Đề Xuất 2/2023 # Hội Thảo Về Giải Pháp Bvmt, Bền Vững Các Cụm Công Nghiệp # Top 9 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Hội Thảo Về Giải Pháp Bvmt, Bền Vững Các Cụm Công Nghiệp # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hội Thảo Về Giải Pháp Bvmt, Bền Vững Các Cụm Công Nghiệp mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tại hội nghị các đại biểu đã được nghe báo cáo tình hình hoạt động, công tác bảo vệ môi trường các cụm công nghiệp và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững các cụm công nghiệp ở nước ta.

Trong báo cáo nêu rõ, đến năm 2020 cả nước quy hoạch 1.582 cụm công nghiệp, tổng diện tích 51.635 ha. Diện tích trung bình mỗi cụm công nghiệp là 32 ha. Vùng có số cụm công nghiệp nhiều nhất là Đồng bằng sông Hồng (457 cụm), vùng ít nhất là Tây Nguyên (65 cụm).

Đến nay, cả nước đã thành lập 807 cụm công nghiệp với tổng diện tích 26.605 ha. Trong đó, có 264 cụm công nghiệp do doanh nghiệp làm chủ đầu tư; 224 cụm công nghiệp do Trung tâm phát triển cụm công nghiệp làm chủ đầu tư; 158 cụm công nghiệp do Ban quản lý cụm công nghiệp cấp huyện làm chủ đầu tư.

Vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm chính là công tác bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp. Việc phát triển kinh tế luôn đồng hành cùng với sức ép về môi trường. Do đó, bên cạnh việc chú trọng quan tâm tới sản xuất thì Nhà nước, Chính phủ cũng đặt việc bảo vệ môi trường lên hàng đầu.

Thế nhưng, hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp.

Thực trạng phát triển cụm công nghiệp thiếu quy hoạch đồng bộ, nôn nóng, nhiều cụm công nghiệp không xác định rõ chỉ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, không xây dựng cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường tối thiểu trước khi chấp thuận cho doanh nghiệp vào đầu tư dẫn tới tình trạng cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, không hấp dẫn các nhà đầu tư và gây ô nhiễm môi trường.

Qua kiểm tra tại 139 cụm công nghiệp thì phát hiện 38 cụm vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, 24 cụm có biện pháp khắc phục vi phạm. Một số lỗi vi phạm phát hiện khi các cơ quan tiến hành kiểm tra như: Không có hệ thống xử lý nước thải chung của cụm công nghiệp, xả không đạt tiêu chuẩn, vị trí xả thải không đúng như báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt, không thực hiện quan trắc định kỳ, không bố trí khu vực lưu trữ tạm thời chất thải nguy hại, không thực hiện giám sát tại một vị trí nước thải…

Qua hội nghị, các thành viên cũng đã đề xuất một số nhóm giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững các cụm công nghiệp ở nước ta như nhóm giải pháp về thể chế như: Đối với Quốc hội- cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu qua công tác giám sát của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn Đại biểu Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường và việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với cụm công nghiệp.

Đối với UBND các tỉnh, thành phố-xây dựng ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, thu hút đầu tư, trước mắt cần tập trung ưu tiên hỗ trợ đầu tư hạ tầng thiết yếu, hệ thống xử lý môi trường.

” Đa số các cụm công nghiệp không nắm bắt được các quy định của pháp luật về môi trường dẫn đến những sai phạm, thiếu sót trong quản lý, thực hiện các công tác bảo vệ môi trường như: Thiếu hồ sơ môi trường, không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc có hệ thống xử lý nhưng không hoạt động, thu gom, xử lý chất thải rắn không đúng quy định, lưu trữ chất thải nguy hại không đúng hướng dẫn của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường về quản lý chất thải nguy hại “- Bà Nguyễn Thị Hoa, Phó phòng Quản lý Cụm công nghiệp – Bộ Công Thương nhấn mạnh tại báo cáo.

Hội Thảo “Các Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Đại Học Ngoài Công Lập Ở Việt Nam Đến Năm 2030”.

(ĐH Hòa Bình) – Ngày 14/06/2019, tại Trường Đại học Hòa Bình chủ trì tổ chức Hội thảo “Các giải pháp phát triển bền vững giáo dục Đại học ngoài công lập ở Việt nam đến năm 2030”.

