Đề Xuất 12/2022 # Hội Nông Dân Tham Gia Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Hội Nông Dân Tham Gia Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hội Nông Dân Tham Gia Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Báo cáo tình hình nông dân và hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam tại buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ (Ngày 21/ 4/ 2015)

09:23 – 11/05/2015

     HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                   Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015                         *             Số 25-BC/HNDTW

BÁO CÁO

Tình hình nông dân và hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam

(Tài liệu báo cáo tại buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ, ngày 21 tháng 4 năm 2015)

 

I- Khái quát tình hình nông dân Nông dân nước ta hiện nay chiếm gần 70% dân số và khoảng 50% lực lượng lao động xã hội. Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân khẳng định vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dưng nông thôn mới, cùng với nhân dân cả nước tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tự lực, tự cường, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo đã tạo nên những thành tựu khá toàn diện trên mặt trận sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu thì kinh tế nông nghiệp luôn là trụ đỡ, là nhân tố tạo sự ổn định cho phát triển đất nước, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng ổn định, bền vững, đến năm 2014 đã chặn được đà tụt giảm tăng trưởng nông nghiệp; bảo đảm an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm; đời sống của nhân dân, trong đó đại bộ phận là nông dân được cải thiện. Nông dân phấn khởi trước những thành tựu to lớn của đất nước sau gần 30 năm đổi mới, đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. Nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ; tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân như: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào “cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; hỗ trợ xây dựng mô hình cánh đồng lớn; hỗ trợ giảm nghèo bền vững cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật; chính sách tín dụng cho vay lãi suất ưu đãi giúp nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; Chính phủ kịp thời triển khai gói 16.000 tỷ đồng hỗ trợ cho ngư dân vay đóng tàu đánh cá xa bờ, đóng tàu và nâng cấp thiết bị cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư… Nông dân phấn khởi về Hiến pháp sửa đổi và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII thông qua, đây là sự kiện trọng đại đối với đất nước, nhân dân nói chung và nông dân nói riêng. Đặc biệt, cán bộ, hội viên và nông dân rất phấn khởi khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020; Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/01/2009 về việc phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định 1045/QĐ- TTg, ngày 7/7/2010 về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015; Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 về việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân… Những chủ trương, chính sách đó đã đi nhanh vào cuộc sống, động viên đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, có được cơ chế, chính sách, nguồn lực, là công cụ, điều kiện để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập; góp phần đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, tâm trạng nông dân vẫn còn nhiều băn khoăn, bức xúc khi một số chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thực sự vào cuộc sống và chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân. Nông dân chưa được hưởng lợi tương xứng với những công sức lao động cũng như những chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra; còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, thể hiện ở một số vấn đề sau: -  Vốn đầu tư xã hội vào nông nghiệp, nông thôn nhất là khu vực sản xuất, kinh doanh còn thấp so với nhu cầu, nông dân thiếu và khó tiếp cận vốn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật và thị trường để đầu tư phục vụ sản xuất hàng hóa tập trung. Tổ chức sản xuất phân tán, manh mún, quy mô nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, hiệu quả thấp; sản xuất mang tính tự phát, chưa có sự phối hợp, hướng dẫn chung về định hướng và quy hoạch vùng sản xuất cho từng loại sản phẩm. Trình độ sản xuất, quản lý của người nông dân chưa đáp ứng kịp theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Tiềm lực sản xuất, tiềm lực kinh tế của hộ nông dân còn thấp, thiếu thông tin thị trường và kiến thức về pháp luật. – Việc nông dân liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn rời rạc, chưa chặt chẽ. Vấn đề tiêu thụ nông sản nhất là ở vùng chuyên canh đang còn gặp nhiều khó khăn; chính sách thu mua tạm trữ gạo, hỗ trợ tiêu thụ nông sản hàng hóa, chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, còn rơi vãi ở khâu trung gian, nằm ở các doanh nghiệp; nông dân không tự quyết định được giá bán nông sản của mình làm ra, mà do thương lái quyết định nên vẫn bị thương lái ép giá. – Một bộ phận nông dân không thiết tha, mặn mà với đồng ruộng. Tình trạng nông dân bỏ ruộng, bỏ chăn nuôi, thậm trí chăn nuôi còn bỏ đói, cầm chừng để đi làm việc khác có thu nhập cao hơn còn diễn ra ở một số nơi. Nông dân ở một số nơi bị thu hồi đất và tái định cư chưa có việc làm ổn định, nơi ở mới chưa bằng nơi ở cũ; đời sống còn gặp nhiều khó khăn nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa… – Một bộ phận nông dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; không muốn thoát ra khỏi hộ nghèo, xã nghèo, thậm trí có nơi còn luân phiên nhau làm hộ nghèo để được hưởng chính sách hỗ trợ. Nông dân băn khoăn về tiêu chí hộ nghèo hiện nay mới chỉ dựa vào thu nhập là chưa đủ mà còn phải phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của hộ gia đình như nhà ở, điều kiện y tế, giáo dục… – Tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội cờ bạc, ma túy, mại dâm; tình trạng bạo lực gia đình ở nông thôn còn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức lễ hội chưa được quản lý chặt chẽ, việc lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín, dị đoan, đồng cốt, bói toán trục lợi còn diễn ra ở nhiều nơi, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa của dân tộc, nhưng việc xử lý, ngăn chặn còn hạn chế. – Tình trạng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn gia súc kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống nông dân; ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp, các làng nghề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp; ô nhiễm nguồn nước… còn diễn ra ở nhiều nơi nhưng việc xử lý, ngăn chặn còn hạn chế, gây bức xúc trong nhân dân ở nhiều địa phương.  II- Một số hoạt động chủ yếu của Hội Nông dân Việt Nam Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các cấp Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; lấy lợi ích thiết thân mà trước hết là lợi ích kinh tế để tập hợp nông dân vào tổ chức Hội; gắn kết chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, vận động, đoàn kết, tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ hội viên, nông dân giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, đạt được một số kết quả chủ yếu sau. 1- Công tác tuyên truyền Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 19- NQ/HNDTW về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới. Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội khác. Nội dung tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hiến pháp nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai 2013 (sửa đổi), về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; phổ biến, nâng cao kiến thức về pháp luật, kinh tế, xã hội, an  ninh, quốc phòng. Tuyên truyền các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hình tiên tiến, phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ; giáo dục truyền thống, đạo đức cách mạng gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”… Hội Nông dân Việt Nam đã ra Tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc hạ đặt trái phép Giàn khoan Hải Dương 981-HD vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước ta; đồng thời, ban hành văn bản chỉ đạo, định hướng nội dung tuyên truyền trong toàn hệ thống Hội. Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước. 2- Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội Các cấp Hội thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội và chất lượng hội viên; đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi, tổ Hội theo hướng thiết thực hiệu quả gắn với sản xuất và đời sống của hội viên. Thông qua hoạt động của các tổ, nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổ tín dụng tiết kiệm, tổ hùn vốn làm nhà, tổ đoàn kết bám biển, các câu lạc bộ nông dân, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư….đã đem lại lợi ích thiết thực cho hội viên; qua đó, đã tập hợp được rộng rãi nông dân và nông dân ngày càng gắn bó chặt chẽ với tổ chức Hội.   