Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Một Số Quy Định Tại Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời # Top 10 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Một Số Quy Định Tại Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Một Số Quy Định Tại Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm pháp TAND tối cao hướng dẫn một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Cụ thể, hướng dẫn quy định về cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ quy định tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, như sau:

– Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh được áp dụng khi có đủ 02 căn cứ sau đây:

+ Người bị áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh là đương sự đang bị đương sự khác yêu cầu Tòa án buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ;

+ Việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành án.

Ví dụ: Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, ông A khởi kiện yêu cầu ông B bồi thường 10 tỷ đồng, ông B không có người đại diện, không có tài sản ở Việt Nam. Ông B làm thủ tục xuất cảnh nên ông A yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với ông B.

– Đối với người nước ngoài thì Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ mà áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn tạm hoãn xuất cảnh, giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh theo quy định tại Điều 28, Điều 29 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 01/12/2020 và thay thế Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005.

Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự

Thứ hai – 16/01/2017 13:20

Trong thực tiễn tố tụng dân sự có không ít trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay khi nộp đơn khởi kiện vụ án, hoặc trong quá trình giải quyết vụ án. Để thực hiện quyền này đương sự phải đáp ứng đầy đủ các quy định tại chương VIII về các biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong giới hạn của bài viết, người viết chỉ nói đến một phần của khoản 10 “phong tỏa tài sản ở nơi gởi giữ” quy định cụ thể tại Điều 125 và khoản 11 “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” quy định cụ thể ở Điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự, khi đương sự yêu cầu Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ” hay “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”. Cụ thể vụ việc Ông Trần Văn H có vay của ông Nguyễn Văn K số tiền là 1.000.000.000 đồng (1 tỷ đồng) có làm hợp đồng, có công chứng, thời hạn là 01 năm, đến hạn ông H không có thiện chí trả số tiền này dù ông K đã nhiều lần yêu cầu ông H trả. Qua nhiều nguồn tin khác nhau, ông K biết được công ty TNHH VA có có ký kết hợp đồng san lấp mặt bằng với ông H, theo hợp đồng khi nào ông H san lấp mặt bằng xong, công ty nghiệm thu xong thì công ty TNHH VA sẽ thanh toán hợp đồng là trả cho ông H 1.000.000.000 đồng (1 tỷ đồng). Khi ông K biết được thì công ty TNHH VA đã nghiệm thu xong nhưng chưa trả tiền cho ông H. Ông K làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền và đồng thời yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không biết yêu cầu theo Điều 125 “phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ” hay theo Điều 126 “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”. Trong trường hợp này theo yêu cầu của ông K, Tòa án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 125 hoặc theo Điều 126 có được không? + Nếu Tòa án áp dụng theo Điều 125 phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án, trong trường hợp này mặc dù công ty TNHH VA chưa trả số tiền cho ông H nhưng công ty TNHH VA cũng không phải là nơi gửi giữ tài sản của ông H.Bởi vì giữa công ty TNHH VA và ông H vẫn đang tồn tại một hợp đồng chưa kết thúc hai bên có thể xảy ra tranh chấp bất cứ lúc nào, nếu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp thạm thời này thì khi công ty TNHH và ông A có phát sinh tranh chấp hợp đồng san lấp thì quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời của Tòa án sẽ không còn giá trị.+ Nếu Tòa án áp dụng theo Điều 126 phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án, trong trường hợp này Tòa án vẫn chưa có bản án về việc ông H phải có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền là 1 tỷ nên áp dụng là chưa phù hợp.

Tác giả bài viết: Lê Thị Kim Loan

Nguồn tin: VKSND huyện Vĩnh Thạnh

Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 đã góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nói chung trong thời gian qua vẫn còn xảy một số ra sai sót, vi phạm. Chính vì vậy, ngày 30/12/2019, Chánh án TANDTC đã ban hành Chỉ thị số 03/2019/CT-CA về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự và kèm theo Phụ lục về một số sai sót cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

1. Về đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 thì quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự như sau: “1. Trong quá trình giải quyết vụ án (kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây mới có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; …”.

Chẳng hạn như vụ án như sau: Nguyên đơn là ông A là bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp, bị đơn là ông B là bên đang trực tiếp sử dụng thửa đất tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn dùng xe cơ giới đấp đất trên thửa đất tranh chấp để chặn ngang đường cấp thoát nước vào ao nuôi tôm của bị đơn. Bị đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc nguyên đơn phải khai thông đường cấp thoát nước vào ao nuôi tôm của bị đơn. Vì việc ông A chặn đường cấp thoát nước vào ao tôm của ông B làm thiệt hại tôm mà ông B đang nuôi chưa thu hoạch. Đối với vụ án này, có quan điểm cho rằng ông B không có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì trong ông B không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án. Nhưng có quan điểm cho rằng ông B có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì BLTTDS năm 2015 không có quy định bị đơn không có yêu cầu phản tố sẽ không có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

2. Về việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án

Theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự phải có các nội dung chính quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015. Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.