Chủ nhiệm đề tài:”Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững các trường Đại học ngoài công lập ở Việt Nam” – PGS. TS. Trần Quang Quý – Nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam.

Tham dự Hội thảo có chúng tôi Trần Hồng Quân – Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam; TS. Nguyễn Đắc Hưng – Vụ trưởng Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề (Ban Tuyên giáo Trung ương); chúng tôi Nguyễn Thị Kim Phụng – Vụ trưởng vụ Giáo dục Đại học ( Bộ Giáo dục & Đào tạo); chúng tôi Trần Xuân Nhĩ – Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam và các nhà khoa học từ Viện nghiên cứu, trường Đại học, các cơ quan báo chí truyền thông đến đưa tin về hội thảo. Về phía trường Đại học Hòa Bình có TS. Nguyễn Văn Ngữ – Chủ tịch Hội đồng nhà trường; chúng tôi Tô Ngọc Hưng – Hiệu trưởng Nhà trường cùng các lãnh đạo Nhà trường, cán bộ các Phòng, Khoa, Giảng viên, sinh viên.

PGS.TS Trần Quang Quý – Chủ nhiệm đề tài phát biểu Chào mừng Hội thảo

Các nội dung chủ yếu được các nhà khoa học trình bày trong hội thảo như: Quan điểm mục tiêu, định hướng giải pháp bền vững giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam đến năm 2030; Xây dựng phát triển đối tác công/tư trong giáo dục đại học; Mô hình đảm bảo chất lượng cho các trường đại học ngoài công lập; Giải pháp đẩy mạnh truyền thông về đại học ngoài công lập; Những lợi thế, bất cập và giải pháp đảm bảo phát triển bền vững hệ thống các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam…

Sau khi nghe các nhà khoa học thuyết trình, chúng tôi Nguyễn Thị Kim Phụng – Vụ trưởng vụ giáo dục đại học cũng đã phát biểu: “Từng trường và hệ thống các trường Đại học ngoài công lập của chúng ta cũng cần xác định được các mục tiêu phù hợp. Với nguồn lực của Nhà nước như hiện nay thì việc huy động nguồn lực xã hội, đẩy mạnh đối tác công tư để phát triển hệ thống ngoài công lập mới là thành công của phát triển giáo dục đại học”. Hơn nữa, Các trường đại học ngoài công lập cần tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và kết nối doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo và uy tín của hệ thống các trường đại học ngoài công lập. Xây dựng lộ trình thực hiện các cam kết đáp ứng yêu cầu chung về trường đại học. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả công tác quản trị đại học.

PGS.TS Trần Quang Quý và TS. Nguyễn Văn Ngữ chủ trì Hội thảo

Cũng trong Hội thảo, GS. TS. Trần Hồng Quân – Chủ tịch Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam đã nêu những khó khăn, trở ngại trên con đường phát triển của các trường Đại học ngoài công lập. Cần tạo được động lực mạnh mẽ, đúng đắn, cơ chế phù hợp để huy động mọi nguồn lực của xã hội cho sự phát triển hiệu quả của cả hệ thống giáo dục quốc dân.

Các Đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại trường ĐH Hòa Bình Thực hiện: Đức Phúc – Văn Bình Ảnh: Đức Phúc – Văn Bình

Đại học ngoài công lập đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển giáo dục đại học, mỗi trường có sứ mạng riêng và tham gia hệ thống giáo dục đại học, cung cấp nguồn nhân lực theo các phân khúc khác nhau của thị trường. Đề tài cũng nghiên cứu các phương pháp khoa học (thống kê, mô hình hóa, phân tích, đối sánh…) để tìm ra lời giải cho bài toán này bằng các đề xuất kiến nghị cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý để xây dựng môi trường tích cực, bình đẳng cho đại học ngoài công lập phát triển bền vững trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Giáo dục được xác định là một lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực đầu tư cho phát triển, với sự tham gia của nhiều chủ thể, nhiều thành phần kinh tế trong xã hội. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp các luận cứ khoa học trong việc điều chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, tạo điều kiện cho các trường đại học ngoài công lập thu hút nguồn lực, tạo môi trường bình đẳng trong cạnh tranh, phát triển bền vững.