Hiện nay, hệ thống tổ chức Hội được tổ chức ở 4 cấp và có các chi, tổ Hội; gồm 63 Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh; 655 Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp huyện; 10.545 Ban Chấp hành Hội Nông dân cơ sở (xã, phường, thị trấn…) với 95.246 chi Hội, 200.630 tổ Hội; 100% thôn, ấp, bản có nông dân có tổ chức Hội; cả nước có 10,169 triệu hội viên. Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ Hội các cấp được nâng cao về chất lượng, số cán bộ tham gia cấp ủy, hội đồng nhân dân ngày càng tăng. 3- Tổ chức các phong trào thi đua lớn của Hội – Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững  Các cấp Hội tích cực tuyên truyền, vận động nông dân không cam chịu đói nghèo, quyết tâm vươn lên làm giàu. Hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ Phong trào thi đua đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương nông dân điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh giỏi, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh; hình thành các mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại, gia trại, tổ hợp tác liên kết nhau trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao được nhân rộng. – Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân xây dựng “gia đình văn hóa”; tham gia xây dựng “thôn, ấp, bản, làng văn hóa, xã văn hóa”; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, bảo vệ môi trường nông thôn, phòng chống các tệ nạn xã hội. Hàng năm có 9,5 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá. Hưởng ứng Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hội viên nông dân đã hiến 7.778.500 m2 đất và đóng góp trên 2 ngàn tỷ đồng, trên 40 triệu ngày công để làm mới và sửa chữa gần 350 ngàn km đường giao thông nông thôn, 200 ngàn km kênh mương nội đồng và hàng ngàn nhà văn hóa xã, thôn, ấp, bản, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, ngày càng khang trang, sạch đẹp, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng Chính phủ phát động. -  Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh.  Các cấp Hội đã ký kết chương trình phối hợp với ngành Công an, Quân đội, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Vận động hội viên, nông dân nghiêm chỉnh chấp hành Luật Nghĩa vụ quân sự; tham gia các phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, phát hiện và tố giác tội phạm nhất là vùng ven biển, hải đảo, biên giới, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.   4- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền Các cấp Hội đã tích cực vận động cán bộ, hội viên, nông dân nêu cao trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; góp ý đối với cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; kịp thời phản ánh với các cấp uỷ, chính quyền về những bức xúc và nguyện vọng của nông dân. Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch triển khai, tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia thực hiện. Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương đã ký kết Chương trình phối hợp về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020. Thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm các cấp Hội đã tham gia phối hợp giải quyết trên 20 nghìn đơn, thư khiếu nại, tố cáo nội bộ nông dân; tham gia hòa giải hàng trăm ngàn vụ mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nông dân tại cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. 5– Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực, chủ động và phát triển quan hệ hữu nghị; chuyển từ quan hệ hữu nghị sang quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi. Đến nay, hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Ban Thường vụ Trung ương Hội xây dựng Chương trình xúc tiến vận động viện trợ nước ngoài của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2014-2020; ký thỏa thuận hợp tác với tổ chức Phát triển Nông nghiệp Đan Mạch- Châu Á (ADDA) giai đoạn 2015- 2020, Chương trình Hợp tác với Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) giai đoạn 2013- 2018, Chương trình Hỗ trợ phát triển rừng và trang trại với FAO giai đoạn 2014- 2017, các dự án về nâng cao năng lực vận động chính sách, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; ký kết các Thỏa thuận hợp tác với Hội Nông dân Đức trong lĩnh vực dạy nghề giai đoạn 2015- 2017, tổ chức cho nông dân đi học nghề tại Đức; 7 tỉnh, thành Hội xây dựng Đề án đưa cán bộ, hội viên nông dân đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài. Đến nay, đã có 36 tỉnh, thành Hội tham gia các dự án quốc tế, 18 tỉnh, thành Hội xây dựng chương trình, kế hoạch vận động viện trợ không hoàn lại; góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội. 6- Một số hạn chế, yếu kém Một số nơi công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh hoạt và sản xuất; phòng, chống các tệ nạn xã hội chưa thường xuyên. Việc nắm bắt tình hình nông dân, nông thôn nhất là diễn biến tư tưởng, băn khoăn, bức xúc của nông dân còn chậm. Công tác tham mưu, đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về chủ trương, cơ chế, chính sách, đối với nông dân còn hạn chế; các cấp Hội chưa chủ động đề xuất với cấp ủy, chính quyền tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của hội viên, nông dân. Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máy cán bộ cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cả nước; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chất lượng và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp. Việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm có giá trị và sức cạnh tranh cao còn chậm. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, hiệu quả kinh tế chưa cao. III- Kết quả triển khai thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Thông báo số 129/TB-VPCP, ngày 05 tháng 4 năm 2012 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ 1- Kết quả thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  1.1- Kết quả phối hợp giữa Trung ương Hội Nông dân Việt Nam với các bộ, ngành thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trung ương Hội đã ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với 8 Bộ gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương để thống nhất nội dung, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp thực hiện, bước đầu có kết quả như sau: a- Về công tác tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn  Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Các cấp Hội đã tổ chức tuyên truyền, vận động trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân tham gia học nghề; phối hợp và trực tiếp dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên được 1.074.976 người. Trong đó trực tiếp dạy nghề và cấp chứng chỉ, giấy chứng nhận được 180.736 người; phối hợp tổ chức dạy nghề được 894.240 người. Sau khi tổ chức dạy nghề, các cấp Hội tích cực tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân về vật tư, phân bón, máy nông nghiệp. Tỷ lệ nông dân sau khi học nghề có việc làm và thu nhập ổn định đạt trên 90%, nhiều nông dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, mở mang ngành nghề mới, củng cố các nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nhiều hộ nghèo trở thành hộ khá, nhiều hộ khá trở thành hộ giàu, đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. b- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg, ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 01- NQ/HNDTW, ngày 25/01/2011 về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giai đoạn 2011- 2015. Trung ương Hội được Chính phủ cấp gần 29 tỷ đồng để tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp. Kết quả, đến nay Trường Cán bộ Hội tổ chức được 30 lớp bồi dưỡng cán bộ cơ sở Hội (thời gian 07 ngày) với trên 2.700 học viên; 10 lớp bồi dưỡng cán bộ Hội cấp huyện, tỉnh (thời gian 10 ngày) với trên 1.300 học viên; 20 lớp bồi dưỡng cán bộ Hội cấp tỉnh, huyện (thời gian 1 tháng) với 1.360 học viên, đạt 100% kế hoạch của Đề án; 21 lớp đào tạo Trung cấp với  1.638 học viên, đạt 100,7% kế hoạch của Đề án. Các tỉnh, thành Hội trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng được gần 14.000 cán bộ cơ sở Hội và chi, tổ Hội, đạt trên 80 % kế hoạch của Đề án. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được đổi mới; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, chi, tổ Hội, cán bộ Hội là người dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Qua đó, đã từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới. c- Về tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân – Dịch vụ về vốn và cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tạo điều kiện cho hội viên, nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh. Tại thời điểm 30/12/2014, Hội Nông dân đang quản lý 23.501 Tổ Vay vốn theo Chương trình phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, có 549.891 hộ tham gia, dư nợ gần 19.461 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn 0,67% và 65.205 Tổ Tiết kiệm và vay vốn theo chương trình ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, có 2.285.448 hộ nông dân nghèo và đối tượng chính sách khác tham gia, dư nợ 41.803 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn 0,41%,  thuộc 15 chương trình tín dụng chính sách đã giúp cho nông dân có vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, nhiều hộ thoát nghèo, nhiều hộ trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Phối hợp với các công ty cung ứng vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm, trị giá hàng trăm tỷ đồng và tập huấn kỹ thuật, quy trình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật các loại, thức ăn gia súc và nhiều loại máy nông nghiệp cho hội viên, nông dân để phát triển sản xuất. – Hỗ trợ nông dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật  Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp tổ chức tập huấn, khuyến nông được trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân. Xây dựng hàng ngàn mô hình trình diễn sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và hàng trăm mô hình sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt GAP. Phối hợp với các công ty tổ chức hàng ngàn lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sử dụng phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp… Xây dựng “Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông”, “điểm truy cập Internet”; mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; tổ chức Cuộc thi “Nhà nông đua tài”.  Phối hợp với các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu chuyển giao hàng trăm tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và hơn 300 mô hình ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân tại các xã, phường dưới hình thức các Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông.  Tổ chức Cuộc thi tôn vinh Nhà nông sáng tạo, đã có hàng trăm sáng kiến, giải pháp kỹ thuật của nông dân được giải thưởng và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất như: máy làm đất, máy gieo hạt, máy tưới cây, máy bón phân, máy phun thuốc trừ sâu, máy bóc lạc, máy tẽ ngô, máy sấy hạt… đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh. – Dịch vụ hỗ trợ thông tin và xây dựng thương hiệu sản phẩm Phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kết nối thông tin giá cả vật tư nông nghiệp, hàng hóa nông sản, tình hình dịch, bệnh cây trồng, vật nuôi, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng sản xuất cho cán bộ, hội viên, nông dân và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp. Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và các ngành chức năng mở “Chuyên mục chuyện Nhà nông” phát trên kênh VTV1 từ 5h48 – 6h00 hàng ngày, đã giúp nông dân nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường, khoa học kỹ thuật, những mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình. Thông qua các hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp, công ty tổ chức Lễ tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu; xây dựng Hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp, thực phẩm”; tổ chức các Hội chợ triển lãm nông nghiệp, thương mại nhằm quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp. d- Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Đến nay, các cấp Hội đã vận động, thành lập được 15.900 tổ hợp tác và 72 hợp tác xã sản xuất và dịch vụ trong các lĩnh vực: thủy nông, làm đất, bảo vệ thực vật, thu hoạch, cung ứng vật tư, chăn nuôi, chế biến, tiêu thụ nông sản và các lĩnh vực chuyên ngành theo sở thích…  Phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện Quyết định số 23/QĐ-TTg, ngày 6/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020; đã triển khai xây dựng mô hình thí điểm cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, gắn với tiêu thụ nông sản ở 12 tỉnh, thành phố. đ- Tham gia bảo vệ môi trường nông thôn Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết một số vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và quản lý, sử dụng đất đai. Hàng năm tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ về công tác bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu cho gần 5.000 lượt cán bộ, hội viên nông dân. Xây dựng câu lạc bộ nông thôn mới, mạng lưới tuyên truyền viên của các cấp Hội trong bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu. Xây dựng 46 mô hình điểm về nước sạch và bảo vệ môi trường nông thôn ở những xã điểm xây dựng nông thôn mới để tuyên truyền, nhân rộng, góp phần đạt được tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững. 1.2- Về nhiệm vụ đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở đào tạo, dạy nghề cho nông dân Thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng và ban hành Quyết định số 945-QĐ/HNDTW, ngày 30/12/2011 phê duyệt Đề án Quy hoạch đầu tư xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh để tổ chức thực hiện. Chỉ đạo các tỉnh, thành Hội xây dựng đề án và đề nghị ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoặc tỉnh, thành ủy ra quyết định thành lập mới hoặc đổi tên các Trung tâm Dạy nghề thành Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân trực thuộc các tỉnh, thành Hội. Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ về rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5- 7 năm; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã lập kế hoạch trung hạn đến năm 2017 hoàn thành việc xây mới và nâng cấp, bổ sung trang thiết bị các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh và tiến hành điều chỉnh quy hoạch, lộ trình thực hiện các dự án ở các tỉnh, thành phố. Đồng thời, chỉ đạo Hội Nông dân các tỉnh, thành phố khẩn trương hoàn tất các thủ tục về đầu tư xây dựng và giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án; đến nay 54 tỉnh, thành phố đã bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân. Bằng nguồn ngân sách của Trung ương, trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã có 28 tỉnh, thành phố được đầu tư xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; đã có 6 dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng; 36 tỉnh, thành phố đã bố trí biên chế sự nghiệp cho Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân khai thác, sử dụng có hiệu quả, góp phần tích cực vào công tác dạy nghề và hỗ trợ nông dân. Tiêu biểu như: Hàng năm Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Hải Dương đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 2.300 lượt nông dân, giới thiệu việc làm cho gần 300 người; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 16.000 lượt nông dân; cung ứng 3.000 tấn phân bón và 590 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm. Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Thanh Hóa đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 4.200 lượt nông dân, giới thiệu việc làm cho trên 200 người; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 8.000 lượt nông dân; cung ứng 25.000 tấn phân bón và 162 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm. Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh Lâm Đồng đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho trên 2.800 lượt nông dân; chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho gần 4.000 lượt nông dân, cung ứng 5.200 tấn phân bón và 100 máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm… 1.3- Về kết quả đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân   Thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam đã tập trung xây dựng và triển khai Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã kiện toàn lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ nông dân ở 03 cấp: trung ương, tỉnh, huyện. 63 tỉnh, thành Hội đã kiện toàn Ban Điều hành Quỹ cấp tỉnh; Quỹ Hỗ trợ nông dân của 42 tỉnh, thành Hội đã được củng cố, kiện toàn, có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng; 47 tỉnh, thành Hội đã thành lập Ban Kiểm soát theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Trung ương Hội đã chủ động xây dựng và ban hành các văn bản để quản lý, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân như: Quy chế hoạt động của Ban Kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân; Quy định về hoạt động kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân. Hướng dẫn củng cố Ban Vận động, Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản về xây dựng, quản lý, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân. Trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương được cấp bổ sung 400 tỷ đồng và 49 tỉnh, thành Hội được cấp bổ sung 573,785 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, tổng Quỹ Hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội đạt 1.709,060 tỷ đồng (trong đó Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương: 466,829 tỷ đồng, Quỹ Hỗ trợ nông dân địa phương: 1.242,231 tỷ đồng) Hiện tại nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp đang giúp cho hơn 111.300 hộ vay xây dựng mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương đang dư nợ tại 62 tỉnh, thành Hội với số tiền trên 451 tỷ đồng thông qua 1.137 dự án với 18.147 hộ vay, các dự án đều trả nợ gốc, phí đầy đủ, chỉ còn 5 dự án chậm trả 899 triệu đồng bằng 0,19%. Từ khi thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đã tăng trưởng mạnh, các cấp Hội có thêm nguồn lực giúp các hộ nông dân phát triển mô hình kinh tế có hiệu quả. Tiêu biểu như: Mô hình nuôi lợn, gà an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh môi trường ở Hà Tĩnh, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, thành phố Hải Phòng… Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, lúa cao sản theo mô hình cánh đồng lớn ở Kiên Giang, Long An, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ…Mô hình trồng nấm, trồng măng tây, rau an toàn, trồng hoa ở các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ninh Thuận, thành phố Hà Nội… giúp cho nhiều hộ nông dân vươn lên làm ăn có hiệu quả và làm giàu chính đáng. Thông qua hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp đã xây dựng được 2.807 mô hình kinh tế hợp tác, liên kết (tổ, nhóm) sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao đang được nhân rộng. Đây là một trong các nội dung hoạt động rất hiệu quả, hấp dẫn và thu hút nhiều nông dân vào tổ chức Hội. Tóm lại: Trong thời gian ngắn các cấp Hội đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền trong việc bố trí mặt bằng đầu tư xây dựng mới, nâng cấp và bổ sung trang thiết bị cho các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương và các sở ngành địa phương để ký và triển khai Chương trình phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam. Đã tạo được  nguồn lực to lớn để các cấp Hội tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp; đẩy mạnh 3 phong trào thi đua lớn của Hội nhất là Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa, lôi cuốn, khích lệ hội viên, nông dân tích cực tham gia; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới đã khẳng định vai trò chủ thể của nông dân. Những kết quả đạt được trong 3 năm qua, khẳng định Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đi vào cuộc sống nhanh nhất, mang lại hiệu quả, lợi ích thiết thực cho hội viên, nông dân; nâng cao vị thế, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới; đoàn kết trong nông dân, xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh, góp phần phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. 2- Kết quả thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 129/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ Trong đó một số chính sách bước đầu thực hiện mang lại hiệu quả thiết thực như: chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; chính sách chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đầu tư xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân đã tạo nguồn lực để các cấp Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng mô hình kinh tế hợp tác, liên kết (tổ, nhóm) sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Tuy nhiên, một số nội dung chưa đạt tiến độ đề ra tại Thông báo số 129/TB-VPCP đó là: 1- Về đề nghị rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5 – 7 năm. – Tiến độ xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân chưa đạt kế hoạch thực hiện theo Thông báo số 129/TB-VPCP đề ra do khó khăn về kinh phí.  Đến nay: trong 4 năm 2012- 2015, Hội Nông dân Việt Nam mới được cấp 648 tỷ đồng cho 28 dự án xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh. – Như vậy theo lộ trình đề ra để đến năm 2017 hoàn thành xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, cần cấp thêm 1.600 tỷ đồng. 2- Về cấp bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Theo Đề án “ Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2011- 2020 ” đã được phê duyệt. Theo đó đến năm 2020 mỗi năm Chính phủ cấp bổ sung cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương là 200 tỷ đồng. Thực tế từ năm 2011 đến 2015 mới được cấp 400 tỷ đồng. Cụ thể là: năm 2011 đã được cấp 300 tỷ đồng; năm 2013 đã được cấp 100 tỷ đồng. Năm 2012 và 2014 chưa được cấp. 3- Về cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh. Một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 20/4/2015 còn 11 tỉnh, thành phố chưa cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: Lào Cai, Điện Biên, Hà Nam, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và thành phố Cần Thơ. 4- Việc sửa đổi Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; điều chỉnh đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng còn chậm. IV- Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng; Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và Nghị quyết Đại hội VI Hội Nông dân Việt Nam; các cấp Hội Nông dân Việt Nam xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới là: 1- Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Gắn công tác tuyên truyền với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước lập thành tích thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng;  Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX; tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. 2- Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội các cấp, gắn với phát triển và nâng cao chất lượng hội viên; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi, tổ Hội theo hướng thiết thực, hiệu quả. 3- Tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg, ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015″. Thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp Hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức Hội nghị nông dân điển hình tiên tiến các cấp tiến tới Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Hội. 4- Chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thực hiện có hiệu quả Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp; tích cực tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. 5- Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân; hướng dẫn nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết trong sản xuất, kinh doanh. Xây dựng Đề án Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện một số nội dung hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015- 2020 theo Quyết định số 2261/QĐ-TTg, ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh nhất là trong trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản.  Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền và hướng dẫn hội viên nông dân tích cực tham gia tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới. 6- Nâng cao chất lượng, hiệu quả 3 phong trào thi đua của Hội. Vận  động nông dân tích cực tham gia thực hiện Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, xã văn hóa; giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn hóa mới; phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương. 7- Tổ chức cho hội viên, nông dân thực hiện tốt việc tham gia giám sát và phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định 217 và Quyết định 218 của Bộ Chính trị. Hướng dẫn, vận động hội viên nông dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015- 2020; bồi dưỡng giới thiệu cán bộ, hội viên ưu tú với chi bộ Đảng để xem xét phát triển đảng viên mới. 8- Triển khai thực hiện Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa các bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân. 9- Đẩy mạnh quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, đặc biệt với các đối tác lớn, có tiềm năng hợp tác lâu dài; chủ động phối hợp với các bộ, ngành, giữa các cấp Hội trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại để tạo nguồn lực giúp hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. V- Kiến nghị, đề xuất 1- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cho nghiên cứu xây dựng hệ thống kho chứa bảo quản nông sản đủ lớn, ở các vùng chuyên canh do Nhà nước quản lý. Nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua việc cho nông dân (hoặc hợp tác xã) gửi nhờ nông sản (hoặc cho thuê kho với giá ưu đãi) khi giá thị trường thấp, thay cho chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mua tạm trữ như hiện nay. Bởi vì từ lâu nông dân luôn phải chịu cảnh “được mùa, rớt giá” do từng hộ nông dân không đủ khả năng đầu tư kho chứa, đến vụ thu hoạch cùng phải bán nông sản. Mặt khác, các doanh nghiệp thường không thể mua trực tiếp của nông dân mà phải thông qua hệ thống thương lái; nông dân không quyết định được giá bán mà thường do thương lái qui định; tình trạng nông dân bị ép giá là phổ biến và trên thực tế sự hỗ trợ của Nhà nước thường “rơi vãi” ở khâu trung gian mà không đến được nông dân. 2- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho nghiên cứu xem xét lại tiêu chí hộ nghèo và cận nghèo. Bởi vì tiêu chí hộ nghèo như hiện nay qui định thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị là không phù hợp với giá trị vật giá. Mặt khác không nên chỉ căn cứ vào mức thu nhập bình quân mà cần xem xét đến các yếu tố hoàn cảnh khác nhau như: nhà ở, điều kiện y tế, giáo dục, thông tin… 3- Đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. 4- Đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế quy định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành và chính quyền các cấp trong việc thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. 5- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cấp 1.600 tỷ đồng đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh. Được phân bổ cho các năm như sau: năm 2015 ứng hoặc cấp bổ sung 500 tỷ đồng; năm 2016 cấp 600 tỷ; năm 2017 cấp 500 tỷ. Căn cứ Thông báo 129/TB- VPCP ngày 5/4/2012 của Văn phòng Chính phủ về thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ngày 16/3/2012. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý việc hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh rút ngắn đến năm 2017 thay cho đến năm 2020. Theo dự toán tổng kinh phí đầu tư xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố trong cả nước là 2.148 tỷ đồng. Đến nay, trong 4 năm 2012- 2015 mới được cấp 648 tỷ đồng (bình quân mỗi năm cấp 162 tỷ đồng), nếu tiến độ cấp như hiện nay thì sau năm 2020 vẫn chưa xây dựng xong. Số còn lại 1.600 tỷ đồng đề nghị được cấp trong 3 năm để bù vào 4 năm trước thì mới bảo đảm tiến độ Đề án. 6- Đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm, cấp bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương. Cụ thể là: năm 2015 đề nghị cấp bổ sung từ ngân sách là 600 tỷ đồng, các năm sau mỗi năm cấp 200 tỷ đồng. Căn cứ Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án  “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2011- 2020” đã trình Thủ tướng. Theo đó đến năm 2020 mỗi năm Chính phủ cấp bổ sung cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương là 200 tỷ đồng. Thực tế mới được cấp 400 tỷ đồng. Cụ thể là: năm 2011 đã được cấp 300 tỷ đồng; năm 2013 đã được cấp 100 tỷ đồng. Năm 2012 và 2014 chưa được cấp. Năm 2015 đề nghị cấp bù của 2 năm 2012 và 2014, cộng với năm 2015. Tổng đề nghị là 600 tỷ đồng. 7- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương hàng năm cấp bổ sung từ ngân sách địa phương cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, cấp huyện theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Vì hiện nay một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân theo Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 20/4/2015 còn 11 tỉnh, thành phố chưa cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: Lào Cai, Điện Biên, Hà Nam, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và thành phố Cần Thơ. Căn cứ Quyết định số 2261/QĐ-TTg, ngày 15/12/2014 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015 – 2020. Tuy nhiên, theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg, ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định dòng ngân sách riêng cho hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, nên việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn. 9- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính bố trí kinh phí để Hội Nông dân Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế tập thể, tổ hợp tác nhất là trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản để góp phần tái cơ cấu nền nông nghiệp và đổi mới mô hình tăng trưởng. Nghị Quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định “…tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho Hội Nông dân Việt Nam trong việc trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phục vụ sản xuất và nâng cao đời sống của nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp…”. Trong những năm qua, Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của Hội vẫn chỉ tập trung ở công tác tuyên truyền, vận động, chưa có nguồn lực để trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Do đó, đề nghị trên là để tạo điều kiện cho Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp tham gia các hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp giai đoạn 2015 – 2020. 10- Đề nghị Chính phủ phê duyệt cho Trung ương Hội Nông dân Việt Nam được tham gia là một trong các đầu mối của Chương trình Xúc tiến Thương mại trong giai đoạn (2015-2020) để giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho nông dân.  Căn cứ Kết luận số 61-KL/TW, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có nêu “…  tạo cơ chế để Hội Nông dân Việt Nam tham gia thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá…”. Trong những năm qua, Hội Nông dân Việt Nam đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về tiêu thụ nông sản, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại: trong đó, Hội đã tổ chức thành công nhiều hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương, vùng miền góp phần quan trọng để kết nối cung cầu nông sản, thúc đẩy phát triển sản xuất…Tuy nhiên, các hoạt động xúc tiến thương mại của Hội Nông dân Việt Nam còn nhiều khó khăn, bất cập, phạm vi, quy mô hoạt động còn nhỏ lẻ, phương thức và cơ chế hoạt động xúc tiến thương mại của Hội chủ yếu là phối hợp, kinh phí hoàn toàn từ nguồn xã hội hóa không có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Để tạo điều kiện và phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong việc xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ nông sản trong giai đoạn tới, để Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp thực hiện “Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia” trong lĩnh vực nông nghiệp theo Quyết định số 72/QĐ-TTg, ngày 15/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc “ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia”. 11- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục xây dựng Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020” trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Ngày 07 tháng 7 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1045/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015”, đến năm 2015 kết thúc Đề án. Qua 05 năm Hội Nông dân thực hiện, đã hoàn thành các mục tiêu, nội dung của Đề án. Cán bộ qua bồi dưỡng, đào tạo trình độ, năng lực được nâng lên rõ rệt, nhiều đồng chí được bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt của tổ chức Hội, một số đồng chí được cấp ủy đảng bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt của các cấp ủy, chính quyền. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cơ sở Hội là rất lớn (qua khảo sát đánh giá về tình hình, chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở hiện nay, có gần 40% cán bộ cơ sở Hội chưa đạt chuẩn về đào tạo trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ công tác Hội). Mặt khác, do yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân sự cho Đảng; cũng như chuẩn bị nguồn nhân sự cho đại hội nhiệm kỳ của Hội sắp tới và đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn về trình độ năng lực tại các xã đạt chuẩn về Chương trình quốc gia Xây dựng nông thôn mới. 13- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ  chỉ  đạo Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi Khoản 1, Điều 11, Thông tư 07/2014/TT-BKHCN, ngày 26/5/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ về quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. Đề nghị bổ sung đối tượng là các đoàn thể chính trị- xã hội, để Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia hàng năm. Vì hiện nay xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất của nông dân; các cấp Hội đã tích cực tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân; phối hợp chuyển giao khoa học kỹ thuật, dạy nghề cho nông dân đạt nhiều kết quả. Để thực hiện tốt hơn nữa vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong việc nắm bắt nhu cầu, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả cho nông dân thông qua việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết hợp với Quỹ Hỗ trợ nông dân để xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển sản xuất, kinh doanh; việc Hội Nông dân là đầu mối trong việc đề xuất và triển khai áp dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia là hết sức cần thiết và hiệu quả. 14- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho giữ nguyên lượng phát hành Báo Nông thôn Ngày nay theo Quyết định số 2472/QĐ-TTg, ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015, cho giai đoạn 2016- 2020. Trong 3 năm qua, được sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ; Báo Nông thôn Ngày nay đã chủ động cải tiến nội dung, mở thêm nhiều chuyên trang, chuyên mục, tuyên truyền kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhất là về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tới đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; hướng dẫn khoa học, kỹ thuật, thông tin thị trường, phổ biến mô hình hay, cách thức làm ăn góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo. Để tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn thông qua thông tin để góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội; đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho giữ nguyên lượng phát hành Báo Nông thôn Ngày nay cho giai đoạn 2016- 2020. 15- Đề nghị Văn phòng Chính phủ phối hợp với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động giữa Chính phủ với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trong năm 2015.   Nơi nhận:                                                                      T/M BAN THƯỜNG VỤ – Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo),                                     CHỦ TỊCH – Văn phòng Chính phủ, – Các đ/c Ủy viên Ban Thường vụ,                                          (Đã ký)   Trưởng các ban, đơn vị Trung ương Hội,                                    – Lưu VP.                                                                                    Nguyễn Quốc Cường      

