Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp. # Top 3 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp. # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp. mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU. I. Đặt vấn đề. Văn học là một môn nghệ thuật giàu tính hình tượng và có tính biểu cảm cao. Muốn cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung, tư tưởng của tác phẩm đòi hỏi người đọc phải có năng lực cảm thụ và biết khai thác ở nhiều khía cạnh như ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, hình tượng nghệ thuật… Việc khai thác ở nhiều khía cạnh giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về tác phẩm. Một trong những cách sử dụng đạt hiệu quả cao nhất là khai thác và phân tích các biện pháp tu từ. Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy và qua thực tế ôn thi học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9, tôi nhận thấy rằng khi phân tích một tác phẩm văn học đòi hỏi học sinh phải vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức về các biện pháp tu từ. Đặc biệt với đối tượng là học sinh giỏi lớp 9 những kiến thức này càng quan trọng hơn bởi qua đó đánh giá năng lực và khiếu văn chương của học sinh. Tuy nhiên trong chương trình Ngữ Văn THCS lại chưa thể hiện đầy đủ kiến thức về các biện pháp tu từ cú pháp gây lúng túng và khó khăn cho học sinh khi phân tích các tác phẩm văn học. Nhận thấy điều đó bản thân đã tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng và mạnh dạn đưa vào sáng kiến “Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 tìm hiểu một số phép tu từ cú pháp” để đồng nghiệp tham khảo với hi vọng có thể giúp tháo gỡ một chút khó khăn trong quá trình giảng dạy. II. Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu. 1. Mục tiêu. Tìm ra được giải pháp giúp cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 nắm vững kiến thức về các phép tu từ cú pháp từ đó cái cái nhìn tổng quát hơn về các biện pháp tu từ trong chương trình Ngữ văn THCS. Học sinh vận dụng những kiến thức về các biện pháp tu từ nói chung và tu từ cú pháp nói riêng vào việc phân tích, cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương. Trang 1

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

2. Nhiệm vụ. Nghiên cứu thực trạng về dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy về các biện pháp tu từ cú pháp nói riêng ở cấp THCS. Từ đó đề ra những giải pháp hiệu quả và cụ thể để giúp học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 có kĩ năng cảm thụ văn học qua các biện pháp tu từ cú pháp. PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I. Cơ sở lí luận của vấn đề. Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc thái độ hoàn cảnh) Tác giả Đinh Trọng Lạc đã chia biện pháp tu từ thành các loại: Biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ ngữ âm văn tự. Tuy nhiên trong chương trình Ngữ Văn THCS hiện nay chủ yếu đề cập đến hai biện pháp tu từ cơ bản đó là: Biện pháp tư từ từ vựng và biện pháp tu từ cú pháp. Với phạm vi đề tài này, tôi đi vào tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp nhằm cung cấp cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 những kiến thức cơ bản nhất giúp học sinh vận dụng vào việc cảm thụ về ngôn ngữ tiếng Việt. Đồng thời thấy được nội dung tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ, nhà văn gửi gắm trong những sáng tác của mình từ đó thêm yêu thích văn học cũng như tiếng mẹ đẻ. II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu. 1. Thuận lợi. Về phía nhà trường: Được sự quan tâm động viên kịp thời của Ban Giám Hiệu nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí trong tổ chuyên môn. Về phía giáo viên: Giáo viên giảng dạy nhiệt tình, luôn tìm tòi học hỏi để trau dồi kiến thức đồng thời tìm ra được những phương pháp học tập tích cực. Giáo viên đã được trực tiếp giảng dạy nhiều năm, đặc biệt là dạy học sinh lớp 9 và tham gia Trang 2

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

ôn thi học sinh giỏi các cấp. Có một số kinh nghiệm trong quá trình ôn luyện và đã thu được kết quả khả quan. Về phía học sinh: Với đối tượng là học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9, học sinh có nền tảng kiến thức cơ bản tốt, lại chăm chỉ, tiếp thu kiến thức nhanh đó là một thuận lợi lớn trong quá trình ôn thi. 2. Khó khăn. Trong quá trình ôn luyện cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 phân tích một tác phẩm văn học, tôi thường hướng dẫn học sinh tìm ra các biện pháp tu từ thông qua các từ ngữ, hình ảnh để qua đó giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn biểu đạt. Tuy nhiên ở chương trình Ngữ văn THCS chủ yếu dành nhiều thời lượng để giúp học sinh nắm được các biện pháp tu từ từ vựng. Cụ thể lớp 6 có các tiết: 78, 86, 91, 95, 101; lớp 7 có các tiết: 55, 59; lớp 8 có các tiết: 37, 40; lớp 9 có các tiết: 52, 53 ôn tập lại các phép tu từ từ vựng. Còn về biện pháp tu từ cú pháp trong chương trình Ngữ Văn THCS trong chương trình Ngữ văn lớp 7 mới chỉ giới thiệu một tiết 114. Với thời lượng quá ít và chưa cung cấp đầy đủ các biện pháp tu từ cú pháp sẽ gây ra một số khó khăn trong quá trình cảm thụ văn học đối với cả giáo viên và học sinh. Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn THCS giáo viên không có trong tay những tài liệu hướng dẫn cụ thể nên gặp khó khăn trong khâu chuẩn bị kiến thức để truyền đạt tới học sinh. Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn chưa tìm tòi, nghiên cứu, hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức cũng như định hướng phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ cú pháp. Về phía học sinh: Số lượng tiết học về phép tu từ cú pháp trong sách giáo khoa còn hạn chế thành thử học sinh chưa có cái nhìn đầy đủ, chính xác, khác quan nhất về các biện pháp tu từ cú pháp. Học sinh chỉ nghe và hiểu qua lời giảng nôm na của giáo viên dẫn đến việc gặp khó khăn, lúng túng trong việc chủ động trong việc phát hiện các phép tu từ cú pháp để vận dụng trong quá trình phân tích tác phẩm văn học. Trang 3

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Với thực tế nhiều năm dạy môn Ngữ Văn khối 9, năm học 2013-2014 là năm đầu tiên tôi được BGH nhà trường giao trách nhiệm ôn thi học sinh giỏi khối 9. Ngay sau khi lựa chọn đội tuyển bản thân đã ra một số bài tập khảo sát năng lực của học sinh để từ đó có định hướng và nội dung ôn luyện phù hợp. Trong phần tiếng Việt tôi ra các dạng bài tập về các biện pháp tu từ (có cả tu từ từ vựng và tu từ cú pháp) yêu cầu học sinh phát hiện và phân tích tác dụng của các phép tu từ đó. Cụ thể: Đề bài: Em hãy chỉ ra các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong những câu thơ sau: “Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.” (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Sau khi chấm bài của học sinh tôi nhận thấy một số vấn đề như sau: Thứ nhất: Trong số 4 học sinh tham gia làm bài thì 4 học sinh phát hiện được các biện pháp tu từ từ vựng là điệp từ, 3 học sinh phân tích được tác dụng của các biện pháp tu từ đó nhưng chưa đầy đủ. Thứ hai: Trong 4 học sinh tham gia làm bài thì có 1 học sinh phát hiện được biện pháp tu từ cú pháp là đảo ngữ nhưng phân tích tác dụng còn mơ hồ, chung chung. Như vậy vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để giúp học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 có cách hiểu đầy đủ nhất về các biện pháp tu từ cú pháp. Từ sự trăn trở của bản thân, tôi nhận thấy vấn đề cần thiết là hình thành cho học sinh một cách cụ thể và đầy đủ nhất các phép tu từ cú pháp giúp các em có thể vận dụng trong việc phát hiện và phân tích tác phẩm văn học. III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. Trang 4

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

1. Giải pháp 1: Hình thành những kiến thức cơ bản về các biện pháp tu từ cú pháp. Trong chương trình học Ngữ văn THCS từ lớp 6 đến lớp 9 chỉ có một tiết 114 cung cấp cho học sinh kiến thức về biện pháp tu từ cú pháp đó là bài “Liệt kê”. Tuy nhiên trong quá trình cảm thụ thơ văn học sinh vẫn gặp rất nhiều các biện pháp tu từ cú pháp khác như điệp cú pháp, đảo ngữ, đối ngữ, câu hỏi tu từ… Chính vì vậy muốn học sinh nắm vững hơn kiến thức về các biện pháp tu từ để dễ dàng trong quá trình cảm thụ văn thơ, tôi sẽ giúp học sinh hình thành kiến thức cơ bản trước khi vận dụng vào phân tích. Ví dụ: Trước khi đi vào từng biện pháp cụ thể, tôi sẽ hình thành cho học sinh hiểu biết khái quát nhất về biện pháp tu từ cú pháp: Biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu trong một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn và trong văn bản trọn vẹn nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên. Sau đó tôi sẽ đưa ra kiến thức cơ bản của một số biện pháp tu từ cú pháp thường gặp. Cụ thể như sau: 1.1. Liệt kê: Là biện pháp tu từ cú pháp, được thể hiện qua việc sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay của tư tưởng, tình cảm. Các kiểu kiệt kê: Xét theo cấu tạo: Có thể phân biệt kiểu liệt kê theo từng cặp với kiểu liệt kê không theo từng cặp. Xét theo ý nghĩa: Có thể phân biệt kiểu liệt kê tăng tiến với kiểu liệt kê không tăng tiến. Ví dụ: “Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Trang 5

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Vui lênViệt Bắc, đồi De, núi Hồng.” (Tố Hữu- Viết Bắc) 1.2. Đảo ngữ: Là biện pháp tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu nhưng không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có, nhằm nhấn mạnh ý, thể hiện cảm xúc của người nói và làm câu thơ câu văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa. Ví dụ: “Bạc phơ mái tóc người cha Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng người.” (Tố Hữu- Ba mươi năm đời ta có Đảng) 1.3. Sóng đôi (điệp cú pháp): Là biện pháp tu từ cú pháp dựa trên cấu tạo giống nhau giữa hai hay nhiều câu hoặc hai hay nhiều bộ phận của câu. Biện pháp song đôi có tác dụng tạo nên những sắc thái biểu cảm đặc sắc, bổ sung phát triển ý cho hoàn chỉnh, tạo nên một vẻ đẹp hài hòa cân đối trong câu, trong đoạn. Biện pháp sóng đôi có thể chia làm hai loại: Sóng đôi đầy đủ được trình bày dưới dạng các dãy trực tiếp của các cấu trúc đồng nhất. Ví du: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Hồ chí Minh) Sóng đôi bộ phận là sự lặp lại một vài đơn vị cú pháp tiếp theo giống nhau trong giới hạn của một câu. Ví dụ: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” (Hồ Chí Minh) Trang 6