Hội thảo kết thúc thành công tốt đẹp và nhận được nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, phản hồi tích cực từ các nhà khoa học tham dự. Các giải pháp, các chính sách về quản lý, đảm bảo chất lượng và phát huy hiệu quả để phát triển bền vững các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam.

Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Doanh Nghiệp Nông Nghiệp

Dưới tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong những năm qua xuất khẩu Việt Nam nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng có sự phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng GDP.

Chúng ta cũng chịu sự cạnh tranh gay gắt của các nước có lợi thế về hàng hóa nông sản xuất khẩu tương tự như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia… Phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu, nhất là các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc EU. Rào cản lớn nhất là phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt của nước nhập khẩu như chất lượng, sự đa dạng, cam kết về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hợp pháp…

Nông sản Việt cơ bản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, chưa qua chế biến nên giá trị gia tăng không nhiều, không bán được giá cao. Các doanh nghiệp (DN), cơ sở chế biến còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về công nghệ. Số DN có dây chuyền sản xuất, chế biến hiện đại còn ít, chỉ chiếm khoảng 20-30%.

Nguồn hàng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào thời vụ, số lượng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, chất lượng sản phẩm không đồng đều, không đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Các sản phẩm hữu cơ (organic) chiếm tỷ lệ rất nhỏ, mặc dù đây là xu hướng tiêu dùng của thế giới, được người tiêu dùng ưa chuộng dù giá cả cao hơn các sản phẩm thông thường.

Các hạn chế, yếu kém trên là nguyên nhân cơ bản của tình trạng “được mùa mất giá”, “được giá mất mùa”, làm cho người nông dân lao đao, mất định hướng trong việc “trồng cây gì”, “nuôi con gì” và nuôi trồng bằng giống nào, cách nào, phương thức nào, bán hàng cho ai? Vì thế, khi các FTA có hiệu lực, có những mặt hàng thuế nhập khẩu giảm về 0% đối với một số thị trường nhưng các nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn chưa thể thâm nhập.

Mục tiêu xuất khẩu bền vững

Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra mục tiêu: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”.

Việt Nam đang thực hiện 13 FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới mang lại rất nhiều cơ hội cho xuất khẩu nông sản sang các thị trường lớn và tiềm năng như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Để có thể tận dụng được các cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại, cần phát huy tối đa thế mạnh về các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, xây dựng quy trình chuẩn cho sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ (organic) chủ lực. Theo đó, Nhà nước (các bộ ngành, địa phương) đặt hàng các cơ quan, tổ chức (trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp…) xây dựng quy trình chuẩn cho việc sản xuất các nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Quy trình này cần nghiên cứu nhu cầu thị trường quốc tế và tiềm năng của Việt Nam, xác định mặt hàng nông sản chủ lực, thị trường chính và tiềm năng, đối thủ cạnh tranh, xây dựng chiến lược phát triển nguồn hàng nông sản organic (bao gồm công tác quy hoạch vùng nguyên liệu, giống cây con, phương thức canh tác, thu hoạch, chế biến…).

Xây dựng thương hiệu sản phẩm và chiến lược phát triển thương hiệu ở các thị trường mục tiêu. Đầu tư dây chuyền công nghệ cho việc chế biến các sản phẩm bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, không hóa chất, không độc hại. Xác định các yếu tố cần thiết để bảo đảm sản phẩm sau chế biến có thể đạt được các chứng chỉ quốc tế về chất lượng sản phẩm.

Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để hỗ trợ việc thực hiện quy trình sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ chủ lực, trước hết là cơ chế, chính sách tạo nguồn hàng xuất khẩu. Cụ thể, cần quy hoạch các vùng sản xuất, nuôi trồng tập trung các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với thế giới và xu hướng tiêu dùng của thế giới; lợi thế so sánh của các vùng, miền, địa phương; bảo đảm cung cấp đủ nguồn hàng cho sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu ở quy mô sản xuất lớn.