Như vậy, nếu đương sự làm đơn yêu cầu chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án chưa xem xét đơn yêu cầu của đương sự mà phải yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay BLTTDS năm 2015 cũng như chưa có văn bản nào hướng dẫn thời hạn đương sự sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn đó mà đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu theo yêu cầu của Tòa án thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án có quyền trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay không. Tương tự, nếu đương sự cung cấp chứng cứ chưa đủ thì Tòa án đề nghị đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn được yêu cầu mà đương sự không cung cấp bổ sung được chứng cứ thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay xem xét đơn yêu cầu và ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

Ngoài ra, đối với trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa mà đơn yêu cầu chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015 hoặc đương sự nộp chưa đầy đủ chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét đơn yêu cầu thì Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu cũng như là đề nghị đương sự nộp bổ sung chứng cứ không. Nếu có thì thời hạn là bao lâu. Nếu hết thời hạn theo quy định mà đương sự không thực hiện thì hậu quả pháp lý như thế nào.

3. Về xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Một trong những sai sót được nêu trong mục 1.2 của Phụ lục ban hành kèm theo Chỉ thị số 03/2019/CT-CA như sau: ” Theo quy định tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự thì trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm: phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Thẩm phán chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện. Tuy nhiên, khi áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời này, Thẩm phán có sai sót là không ấn định rõ số tiền bị phong tỏa; không xác định giá trị tài sản phong tỏa mà phong tỏa một phần tài sản chung (chưa chia); phong tỏa số tiền hoặc tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện; hoặc phong tỏa số tiền, tài sản có giá trị vượt quá yêu cầu của người yêu cầu”

Như vậy, về nguyên tắc Tòa án chỉ phong tỏa tài sản, tài khoản tương ứng với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện. Nên việc Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, theo tác giả vấn đề xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải được hướng dẫn cụ thể hơn, nhất là về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời gian Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là tự Thẩm phán, Hội đồng xét xử có quyền xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không. Hay là phải do Hội đồng định giá tài sản xác định. Trình tự, thủ tục tiến hành việc xác định giá tài sản như thế nào. Thời hạn để xác định già trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là bao lâu. Một vấn đề khác nữa là nếu tại phiên tòa đương sự có đơn yêu cầu phong tỏa tài sản và Tòa án cần phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp tạm thời và cần có thời gian mới xác định được già trị tài sản thì Hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên tòa hay phải hoãn phiên tòa.

4. Về dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra

Có một thực tế là nếu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì có thể xảy ra thiệt hại. Vì vậy mà Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử khi xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngoài việc ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với nghĩa vụ tài sản thì còn phải phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Tuy nhiên, vấn đề này không được BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể. Trong Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn tại khoản 3 Điều 9 như sau: ” 3. Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra tùy thuộc vào từng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, từng trường hợp cụ thể và được thực hiện như sau:

Như vậy, có một thực tế có thể xảy ra là người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể sẽ đưa ra dự tính thiệt hại thực tế rất cao hoặc rất thấp nhằm để Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà họ yêu cầu hoặc cũng có thể là nhằm gây khó khăn để Tòa án không xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của người yêu cầu. Trong trường hợp như vậy, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phải tự quyết định dự tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Vậy căn cứ nào để Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử quyết định dự tính và dự kiến thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Theo tác giả, trong trường hợp như vậy, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử sẽ dự tính và dự kiến thiệt hại không quá mức trung bình thiệt hại thực tế có thể xảy ra do người yêu cầu và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đưa ra.

Kết luận: Để việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đảm bảo đúng quy định pháp luật và để những quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2015 được thực hiện thông suốt trong thực tiễn thì những vấn đề nêu trên rất cần được TANDTC sớm có hướng dẫn, qua đó tháo gỡ được khó khăn vướng mắc của Tòa án địa phương.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự bao gồm:

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.

(Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Hướng Dẫn Quy Định Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời

Toàn án nhân dân tối cao đang dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Với các lý do nêu trên, việc ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời là hết sức cần thiết.

Tại dự thảo, Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất một số hướng dẫn cụ thể như: Về quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự (trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó), dự thảo đề xuất hướng dẫn cụ thể như sau: Chỉ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (đơn khởi kiện phải được làm theo đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự: 1- Do tình thế khẩn cấp, tức là cần được giải quyết ngay, không chậm trễ; 2- Cần bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; 3- Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (có thể là hậu quả về vật chất hoặc phi vật chất).

Trường hợp đơn khởi kiện đã có các nội dung để xác định việc thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn nhưng cần phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác thì Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu tại dự thảo. Việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 193 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Một Số Quy Định Tại Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!