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Nếu chỉ cung cấp kiến thức lí thuyết cơ bản thì học sinh sẽ không thể hình thành năng lực phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ cú pháp một cách thành thục. Những kiến thức lí thuyết học sinh học được sẽ nhanh chóng lãng quên. Trên cơ sở nắm vững các đơn vị kiến thức về các phép tu từ cú pháp, tôi chú trọng hướng dẫn học sinh phát hiện và phân tích một số các biện pháp tu từ cú pháp thông qua qua các dạng bài tập để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu. Trong quá trình làm bài tôi đưa ra mệnh lệnh cụ thể nhưng thường yêu cầu học thực hiện hai bước sau: Bước 1: Phát hiện được biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng là gì. Bước 2: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp để thấy được nội dung tư tưởng, tình cảm mà tác giả biểu đạt. Cụ thể là: 2.1. Liệt kê. Yêu cầu: Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của phép liệt kê trong các câu sau: Câu 1: “Tỉnh lại em ơi qua rồi cơn ác mộng Em đã sống lại rồi, em đã sống! Điện giật, rùi đâm, dao cắt, lửa nung Không giết được em, người con gái anh hùng!” (Tố Hữu- Người con gái Việt Nam) Đoạn thơ được trích trong bài ” Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu. Trong đoạn thơ biện pháp liệt kê thể hiện trong câu “Điện giật, rùi đâm, dao cắt, lửa nung”. Với việc liệt kê hàng loạt những hình thức tra tấn dã man mà kẻ thù đã sử dụng để tra tấn người con gái anh hùng Trần Thị Lý đã làm nổi bật lên tinh thần dũng cảm, kiên cường, sức sống bền bỉ và ý chí cách mạng vững vàng của người con gái Việt Nam. Câu 2: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Trang 8

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.” (Huy Cận- Đoàn thuyền đánh cá) Khổ thơ trên được trích trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận. Với thủ pháp nghệ thuật liệt kê kể tên hàng loạt các loài cá “cá nhụ, cá chim,cá đé,cá song…” tác giả đã gợi tả sự phong phú của các loài cá và sự giàu đẹp của biển cả quê hương. Câu 3: “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ” (Nguyễn Duy- Ánh trăng) Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Ánh trăng” của tác giả Nguyễn Duy. Trong khổ thơ tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật liệt kê kể tên những không gian sống gắn liền với tác giả từ khi thơ ấu cho đến khi trưởng thành “đồng, sông, bể, rừng”. Đó là không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấu thơ, là nơi mà tác giả sống và chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh máu lửa. Dù ở không gian nào trăng đều gần gũi, sát cánh bên nhau và cùng trở thành những người bạn tri âm, tri kỉ, người bạn nghĩa tình. 2.2. Đảo ngữ. Yêu cầu: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đảo ngữ trong các câu sau: Câu 1: “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác Đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà Huyện Thanh Quan- Qua đèo Ngang) Bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là bài thơ hay miêu tả khung cảnh đèo Ngang lúc chiều tà qua đó bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Với việc Trang 9

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

đảo trật tự cú pháp đưa vị ngữ lên đầu câu “Lom khom”, ” lác đác” tác giả đã nhấn mạnh cảnh vật tiêu điều, hoang sơ, heo hút thấp thoáng có sự sống con người. Đồng thời gợi tả cảnh ngộ cô đơn, sầu tủi, nhớ nhà, nhớ người thân của chủ thể trữ tình. Câu 2: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc” (Thanh Hải- Mùa xuân nho nhỏ) Hai câu thơ trên được trích từ bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải. Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã phác họa nên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, tươi tắn có sự hài hòa tuyệt diệu về màu sắc. Đặc biệt với việc sử dụng phép đảo ngữ, nhà thơ đã đảo động từ “mọc” lên đầu câu thơ đã làm cho bức tranh thiên nhiên mùa xuân trở nên sinh động tràn đầy sức sống. Câu 3: “Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Hai câu thơ được trích từ tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Với việc sử dụng phép đảo ngữ trong câu”Ung dung buồng lái ta ngồi” tác giả đã khắc họa thành công tư thế hiên ngang, đỉnh đạc, đàng hoàng, làm chủ tình thế của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Câu 4: “Nhà ai mới quá tường vôi mới, Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng Giếng vườn ai vậy nước khơi trong”. (Tố Hữu- Mẹ Tơm) Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Mẹ Tơm” của nhà thơ Tố Hữu. Trong khổ thơ tác giả có sử dụng biện pháp tu từ đổi trật từ cú pháp qua các câu: Trang 10

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

“Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng” Với việc đổi vị ngữ lên trước chủ ngữ, câu thơ đã giúp người đọc cảm nhận ngay được bằng khứu giác, thị giác và cảm giác về sự sung túc, no ấm, đủ đầy của một làng quê ven biển, đồng thời gợi một cuộc sống mới đang dẫn đổi thay của quê hương. 2.3. Sóng đôi (Điệp cú pháp) Yêu cầu: Hãy phát hiện và phân tích tác dụng của biện pháp sóng đôi trong các câu sau: Câu 1: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” (Chính Hữu- Đồng chí) “Đồng Chí” là bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Chính Hữu viết về hình tượng những người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai câu thơ mở đầu “Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” trong bài thơ sử dụng biện pháp sóng đôi cú pháp với sự cân đối, hài hòa giúp ta thấy được cảnh ngộ xuất thân nghèo khó của những người lính cách mạng. Họ là những người nông dân áo vải, ra đi từ những miền quê nghèo khó – miền biển nước mặn, vùng đồi núi trung du nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc ra đi làm cách mạng. Câu 2: “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.” Trang 11

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

(Thanh Hải- Mùa xuân nho nhỏ) Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. Trong khổ thơ có sử dụng phép điệp cấu trúc cú pháp “Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao.” để nhấn mạnh nhịp điệu khẩn trương, hối hả của toàn thể dân tộc đang ngày ngày đêm chiến đấu bảo vệ và xây dựng đưa đất nước đi lên. 2.4. Đối ngữ (Phép đối). Yêu cầu: Em hãy chỉ ra phép đối được sử dụng trong các đoạn thơ sau và phân tích tác dụng của nó. Câu 1: “Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”. (Y Phương- Nói với con) Đoạn thơ trên được trích trong bài thơ “Nói với con” của nhà thơ Y Phương. Trong đoạn thơ tác giả sử dụng phép đối “Chân phải- chân trái”, “mẹ- cha” giúp ta hình dung hình ảnh một em bé đang lẫm chẫm tập đi những bước đi đầu đời trong sự trông mong và đón đợi của cha mẹ. Mỗi bước đi của con chạm đến tiếng nói tiếng cười, niềm vui sướng hân hoan của cha mẹ. Từ đó gợi ra khung cảnh một gia đình đầm ấm, hạnh phúc, yên vui. Đó chính là tổ ấm, là nôi êm che chở cho người con. Câu 2: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.” Trang 12

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” (Thế Lữ- Nhớ rừng) Đoạn thơ trên được trích từ bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ. Trong đoạn thơ tác giả đã sử dụng liên tiếp năm câu hỏi tu từ làm nổi bật nỗi nhớ nhung tiếc nuối quá khứ đến cồn cào, day dứt trong lòng con hổ, đồng thời bộc lộ rõ niềm xót xa đau đớn và sự bất lực khi hồi tưởng lại những kĩ niệm đẹp trong quá khứ và ý thức được quá khứ vàng son ấy không bao giờ quay trở lại. Câu 2: “Năm nay hoa đào nở, Không thấy ông đồ xưa. Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đình Liên- Ông đồ) Đoạn thơ là khổ thơ cuối trong bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên. Hai câu thơ cuối của bài thơ với hình thức câu hỏi tu từ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?” tác giả đã gửi gắm vào đó nỗi niềm thương tiếc, khắc khoải trước việc vắng bóng “ông đồ xưa” đồng thời nói lên tâm trạng bâng khuâng, xót xa khi nghĩ tới những người “muôn năm cũ” không bao giờ còn thấy nữa. Câu hỏi không có câu trả lời đã gieo vào lòng người đọc những niềm cảm thương, tiếc nuối về vẻ đẹp văn hóa tinh thần dân tộc nay không còn nữa. Câu 3: Trang 14

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

“Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?” (Nguyễn Du- Truyện Kiều) Đoạn thơ trên được trích trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của tác giả Nguyễn Du. Đoạn thơ tiêu biểu cho thủ pháp tả cảnh ngụ tình của tác giả. Thông qua cái nhìn về cảnh vật đã bộc lộ sâu sắc tâm trạng của Thúy Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Đặc biệt trong đoạn thơ tác giả sử dụng hai câu hỏi tu từ “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?” và “Hoa trôi man mác biết là về đâu?” đã gợi tả nỗi cô đơn, lẻ loi và nỗi nhớ gia đình, người thân của Kiều nơi đất khách quê người đồng thời nhấn mạnh nỗi băn khoăn, thấp thỏm, lo lắng về thân phận lênh đênh, chìm nổi, vô định không biết rồi sẽ trôi dạt về đâu, bị vùi dập như thế nào. Câu 4: “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng?” (Người con gái Việt Nam – Tố Hữu) Đoạn thơ là khổ thơ đầu trong bài thơ “Người con gái Viêt Nam” của nhà thơ Tố Hữu viết về người con gái anh hùng Trần Thị Lý. Trong khổ thơ với việc sử dụng hình thức là câu hỏi tu từ, nhà thơ Tố Hữu đã nhấn mạnh được vẻ đẹp của người con gái Việt Nam. Đó không chỉ là vẻ đẹp về hình thức bên ngoài mà hơn hết đó là vẻ đẹp được toát lên từ tinh thần dũng cảm ngoan cường, không sợ hi sinh trước kẻ thù. Đấy cũng chính là biểu tượng cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Trang 15