Đặt hàng xây dựng các quy trình chuẩn sản xuất nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực (đề cập ở phần trên) và chuyển giao quy trình cho DN thực hiện. Tạo điều kiện tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô lớn (từ hàng trăm đến hàng nghìn hecta) cho việc đầu tư nhà máy sản xuất chế biến tập trung, nuôi trồng các loại cây con được xác định là mặt hàng nông sản xuất khẩu hữu cơ chủ lực.

Xây dựng các thương hiệu quốc gia

Về cơ chế, chính sách xây dựng thương hiệu nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam, Nhà nước cần sớm bổ sung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam đối với hàng hóa nông sản theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn thế giới, phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý… đối với nông sản xuất khẩu chủ lực. Nhân rộng mô hình sản xuất nông sản theo các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP, HACCP…

Có chiến lược bài bản xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xuất khẩu nông sản vì hiện nay đây là khâu yếu nhất trong xuất khẩu nông sản, chủ yếu do các DN thực hiện dẫn tới tình trạng mặc dù hàng hóa nông sản Việt Nam có chất lượng tốt, giá cạnh tranh nhưng không được người tiêu dùng quốc tế biết đến, không xuất khẩu được ra thế giới.

Việc Nhà nước xây dựng “Thương hiệu quốc gia” nông sản xuất khẩu chủ lực không có nghĩa là Nhà nước bỏ tiền làm thay DN mà Nhà nước cùng với DN phối hợp thực hiện một cách chiến lược, bài bản việc xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho các nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Nhà nước sẽ là “bà đỡ”

Về cơ chế, chính sách xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, cần huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng các trung tâm logistics ở các địa bàn đầu mối trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của DN. Nghiên cứu việc thành lập các kho ngoại quan, trung tâm logistics ở nước ngoài để hỗ trợ DN tập kết, phân phối hàng hóa đến các thị trường quốc tế với chi phí thấp.

Xây dựng các chương trình quảng bá hình ảnh quốc gia, xúc tiến thương mại quốc gia với các thị trường trọng điểm (như Mỹ, Ấn Độ, EU…) và các thị trường tiềm năng sau khi các FTA được ký kết. Việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia cần tập trung vào từng mặt hàng, từng thị trường, tránh tình trạng dàn trải, thiếu chiều sâu như hiện nay. Nhà nước giao nhiệm vụ cho các cơ quan đại diện ngoại giao, thương vụ Việt Nam ở nước ngoài nhiệm vụ xúc tiến thương mại, chắp mối kinh doanh và có cơ chế, chính sách khuyến khích đối với hoạt động này (chẳng hạn được phép nhận hoa hồng khi tư vấn, chắp mối kinh doanh hiệu quả cho DN).

Hỗ trợ và hướng dẫn DN tận dụng các cơ hội của các FTA mang lại, nhất là các hiệp định vừa ký kết như CPTPP, EVFTA về ưu đãi thuế quan, cơ hội thị trường. Thông tin kịp thời cho DN về các rào cản thương mại, hệ thống quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn thị trường nhập khẩu để DN chủ động phòng tránh nguy cơ dẫn đến các vụ điều tra phòng vệ thương mại, các vi phạm về kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các thị trường có yêu cầu khắt khe về điều kiện nhập khẩu hàng nông sản.

Xây dựng và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa “5 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng (ngân hàng, các tổ chức tín dụng) và nhà nông trong quá trình sản xuất và xuất khẩu các nông sản hữu cơ chủ lực.

Với các giải pháp trên, Nhà nước thực hiện đúng vai trò “Chính phủ kiến tạo” hướng dẫn, hỗ trợ, là “bà đỡ” cho DN và các hộ nông dân trong quá trình sản xuất và xuất khẩu nông sản chủ lực Việt Nam. Đầu tư công của Nhà nước có hiệu quả hơn, thể hiện qua việc đổi mới cách thức đầu tư vào khoa học công nghệ, công tác quy hoạch, huy động hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội, cải cách hành chính hướng tới hỗ trợ người dân và DN ngày càng tốt hơn.