 

PHỤ LỤC Kết quả thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 129/TB-VPCP  

Tình hình, kết quả 13 vấn đề Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, ngành phối hợp thực hiện như sau: 1- Về cơ chế, chính sách đủ hấp dẫn để huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư về nông thôn, tập trung cho kết cấu hạ tầng…Có chính sách khắc phục tình trạng manh mún, phân tán hiện nay – Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ  ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10 tháng 6 năm 2013 về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.  

– Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 210/2013/NĐ-CP, ngày 19 tháng 12 năm 2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, thay thế Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. 2- Về điều chỉnh đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang tham mưu cho Chính phủ sửa đổi Nghị định số 41/2010/NĐ-CP. Trong đó: bổ sung đối tượng là các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp ở các phường, thị trấn được hưởng chính sách tín dụng … 3- Về đổi mới và nâng cao hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân – Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 69/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ 15/7/2013) thay thế Thông tư 36/2002/TT-BTC, ngày 22/4/2002 của Bộ Tài chính về cơ chế tài chính đối với Quỹ Hỗ trợ nông dân. 4- Về cơ chế để nông dân vay vốn không phải nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nghiên cứu và có hướng dẫn cụ thể, theo hướng không phải thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 5- Về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. – Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng, đang trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 42/2012/NĐ-CP, ngày 11/5/2012 về quản lý và sử dụng đất lúa. 6- Về chính sách hỗ trợ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất. – Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư liên tịch số 42/2013/BNNPTNT-BTC-BKHDT, ngày 16/10/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg. 7- Về chỉ đạo quản lý chặt chẽ vật tư, thuốc bảo vệ thực vật, không để tình trạng hàng giả không bảo đảm chất lượng lưu thông trên thị trường. – Bộ Công thương đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 202/2013/NĐ-CP, ngày 27 tháng 11 năm 2013 về quản lý phân bón. Đồng thời Bộ đã ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BCT, ngày 30 tháng 9 năm 2014 về Quy định cụ thể và hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 202/2013/NĐ-CP. – Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương ký kết Chương trình phối hợp về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020. 8- Về sửa đổi Quyết định 80/Qđ-TTg, ngày 24 tháng 6 năm 2002 về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu trình Thủ tướng ban hành Quyết định số: 62/2013/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, thay thế Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. 9- Về chính sách chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. – Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 15/2013/TT-BNNPTNT, ngày 26/02/2013 thay thế Thông tư 38/2011/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng 5 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông. – Đang tham mưu cho Chính phủ sửa đổi Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông. Dự kiến ban hành và triển khai thực hiện trong năm 2015. 10- Về chính sách khuyến khích nông dân bám biên giới; hỗ trợ nông dân vùng núi cao phòng ngừa giảm thiểu thiệt hại về cây trồng vật nuôi khi có rét đậm, rét hại. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành: – Quyết định số 570/QĐ-TTg ngày 17/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về bố trí ổn định dân cư các xã biên giới Việt – Trung giai đoạn 2012-2017. – Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số. – Phối hợp với Ủy ban Dân tộc xây dựng, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/4/2013 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. 11- Về kinh phí hàng năm để Trung ương Hội Nông dân Việt Nam thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam theo Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính đã cấp đủ theo Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội là: 34,519 tỷ đồng.   12- Về đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2001 về tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân.     – Hội Nông dân Việt Nam đã tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg. – Thủ tướng đã ban hành Quyết định số: 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân… 13. Một số nội dung chưa đạt tiến độ đề ra tại Thông báo số 129/TB-VPCP đó là: a- Về đề nghị rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5 – 7 năm. – Tiến độ xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân chưa đạt kế hoạch thực hiện Thông báo số 129/TB-VPCP đề ra do khó khăn về kinh phí.   Đến nay Hội mới được cấp 648,098 tỷ đồng cho 28 dự án tại 28 tỉnh, thành phố xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân. – Như vậy theo lộ trình đề ra để đến 2017 hoàn thành  xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân phải cấp thêm 1.600 tỷ đồng. b- Về cấp vốn bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: – Theo Đề án “ Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2011- 2020 ” đã được phê duyệt. Theo đó đến năm 2020 mỗi năm Chính phủ cấp bổ sung cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương là 200 tỷ đồng. Thực tế mới được cấp 400 tỷ đồng. Cụ thể là: + Năm 2011 đã được cấp bổ sung 300 tỷ đồng. + Năm 2013 đã được cấp bổ sung 100 tỷ đồng. + Năm 2012 và 2014 chưa được cấp. – Một số tỉnh, thành Hội thực hiện Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ còn chậm, thiếu nguồn lực hoạt động: nhất là việc kiện toàn củng cố bộ máy tổ chức, biên chế cho Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, pháp nhân Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, huyện và bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến ngày 20/4/2015 còn 11 tỉnh, thành phố chưa cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân: Lào Cai, Điện Biên, Hà Nam, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và thành phố Cần Thơ.  

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tiếp Công Dân, Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Của Công Dân / 2023

 

Qua giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân cho thấy: Công tác tiếp công dân trên địa bàn tỉnh đã có sự đổi mới rõ nét, việc thực hiện tiếp công dân tại Trụ sở, địa điểm tiếp công dân tại các cấp, các ngành nghiêm túc, trách nhiệm, sâu sát; đội ngũ công chức tiếp công dân cơ bản đã được kiện toàn và nâng cao chất lượng. Việc tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo có nhiều chuyển biến tích cực; UBND các cấp, các sở, ngành đã tích cực triển khai thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo về thời gian, đúng thẩm quyền, công khai, khách quan trong thẩm tra, xác minh; quan tâm, chú trọng đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại, đặc biệt công tác hòa giải ở cơ sở đã phát huy tác dụng thiết thực góp phần giải quyết những vụ việc, mâu thuẫn mới phát sinh trong nhân dân. Một số vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài đã được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các ngành tập trung giải quyết dứt điểm. Việc ban hành các Quyết định và công khai kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ bản đã được các cấp, các ngành thực hiện đảm bảo, đúng quy trình, quy định của pháp luật. Công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được cơ quan Thanh tra các cấp chủ động, tích cực tham mưu, đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khiếu nại, tố cáo và tăng cường công tác phối hợp, kiểm tra, đôn đốc xử lý, không để các vụ việc tồn đọng, kéo dài; các vụ việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết dứt điểm tại địa phương, cơ sở, không có vụ việc khiếu nại, tố cáo ở cấp Trung ương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những hạn chế như: Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tiếp công dân tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương hiệu quả chưa cao; chưa thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo. Việc tiếp công dân định kỳ tại một số nơi chưa đảm bảo đúng quy định của Luật, chưa bố trí phòng tiếp công dân riêng, chưa niêm yết nội quy tiếp công dân; việc xây dựng, công bố lịch tiếp công dân nhiều nơi ở cấp xã chưa đảm bảo. Công chức làm công tác tiếp công dân tại một số xã chưa đáp ứng yêu cầu, còn yếu về năng lực, trình độ chuyên môn. Công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong việc tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo tại một số đơn vị cấp huyện, cấp xã chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao…