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Như vậy thông qua hệ thống các bài tập, học sinh đã nắm vững kiến thức về các biện pháp tu từ cú pháp. Học sinh cũng đã vận dụng tốt vào việc phân tích, cảm thụ các tác phẩm văn học, từ đó việc học văn không còn nhiều trở ngại. Hơn nữa học sinh còn có ý thức sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp làm lập luận trong bài viết của mình, khiến cho các bài văn thêm sâu sắc và thuyết phục hơn. IV. Tính mới của giải pháp. Trước khi tìm tòi và nghiên cứa đưa ra giải pháp giáo viên chưa có một tài liệu hướng dẫn cũng như còn lúng túng và khó khăn trong quá trình giảng dạy ở các biện pháp tu từ cú pháp. Đặc biệt khi cảm thụ văn học, học sinh chưa nhận biết và vận dụng phân tích và làm sáng rõ được các biện pháp tu từ cú pháp. Sau khi có đề tài bản thân tự tin hơn khi ôn luyện và bước đầu hình thành và giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản nhất về các biện pháp tu từ từ cú pháp. Từ những kiến thức lí thuyết học sinh có thể vận dụng làm các bài tập về các phép tu từ cú pháp và hình thành kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học thông qua các biện pháp tu từ. V. Hiệu quả SKKK. Với việc áp dụng các giải pháp trong quá trình ôn luyện đối tượng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9, bản thân đã giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản nhất về các phép tu từ cú pháp. Các dạng bài tập tiếng Việt về các phép tu từ (cả tu từ từ vựng và tu từ cú pháp) đa số học sinh đều làm được. Hơn nữa học sinh còn rất tự tin trong việc vận dụng vào phân tích, cảm thụ các tác phẩm văn, thơ. Cụ thể: Sau khi áp dụng đề tài vào quá trình ôn luyện, cũng với đề bài: Em hãy chỉ ra các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong những câu thơ sau: “Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Trang 16

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.” (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Kết quả học sinh làm bài đã có sự khác biệt đặc biệt: Năm học 2014- 2015: Số học sinh làm bài là 4. Số học sinh phát hiện được biện pháp tu từ từ vựng là 4, học sinh phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ là 3. Số học sinh phát hiện được biện pháp từ cú pháp là 3, học sinh phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp là 3. Năm học 2018- 2019: Số học sinh làm bài là 5. Số học sinh phát hiện được biện pháp tu từ từ vựng là 5, học sinh phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ là 5. Số học sinh phát hiện được biện pháp từ cú pháp là 5, học sinh phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp là 5. Không những thế hầu hết các bài tập về các biện pháp tu từ học sinh đều nhận diện rất nhanh và giải quyết rất tốt. Trong qua trình cảm thụ văn học hầu như tác dụng của các phép tu từ cú pháp đều được học sinh khai tác triệt để từ đó cảm nhận được nội dung tư tưởng mà tác giả muốn biểu đạt. Tôi nhận thấy đó là một kết quả đáng mừng trong quá trình giảng dạy của bản thân. Bên cạnh đó kết quả đạt được trong những đợt thi HSG cấp huyện, cấp tỉnh đã phần nào đó đánh giá hướng đi đúng đắn trong việc lên kế hoạch cũng như phương pháp ôn luyện. Kết quả cụ thể như sau: Năm học

Cấp huyện

Cấp tỉnh

2013-2014

1 nhất, 1 nhì, 2 công nhận

2 nhất, 2 nhì

2014-2015

1 nhất, 1 khuyến khích

1 nhất, 1 khuyến khích

2018-2019

1 nhất, 2 nhì, 2 khuyến khích

2 nhì, 2 ba

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ. 1. Kết luận. Trang 17

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Trịnh Thị Hằng

Trang 18

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Trang 19

Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp.

Tài liệu tham khảo 1. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 9. 2. 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt- Đinh Trọng Lạc- NXB Giáo dục. 3. Phong cách học tiếng Việt- Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa- NXB Giáo dục. 4. Từ điển thuật ngữ văn học- Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc PhiNXB đại học quốc gia Hà Nội. 5. Một số bài viết được đăng tải thông tin theo nguồn internet.

Trang 20

Một Số Kinh Nghiệm Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Ở Trường Ptdt Nội Trú Eakar

Chuyên đề 3: Tập làm văn:

Căn cứ vào nội dung, tính chất đề thi học sinh giỏi các năm, phần tập làm văn chiếm tỉ lệ điểm cao nhất trong thang điểm của đáp án chấm thi học sinh giỏi (khoảng 50 -60%). Điều đó cho thấy rằng phần tập làm văn là phần quan trọng nhất, là thước đo chuẩn mực, là tiêu chí tin cậy để đánh giá một cách khách quan nhất, chính xác và thuyết phục nhất về năng lực cảm thụ, sự tích luỹ kiến thức văn học, về trình độ nhận thức và khả năng trình bày một vấn đề của học sinh giỏi. Vì thế trong quá trình bồi dưỡng giáo viên phải chú ý thỏa đáng phần này. Trong chuyên đề này, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu các nội dung như sau:

thơ ngắn gọn, súc tích và có tính hình tượng, tính biểu cảm cao về cuộc đời và thân phận khổ đau của người phụ nữ xưa. - Biện pháp tu từ ngữ nghĩa: + Ẩn dụ: Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngắt Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh. ( Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ) + Nhân hóa và vật hóa kết hợp điệp ngữ: Khăn nhớ thương ai Khăn rơi xuống đất? Khăn nhớ thương ai Khăn vắt lên vai? Khăn nhớ thương ai Khăn chùi nước mắt? ( Cao dao) Sầu đong càng lắc càng đầy, Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. ( Truyện Kiều - Nguyễn Du) + Hoán dụ: Một bên đèn sách văn chương Một bên chèo đẩy em thương bên nào Chữ nghĩa còn đợi giá cao Quần nâu áo vải chân sào em thương. (Ca dao) + Điệp ngữ: Áo em thoang thoảng hương cau Áo em say đắm một màu nhớ thương Áo em ngày nhớ đêm thương Áo em chín nhớ mười thương anh chờ. (Cao dao) + Tăng cấp, liệt kê: Chao ôi, dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ, dì thổ ra nước mắt. (Nam Cao) + Chơi chữ: Chồng chổng chồng chông Chồng bát chồng đĩa nuôi hông cũng chồng. (Ca dao) + Đảo ngữ: "Lom khom dưới núi tiều vài chú. Lác đác bên sông chợ mấy nhà". (Bà huyện Thanh Quan) ...vv Ngay sau khi hướng dẫn học sinh nhận diện phép tu từ, tiếp tục hướng dẫn học sinh thực hiện viết bài. Trước khi viết bài, giáo viên định hướng yêu cầu của bài viết phân tích phép tu từ với mô hình TỔNG - PHÂN - HỢP. Để tránh mất thời gian, giáo viên nên ra đề cho học sinh viết ở nhà. Trong mỗi lần ra đề, giáo viên cần phải giao thời gian cụ thể và kiểm tra, sửa chữa cụ thể những lỗi chính tả, lỗi dùng từ đặt câu, ... mà học sinh mắc phải. VÍ DỤ: Phân tích hiệu quả thẩm mỹ của các biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ sau: "Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm, Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ." (Quê hương-Tế Hanh) TRẢ LỜI: -Học sinh làm nổi bật được hiệu quả thẩm mỹ của các biện pháp nghệ thuật sau: - Nghệ thuật ẩn dụ ,nhân hoá. - Hình ảnh người dân chài được miêu tả vừa chân thực ,vừa lãng mạn và trở nên có tầm vóc phi thường qua câu: "Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm." Người lao động làng chài những đứa con của biển khơi:từng trải nước da ngăm nhuộm nắng, nhuộm gió,thân hình vạm vỡ săn chắc khoẻ mạnh.Những người dân chài họ như những đứa con của biển cả,thân hình họ như thấm đậm vị mặn mòi của biển cả,họ đem theo hơi thở "xa xăm" của biển cả trở về. -Nghệ thuật nhân hoá: hình ảnh chiếc thuyền nằm im trên bến sau khi vật lộn với sóng gió trở về.Con thuyền cũng giống như người dân chài sau một chuyến ra khơi vật lộn với sóng gió bây giờ trở về nằm nghỉ ngơi trên bến và nó đang lắng nghe "chất muối" vị mặn mòicủa biển cả đang lan tỏa trong cơ thể. "Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm - Nghệ thuật ẩn dụ: Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ". (chuyển đổi cảm giác từ cảm nhận bằng xúc giác sang bằng thính giác) Chuyên đề 2: Cảm thụ văn học: * Giáo viên sơ lược về lịch sử văn học Việt Nam. Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng lấy chất liệu từ thực tại cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của người sáng tạo. Để cảm thụ một cách sâu sắc về văn học, thì nhất thiết phải hiểu đúng, hiểu rõ về văn học. Nói như vậy có nghĩa là người cảm thụ phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh phát sinh và môi trường tiếp nhận. Nền văn học Việt Nam được tạo nên bởi hai bộ phận. - Văn học dân gian. Dòng văn học này là kết quả của sự đồng sáng tạo của người bình dân nhằm thể hiện tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, con người, ... (ca dao, dân ca); đúc rút kinh nghiệm về thiên nhiên, lao động sản xuất cùng cong người và xã hội, ...vv - Văn học viết. Dòng văn học này có: + Văn học phong kiến ra đời và phát triển từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX , được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Văn học viết từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX có bốn giai đoạn, mỗi giai đọn có một âm hưởng chủ đạo. . Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có nội dung chính là khẳng định dân tộc. Ví dụ: "Tụng giá hoàng kinh sư" (Trần Quang Khải), ... . . Giai đoạn từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII có nội dung chính là ca ngợi cuộc sống ẩn dật, đề cao thuyết giáo. Ví dụ: "Truyền kì mạn lục" (Nguyễn Dữ), "Côn Sơn ca" (Nguyễn Trãi), ... . . Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có nội dung chính là phê phán thế lực phong kiến và khẳng định quyền sống của con người. Ví dụ: "Sau phút chia ly" (Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn), "Bánh trôi nước " (Hồ Xuân Hương), "Truyện Kiều" (Nguyễn Du), ... . Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XIX có nội dung chính là đã kích cái lố lăng hủ bại đương thời và cổ vũ tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. Ví dụ: các sáng tác của Nguyễn Khuyến và Nguyễn Đình Chiểu, ... + Văn học Việt Nam hiện đại, gồm có: . Thơ văn hai mươi năm đầu của thế kỉ XX là những sáng tác thể hiện tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu son sắt của những nhà Nho, sĩ phu yêu nước bị bắt giam trong nhà tù thực dân Pháp: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, ... . Văn học giai đoạn từ 1932 đến 1945 gồm có nhiều khuynh hướng trào lưu: văn học hiện thực phê phán có "Sống chết mặc bay" của Phạm Duy Tốn, "Đồng hào có ma" của Nguyễn Công Hoan, "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, "Lão Hạc" của Nam Cao,... Phong trào thơ Mới có "Nhớ rừng" của Thế Lữ, "Ông đồ" của Vũ đình Liên, ...thơ văn của những chiến sĩ cách mạng ở trong tù có "Khi con tu hú" của Tố Hữu, "Lấy củi" của Sóng Hồng, "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh, ... . Văn học từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975. Thời kì này lại được chia ra nhiều giai đoạn. Văn học chống Pháp (1946 - 1954) có "Đồng chí" của Chính Hữu", "Làng" của Kim Lân, ...; văn học xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc ( 1955 - 1964) có "Đoàn thuyền đánh cá" của Huy Cận, ...; văn học chống Mĩ (1965 - 1975) có "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật, "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của Nguyễn Khoa Điềm, "Bếp lửa" của Bằng Việt, "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng, "Lặng lẽ SaPa" của Nguyễn Thành Long, "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê,... * Ngoài những tác phẩm trong chương trình, giáo viên nên chủ động cung cấp và hướng dẫn học sinh tìm hiểu thêm một số câu, đoạn, bài thơ - văn hay giúp học sinh vừa có thêm tư liệu văn học và hiểu được cái hay của văn chương, vừa tạo chất văn cho bài viết. Đặc trưng của văn chương là nhận thức và tái hiện cuộc sống bằng hình tượng. Để hiểu được ý nghĩa của văn chương, ngoài trí tuệ thì người đọc cần phải phát huy cao độ trí tưởng tượng sáng tạo, suy nghĩ, cảm xúc bằng hình tượng. Ví dụ: 1) Cối xay tre, nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc. (Cây tre Việt Nam - Thép Mới) 2) "...Ông Giáo nói phải! Kiếp chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút ... Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!..." (Lão Hạc - Nam Cao) 3) Đến nay tháng sáu Chợt nghe tin nhà Ra thế Lượm ơi! (Lượm - Tố Hữu) 4) Ngày em mở cửa ra Một trời xanh vẫy đợi Cánh buồm là tiếng gọi Mặt biển và dòng sông Nắng vườn trưa mênh mông Bướm bay như lời hát Con tàu là đất nước Đưa ta đến bến xa. (Ngày em vào đội - Xuân Quỳnh) + Các hình ảnh: trời xanh, mặt biển, dòng sông không chỉ gợi tả khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, tươi đẹp mà còn thể hiện được một tương lai tươi đẹp đang vẫy gọi đang chờ đợi nhân vật trữ tình "em" + Các hình ảnh động và đẹp: cánh buồm, bướm bay, con tàu cùng với các hình ảnh kêu gọi: vẫy đợi, tiếng gọi, đất nước bến xa có ý nghĩa như một lời vẫy gọi, khích lệ "em" đến với chân trời tươi đẹp, đầy mơ ước ...vv * Bên cạnh đó, giáo viên cung cấp cho học sinh và yêu cầu học sinh sưu tầm ghi chép những lời nhận định, đánh giá sắc nét, độc đáo của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học nhằm hỗ trợ cho việc cảm nhận văn học được dễ dàng hơn. Ví dụ: - Đọc là để cho tâm hồn viễn du qua các tuyệt phẩm. ( A. France) - Cảm hứng là sức mạnh của tâm hồn tự thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và ý chí tự do. ( Hegel) - Nghệ thuật không chỉ nhận thức cuộc sống, mà nó còn là câu hỏi và câu trả lời về cuộc sống. (Belinxki) - Câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy gần nhưng nghĩa lại xa. (Nguyễn Dữ) - Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy. (Belinxki) - Nhân vật sẽ là có tính cách, nếu trong lời nói và hành động bộc lộ một khuynh hướng ý chí nào đó, bất kể nó tốt xấu thế nào. (Arittốt) - Nhà văn là người cho máu. Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại. (Elsa Troilet) - Văn chương chẳng là gì nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là điểm xuất phát và cũng là đích đến của văn học. (Tố Hữu) - Cuộc sống là mảnh đất màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi" ( PusKin) - Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. (L. Tônxtôi) - Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật ( Biêlinxki) - Văn chương không dung nạp những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đem cho, mà chỉ dung nạp những người biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có. (Nam Cao) - Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người. Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của chặng đời sống con người ta trên con đường dài dằng dặc đi tìm cõi hòan thiện. (Nguyễn Minh Châu) - Nghệ sĩ là con người biết khai thác ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tượng đó cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có được hình thức riêng" ( M. Gorki) Chuyên đề 3: Tập làm văn: Căn cứ vào nội dung, tính chất đề thi học sinh giỏi các năm, phần tập làm văn chiếm tỉ lệ điểm cao nhất trong thang điểm của đáp án chấm thi học sinh giỏi (khoảng 50 -60%). Điều đó cho thấy rằng phần tập làm văn là phần quan trọng nhất, là thước đo chuẩn mực, là tiêu chí tin cậy để đánh giá một cách khách quan nhất, chính xác và thuyết phục nhất về năng lực cảm thụ, sự tích luỹ kiến thức văn học, về trình độ nhận thức và khả năng trình bày một vấn đề của học sinh giỏi. Vì thế trong quá trình bồi dưỡng giáo viên phải chú ý thỏa đáng phần này. Trong chuyên đề này, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu các nội dung như sau: * Giáo viên cung cấp cho học sinh các dạng đề văn thường gặp nhằm giúp học sinh viết đúng yêu cầu về phạm vi nội dung và yêu cầu về hình thức thể hiện của một bài văn cụ thể. Loại đề Phạm vi và nội dung cần làm rõ Hình thức thao tác, thể hiện Tự sự - Kể chuyện đời thường - Kể chuyện tưởng tượng - Hư cấu, liên tưởng, tưởng tượng và đóng vai Thuyết minh - Thuyết minh về cây cối - Thuyết minh về đồ vật - Thuyết minh về một loài vật - Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh - Thuyết minh về một phương pháp (cách làm) - Giải thích - Trình bày - Giới thiệu Nghị luận Xã hội - Một vấn đề đạo đức nhân sinh - Một vấn đề chính trị - Một vấn đề văn hóa tư tưởng - Một vấn đề kinh tế - Một vấn đề lịch sử - Một vấn đề địa lý, môi trường - Chứng minh - Giải thích - So sánh, đối chiếu Nghị luận Văn học - Phân tích một bài thơ - Phân tích một đoạn thơ - Phân tích một hình ảnh hay một hình tượng - Phân tích nhân vật - Phân tích một tác phẩm truyện hoặc một đoạn trích - Phân tích tổng hợp - Phân tích - Giải thích - Chứng minh - So sánh, đối chiếu * Giáo viên cụ thể hóa khung đề cương cho bài văn nhằm giúp học sinh trình bày bài văn có bố cục cân đối, mạch lạc, chặt chẽ. Có thể nói một bài văn hay, có chất lượng thì không thể không có một đề cương, một dàn ý. Ngay cả những nhà văn tài năng luôn phải có đề cương trước khi viết. Có đề cương giúp các em viết bài được thoải mái, dễ dàng, linh hoạt và phát huy tốt yếu tố cảm xúc cũng như mạch văn theo đúng yêu cầu của đề. Vì vậy, dù là dạng văn nào thì các em cũng phải nắm chắc dàn ý cơ bản sau: Mở bài: Nêu khái quát vấn đề của bài viết. Vấn đề đó sẽ được lý giải cụ thể trong phần thân bài. Thân bài: Nêu các nội dung lớn để triển khai làm rõ vấn đề đã nêu khái quát ở mở bài. Kết bài: Nêu ý khái quát từ các ý đã trình bày trong bài. Từ đó, giáo viện hướng dẫn học sinh làm lập dàn ý qua một số đề bài cụ thể. * Giáo viên cung cấp cho học sinh một số quy tắc tìm luận cứ. - Quy tắc tìm dẫn chứng: Ai, cái gì ? + Mặt nào? + Lúc nào? + Ở đâu? Ví dụ: Nhân vật chị Dậu trong hai đoạn trích "Con có thương thầy thương u", "Tức nước vỡ bờ" (Trích tiểu thuyết "Tắt đèn" - Ngô Tất Tố) là tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Em hãy làm sáng tỏ nhận định trên. Áp dụng quy tắc trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm dẫn chứng cho đề bài trên: Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chị Dậu được thể hiện ở những mặt nào? (đảm đang, tháo vát; thương yêu chồng con; sức sống mạnh mẽ tiềm tàng) Mỗi vẻ đẹp tâm hồn trên của nhân vật thể hiện lúc nào, ở đâu? ( khi chạy vạy ngược xuôi kiếm tiền cứu anh Dậu: dẫn chứng; khi phải bán cái Tí: dẫn chứng ; Khi đối phó với tên cai lệ và người nhà lí trưởng: dẫn chứng ) - Quy tắc tìm lí lẽ: Thế nào? + Tại sao? + Cảm xúc suy nghĩ? Ví dụ: Em hiểu như thế nào về câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Áp dụng quy tắc trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tìm lí lẽ: "Ăn quả và kẻ trồng cây" có nghĩa đen và nghĩa bóng như thế nào? (nghĩa đen: Ăn quả: ăn những trái cây chín, thơm, ngọt, bùi; kẻ trồng cây: người trồng, vun xới, chăm bón cây, trái. Nghĩa bóng: hưởng thụ thành quả của những người đi trước đã tạo ra) Tại sao ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây? ( thể hiện được truyền thống đạo lí tốt đẹp của cha ông ta và là nền tảng để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người; mọi thành quả không tự nhiên mà có) Nhớ kẻ trồng cây, ta phải làm như thế nào? (có những hành động và việc làm đúng đắn với những người đã tạo ra thành quả: ông bà, tổ tiên, cha mẹ, người nông dân, người công nhân, thầy cô, các anh hùng liệt sĩ) Em có cảm xúc, suy nghĩ gì về lời dạy của câu tục ngữ trên? * Giáo viên tập trung phần lớn thời gian cho dạng văn nghị luận Kiểu bài văn nghị luận là đơn vị kiến thức khá trọng tâm trong chương trình tập làm văn lớp 9. Nghị luận trong chương trình ngữ văn 9 có hai loại : - Nghị luận xã hội. - Nghị luận văn học. + NGHỊ LUẬN XÃ HỘI: - Nghị luận về tư tưởng đạo lí Đề tài: - Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập...). - Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, thái độ vô cảm, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ, tình thương và hạnh phúc...). - Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em...). - Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước...). Dàn ý lí thuyết nghị luận tư tưởng đạo lí: a. Mở bài : Gợi - Đưa- Báo Gợi : Là gợi ý ra vấn đề cần nghị luận. Đưa : Sau khi gợi là đưa vấn đề nghị luận ra. Báo : Báo là phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận (Có tính chuyển ý ) b. Thân bài : Giải - Phân - Bác - Đánh. Giải: Giải thích các tư tưởng đạo lí tác động đến hoàn cảnh xung quanh, giải thích từ , giải thích khái niệm. Phân : Phân tích các mặt đúng của nội dung tư tưởng đạo lí (Dùng luận cứ từ cuộc sống và xã hội để chứng minh). Đánh : Đánh giá ý ngĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận. c. Kết bài : Tóm - Rút - Phấn Tóm: Tóm tắt, khái quát vấn đề nghị luận. Rút : Rút ra ý nghĩa , từ bài học hiện tượng đời sống. Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghị luận. Một số đề tham khảo . - Đề 1:Suy nghĩ về thái độ vô cảm của giới trẻ hiện nay. - Đề 2: Em có cảm nhận gì về lòng nhân ái. - Đề 3 : Suy nghĩ của em về câu thơ " Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn" ( Một khúc ca - Tố Hữu) - Đề 4 : Tình thương là hạnh phúc của con người. - Đề 5 : Em có suy nghĩ về lòng trung thực. - Đề 6 : "Nơi lạnh nhất không phải là bắc cực mà là nơi không có tình yêu thương", em cảm nhận câu này như thế nào ? - Đề 7 : Thất bại là mẹ thành công. Ví dụ: "Tôi luôn tin rằng, trong mỗi thất bại luôn có mầm mống của sự thành công". Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm trên. Gợi ý: 1. Giải thích + Thất bại nghĩa là không đạt được kết quả, mục đích như dự định. + Thành công là đạt được kết quả, mục đích như dự định. + Mầm mống được hiểu là những dấu hiệu, là bài học kinh nghiệm bổ ích mà ta nhận ra được từ sự thất bại đó, làm cơ sở giúp ta giành được thành công. Đây là quan niệm sống tích cực, thể hiện niềm lạc quan, sự dũng cảm đối mặt với khó khăn thách thức cửa cuộc sống. 2. Bàn luận - Chứng minh tính đúng đắn: Trong cuộc sống, mỗi người đều có những thành công nhưng cũng có khi thất bại. Sự thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều mức độ khác nhau song đều làm cho chúng ta không đạt được kết quả tốt đẹp (học sinh lấy dẫn chứng trong các lĩnh vực của cuộc sống để chứng minh, bình luận) - Nếu gục ngã, buông xuôi trước một thất bại thì con người sẽ trở thành hèn yếu, thiếu ý chí, thiếu nghị lực và khó có thể đi tới thành công. - Nhưng nếu thất bại mà không tìm hiểu rõ nguyên nhân, không đúc rút được kinh nghiệm và không có giải pháp khắc phục thì ta lại tiếp tục gặp phải những thất bại nặng nề khác.(dẫn chứng) 3. Giải pháp - Con người cần cố gắng rèn luyện, sáng tạo, chuẩn bị chu đáo trước khi thực hiện bất cứ một công việc nào để có được những thành công cho mình và cho xã hội. - Biết chấp nhận thất bại và đúc rút kinh nghiệm - Phê phán những người thiếu niềm tin, thiếu động lực v

Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ THẮM

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI, 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ THẮM

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Bùi Minh Toán

HÀ NỘI, 2011

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn ñề tài 1.1. Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn ñề thuộc về từ vựng học, nghiên cứu những vấn ñề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo ra diện mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các ñơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện khác nhau, các ñơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh ñộng, mới mẻ và chứa ñựng nhiều nội dung thú vị. Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một vấn ñề nhận ñược nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu từ – ñược thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự ña dạng trong cách diễn ñạt, cảm nhận rõ vẻ ñẹp của tiếng Việt. Từ ñó, người sử dụng ngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống, toàn vẹn và hoàn chỉnh hơn ở nhiều góc ñộ khác nhau. 1.2. Trong sự nghiệp lớn lao của Hồ Chí Minh – có một di sản ñặc biệt biệt ñể lại cho dân tộc, ñó là sự nghiệp trước tác. Người ñã ñể lại cho chúng ta một sự nghiệp trước tác lớn lao về tầm vóc, phong phú ña dạng về thể loại và ñặc sắc về phong cách sáng tác. [43, 419] Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc ñăng trên báo Người cùng khổ, Nhân ñạo, Đời sống thợ thuyền ñã tác ñộng và ảnh hưởng lớn ñến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc ñịa, kêu gọi thức tỉnh nhân dân nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận ñấu tranh chung. “Văn chương Hồ Chí Minh ñã kết hợp ñược sự sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện ñại. Mỗi loại hình văn học của người ñều có phong cách riêng, ñộc ñáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. Hồ Chí Minh là người ñầu tiên sử dụng có hiệu quả

1

cao thể văn chính luận hiện ñại… Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang cốt cách, ñặc ñiểm của văn chính luận hiện ñại của giai cấp vô sản”. Vì thế, văn chính luận của Người ñược ñộc giả và giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau. 1.3. Nghiên cứu các biện pháp tu từ trên mặt ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh là vấn ñề giúp chúng tôi có thể tiếp cận, tìm hiểu thêm một phương diện mới về phong cách viết văn của Người. Những lí do trên là cơ sở ñể chúng tôi chọn ñề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”. 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Về biện pháp tu từ Lí thuyết về biện pháp tu từ ñã ñược nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Aristote là một trong các nhà khởi xướng, có công trong việc tạo nên các lời văn hoa mĩ, các thuật hùng biện, hình thành môn “Mĩ từ pháp”. Tu từ học ñã trở thành một bộ môn bắt buộc trong Tam khoa của nhà trường Trung cổ và nhà trường cận ñại ở Châu Âu. Vấn ñề tu từ học ñược tiếp tục phát triển, nâng cao thành hệ thống lí luận ở các tác giả như: Ciceron, Quitilien, Horace, Virgile… Từ thế kỉ XIX, tu từ học – phong cách học ñã trở thành một ngành riêng của ngôn ngữ học. Ở nước ta, tên gọi “Tu từ học” xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỉ XX, những công trình nghiên cứu về tu từ học thời kì này có thể kể ñến như: Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Việt – Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức… Vào khoảng thập niên 60 của thế kỉ XX, tên gọi Phong cách học xuất hiện, Phong cách học chính là Khoa tu từ học ñược hiện ñại hoá có cơ sở lí thuyết nhằm vào ñối tượng cơ bản là các phong cách ngôn ngữ. [37, 238]

2

Cùng với sự ra ñời của lí luận về biện pháp tu từ là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Hữu Đạt, Lê Anh Hiền… Có thể kể ñến một số công trình có vai trò nền tảng trong việc trình bày về vấn ñề biện pháp tu từ. Cụ thể: – Tác giả Lê Anh Hiền với cuốn Khái luận tu từ học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1961. – Tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Tu từ học tiếng Việt hiện ñại (sơ thảo), Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1975 – Tác giả Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và ñặc ñiểm tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục, 1983. – Tác giả Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện ñại, Nhà xuất bản Đai học quốc gia Hà Nội, 2001. – Tác giả Đinh Trọng Lạc với cuốn Chín mươi chín phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ bảy), 2003. – Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà với cuốn Phong cách học tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ tám), 2008. Trong những công trình trên, các tác giả ñã ñề cập ñến những vấn ñề cơ bản về lí thuyết biện pháp tu từ như: khái niệm về biện pháp tu từ, ñặc ñiểm tu từ của các loại ñơn vị trong tiếng Việt, các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, ngữ âm của phong cách học)… Đây là những nhận thức lí luận rất cần thiết, có chức năng dẫn ñường cho việc tìm hiểu các vấn ñề về biện pháp tu từ. 2.2. Về văn chính luận Hồ Chí Minh Thơ văn của Hồ Chí Minh luôn là ñối tượng hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, từ trước ñến nay có không ít công trình nghiên cứu về tác phẩm của Người với những tác giả có tên tuổi như: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê… Riêng về mặt ngôn ngữ, các tác phẩm văn thơ của Hồ Chí Minh ñã có những công trình khảo cứu về các phương diện sau:

3

– Việc dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong văn Hồ Chí Minh. – Phép so sánh trong văn thơ Hồ Chí Minh. – “Tập Kiều” trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. – Tên các bài báo của Hồ Chí Minh. – Tiếng cười (phong cách hài hước) trong văn Hồ Chí Minh. – Ý kiến của Hồ Chủ Tịch về việc mượn từ gốc Hán. … Có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau: Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh [54, 207], Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: “Văn chính luận chủ yếu ñược viết theo tư duy logic. Sức thuyết phục của nó không phải ở chỗ dựng nên những hình tượng, những bức tranh sinh ñộng… mà ở chỗ ñưa ra những lí lẽ ñanh thép, những lập luận chặt chẽ, những luận cứ hùng hồn… Trên cơ sở những ñặc trưng cơ bản của thể loại văn chính luận như thế, nhiều loại văn chính luận ra ñời với những sắc thái khác nhau dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, như tuyên ngôn, lời kêu gọi, báo cáo chính trị, thư từ gửi các ngành các giới, văn bút chiến, văn tiểu phẩm và các thể loại văn báo chí khác…” [54, 217]. Phong Lê với bài viết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh con người và thơ văn [54, 244] nhận xét: thơ văn Hồ Chí Minh có sự tổng hoà, kết hợp của nhiều âm ñiệu – sự kết hợp ấy làm nên phong cách Hồ Chí Minh. Trong Lời giới thiệu (cho cuốn Văn Hồ Chủ Tịch, Nhà xuất bản Giáo dục, 1971), Huỳnh Lý nêu lên 4 ñặc ñiểm cơ bản về phong cách văn xuôi Hồ Chí Minh: tư tưởng lớn, hình thức diễn ñạt ngắn gọn, trong sáng, sinh ñộng, ung dung pha chút hóm hỉnh, “viết sâu ngọt, viết có tình”. Nguyễn Thuý Khanh với bài viết Một số ñặc ñiểm trong ngôn ngữ báo chí chính luận của Hồ Chủ Tịch (Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Hà Nội, 1980) cho rằng “Người ñã sử dụng lối diễn ñạt quen thuộc của quần chúng, có khả năng tạo ra sức tác ñộng mạnh ñến người ñọc, có khả năng tạo ra sức tác ñộng trong thông tin, báo chí”.

4

Trong bài viết Câu văn của Bác Hồ (Tạp chí ngôn ngữ số 4, 1970), Lê Xuân Thại ñưa ra nhận ñịnh “Trong các bài văn của Bác có nhiều cách biện luận, trong ñó có cách dùng câu hỏi, những câu hỏi loại này của Bác mang ñầy sức mạnh của logic”. Bài viết Bước ñầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch qua Những lời kêu gọi (Tạp chí văn học số 6/1965), Nguyễn Phan Cảnh ñã ñưa ra những nhận ñịnh về phong cách chính luận của Người ở những ñiểm chung nhất. Với bài Tuyên ngôn ñộc lập một nghệ thuật viết văn nghệ thuật mẫu mực, dân tộc và hiện ñại (Tạp chí văn học số 3/1990), Nguyễn Quốc Tuý ñã chú trọng phân tích nghệ thuật viết văn của Hồ Chí Minh: một tác phẩm văn xuôi giàu nhịp ñiệu âm thanh, sử dụng ñiệp ngữ, ñiệp từ rất ñặc sắc, cách sử dụng từ rất chính xác và tinh tế. Tác giả khẳng ñịnh “Tuyên ngôn ñộc lập là áng văn chính luận mẫu mực”. Theo khảo sát, cho ñến nay chưa có công trình nào dành riêng ñể nghiên cứu về vấn ñề biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh (tuy rải rác trong các sách nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ có ñề cập ñến). Vì vậy, luận văn của chúng tôi nghiên cứu ñề tài này với hy vọng hiểu rõ hơn về văn chính luận Hồ Chí Minh từ góc nhìn ngôn ngữ học. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu Luận văn lựa chọn Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh làm ñối tượng nghiên cứu. – Phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi giới hạn việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong văn chính luận Hồ Chí Minh trong phạm vi ngữ âm và ngữ pháp. 4. Mục ñích, nhiệm vụ của ñề tài – Mục ñích của ñề tài Mục ñích của ñề tài này là tìm hiểu các biện pháp tu từ ngữ âm (nhịp ñiệu, vần, ñối, hài hoà thanh ñiệu…) và biện pháp tu từ cú pháp (những phép tu từ cú

5

pháp: phép lặp, liệt kê, nhấn mạnh thành phần câu, cách dùng câu hỏi tu từ) trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. – Nhiệm vụ của ñề tài Luận văn ñặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy ñược giá trị và hiệu quả biểu ñạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ ñó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. 5. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ ñặc trưng và yêu cầu của ñề tài, trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: – Phương pháp thống kê, phân loại Vận dụng phương pháp này, chúng tôi có thể khảo sát ñể tìm ra và phân loại các biện pháp tu từ ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. Từ ñó, xác ñịnh hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ ấy. – Phương pháp phân tích Phương pháp này cho phép chúng tôi ñi sâu vào nhiều khía cạnh của vấn ñề, vừa làm rõ vấn ñề vừa tăng sức thuyết phục với những dẫn chứng và cứ liệu, lập luận cụ thể. – Phương pháp tổng hợp Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc nâng cao vấn ñề, khái quát phong cách nhà văn. 6. Đóng góp của luận văn – Về lí luận Trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết về tu từ ngữ âm, tu từ ngữ pháp, về phong cách chính luận bằng những kết quả nghiên cứu cụ thể.

6

– Về thực tiễn Kết quả nghiên cứu luận văn nhằm phục vụ cho việc ñọc, hiểu các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh. Những kiến giải của luận văn có thể góp phần ñịnh hướng cho người ñọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm, ñặc biệt là các tác phẩm trong chương trình phổ thông hiện nay. 7. Cấu trúc của luận văn Chúng tôi triển khai luận văn thành ba phần: phần Mở ñầu, phần Nội dung và phần Kết luận.Tương ứng với những nhiệm vụ ñặt ra, phần Nội dung của luận văn ñược chia thành 3 chương, trình bày các vấn ñề sau: Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương 2: Biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận Hồ Chí Minh Chương 3: Biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh

7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. Lí thuyết về biện pháp tu từ Lí luận về tu từ học và biện pháp tu từ xuất hiện từ rất sớm, việc nghiên cứu về vấn ñề này ñã ñạt ñược những thành tựu ñáng kể. Những thành tựu ấy phần nào cho thấy sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung và của tu từ học nói riêng – dù nó chưa phản ánh hết ñược những gì vốn rất phong phú và phức tạp của ngôn ngữ trong quá trình sử dụng. Lí thuyết về vấn ñề này ngày càng ñược nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, nhờ thế nó dần ñược hoàn thiện bởi hệ thống lí luận sâu sắc. Hệ thống lí luận xuất hiện sau mang tính kế thừa hệ thống lí luận trước, ñồng thời nó bổ sung nhiều hơn những phát hiện mới mẻ, phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ trong hoạt ñộng hành chức. Ở thời kì ñầu, nói ñến tu từ học người ta thường nhắc ñến những khái niệm như nghệ thuật diễn ñạt, thuyết phục, tranh biện… Thuật ngữ phương thức tu từ hay tu từ pháp dường như ñược sử dụng chung cho cả hai khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng ñã xác ñịnh và phân loại các phương thức tu từ chủ yếu: ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, tượng trưng, trùng ñiệp,… Đây là những kiến thức mang tính tiền ñề lí luận, ñịnh hướng cho việc nghiên cứu vấn ñề biện pháp tu từ ở những khía cạnh khác nhau. Ở giai ñoạn sau, các nhà ngôn ngữ học thường dựa vào ñặc ñiểm cấu trúc và ñặc ñiểm ngữ nghĩa của các phương thức tu từ ñể phân loại. Chẳng hạn, V.V.Odinsov hệ thống hoá các phương thức và biện pháp tu từ thành hai nhóm: các phép tu từ thay thế (gồm hai tiểu nhóm: các phép tu từ số lượng như ngoa dụ, nói giảm và các phép tu từ chất lượng như ẩn dụ, hoán dụ, mỉa mai) và các phép tu từ kết hợp (gồm các phép ñồng nhất như so sánh, thế ñồng nghĩa; các phép không ñồng nhất như ñồng nghĩa chính xác hoá, chơi chữ, liên ngữ,… hay các phép ñối lập như ñối ngữ, nghịch dụ,…) Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ dùng phổ biến thuật ngữ Phong cách học thay thế thuật ngữ Tu từ học trước ñây. Tu từ học vẫn ñược sử dụng ñể chỉ phần nghiên

8

cứu các ñặc ñiểm tu từ của các ñơn vị ngôn ngữ, các khái niệm màu sắc tu từ, biện pháp tu từ… Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học của Việt Nam cũng có những kiến giải nhất ñịnh về tu từ học và biện pháp tu từ. Trong cuốn Từ ñiển Hán Việt, ông Phan Văn Các giải thích “tu từ là sửa sang lời văn cho hay cho ñẹp”; Tu từ học là “bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ ñể sử dụng làm cho lời văn hay hơn ñẹp hơn”. Không chỉ dừng lại ở việc ñưa ra những ñịnh nghĩa, hiện nay nhiều nhà ngôn ngữ học cố gắng ñưa ra những tiêu chí ñể phân chia hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, bởi hai khái niệm này có sự khác biệt nhau. Cần tách bạch rõ ràng ñể tránh sự lúng túng và khó nắm bắt trong quá trình sử dụng. Phong cách học chú ý ñến sự phân chia biện pháp tu từ và phương tiện tu từ trên hai bình diện hệ thống (ngôn ngữ) và hoạt ñộng (lời nói). Nhóm tác giả của Nhập môn ngôn ngữ học nhấn mạnh “cơ sở của sự xác lập hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ xuất phát từ sự phân chia ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học” [9, 417]. Các tác giả ñã ñưa ra những tiêu chí chủ yếu ñể phân ñịnh phương tiện tu từ và biện pháp tu từ: – Thành phần thông tin bổ sung của các phương tiện tu từ manh tính tương ñối ổn ñịnh, ñộc lập với ngữ cảnh, là cơ sở cho sự lựa chọn. Thành phần thông tin bổ sung nảy sinh trong các biện pháp tu từ mang bản chất ngữ cảnh. – Màu sắc tu từ của các phương tiện tu từ ñược xác ñịnh chủ yếu dựa trên mối quan hệ ñối ñoạn tính của bản thân các phương tiện trong hệ thống ngôn ngữ. Hiệu quả, giá trị phong cách của biện pháp tu từ ñược xác ñịnh chủ yếu dựa trên mối quan hệ của các yếu tố ngôn từ với ngữ cảnh tu từ. – Phương tiện tu từ thuộc về bình diện hệ thống (ngôn ngữ) còn biện pháp tu từ thuộc về bình diện hoạt ñộng (lời nói). Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” cũng ñưa ra những nhận ñịnh xác ñáng ñể phân biệt phương tiện tu từ và biện pháp tu từ.

