Hạn hán : 40% dân số thế giới vùng sa mạc và bán sa mạc. Hậu quả gây khan hiếm nước, cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học, gây xói mòn đất và gây hậu quả xấu cho môi trường – Lũ lụt : Miền Trung, Đồng bằng Sông Cửu Long thường bị nhiều bão lũ. Gây hậu quả cho người và của. – Ngập úng: HCM ( Bình Thạnh, Thủ Đức, quận 12) Hà Nội cùng các vùng nông thôn khác. Gây ách tắc giao thông, chất lượng đất suy thoái. – Nhiễm mặn : Vùng ven biển ,đồng bằng Sông Cửu Long bị ảnh hưởng khá nhiều. Gây mất nguồn nước ngọt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt. – Nhiễm phèn : HCM, Quảng Nam, Quảng Ngãi giếng nhiễm phèn khá nhiều. Thiếu nước sinh hoạt, ảnh hưởng đến sức khỏe. – Tăng giảm lưu lượng và chất lượng nước nguồn : Ô nhiễm Coliform vượt chuẩn, nhiễm photphat, sắt, asen… Làm giảm mạch nước ngầm. Tình hình chung cho thấy, nguồn nước đang bị ô nhiễm rất nghiêm trọng.

Công tác quản lý tài nguyên nước

Trước thực trạng quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam như hiện nay. Việc đưa ra giải pháp để hiện mục tiêu, phương thức quản lý rất cấp bách.

Mục tiêu quản lý tài nguyên nước

– Bảo vệ các chức năng của tài nguyên nước. – Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước, đất và các tài nguyên sinh thái khác. – Hạn chế suy thoái và duy trì môi trường nước bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lại.

– Nước ngọt là tài nguyên hữu hạn không thể thay thế được bằng bất kỳ loại tài nguyên khác, rất thiết yếu để duy trì cuộc sống, phát triển và môi trường. – Phát triển và bảo vệ tài nguyên nước có sự tham gia của tất cả các thành phần. – Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước. – Nước có giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng và cần phải được xem như một hàng hóa có giá trị kinh tế

Phương thức quản lý tài nguyên nước

Quản lý theo địa hình hành chính

Là cách quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong phạm vi địa phương theo quy định của Luật. – Quản lý các kênh rạch – Thành phần tham gia: thuộc trách nhiệm của bộ máy hành chính các cấp từ trung ương đến địa phương. – Mang tính chất phát triển kinh tế nhiều hơn

Quản lý theo lưu vực sông

Phương thức quản lý các hoạt động khai thác nguồn nước và các hoạt động dân sinh kinh tế trên một lưu vực sông gọi là quản lý lưu vực sông. – Quản lý các lưu vực sông lớn. – Thành phân tham gia có thêm cơ quan quản lý lưu vực sông. – Đem lại lợi ích kinh tế nhưng vẫn đảm bảo đến tính bền vững của hệ thống môi trường.

Công cụ quản lý tài nguyên nước

Công cụ pháp luật

Công cụ kĩ thuật thực trạng quản lý tài nguyên nước ở việt nam

Công cụ kinh tế

– Thuế môi trường : áp dụng đối tượng là các tổ chức, cá nhân khai thác. Sử dụng nguồn nước ngầm để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Mức thuế là 4000 đồng/m3 0-10% tùy ngành nghề. – Phí môi trường : áp dụng đối tượng sử dụng nước gây ra nước thải.

Nước thải sinh hoạt được tính theo tỉ lệ % trên giá bán của 1m3 nước sạch (<10% chưa VAT).

Nước thải công nghiệp phụ thuộc nồng độ các chất ô nhiễm.

Công cụ giáo dục

– Truyền thông cá nhân: Truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp, qua điện thoại, qua thư… – Truyền thông qua: Báo chí, internet, áp phích, tranh ảnh, poster, phim, chiến dịch, hội diễn, lễ hội… – Giáo dục: Giáo dục cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ngành trong cả nước.

Giải pháp cho thực trạng quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam?

Giải pháp cho thực trạng quản lý tài nguyên nước ngầm

Quy định vùng cấm khai thác nước dưới đất

– Vùng có mực nước dưới đất bị hạ thấp vượt quá giới hạn cho phép. – Vùng có tổng lượng nước dưới đất được khai thác vượt quá trữ lượng có thể khai thác.

– Vùng nằm trong phạm vi khoảng cách không an toàn môi trường đối với các bãi rác thải tập trung. Hay bãi chôn lấp chất thải, nghĩa trang và các nguồn nước thải, khác. – Vùng bị sụt lún đất, biến dạng công trình, xâm nhập mặn. Hay ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng do khai thác dưới đất gây ra.

Hạn chế xây dựng mới công trình khai khác nước dưới đất

Giải pháp cho thực trạng quản lý tài nguyên nước mặt

– Nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch môi trường nguồn nước mặt lưu vực sông và vùng hạ lưu. – Tăng cường kiểm soát hệ thống chất thải, khuyến khích các dự án sản xuất nông nghiệp sạch. – Thường xuyên tổ chức các đợt thanh tra định kỳ các điểm nóng về ô nhiễm môi trường – Duy trì mạng lưới quan trắc nước mặt và nâng cao năng lực quan trắc môi trường trên địa bàn.

Nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng tài nguyên nước

Chủ động phòng chống suy thoái cạn kiệt nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm tác hại, khắc phục hậu quả do nước gây ra Phối hợp với các ngành, chức năng tăng cường công tác quản lý, chống thật thoát, lãng phí tài nguyên nước từ các công trình khai thác, sử dụng nước đặc biệt là các công trình thủy lợi và cấp nước tập trung.

Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ môi trường

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!