Để nâng cao hiệu quả việc tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn tỉnh thời gian tới cần quan tâm, thực hiện đồng bộ một số giải pháp đó là:

Rà soát địa điểm, nơi tiếp công dân tại trụ sở UBND cấp xã để có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế và có kế hoạch bố trí nguồn lực nhằm đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất tiếp công dân. Tăng cường công tác quản lý, theo dõi nắm bắt thông tin về tình hình khiếu nại, tố cáo để chỉ đạo giải quyết kịp thời, không để phát sinh điểm nóng về khiếu nại, tố cáo; thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp trong việc tiếp công dân phục vụ Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. 

Thứ hai, các sở, ngành tỉnh thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; bố trí địa điểm tiếp công dân, phân công công chức có năng lực, kinh nghiệm thực hiện tiếp công dân; tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ; duy trì thực hiện công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn theo quy định của pháp luật. Thực hiện việc mở sổ, theo dõi, ghi chép nội dung các cuộc tiếp công dân; tiếp nhận, phân loại đơn và xử lý đơn theo quy định.

Tăng cường công tác phối hợp trong việc giải quyết những vụ việc bức xúc, nổi cộm, kéo dài, đông người, kịp thời trao đổi, có biện pháp giải quyết dứt điểm vụ việc bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của công dân, tổ chức và Nhà nước.

Thứ ba, UBND cấp huyện thực hiện và chỉ đạo cấp xã bố trí công chức làm công tác tiếp công dân, tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn phù hợp; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng. Đầu tư cơ sở vật chất. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các xã, phường, thị trấn thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với người làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định.

 

Đỗ Thị Luyến

Phó Trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh

Một Số Giải Pháp Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Tiếp Công Dân, Giải Quyết Đơn Thư Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Lĩnh Vực Tư Pháp Trên Địa Bàn Tỉnh / 2023

Sinh thời Bác Hồ thường nhắc nhở chúng ta: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào mới thấy rõ Đảng, Chính phủ quan tâm, lo lắng đến quyền lợi của họ. Do đó quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”. Thực hiện lời dạy của Bác, Tỉnh ủy Khánh Hòa luôn xác định công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thông qua công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm tranh thủ ý kiến đóng góp của Nhân dân về xây dựng và thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm quốc phòng – an ninh; xây dựng hệ thống chính trị; về lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng; quản lý, điều hành của chính quyền; hoạt động của các cơ quan tư pháp; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; ghi nhận, xử lý, giải quyết kịp thời những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên… góp phần củng cố, tăng cường sự thống nhất tư tưởng chính trị, hạn chế tình trạng khiếu nại vượt cấp, tạo đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân.

Để nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của dân trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành: Quy định số 11-QĐi/TU, ngày 07/6/2019 về tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị gửi đến Tỉnh ủy; Quyết định số 1017-QĐ/TU, ngày 02/7/2019 ban hành Quy chế Bí thư Tỉnh ủy tiếp dân, đối thoại trực tiếp và xử lý những khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của dân; Chỉ thị số 18-CT/TU, ngày 21/02/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp; Hướng dẫn số 04-HD/TU hướng dẫn cấp ủy cấp huyện, cấp ủy cấp xã thực hiện công tác tiếp dân, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.

Các tập thể có thành tích xuất sắc được khen tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ chính trị

Trong thời gian tới, với quyết tâm thực hiện hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, hạn chế thấp nhất việc người dân bức xúc khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, các cấp, các ngành cần thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, quán triệt đầy đủ, sâu rộng đến các tầng lớp Nhân dân các chủ trương, chính sánh của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo để nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và Nhân dân; tăng cường vận động, thuyết phục công dân chấp hành pháp luật và các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối với các trường hợp lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động, gây rối thì phải tiến hành làm rõ, xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Thứ hai, cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm túc quy chế tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; cấp ủy cấp huyện, cấp xã tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng của cán bộ thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; bố trí địa điểm, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu trong thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân.

Thứ ba, các cấp chính quyền có kế hoạch giải quyết khiếu nại, tố cáo, phân công trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể để giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo; cần thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khách quan, làm rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo, kết luận rõ đúng, sai, đề ra phương án giải quyết phù hợp, có lý, có tình; giải quyết các vụ việc khiếu kiện phức tạp, đông người ngay từ cơ sở, nhất là những vấn đề bức xúc của dân trong lĩnh vực đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trọng điểm của tỉnh, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, phát sinh điểm “nóng” về an ninh, trật tự tại địa phương mình; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.

Thứ tư, thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân; đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, hài hòa, tạo động lực mới trong phát triển kinh tế – xã hội và hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo.

Thứ năm, định kỳ sơ kết, tổng kết các chủ trương, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong quá trình triển khai, thực hiện. Từ đó, nhân rộng những cách làm hay và khắc phục triệt để những hạn chế, thiếu sót trong công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân.

 Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, người đứng đầu cấp ủy các cấp cần thiết gần dân, sâu sát và hiểu dân hơn, thực sự phát huy dân chủ, lấy “dân là gốc”, giải quyết thấu đáo thắc mắc, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và có những quyết sách đúng đắn, để ý Đảng hợp lòng dân./.

Ngọc Xuân-Ban Nội Chính Tỉnh ủy

Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi / 2023

Cập nhật: 23/12/2019 10:25

Như Công lý và Xã hội đã thông tin về việc ông Nguyễn Xuân Thủy (570 ấp Vĩnh Bình A, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) bị gia đình ông Huỳnh Tấn Hòa khiếu nại, khiếu kiện đòi trả lại phần diện tích 772,5m 2 (diện tích đo đạc thực tế- PV) mà UBND huyện Thạnh Hưng (nay là huyện Lấp Vò- PV) đã chấp thuận cấp cho ông Thủy từ năm 1985.