9

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt ñộng lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể trung hoà hay diễn cảm trong một ngữ cảnh rộng ñể tạo ra hiệu quả tu từ. [40, 5] Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản chúng còn có ý nghĩa bổ sung còn gọi là màu sắc tu từ . [40, 5] Tác giả cũng ñưa ra những tiêu chí nhất ñịnh ñể phân biệt 2 khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, những tiêu chí ấy có phần ñồng nhất với ý kiến của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán. Tóm lại, có thể nhận diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ qua sự khái quát sau: Phương tiện tu từ ñược nhận diện ở những ñiểm sau: – Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ. – Là những phương tiện ñược tu sức về mặt tu từ hoặc ñôi khi ñược ñánh dấu về mặt tu từ. [41, 59] – Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp ñộ khác nhau, ñược ñánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp ñộ nào ñó trong ngôn ngữ [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ bị quy ñịnh bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ ñược củng cố ở ngay phương tiện ñó [40, 9]. – Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế ñối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của hệ thống ngôn ngữ. [40, 11] – Phương tiện tu từ mang tính khách quan. Các phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ ñều tồn tại trong ý thức và tiềm thức của người dùng, người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng giống như các tín hiệu từ, các câu nói… người

10

quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy mà cách hiểu ñều giống nhau. Các phương tiện tu từ có tính chất khách quan và mỗi phương tiện ñều có chung một mã giống nhau, ñộc lập với chủ quan người sử dụng. [37, 193] – Các phương tiện tu từ mang tính hữu hạn trong hệ thống. Biện pháp tu từ ñược nhận diện ở những ñiểm sau: – Là cách kết hợp ngôn ngữ ñặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm mục ñích tu từ nhất ñịnh. – Biện pháp tu từ là cách diễn ñạt mới mẻ, ñặc sắc trong những ngữ cảnh cụ thể ñể tạo ra cái hay của ngôn ngữ. – Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các ñơn vị lời nói trong giới hạn của một ñơn vị thuộc bậc cao hơn. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ bị quy ñịnh bởi những quan hệ cú ñoạn giữa các ñơn vị của một bậc hay của các bậc khác nhau. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một ñơn vị lời nói nào ñó. [40, 9] – Biện pháp tu từ ñối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục ñích diễn ñạt lí trí. [40, 142] – Biện pháp tu từ mang tính chủ quan thuộc về lựa chọn kĩ năng diễn ñạt của người viết. – Biện pháp tu từ mang tính vô hạn. Tuy giữa các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ có sự khác biệt rõ rệt như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào ñó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành phương tiện tu từ. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể ñược dùng ñể xây dựng những biện pháp tu từ rất khác nhau. Ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ. Sự phân chia hai phạm trù phương tiện tu từ và biện pháp tu từ cũng chỉ mang tính tương ñối. Điều quan trọng là người sử dụng ngôn ngữ cần ñặt vào hệ

11

thống và tạo ñược sự nhất quán khi xác ñịnh, miêu tả và phân tích các biện pháp tu từ cũng như phương tiện tu từ. Như vậy, có thể nói biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm ñạt hiệu quả trong cách diễn ñạt. Nói cách khác, biện pháp tu từ chú ý ñến khả năng lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, ñộc ñáo trong cách thể hiện, tạo ra sự mới mẻ, lạ hoá. Người sử dụng ngôn ngữ có thể ñạt tới sự sáng tạo khéo léo nếu biết sử dụng các biện pháp tu từ một cách linh hoạt ñể tạo ra hình thức diễn ñạt cho những nội dung cụ thể. Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ ñược kết hợp và căn cứ vào các cấp ñộ ngôn ngữ, các biện pháp tu từ có thể ñược chia ra: Các biện pháp tu từ từ vựng – ngữ nghĩa (ñiệp từ, ñiệp ngữ, liệt kê từ vựng, tăng cấp…); biện pháp tu từ ngữ âm (ñiệp thanh, ñiệp phụ âm ñầu, hài thanh, biến nhịp…); biện pháp tu từ cú pháp (ñảo ngữ, sóng ñôi, phản cú, ñiệp cú, xen kẽ, ñề ngữ, giải ngữ…); biện pháp tu từ văn bản (rút gọn, ñiệp khúc, liên kết, bỏ lửng, nhấn mạnh…). Dựa vào ñối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài, ở chương này, luận văn chỉ tìm hiểu cụ thể vấn ñề lí thuyết biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp – làm cơ sở cho việc triển khai những vấn ñề ở chương 2 và chương 3. 1.2. Lí thuyết về biện pháp tu từ ngữ âm 1.2.1. Biện pháp tu từ ngữ âm Các phương tiện ngữ âm (âm vị, âm tiết) ñược xem là những ñơn vị mang tính một mặt (khác với những ñơn vị mang tính hai mặt như hình vị, từ, câu,…), là vỏ âm thanh – cơ sở vật chất ñể biểu ñạt ý nghĩa nào ñó của ngôn ngữ. Vì ñặc ñiểm ấy mà bản thân các ngữ âm phương tiện ngữ âm chưa thể hiện rõ màu sắc tu từ. Tuy nhiên, hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa luôn là hai mặt song song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nương tựa vào nhau ñể tồn tại, hình thức âm thanh là cái biểu ñạt – phản ánh bản chất của cái ñược biểu ñạt (nội dung ý nghĩa). Vì thế, trong một chừng mực nhất ñịnh, các phương tiện ngữ âm vẫn có thể ñược sử dụng làm chất liệu ñể biểu ñạt hình tượng, cảm xúc mang tính biểu cảm. Khảo sát ñặc ñiểm ngữ âm của các phương tiện ngôn ngữ ñể tạo ra những cách phối hợp hợp lí, có giá

12

trị nghệ thuật là một trong những việc làm cần thiết ñể khai thác tối ña những ưu thế của âm thanh ngôn ngữ. Nếu biết sử dụng những phương tiện ngữ âm một cách hợp lí sẽ mang lại hiệu quả tu từ không nhỏ. Biện pháp tu từ ngữ âm là những cách phối hợp sử dụng khéo léo các âm thanh, ñem ñến cho phát ngôn (thông thường hơn cả là văn bản thơ) một cơ cấu âm thanh nhất ñịnh, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm – cảm xúc nhất ñịnh. [40, 221] Ví dụ: Sử dụng khéo léo các phụ âm có thể tạo ra những giá trị biểu cảm nhất ñịnh. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên Làm cho ñộng ñịa kinh thiên ñùng ñùng Đại quân ñồn ñóng cõi Đông (Nguyễn Du) Sự lặp lại âm “ñ” ở những âm tiết: ñộng ñịa, ñùng ñùng, ñại, ñồn, ñóng, ñông tạo ra sự cộng hưởng ở những âm tiết có phụ âm ñầu hữu thanh, góp phần gia tăng ấn tượng mạnh mẽ về thân thế của một ñại quân. Nói ñến sự tinh tế trong việc phối hợp các yếu tố ngữ âm, người ta cũng thường nhắc ñến hai câu thơ của Tản Đà: Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương Sự phối hợp của các thanh bằng – trắc: câu trên chủ yếu là các âm tiết mang thanh trắc, câu dưới chủ yếu là các âm tiết mang thanh bằng tạo nên sự ñối lập trong tâm trạng của một con người. Bên cạnh ñó, còn phải kể ñến việc sử dụng các phụ âm cuối một cách hiệu quả: các phụ âm cuối tắc vô thanh /p/ trong “thấp” và /t/ trong “uất” tạo nên biểu tượng của sự nghẹn ngào trước cái trớ trêu của số phận ; các phụ âm vang mũi /n/ trong các âm tiết “giang”, “quên”, “hương” tạo nên sự dàn trải, phiêu du ; các âm tiết mở có ñộ vang lớn “hồ, mê, quê” kết hợp với các âm tiết nửa mở “chơi” cùng với 7 thanh bằng (ñối lập với 5 thanh trắc ở trên) góp phần miêu tả một tư tưởng thoát li, một tâm hồn ngao du, thoát tục.

13

1.2.2. Các biện pháp tu từ ngữ âm thông dụng Vỏ âm thanh ngôn ngữ thường ñược xem là các tín hiệu chỉ có một mặt nhưng trong những hoàn cảnh nhất ñịnh hoặc trong những cách diễn ñạt có chủ ñích người ta có thể sử dụng nó như một phương tiện mang màu sắc tu từ, có tính biểu trưng cao, giúp cho sự cộng hưởng ý nghĩa thêm phần sinh ñộng và sâu sắc. Sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm ñể chuyển hoá âm thanh ngôn ngữ một cách khéo léo có thể tạo ra những hiệu quả biểu cảm có giá trị. Chúng ta thường gặp các biện pháp tu từ ngữ âm như: hài thanh, hài âm, ñiệp âm, biến nhịp, ñiệp khúc… 1.2.2.1. Biện pháp hài thanh Hài thanh là biện pháp tu từ ngữ âm nhằm hài hoà các mặt ñối lập về thanh ñiệu: cao/thấp; gãy /không gãy, tức là ñối lập âm vực và ñường nét thanh ñiệu. [37, 93] Biện pháp hài thanh chủ yếu phát huy tác dụng trong những tác phẩm thơ bởi thơ ca tiếng Việt luôn chú ý ñến tính nhạc, có thể xem ñây là một trong những tiêu chí quan trọng ñể góp phần làm nên một bài thơ hay, nhất là những bài thơ ñược quy ñịnh bởi tính chất niêm luật chặt chẽ về cả vần và ñiệu. Ví dụ: Gió sao là lạ. Mây khang khác Không hiểu hay là nhịp cuối năm Hôm qua thì tiếc. Mai thì sợ Tuột cương. Trăng cũ lại trăng rằm ! (Cuối năm – Hữu Thỉnh) Các vế của câu thơ và giữa các câu thơ với nhau có sự hài hoà về thanh: âm vực thấp với âm vực cao (là lạ – khang khác – năm – tiếc – sợ – cương – rằm), các âm tiết ñi từ âm tiết mở ñến ñóng ñến nửa ñóng, từ âm có ñộ vang ít ñến âm có ñộ vang nhiều kết hợp với các dấu chấm câu bất thường ở giữa câu và mỗi chỗ xuống dòng ñều góp phần diễn tả tâm trạng hồi hộp, lo âu, giật mình trước tốc ñộ của nhịp sống. Trong văn xuôi, sự hài hoà thanh ñiệu không yêu cầu chặt chẽ như trong thơ , nhưng nếu có sự hài hoà ấy thì câu văn thêm phần sinh ñộng.