Đặng Đức Thành

Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Bvmt

Thứ tư – 28/10/2015 10:12

Kiện toàn tổ chức bộ máy

Bao gồm:

– Tiếp tục kiện toàn, củng cố hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BVMT từ cấp tỉnh đến cấp xã, bảo đảm ở cấp huyện có cán bộ lãnh đạo phụ trách bộ phận quản lý môi trường, cấp xã có cán bộ phụ trách công tác BVMT;

– Rà soát, làm rõ nội dung, xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo, vướng mắc, phân tán trong phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước, tập trung đầu mối quản lý nhà nước về BVMT.

Tăng cường công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Bao gồm:

– Chú trọng phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng, kiến thức quản lý, ngoại ngữ bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về BVMT trong thời kỳ mới;

– Tăng cường phát triển nguồn nhân lực quản lý môi trường ở các doanh nghiệp.

Phát triển khoa học công nghệ

– Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về môi trường, phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong BVMT, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh;

– Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ về BVMT, xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, sự cố môi trường và BĐKH;

– Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, dự báo, cảnh báo về tài nguyên, môi trường. Hiện đại hóa trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, đánh giá về môi trường;

– Tăng cường quan hệ hợp tác, tham gia tích cực các diễn đàn về khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực môi trường;

– Xây dựng cơ chế, chính sách trợ giá; khuyến khích người dân tiêu dùng, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng năng lượng sạch, tái tạo, các sản phẩm tái chế nhằm hỗ trợ ngành kinh tế môi trường phát triển;

– Triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, xây dựng luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách, kế hoạch về BVMT của tỉnh;

– Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ trong xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường, tăng cường áp dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực BVMT. Tăng cường các trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá về BVMT.

– Có lộ trình thay thế xăng A92 bằng xăng sinh học E5.

12.3.4. Thực hiện giải pháp thúc đẩy, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa phương và song phương

Bao gồm:

– Hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực để giải quyết các vấn đề môi trường liên quốc gia;

– Tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế và khu vực vì môi trường, ứng phó BĐKH; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, chương trình, dự án song phương và đa phương về BVMT phù hợp với lợi ích quốc gia;

– Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản lý môi trường, BVMT tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiết kiệm năng lượng vận dụng, áp dụng vào địa phương;

– Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho công tác BVMT, ứng phó BĐKH.

Tăng cường công tác đầu tư phát triển, nâng cao năng lực về cơ sở vật chất

Bao gồm:

– Đa dạng hóa đầu tư BVMT, thực hiện các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư BVMT; triển khai mạnh mẽ mô hình hợp tác công – tư (PPP); thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay ưu đãi, vốn hỗ trợ phát triển từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ cho BVMT ở địa phương, đặc biệt là trong việc khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH;

– Tăng cường nguồn vốn đầu tư cơ bản cơ sở hạ tầng về xử lý môi trường cho tỉnh Quảng Trị, đặc biệt là đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị, hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN, CCN, xử lý rác thải;

– Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT; phát triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác BVMT với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế;

– Thành lập và tăng cường năng lực cho Quỹ BVMT của tỉnh nhằm thu hút nguồn lực để hỗ trợ kịp thời cho các hoạt động BVMT;

– Tăng cường năng lực cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Chi cục BVMT; năng lực quan trắc môi trường cho Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường;

– Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; phát huy vai trò, trách nhiệm của ngành tài nguyên và môi trường trong phân bổ, giám sát các nguồn chi ngân sách cho BVMT, bảo đảm nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường được sử dụng gắn với trách nhiệm BVMT; bảo đảm mức và cơ cấu đầu tư cho BVMT hợp lý trong đầu tư phát triển, trong sản xuất, kinh doanh.

Thực hiện đổi mới phương thức vận hành và cải cách hành chính

Bao gồm:

– Tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT;

– Hoàn thiện và cải tiến bộ thủ tục hành chính về môi trường từ cấp tỉnh đến cấp huyện theo quy định của Luật BVMT năm 2014, đảm bảo hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính;

– Xây dựng, hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường nhằm thống nhất quản lý, lưu trữ dữ liệu, liên kết cơ sở dữ liệu quản lý môi trường giữa cấp tỉnh và cấp huyện phục vụ đắc lực cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn;

– Đẩy mạnh áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo Tiêu chuẩn ISO 14000 trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hội Thảo Về Giải Pháp Bvmt, Bền Vững Các Cụm Công Nghiệp trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!