Trong văn bản phúc đáp năm 1997, Phòng Địa chính huyện Lấp Vò khẳng định đất của ông bà gia đình ông Huỳnh Tấn Hòa để lại và hoàn toàn không có tên cụ Huỳnh Tấn Cứ

Theo văn bản phúc đáp năm 1997 của Phòng Địa chính huyện Lấp Vò (có đóng bút lục số 242 của TAND huyện Lấp Vò- PV), khẳng định phần đất ông Huỳnh Tấn Hòa khiếu nại đòi trước kia là của ông Huỳnh Tấn Cẩm (ông cố của ông Hòa) để lại cho ông Huỳnh Tấn Hùng (ông nội của ông Hòa), ông Hùng để lại cho ông Huỳnh Tấn Chức (cha ruột của ông Hòa)… phần đất này vào khoảng năm 1973, đội công binh chế độ quản lý, lấy đất làm lộ 80. Đến ngày 30/4/1975 xã quản lý. Đến năm 1983 huyện quy hoạch xây dựng cơ bản…

Tại Quyết định 329/QĐ-UBND-NĐ ngày 26/6/2008 của UBND tỉnh Đồng Tháp (có đóng bút lục số 29 của TAND huyện Lấp Vò- PV), khẳng định nguồn gốc đất do ông Huỳnh Tấn Hòa thừa hưởng của cha mẹ. Năm 1973, chính quyền Sài Gòn trưng dụng một phần diện tích đất của ông Hòa để thi công tuyến lộ 80. Năm 1983, UBND huyện Thanh Hưng tiếp tục trưng dụng toàn bộ diện tích còn lại của ông Hòa để xây dựng Trung tâm Y tế huyện Lấp Vò. Hiện nay đơn vị này đang sử dụng tổng diện tích 42.482m 2 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCN QSDĐ từ năm 1994, trong đó có 22.000m 2 đất của ông Hòa…

Như vậy, văn bản năm 1997 của Phòng Địa chính huyện Lấp Vò và Quyết định 329 năm 2008 của UBND tỉnh Đồng Tháp đều khẳng định đất này là do ông Huỳnh Tấn Hòa thừa hưởng từ cha mẹ để lại, đã bị chế độ trưng dụng một phần năm 1973, 30/4/1975 xã quản lý và sau đó Nhà nước trưng dụng để xây Trung tâm Y tế huyện Lấp Vò. Thế nhưng, trong cả 2 văn bản trên đều không thấy đề cập tới giấy tờ pháp lý chứng minh diện tích đất mà ông Huỳnh Tấn Hòa khiếu nại đòi có nguồn gốc do ông bà, cha mẹ để lại.

Quyết định 329 năm 2008 của UBND tỉnh Đồng Tháp khẳng định ông Huỳnh Tấn Hòa thừa hưởng đất từ cha mẹ nhưng không thấy căn cứ pháp lý hay tài liệu nào?

Còn theo bản án của TAND 2 cấp tỉnh Đồng Tháp thì cho rằng đất mà anh Huỳnh Tấn Cầu cùng các đồng nguyên đơn (các con của ông Huỳnh Tấn Hòa- PV) khiếu kiện đòi ông Thủy trả lại là đất có nguồn gốc do ông bà các nguyên đơn để lại cho bố mẹ nguyên đơn, bố mẹ nguyên đơn mất thì các nguyên đơn được hưởng thừa kế.

Căn cứ theo Trích lục địa bộ và Họa đồ lập năm 1965 (lần lượt được đóng bút lục số 12 và số 13 của TAND huyện Lấp Vò- PV), thì chủ sử dụng đất trên Trích lục địa bộ và Họa đồ là cụ Huỳnh Tấn Cứ.

Trao đổi với phóng viên, Nguyễn Xuân Thủy cho biết, Trích lục địa bộ và Họa đồ lập năm 1965 là tài liệu anh Huỳnh Tấn Cầu cùng các đồng nguyên đơn cung cấp cho TAND để làm chứng cứ chứng minh việc khiếu kiện và đã được TAND huyện Lấp Vò kiểm tra, đóng dấu bút lục làm tài liệu chứng cứ trong vụ án.

Theo anh Huỳnh Tấn Bình (ấp Vĩnh Bình A, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò) người gọi cụ Huỳnh Tấn Cứ là ông nội cho biết, đất đai trước năm 1975 của cụ Huỳnh Tấn Cứ đều do cụ đứng tên, trước khi cụ qua đời cũng không làm di chúc, không tặng cho ai quyền sử dụng đất. Đất đai của cụ thì phải do con cháu của cụ thừa hưởng theo quy định của pháp luật.

Anh Bình cho biết thêm, ông Huỳnh Tấn Hòa không phải là con cũng không phải cháu ruột của cụ Huỳnh Tấn Cứ, ông Huỳnh Tấn Hòa gọi cụ Huỳnh Tấn Cứ bằng bác ruột. Thế nhưng không hiểu vì sao, ông Huỳnh Tấn Hòa và các con ông Hòa sau này lại có Trích lục địa bộ và Họa đồ của cụ Huỳnh Tấn Cứ để mang đi khiếu nại, khiếu kiện đòi đất. Trước sự việc này, anh Huỳnh Thanh Bình đã có đơn tố cáo gửi Thủ tướng Chính phủ và sự việc đang được kiểm tra, xác minh làm rõ.

Như vậy, đối chiếu văn bản giải quyết của chính quyền tỉnh Đồng Tháp, bản án của TAND 2 cấp tỉnh Đồng Tháp với Trích lục địa bộ, Họa đồ lập năm 1965 cho thấy có sự mâu thuẫn về xác định nguồn gốc đất.

Bởi lẽ, ông Huỳnh Tấn Hòa và sau này con là Huỳnh Tấn Cầu liên tục khiếu nại, khiếu kiện đòi đất cho rằng đất của cha ông để lại và cung cấp Trích lục địa bộ, Họa đồ lập năm 1965 để chứng minh.

Trích lục địa bộ và Họa đồ lập năm 1965 mang tên cụ Huỳnh Tấn Cứ được các nguyên đơn sử dụng làm căn cứ để khiếu nại, khiếu kiện đòi đất (có bút lục của TAND huyện Lấp Vò)

Thế nhưng, Trích lục địa bộ, Họa đồ lại mang tên cụ Huỳnh Tấn Cứ, mà cụ Huỳnh Tấn Cứ lại không có mối quan hệ ông bà, bố mẹ ruột với ông Huỳnh Tấn Hòa, mà theo anh Huỳnh Tấn Bình thì cụ Huỳnh Tấn Cứ cũng không có di chúc hay văn bản tặng cho gia đình ông Huỳnh Tấn Hòa.

Chính trong văn bản phúc đáp năm 1997 của Phòng Địa chính huyện Lấp Vò đã khẳng định phần đất ông Huỳnh Tấn Hòa khiếu nại đòi trước kia là của ông Huỳnh Tấn Cẩm (ông cố của ông Hòa) để lại cho ông Huỳnh Tấn Hùng (ông nội của ông Hòa), ông Hùng để lại cho ông Huỳnh Tấn Chức (cha ruột của ông Hòa)… nhưng khi cung cấp tài liệu thì anh Huỳnh Tấn Cầu lại cung cấp Trích lục địa bộ và Họa đồ mang tên cụ Huỳnh Tấn Cứ.

Vậy gia đình ông Huỳnh Tấn Hòa có được Trích lục địa bộ và Họa đồ mang tên cụ Huỳnh Tấn Cứ từ đâu? Lấy gì làm cơ sở để chính quyền tỉnh Đồng Tháp và TAND 2 cấp tỉnh Đồng Tháp khẳng định đất đai mà gia đình ông Huỳnh Tấn Hòa khiếu nại, khiếu kiện đòi là của ông bà các nguyên đơn để lại? Chính quyền tỉnh Đồng Tháp có phải đã xác định sai nguồn gốc đất ngay từ đầu?

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hội Nông Dân Tham Gia Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!