14

Ví dụ: Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn ñức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành ñất. Thiếu một ñức, thì không thành người. [18, 631] Với ngắt nhịp ñều ñặn của các cấu trúc sóng ñôi kết hợp với sự phối hợp các thanh của mỗi âm tiết cuối ngữ ñoạn ñã tạo nên hài hoà, cân ñối cho các câu văn. Có khi các âm tiết ñi liền nhau có sự nhịp nhàng với nhau (Xuân, Hạ, Thu, Đông, Đông, Tây, Nam, Bắc, Cần – Kiệm – Liêm – Chính), có khi các âm tiết ñứng xa nhau nhưng vẫn có cân xứng nhờ sự luân phiên các thanh bằng trắc của các âm tiết (mùa – phương – Bắc – ñức – trời – ñất – người), các âm tiết mở kết hợp với âm tiết ñóng (mùa – trời – người – phương- bắc – ñức – ñất), các âm tiết kết thúc bằng phụ âm vang hữu thanh ñi liền nhau (Cần, Kiệm, Liêm, Chính) tạo sự vang vọng, các âm tiết ñóng ñứng cạnh nhau (bắc – ñức – ñất) tạo sự gân guốc, dứt khoát trong lời nói. 1.2.2.2. Biện pháp hài âm Hài âm là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta cố ý sử dụng một cách tổng hợp các biện pháp tu từ ngữ âm nhằm tạo nên một sự phù hợp giữa hiệu quả biểu cảm – cảm xúc của hình tượng âm thanh với nội dung biểu cảm của câu thơ. [40, 226] Biện pháp hài âm chú ý ñến sự hài hoà các mặt ñối lập của âm tiết như : mở /ñóng, cao /thấp, ngắn/dài, mạnh /yếu, trầm/bổng,… ở những vị trí nhất ñịnh ñể tạo âm hưởng (ñiểm nhấn thường là những âm tiết ñứng ở cuối câu). Tính chất hài hoà này không chỉ thể hiện ở những câu thơ, lời văn riêng lẻ mà nó còn góp phần tạo ra ñặc trưng về giọng ñiệu cho cả ñoạn, cả bài. Ví dụ: Đời Trần, quân Nguyên ñánh ñâu ñược ñấy, ñánh ñược nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo ñánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ ñã ñánh ñuổi quân Tàu làm cho nước ta ñộc lập. Người già như ông Lí Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn ñánh ñông dẹp bắc, bao nhiêu lần ñuổi giặc cứu dân.

15

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương, chưa ñến 10 tuổi, mà ñã ra tay cứu nước, cứu nòi, Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi ñã giúp ông Trần Hưng Đạo ñánh phá giặc Nguyên. Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang sơn. Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên ñộng ñịa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta ñược tự do ñộc lập, lừng lẫy ở Á Đông. [16, 216] Trong ví dụ trên, người viết ñã sử dụng tổng hợp các mặt biểu ñạt âm thanh của ngôn từ ñể tạo ra sự hài hoà về âm thanh cho văn bản. 1.2.2.3. Biện pháp ñiệp âm Điệp âm là biện pháp cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào ñó (phụ âm ñầu, vần hoặc thanh) ñể tạo ra sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô ñậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, ñồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính. a. Điệp phụ âm ñầu Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm ñầu ñể tạo ra sự trùng ñiệp về âm hưởng, tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ. Tuỳ theo ñặc ñiểm của phụ âm ñầu ñược chọn làm phương tiện mà nó có thể gợi những liên tưởng tinh tế khác nhau. Ví dụ: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên Sự lặp lại các cặp phụ âm ñầu n-n (nỗi niềm), m-m(mà mưa), x-x (xối xả), tr-tr (trắng trời), th – th (Thừa Thiên) một cách liên tiếp, gối ñầu lên nhau tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về những cơn mưa triền miên, dai dẳng, khắc sâu thêm tâm trạng ñau ñáu của tác giả về Huế. b. Điệp vần Điệp vần là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta cố ý tạo ra sự trùng ñiệp về âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần giống nhau, nhằm mục ñích tăng sức biểu cảm, tăng nhạc tính cho câu thơ [40, 223].

16

Ví dụ: Cách ñiệp vần “ang” trong câu thơ: Lá bàng ñang ñỏ ngọn cây/ Sếu mang giang lạnh ñang bay ngang trời ñã thêm sức cộng hưởng cho hình ảnh khung cảnh trời ñất bao la, khoáng ñạt ñến vô cùng trong cảnh xuân sang. c. Điệp thanh Điệp thanh là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta sử dụng lặp lại các thanh ñiệu cùng nhóm (bằng/trắc) ñể tạo ra sự cộng hưởng về ý nghĩa, tăng tính nhạc cho câu thơ. Ví dụ:

Mục ñích thi ñua ái quốc là gì ? Diệt giặc ñói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm… [18, 444]

Sự xuất hiện liên tục các thanh trắc trong một ngữ ñoạn lớn: Diệt giặc ñói khổ/Diệt giặc dốt nát/Diệt giặc ngoại xâm,… ñã tạo ra hơi văn ñặc biệt, góp phần nhấn mạnh mục ñích của việc “thi ñua ái quốc” ñặt ra ñồng thời thể hiện ý chí mạnh mẽ của người phát ngôn. 1.2.2.4. Biện pháp tạo nhịp ñiệu Tạo nhịp ñiệu là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong văn xuôi chính luận, trong ñó người ta cốt tạo nên một âm hưởng hấp dẫn bằng những hình thức cân ñối, nhịp nhàng của lời văn, nhằm làm cho lí luận có sức thuyết phục mạnh mẽ. [40, 228] Ví dụ: Trong Việt Minh, ñồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo… [16, 553]: nhịp ñiệu của những từ ñơn tiết phản nghĩa ñối nhau ñã tạo nên âm hưởng cho câu văn. Nhịp ñiệu của những cụm từ, những vế, những ñoạn câu ñối nhau cũng tạo nên âm hưởng riêng cho lời văn: Bất kì ñàn ông, ñàn bà, người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, ñảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải ñứng lên ñánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng

17

gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước. [17, 480] 1.2.2.5. Biện pháp tạo âm hưởng Biện pháp tạo âm hưởng là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật, trong ñó người ta phối hợp âm thanh, nhịp ñiệu của câu văn không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân ñối, nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, du dương, mà cao hơn thế, phải tạo ra một âm hưởng hoà quyện với nội dung hình tượng của câu văn. [40, 230] Ví dụ: Mỗi người dân Việt Nam, bất kì già, trẻ, trai, gái; bất kì giàu, nghèo, lớn, nhỏ, ñều phải trở nên một chiến sĩ ñấu tranh trên một mặt trận : Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Trong cuộc thi ñua ái quốc, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả ñầu tiên của cuộc thi ñua ái quốc là: Toàn dân sẽ ñủ ăn ñủ mặc, Toàn dân sẽ biết ñọc biết viết Toàn bộ ñội sẽ ñầy ñủ lương thực khí giới, Để giết giặc ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất ñộc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc ñộc lập Dân quyền tự do Dân sinh hạnh phúc [18, 444] Âm hưởng của ñoạn văn trên ñược tạo ra từ nhiều yếu tố: cách liệt kê các thành phần ñẳng lập, cách ngắt dòng, cách tách câu, sử dụng cấu trúc lặp và cách sử dụng các câu dài ngắn khác nhau, nhịp ñiệu có khi dàn trải, khi tăng tốc, khi mau

18

Luận Văn Luận Văn Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh

1.1. Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn ñề thuộc vềtừ vựng học, nghiên cứu những vấn ñề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữâm và ngữ pháp góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ mộtcách toàn diện, tạo ra diện mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các ñơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện khác nhau, các ñơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh ñộng, mới mẻ và chứa ñựng nhiều nội dung thú vị. Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một vấn ñề nhận ñược nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu từ – ñược thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự ña dạng trong cách diễn ñạt, cảm nhận rõ vẻ ñẹp của tiếng Việt. Từ ñó, người sử dụngngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống, toàn vẹn và hoàn chỉnh hơn ở nhiều góc ñộ khác nhau. 1.2. Trong sự nghiệp lớn lao của Hồ Chí Minh – có một di sản ñặc biệt biệt ñể lại cho dân tộc, ñó là sự nghiệp trước tác. Người ñã ñể lại cho chúng ta một sự nghiệp trước tác lớn lao về tầm vóc, phong phú ña dạng về thể loại và ñặc sắc về phong cách sáng tác. [43, 419] Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc ñăng trên báo Người cùng khổ, Nhân ñạo, Đời sống thợ thuyềnñã tác ñộng và ảnh hưởng lớn ñến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc ñịa, kêu gọi thức tỉnh nhân dân nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận ñấu tranh chung. “Văn chương Hồ Chí Minh ñã kết hợp ñược sự sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng vànghệ thuật, giữa truyền thống và hiện ñại. Mỗi loại hình văn học của người ñều cóphong cách riêng, ñộc ñáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. Hồ Chí Minh là người ñầu tiên sử dụng có hiệu quả 2 cao thể văn chính luận hiện ñại. Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang cốt cách, ñặc ñiểm của văn chính luận hiện ñại của giai cấp vô sản”. Vì thế, văn chính luận của Người ñược ñộc giả và giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau. 1.3. Nghiên cứu các biện pháp tu từ trên mặt ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh là vấn ñề giúp chúng tôicó thể tiếp cận, tìm hiểu thêm một phương diện mới về phong cách viết văn của Người.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp. trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!